WTO Tổ chức thương mại thế giớiASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FTA Hiệp định thương mại tự do GATS Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ MFN Ng
Trang 2HÀ NỘI, NGÀY 11 THÁNG 4 NĂM 2016
Trang 3WTO Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định thương mại tự do
GATS Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
MFN Nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc
TPP Hiệp định kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương
VAMC Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 2
Bảng 1 Danh sách ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Biểu đồ 1 Dự trữ ngoại hối Việt Nam (2006-2015)
Biểu đồ 2 Xếp hạng dự trữ ngoại hối khu vự ASEAN (2014)
Biểu đồ 3 Mặt bằng lại suất của Việt Nam (2008-2015)
Biểu đồ 4 Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM (2015)
Biểu đồ 5 Tỷ lệ đô la hóa ở Việt Nam qua các năm
Biểu đồ 6: Dự đoán tăng trưởng kinh tế Mỹ và thế giới
Biểu đồ 7 Trái phiếu, tỷ giá so với EURO, chỉ số sức mạnh của USDBiểu đồ 8 Tỷ lệ lạm phát theo CPI và Cơ bản
Biểu đồ 9 Lãi suất cơ bản và vay thế chấp
Biểu đồ 10 Dữ trữ ngoại hối và ước tính dòng vốn vào, ra khỏi Trung
Quốc
Trang 51.1.2 Vị trí của dịch vụ Ngân hàng trong phân ngành dịch vụ tài chính của GATS 2
1.1.3 Các nguyên tắc của WTO áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ tài chính 4
1.2 Can thiệp của Chính phủ trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng 6
1.2.1 Tại sao Chính phủ cần can thiệp vào lĩnh vực dịch vụ ngân hàng 6
1.2.2 Nội dung can thiệp của Chính phủ trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng 7
1.3 Xu hướng can thiệp của Chính phủ vào dịch vụ ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VÀO LĨNH VỰC NGÂN HÀNG SAU KHI GIA NHẬP WTO 10
2.1 Biểu cam kết của Việt nam trong lĩnh vực ngân hàng 10
2.2 Thực trạng can thiệp của Chính phủ Việt nam vào lĩnh vực ngân hàng sau khi gia nhập WTO 15
2.3 Đánh giá vai trò can thiệp của Chính phủ Việt nam trong lĩnh vực tài chính theo các mục tiêu của nền kinh tế 25
2.3.1 Những điểm mạnh 25
2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 26
CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 29
3.1 Một số dự báo về lĩnh vực ngân hàng của Việt nam trong thời gian tới 29
3.1.1 Thuận lợi, khó khăn của Việt nam trong thời gian tới 29
3.1.2 Xu hướng phát triển ngành dịch vụ ngân hàng Việt nam trong thời gian tới 30
3.2.Xu hướng can thiệp của Chính phủ các nước trong lĩnh vực ngân hàng 32
3.3 Khuyến nghị chính sách 37
KẾT LUẬN 41
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, dịch vụ ngân hàng cũng như các loại hình dịch vụkhác đều được nhìn nhận với ý nghĩa quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu và thươngmại hàng hóa Ngoài ra các quốc gia cũng quan tâm tới ổn định khu vực tài chính ngânhàng, bởi nó quyết định sự ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu rủi ro hệ thống ngân hàngsang khu vực nền kinh tế thực Với tư cách là thành viên của WTO, mỗi quốc gia, vớiđặc điểm và cấu trúc khác biệt về hệ thống ngân hàng, Chính phủ các nước ít nhiềucũng phải can thiệp vào thương mại dịch vụ nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói
riêng Cần phải hiểu là can thiệp của Chính phủ các nước vào lĩnh vực thương mại
dịch vụ không được coi như là biện pháp bảo hộ, mà nhiều khi các can thiệp đó nhằm mục đích phục vụ lợi ích của công chúng Việt nam cũng không nằm ngoài xu thế đó
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của bài viết là can thiệp của Việt nam áp dụng tronglĩnh vực ngân hàng
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là can thiệp của Việt nam trong lĩnh vực ngân
hàng kể từ sau khi gia nhập WTO
3 Câu hỏi nghiên cứu
Bài viết nghiên cứu khoa học này được sử dụng để trả lời các câu hỏi:
- Lĩnh vực dịch vụ tài chính nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng đượchiểu như thế nào theo WTO?
- Can thiệp của Chính phủ Việt nam trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm những gì?
- Những thay đổi của trong can thiệp của Chính phủ Việt nam trong lĩnh vực tàichính sau khi gia nhập WTO?
- Xu hướng can thiệp của Việt nam trong lĩnh vực ngân hàng trong thời gian tới(xu hướng bảo hộ hay tự do hóa?)
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu trên cơ sở luận về can thiệp của chính phủViệt nam trong lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết WTO Đề tài sử dụng các phươngpháp nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với việc sử dụng các yếu
tố định lượng để đo lường
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ
TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG1.1 Khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO
1.1.1 Khái niệm dịch vụ tài chính theo quan điểm WTO.
Dịch vụ tài chính được xem là một hệ thống cấu thành của loại hình dịch vụmang tính chất thương mại hay loại dịch vụ kinh doanh có tính chất thị trường baogồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chứng khoán, tư vấn đầu tư,… Tuythuật ngữ này đã được sử dụng khá phổ biến trên thế giới nhưng hiện nay chưa có mộtđịnh nghĩa chính xác thống nhất nào về dịch vụ tài chính
Năm 1997 các nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đã ký kếtmột thỏa thuận về dịch vụ tài chính như là một phần trong hiệp định chung về thương
mại dich vụ( GATS) của WTO đã thừa nhận: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào
có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một Thành viên thực hiện Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác ( trừ bảo hiểm)”
Bên cạnh khái niệm về Dịch vụ tài chính thì khái niệm về nhà cung cấp dịch vụtài chính cũng rất được quan tâm Theo như GATS quy định về tài chính thì nhà cungcấp dịch vụ tài chính là những pháp nhân hoặc thể nhân của một thành viên muốn cungcấp hoặc đang cung cấp những dịch vụ tài chính còn những pháp nhân công cộng thì
sẽ không được coi như là “nhà cung cấp dịch vụ tài chính”, chi tiết về những phápnhân công cộng bao gồm:
Chính phủ, ngân hàng trung ương hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý tiền tệ của một Thành viên, hoặc một thực thể do một Thành viên sở hữu hoặc kiểm soát, chủ yếu thực hiện chức năng chính phủ hoặc các hoạt động vì mục đích của chính phủ, không bao gồm pháp nhân chủ yếu cung cấp những dịch vụ tài chính trên cơ sở những điều kiện thương mại; hoặcMột thực thể tư nhân, thực hiện các chức năng thông thường vẫn do một Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan có thẩm quyền quản lý tiền tệ thực hiện.
1.1.2 Vị trí của dịch vụ Ngân hàng trong phân ngành dịch vụ tài chính của GATS
Trang 8Trong hiệp định chung về thương mại dịch vụ( GATS) liệt kê 12 ngành dịch
vụ lớn, trong đó dịch vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 của bảng danh mụcphân loại và hiện dịch vụ Ngân hàng là một trong hai phân ngành chính cung cấp dịch
vụ tài chính Cụ thể dịch vụ Ngân hàng bào gồm:
Ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác ( trừ bảo hiểm)
(v) Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác củacông chúng;
(vi) Cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp,bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại;
(vii) Thuê mua tài chính;
(viii) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanhtoán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng;
(ix) Bảo lãnh và cam kết;
(x) Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng,dù tại sở giao dịch vàtrên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về:
(A) công cụ thị trường tiền tệ ( gồm séc, hóa đơn, chứng chỉ tiền gửi);
(E) chứng khoán có thể chuyển nhượng;
(F) các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khíquý
(xi) Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh pháthành và chào bán như đại lý ( dù công khai hoặc theo thỏa thuận riêng) và cung cấpdịch vụ liên quan tới việc phát hành đó;
Trang 9(xii) Môi giới tiền tệ;
(xiii) Quản lý tài sản , như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư, mọi hìnhthức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác;
Trang 10(xiv)Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứngkhoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác;
(xv) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phầnmềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác;
(xvi) Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợkhác liên quan đến các hoạt động nêu từ điểm (v) đến (xv), kể cả tham khảo và phântích tín dụng, nghiên cứu , tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư , tư vấn mua sắm và về cơcấu lại hoặc chiến lược doanh nghiệp
1.1.3 Các nguyên tắc của WTO áp dụng trong lĩnh vực dịch vụ tài chính
GATS đưa ra khoảng 12 quy định và nguyên tắc chung rải rác từ điều 2 tớiđiều 15 nhằm đảm bảo môi trường thương mại tự do, lành mạnh cho tất cả các chủ thểtham gia kinh doanh, giúp các nhà quản lý của các nước đưa ra luật lệ, quy tắc phù hợpđảm bảo được lợi ích và tính bình đẳng của các chù thể tham gia Nhưng trong số đónguyên tắc đáng lưu tâm nhất là nguyên tắc đối xử huệ quốc tế (MFN), nguyên tắc tínhminh bạch và các nguyên tắc liên quan đến các doanh nghiệp độc quyền
Nguyên tắc về đối xử huệ quốc tế (MFN) được nêu nên nhằm ngăn chặn mọi
sự ưu tiên giữa cá quốc gia và tạo nên sự chênh lệch trong mặt bằng chung tiêu dùng,
sử dụng dịch vụ Ngoại lệ của nguyên tắc này là những hiệp định ưu đãi song phương
hay các hiệp định ưu đãi trong khuôn khổ hợp tác khu vực Nội dung Nguyên tắc:
1 Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn
sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác.
2 Các Thành viên có thể duy trì biện pháp không phù hợp với quy định tại khoản 1 của Điều này, với điều kiện là biện pháp đó phải được liệt kê và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các ngoại lệ đối với Điều II.
3 Các quy định của Hiệp định này không được hiểu là để ngăn cản bất kỳ một Thành viên nào dành cho các nước lân cận những lợi thế nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trong phạm vi giới hạn của vùng biên giới.
Trang 11Nguyên tắc về tính minh bạch cũng được GATS tạo ra nhằm mục địch đảm
bảo môi trường thương mại tự do, lành mạnh cho tất cả các chủ thể tham gia kinhdoanh Các quốc gia phải công bố tất cả các quy định, yêu cầu, thủ tục có ảnh hưởngtới thương mại dịch vụ cho các nước Thành viên WTO; công khai các dự thảo văn bảnquy phạm pháp luật để lấy ý kiến từ các tổ chức, cá nhân có liên quan trong ít nhất là
60 ngày Nội dung cụ thể của nguyên tắc được trích từ GATS như sau:
1 Các Thành viên phải nhanh chóng công bố mọi biện pháp có liên quan hoặc tác động đến việc thi hành Hiệp định này, chậm nhất trước khi các biện pháp đó có hiệu lực thi hành, trừ những trường hợp khẩn cấp Những Hiệp định quốc tế có liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà các Thành viên tham gia cũng phải được công bố.
2 Trong trường hợp việc công bố quy định tại khoản 1 của Điều này không thể thực hiện được, các thông tin đó phải được công khai theo cách thức khác.
3 Các Thành viên phải nhanh chóng và ít nhất mỗi năm một lần thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ về các văn bản pháp luật mới hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong các luật, quy định hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến thương mại dịch vụ thuộc các cam kết cụ thể theo Hiệp định này.
4 Mỗi Thành viên phải trả lời không chậm trễ tất cả các yêu cầu của bất kỳ một Thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan đến các biện pháp được áp dụng chung hoặc hiệp định quốc tế nêu tại khoản 1 Mỗi Thành viên cũng sẽ thành lập một hoặc nhiều điểm cung cấp thông tin cụ thể theo yêu cầu của các Thành viên khác về những vấn đề nêu trên cũng như những vấn đề thuộc đối tượng được yêu cầu thông báo quy định tại khoản 3 Các điểm cung cấp thông tin này sẽ được thành lập trong vòng hai năm kể từ ngày Hiệp định thành lập WTO ( theo Hiệp định này gọi là "Hiệp định WTO") có hiệu lực Mỗi nước Thành viên đang phát triển có thể thỏa thuận thời hạn linh hoạt thích hợp cho việc thành lập các điểm cung cấp thông tin đó Các điểm cung cấp thông tin không nhất thiết phải là nơi lưu trữ các văn bản pháp luật.
5 Các Thành viên có thể thông báo cho Hội đồng thương mại dịch vụ bất kỳbiện pháp nào do một Thành viên khác áp dụng được coi là có tác động đến việc thực thi Hiệp định này.
Trang 12Nguyên tắc về độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền bao gồm
những nội dung sau:
1 Mỗi Thành viên phải đảm bảo rằng bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ độc quyền nào trên lãnh thổ của mình không hành động trái với các nghĩa vụ của Thành viên đó theo quy định tại Điều II và các cam kết cụ thể, khi cung cấp dịch vụ độc quyền trên thị trường liên quan.
2 Nếu một nhà cung cấp dịch vụ độc quyền cạnh tranh, trực tiếp hoặc thông qua các công ty trực thuộc trong việc cung cấp dich vụ ngoài phạm vi độc quyền của mình và thuộc các cam kết cụ thể của Thành viên đó, thì Thành viên đó sẽ đảm bảo rằng nhà cung cấp dịch vụ sẽ không lạm dụng vị trí độc quyền của họ để tiến hành hoạt động trái với các cam kết trên lãnh thổ của Thành viên đó.
3 Theo yêu cầu của một Thành viên có lý do để tin rằng một người cung cấp dịch vụ độc quyền của bất kỳ một Thành viên nào khác đang hành động không phù hợp với quy định tại khoản 1 và 2, Hội đồng Thương mại Dịch vụ có thể yêu cầu Thành viên đã thành lập, duy trì hoặc cho phép người cung cấp dịch vụ này thông báo những thông tin cụ thể về các hoạt động liên quan.
4 Kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực, nếu một Thành viên cho phép độc quyền về cung cấp một dịch vụ trong danh mục cam kết cụ thể, thì Thành viên đó phải thông báo cho Hội đồng Thương mại Dịch vụ chậm nhất là ba tháng trước khi dự kiến thực hiện việc cho phép độc quyền và sẽ áp dụng các quy định tại các khoản 2, 3 và 4.
5 Các quy định của Điều này cũng được áp dụng đối với các trường hợp của người cung cấp dịch vụ độc quyền, trong trường hợp một Thành viên, chính thức hoặc thực tế, (a) cho phép hoặc thành lập một số lượng nhỏ những người cung cấp dịch vụ và (b) hạn chế đáng kể sự cạnh tranh giữa những người cung cấp đó trên lãnh thổ của mình.
1.2 Can thiệp của Chính phủ trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
1.2.1 Tại sao Chính phủ cần can thiệp vào lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam trước khi gia nhập WTO vẫn còn tồntại nhiều yếu kém trên nhiều phương diện như: năng lực tài chính; cơ sở hạ tầng côngnghệ, hệ thống thanh toán; quản trị doanh nghiệp
Trang 13Năng lực tài chính khiếm tốn cộng với tỷ lệ an toàn vốn CAR thấp, trung bìnhchỉ mở mức 5% trong khi tỷ lệ này ở các ngân hàng nước ngoài là 9%, điều đó dẫn đếnkhả năng chống đỡ với các rủi ro hệ thống yếu Quy mô vốn hạn nhỏ khiến các ngânhàng gặp phải nhiều khó khăn trong việc cập nhật, ứng dụng các công nghệ mới vàoviệc phát triển sản phẩm đa dạng, hệ thống thanh toán chưa đáp ứng được như cầu củakhách hành Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu cao tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với nền kinh tế.
Hệ thống quản trị của ngân hàng trong nước trên tất cả các mặt như quản trịnguồn nhân lực, quản trị rủi ro đều chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Các ngân hàngtrong nước chưa có các công cụ hiện đại để quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường,quản lý thanh khoản, hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ trong ngân hàng lạc hậu, chưacó tính dự báo sớm với các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động Công tác quản lý nhân sựcòn nhiều hạn chế, chất lượng lao động tại các ngân hàng trong nước chưa cao, chưanhanh nhạy với nhu cầu của thị trường
Và khi việc mở cửa thị trường được diễn ra sẽ làm cho các NHTM phải đối mặtvới nhiều rủi ro thị trường như: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất và các rủi ro hệ thống, bắtnguồn từ sự lan truyền của các cuộc khủng hoảng tài chính, cú sốc kinh tế khu vực vàtrên thế giới Mặt khác, việc mở cửa đồng nghĩa với việc chịu thêm sự cạnh tranh gaygắt từ các ngân hàng nước ngoài
Vì vậy, để củng cố, phát triển hệ thống ngân hàng trong nước trước bối cảnhhội nhập kinh tế thì sự có mặt của Chính phủ là rất cần thiết Với vài trò xây dựng,hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh giảm thiêucực có thể phát sinh trong giao dịch tài chính và để có đủ khả năng bảo vệ hệ thốngcác ngân hàng trong nước Chính phủ can thiệp vào lĩnh vực dịch vụ ngân hàng còn đểthanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng giúp ngănngừa những hành vi kinh doanh phi pháp( rửa tiền, ăn cắp thông tin, giành giật kháchhàng một cách bất hợp pháp vỡ những nguyên tắc kinh doanh,…)
Trang 14Bên cạnh đó, những chính sách liên quan đến hoạt động tài chính- tiền tệ nhưlãi suất, tỉ giá, thuế, cũng cần được nhà nước vận dụng linh hoạt tạo cơ chế kiểm soátcác dòng vốn trên thị trường một cách hiệu quả Như vậy, theo quan điểm của WTO,chính phủ các quốc gia cần phải có sự can thiệp nhất định vào các dịch vụ ngân hàngđể kiểm tra, giám sát nhằm hạn chế những hành vi trong kinh doanh, các dịch vụ tàichính ngày càng phát triển và ổn định.
1.2.2 Nội dung can thiệp của Chính phủ trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng
Sau khi vừa trở thành thành viên thứ 150 của tố chức kinh tế thế giới WTO(1/2007), năm 2008 Việt Nam đã phải hứng chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tàichính Mỹ, từ đó đã bộc lộ sự yếu kém, tồn tại của hệ thống ngân hàng việt Nam Vìvậy, vấn đề cải cách cơ cấu nền kinh tế nói chung, tái cấu trúc khu vực tài chính ngânhàng nói riêng càng trở nên cấp thiết, sự phát triển lành mạnh và sự an toàn của hệthông ngân hàng có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế
Hệ thống ngân hàng với chức năng là trung gian tài chính có tác động (giốngnhư huyết mạch) đến sự phát triển của tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế và ổn địnhxã hội Vì vậy, “huyết mạch” rất cần được sạch, thông suốt để cơ thể nền kinh tế đượckhỏe mạnh Khủng hoảng hệ thống ngân hàng rất dễ kéo theo suy thoái kinh tế.Chính phủ các nước cần phải đưa ra các chính sách xử lý các ngân hàng yếu kém
và nợ xấu ngân hàng một cách quyết liệt không để xảy ra hiệu ứng domino bằngcác biện pháp tăng bảo hiểm tiền gửi, hỗ trợ thanh khoản, mua cổ phiếu, mua bán
nợ xấu,…
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (Khóa XI) đã ra Kếtluận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 nêu rõ “Trong 5 năm tới, cần tập trung vào balĩnh vực quan trọng nhất: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thịtrường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và các tổchức tài chính; tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công tynhà nước” Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ; ngân hàng đã tập trung triểnkhai quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD hướng tới một hệ thống ngân hàng lànhmạnh có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trang 151.3 Xu hướng can thiệp của Chính phủ vào dịch vụ ngân hàng trong thời
kỳ khủng hoảng
Để tồn tại và phát triển được trong thời kỳ khủng hoảng, chúng ta cần có một hệthống ngân hàng khỏe mạnh, trong sạch Vì vậy, chính phủ đã đưa ra chính sách điềuhành nền kinh tế với trọng tâm là các giải pháp kiềm chế lạm phát, bảo đảm ổn địnhkinh tế vĩ mô; thực hiện cơ cấu nền kinh tế, bắt đầu từ tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấudoanh nghiệp và tái cơ cấu hệ thống tài chính- ngân hàng
Bên cạnh đó, trong giai đoạn khủng hoảng, NHNN đã hoạch định và thực thi
chính sách tiền tệ quốc gia, có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế góp phần ổn định xãhội Đồng thời điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trưởng mở, lãi suất và các công cụkhác để hỗ trợ các ngân hàng thương mại có khả năng đảm bảo thanh khoản ở mứccao, điều tiết lãi suất huy động và cho vay của ngân hàng thương mại theo hướng ổnđịnh và giảm dần Ngày 20/10/2008 ngân hàng nhà nước đã triểu khai thực hiện một
số biện pháp:
- Điều chỉnh giảm dần các mức lãi suất chủ đạo( lãi suất cơ bản giảm từ 14%/năm xuống 13%/ năm, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 15%/ năm xuống còn 14%/ năm, lãisuất tái chiết khấu giảm từ 13%/ năm xuống còn 12%/ năm, lãi suất cho vay qua đêmthanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừcủa NHNN đối với các ngân hàng giảm từ 15%/ năm xuống 14%/ năm); và tiếp tụcgiảm các mức lãi suất trên trong thánh 12/2008 ở mức hợp lý
- Tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam đối với tổ chứctín dụng từ 5%/ năm lên 10%/ năm
- Thanh toán trước hạn 20.300 tỷ đồng tín phiếu NHNN dưới hình thức bắtbuộc phát hành kể từ ngày 17/03/2008 theo nhu cầu rút trước hạn của các TCTD
Ban hành chỉ thị số 05/2008/CT-NHNN ngày 9/10/2008 về một số biện phápđảm bảo an toàn, hiệu quả hoạt động kinh doanh của TCTD, trong đó chỉ đạo cácTCTD theo dõi, dự báo và chủ động các biện pháp để ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra;chấp hành đúng các quy định về tỷ lệ an toàn; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng,chú trọng phân tích, đánh giá, phân tích dự báo sát những biến động về cung cầu ngoại
tệ trên thị trường có thể gây áp lực lên tỷ giá, có biện pháp can thiệp kịp thời ổn địnhcung- cầu ngoại tệ và bỉnh ổn tỷ giá trên thị trường
Trang 16CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VÀO LĨNH VỰC NGÂN HÀNG SAU KHI GIA NHẬP WTO
2.1 Biểu cam kết của Việt nam trong lĩnh vực ngân hàng
1 Cam kết về ngoại hối và thanh toán:
Đối với giao dịch vãng lai, Việt Nam cho biết các biện pháp kiểm soát giao
dịch vãng lai đã được tự do hóa Việt Nam đã quy định nghĩa vụ tạm thời phải kết hốingoại tệ với mục đích tập trung ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng để đáp ứng các nhucầu thiết yếu về ngoại tệ cho nền kinh tế và đã nới lỏng dần yêu cầu kết hối này khitình hình kinh tế được cải thiện Việt Nam cam kết các biện pháp quản lý ngoại hối chỉđược áp dụng trong trường hợp ngoại lệ, do Chính phủ Việt Nam quyết định, nhằmduy trì an ninh tài chính và tiền tệ quốc gia phù hợp với điều lệ của IMF và Tài liệucủa IMF số 144( 52/51) ngày 14/8/1952 Việt Nam khẳng định rằng các hạn chế đốivới giao dịch vãng lai đã được bãi bỏ và không duy trì bất kỳ biện pháp nào trái vớicác cam kết của mình về các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác cũng như
về thanh toán giao dịch vãng lai và chuyển tiền quốc tế
Đối với giao dịch vốn, Việt Nam đã nới lỏng các giao dịch chuyển vốn của
các nhà đầu tư nước ngoài và việc vay nước ngoài của các tổ chức cư trú, chỉ duy trìmột số hạn chế về các giao dịch chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư của các tổ chức
cư trú, việc chuyển vốn này phải được các cơ quan có thẩm quyền cao cho phép vàphải trong phạm vi số ngoại tệ thuộc sở hữu của các tổ chức này; và thanh toán vàhoàn trả các khoản vay nước ngoài của các tổ chức cư trú, các giao dịch này phải đăng
ký với NHNN Việt Nam Tuy nhiên, các doanh nghiệp được tự do ký các hợp đồngvay nước ngoài theo nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1/11/2005 Nghĩa vụ đăng kýcác hợp đồng trung và dài hạn với Ngân hàng Nhà nước là vấn đề có tính thủ tục đểphục vụ cho mục đích thống kê và giám sát hoạt động vay nợ nước ngoài trung và dàihạn của các doanh nghiệp và phối hợp với Bộ Tài chính để bảo đảm các khoản nợnước ngoài của quốc gia trong phạm vi an toàn
Trang 17 Đại diện của Việt Nam lưu ý rằng theo điều XII của GATS( các hạn chế đểbảo đảm an toàn cán cân thanh toán), những hạn chế như vậy có thể được xem xét ápdụng khi Việt Nam gặp phải những khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế Các quyđịnh về ngoại hối của Việt Nam được IMF rà soát mỗi năm một lần, là một phần nộidung trong các đợt làm việc của Quỹ theo điều IV trong điều lệ của IMF Đối với việchoàn trả các khoản vay và các khoản đầu tư vốn ra nước ngoài của các doanh nghiệpViệt Nam, phải theo Nghị định số 22/1999/NĐ- CP, đáp ứng các điều kiện về có giấyphép đầu tư ra nước ngoài; mở một tài khoản ngoại tệ đăng ký việc mở tài khoản và cácgiao dịch chuyển vốn đầu tư Các giấy tờ cần thiết để xin phép đầu tư nước ngoài Cácdoanh nghiệp được phép đầu tư ra nước ngoài có thể chuyển lợi nhuận có được từ cáckhoản đầu tư của họ tại Việt Nam ra bất cứ nơi nào ở nước ngoài mà không phải thựchiện các thủ tục áp dụng đối với các doanh nghiệp Việt Nam Hoặc có thể mở các tàikhoản ngoại tệ để thực hiện các khoản đầu tư của họ tại Việt Nam ra bất cứ nơi nào ởnước ngoài mà không phải thực hiện theo các thủ tục áp dụng đối với các doanh nghiệpViệt Nam Hoặc có thể mở tài khoản ngoại tệ để thực hiện vay nước ngoài trung và dàihạn như quy định tại điểm 2, mục I, chương V, phần II của thông tư số 01/1999/TT-NHNN ngày 16/4/1999 về thực hiện Nghị định số 63/1998/NĐ – CP được phép mở tàikhoản ngoại tệ cho các hoạt động khác trong các trường hợp đặc biệt.
Về cân đối ngoại tê, Chính phủ xem xét bảo đảm cân đối nhu cầu ngoại tệ
cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án đặc biệt quan trọng trong cácchương trình của Chính phủ và hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án cơ sở hạ tầng vàmột số dự án quan trọng khác trong trường hợp các ngân hàng được phép giao dịchngoại hối không thể đáp ứng tất cả các yêu cầu về ngoại tệ Tóm lại, Việt Nam cam kết
sẽ thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với các vấn đề về ngoại hối theo quy định củahiệp định WTO, các tuyên bố và quyết định liên quan của WTO có liên quan tới IMF
và Việt Nam sẽ không áp dụng bất cứ luật, quy định hoặc các biện pháp nào khác, màcó thể hạn chế nguồn cung cấp ngoại tệ cho bất kỳ cá nhân hay doanh nghiệp nào đểthực hiện các giao dịch
vãng lai quốc tế trong phạm vi lãnh thổ của mình ở mức liên quan tới nguồnngoại tệ chuyển vào thuộc cá nhân hay doanh nghiệp đó
2 Các cam kết về chính sách thương mại dịch vụ liên quan đến ngân hàng
Trang 18 Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các tổ chức tín dụng nướcngoài có thể hoạt động dưới hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nướcngoài, ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng 100% vốn nước ngoài; công ty tài chínhliên doanh, hoặc công ty tài chính 100% vốn nước ngoài; công ty cho thuê tài chínhliên doanh, hoặc công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài, thời hạn hoạt độngkhông được quá 99 năm và không được vượt quá thời hạn hoạt động của ngân hàng
mẹ ở nước ngoài Thời hạn hoạt động của văn phòng đại diện của một tổ chức tín dụngnước ngoài không được vượt quá thời hạn hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoàiđó Thời hạn hoạt động tối đa của công ty tài chinh liên doanh, công ty tài chính 100%vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, và công ty cho thuê tài chính100% vốn nước ngoài là 50 năm, và các giấy phép hoạt động này có thể gia hạn Đónggóp của bên nước ngoài vào một ngân hàng liên doanh hoạt động với tư cách của mộtngân hàng thương mại không được vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng, trong khiđó phần góp vốn của bên nước ngoài vào một tổ chức tín dụng phi ngân hàng liêndoanh cần phải đạt ít nhất là 30% vốn điều lệ Tổng mức cổ phần của tổ chức và cánhân nước ngoài có thể được giới hạn ở mức 30% vốn điều lệ của một ngân hàngthương mại cổ phần của Việt Nam, trừ khi được pháp luật Việt Nam hoặc cơ quan cóthẩm quyền của Việt Nam cho phép
Trang 19 Về các điều kiện để một ngân hàng nước ngoài có thể xin được giấy phép mởmột chi nhánh tại Việt Nam, theo Luật ngân hàng hiện hành và Luật sửa đổi và bổsung một số điều của Luật các tổ chức Tín dụng, kể từ ngày 1/4/2007, các tổ chức tíndụng nước ngoài sẽ được phép thành lập các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại ViệtNam Một trong các điều kiện then chốt để mở một chi nhánh của ngân hàng thươngmại nước ngoài tại Việt Nam là ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản hơn 20 tỷ USD vàocuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mở chi nhánh Điều kiện then chốt để thành lậpmột ngân hàng liên doanh hoặc một ngân hàng 100% vốn nước ngoài là ngân hàng mẹphải có tổng tài sản hơn 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn xin mởngân hàng Đối với loại hình công ty tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài, phải cótổng tài sản hơn 10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn Các điều kiện đốivới các chi nhánh ngân hàng nước ngoài với các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽđược áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử, Việt Nam khẳng đinh rằng ngân hàngnhà nước Việt Nam sẽ tuân thủ các quy định trong các Điệu XVI và XVII của GATSkhi xem xét đơn xin cấp giấy phép mới phù hợp những hạn chế đã nêu trong biểu camkết về Dịch vụ của Việt Nam…
Về vốn tối thiểu đối với một chi nhánh ngân hàng nước ngoài bằng hoặcthấp hơn mức quy định đối với ngân hàng thuộc sở hữu trong nước được thành lập tạiViệt Nam, Việt Nam đã cho phép các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động dựavào vốn của ngân hàng mẹ cho mục đích cho vay Một chi nhánh ngân hàng nướcngoài không được phép mở các điểm giao dịch khác ngoài trụ sở chi nhánh của mình,các điểm giao dịch hoạt động phụ thuộc vào vốn của chi nhánh, nhưng không có hạnchế về số lượng của chi nhánh
Về tham gia cổ phần, VN có thể hạn chế việc tham gia cổ phần của các tổchức tín dụng nước ngoài tại các ngân hàng thương mại quốc doanh của VN được cổphần hóa như mức tham gia cổ phần của các NH VN Đối với việc đóng gớp vốn dướihình thức mua cổ phần, tổng só cổ phần được phép nắm giữ bởi các thể nhân và phápnhân nước ngoài tại mỗi ngân hàng thương mại cổ phần của VN không được vượt quá30% vốn điều lệ của ngân hàng, trừ khi luật pháp của VN có quy định khác hoặc được
sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền của VN
3 Những sản phẩm và dịch vụ NH được cam kết
Trang 20Các cam kết về dịch vụ ngân hàng các các dịch vụ tài chính khác được thựchiện phù hợp với các luật lệ và các quy định liên quan được ban hành bởi các cơ quancó thẩm quyền của VN để đảm bảo sự phù hợp với Điều VI của GATS và đoạn 2(a)của phụ lục về các dịch vụ tài chính Theo nguyên tắc chung và trên cơ sở không phânbiệt đối xửm việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ ngân hàng và tài chính khácphải tuân thủ theo các yêu cầu về hình thức pháp lý và các thể chế liên quan.
Những sản phẩm, dịch vụ đã cam kết:
- Nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng
- Cho vay dưới tất cả các hình thức bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại.
- Thuê mua tài chính
- Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và thẻ nợ, sec du lịch và hối phiếu ngân hàng
- Bảo lãnh và cam kết
- Kinh doanh trên tài khoản cua mình hoặc của khách hàng, tại sở giao dịch,
trên thị trường giao dịch thỏa thuận hoặc bằng cách khác, như dưới đây: công cụ thị trường tiền tệ( bao gồm sec, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi); ngoại hối; các công cụ tỷ giá và lãi suất, bao gồm các sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn; vàng nén.
- Môi giới tiền tệ
- Quản lý tài sản như quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức
quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác
- Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính
- Cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, và xử lý dữ liệu tài chính và
phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác
- Các dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ
khác đối với tất cả các hoạt động được nêu từ các tiểu mục (a) đến (k), kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghien cứu và tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn
về mua lại và về tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp
Trang 21Về lộ trình cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: kể từ khi gia nhập, các
tổ chức tín dụng nước ngoài được phép phát hành thẻ tín dụng trên cở sở đối xử quốcgia Trong vòng 5 năm kế từ khi gia nhập, VN có thể hạn chế quyền của một chi nhánhngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi bằng VND từ các thể nhân VN mà ngânhàng không có quan hệ tín dụng theo tỷ lệ trên mức vốn được cấp của chi nhánh phùhợp với lộ trình sau:
- Ngày 1/1/2007: 650% vốn pháp định được cấp
- Ngày 1/1/2008: 800% vốn pháp định được cấp
- Ngày 1/1/2009: 900% vốn pháp định được cấp
- Ngày 1/1/2010: 1000% vốn pháp định được cấp
- Ngày 1/1/2011: đối xử quốc gia đầy đủ
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới tác động trực tiếp đến hệ thốngNHTM VN qua việc cho phép các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài và những ngânhàng nước ngoài hoạt động tại VN được đối xử theo nguyên tắc tối huệ quốc Khi đó,các quốc gia nằm trong khuôn khổ các hiệp định đều có cơ hội để tham gia vào thịtrường tài chính ngân hàng Khi gia nhập WTO, VN phải chấp nhận mở cửa hơn nữacác dịch vụ ngân hàng, các ngân hàng nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau sẽcó nhiều cơ hội hơn trong việc xâm nhập thị trường VN Đây chính là động lực đểngân hàng VN phải tự hoàn thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vữnghơn
2.2 Thực trạng can thiệp của Chính phủ Việt nam vào lĩnh vực ngân hàng sau khi gia nhập WTO
Nhìn chung Việt Nam đã thực thi đầy đủ và nghiêm túc các cam kết gia nhập
WTO, Ta đã xây dựng và hoàn chỉnh nhiều văn bản pháp quy quan trọng như LuậtThuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫnthực thi các cam kết gia nhập WTO liên quan đầu tư, v.v nhằm đưa hệ thống phápluật, chính sách kinh tế- thương mại của ta phù hợp hơn các quy định của WTO, quađó cải thiện và tăng cường tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh và đầu tư tại ViệtNam
Trang 22Việt Nam cam kết sẽ giành đối xử quốc gia cho các ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, các ngân hàng nước ngoài sẽ được thâm nhập vào Việt Nam dưới hai hìnhthức hiện diện thương mại chính là: Một là thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài.Hai là, các nhà đầu nước ngoài sẽ mua cổ phần của các ngân hàng thương mại ViệtNam theo tỉ lệ cho phép
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tính đến năm 2015 hiện Việt Nam
đã có 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài,
53 văn phòng đại diện và 4 ngân hàng liên doanh, và cũng trong năm 2015, Ngân
hàng Nhà nước đã chấp thuận kế hoạch thành lập 2 ngân hàng 100% vốn nước ngoàicho Public Bank Berhad (PBB-Malaysia) và Citibank (Mỹ)
Trang 23Bảng 1: DANH SÁCH NGÂN HÀNG 100% VỐN NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM (Đến 31-12-2014)
TT Tên ngân
Số giấy phép ngày được cấp
Vốn điều lệ/ vốn được cấp( tỷ đồng)
1 ANZVL Tòa nhà Suncity, 13 Hai Bà Trưng, Hà
Nội
268/GP-NHNN ngày09/10/2008 3.000
3 HSBC 235 Đồng Khởi, phường Bến
Nghé,Quận 1, TP.Hồ Chí Minh
235/GP-NHNN ngày08/9/2008 7.528
4 Shinhan
Vietnam
Tầng trệt, tầng lửng, tầng 2,3 Tòa nhàEmpress, số 138-142 đường Hai BàTrưng, phường Đa Kao, Quận 1, TP Hồ
Chí Minh
341/GP-NHGP ngày29/12/2008 4.547
Trang 24Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, dù liên tục phát triển và mở rộng sựhiện diện, nhưng thị phần của khối ngân hàng nước ngoài hiện vẫn ở mức thấp Số liệucập nhật đến 31/12/2014, thị phần của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm6,92% tổng thị phần, trong khi ngân hàng 100% vốn và ngân hàng liên doanh chỉchiếm tương ứng khoảng 3% và 0,75% tổng thị phần (xét theo tổng tài sản) Về tốc độtăng thị phần, mặc dù vốn điều lệ/vốn được cấp có xu hướng tăng khá nhanh từ mức13% lên đến 19,1% (chưa kể gần 5% vốn góp, mua cổ phần của khối ngân hàng nướcngoài tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam), tuy nhiên, thị phần tổng tàisản và huy động vốn của khối ngân hàng nước ngoài chỉ tăng nhẹ (thị phần tổng tàisản tăng từ 10,4% năm 2009 lên 10,67% năm 2014, thị phần huy động vốn tăng từ7,9% năm 2009 lên 8,19% năm 2014) Đáng chú ý, riêng thị phần cho vay của khốinày đã giảm từ 9,2% năm 2009 xuống 8,28% năm 2014, đặc biệt thị phần cho vay củanhóm các chi nhánh ngân hàng nước ngoài giảm mạnh từ 6,3% năm 2009 xuống còn4,16% năm 2014
Theo Ngân hàng Nhà nước, bên cạnh nguyên nhân do tình hình kinh tế thế giới
và trong nước gặp nhiều khó khăn, một trong những nguyên nhân chính là do kể từ khiLuật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực, các chi nhánh ngân hàng nước ngoàiphải thực hiện giới hạn cho vay một khách hàng trên cơ sở vốn được cấp của bản thânchi nhánh ngân hàng nước ngoài, không được cho vay trên cơ sở vốn của ngân hàng
mẹ như trước đây
Về kết quả hoạt động kinh doanh, trong giai đoạn từ 2010-2014, khối ngânhàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoàihoạt động kinh doanh có lãi, chênh lệch thu nhập - chi phí hàng năm của khối luôn duytrì trên 5.000 tỷ đồng Tính đến thời điểm 31/12/2014, chênh lệch thu nhập - chi phícủa khối đạt 5.380,6 tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm 2010 Lợi nhuận trên tổng tài sản(ROA) của khối ngân hàng liên doanh, nước ngoài là 0,8, cao hơn so với toàn hệ thống(0,63) Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của khối này là 4,8, thấp hơn ROE củatoàn hệ thống (6,87)
Tăng tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ:
Trang 25Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 quy định: “Chính sách tiền tệ quốc gia là
các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”
Trên cơ sở bám sát mục tiêu của Quốc hội tại Nghị quyết số 77/2014/QH13ngày 10/11/2014 về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015 và kết quả đạt được
trong điều hành năm 2014, NHNN xác định mục tiêu và các giải pháp lớn về điều
hành chính sách tiền tệ năm 2015 như sau:“Điều hành chủ động và linh hoạt các công
cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, không chủ quan với lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn thanh khoản của các TCTD Điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát, bảo đảm giá trị đồng Việt Nam, tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế Thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh; tiếp tục triển khai các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD, đảm bảo thực hiện đúng lộ trình của Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Tăng cường phối hợp với các chính sách vĩ mô khác”