1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông

83 668 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

a b Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường – Tổng cục Môi trường, 2007 Hình1.5: Nồng độ BOD5 trung bình trong 5 năm gần đây 2005-2009 so với quy chuẩn quốc gia Việt Nam về chất lượng nư

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá mạnh mẽ xuất phát từ sự phát triểnkinh tế xã hội nhanh của Việt Nam đang gây ra những quan ngại về ô nhiễm môitrường tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, các trung tâm đô thị chínhkhác và các vùng phụ cận Đối với môi trường nước, nhất là môi trường lưu vựcsông, ô nhiễm được gây ra do nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý được thải ra từ các

hộ gia đình, văn phòng, và nước thải chưa qua xử lý được thải ra từ nhiều hoạtđộng trong sản xuất công nghiệp, khai khoáng, làng nghề… Chính Phủ Việt Nam vàcác cơ quan nhà nước về quản lý môi trường đã và đang có những nỗ lực đáng kể đểgiải quyết vấn đề này, tuy nhiên các biện pháp hiện nay vẫn chưa đủ tương ứng vớisức ép ngày càng lớn từ tải lượng ô nhiễm

Để khắc phục được tình trạng đó, Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình quản lýmôi trường nước với việc sử dụng phương pháp tiếp cận theo lưu vực sông ChínhPhủ ban hành một số các văn bản pháp lý và các chương trình, đề án, hoạch địnhhướng dẫn nhằm thúc đẩy việc hiện thực công tác quản lý lưu vực sông Đồng thời,

để bảo vệ nguồn tài nguyên nước, kiểm soát ô nhiễm tài nguyên nước và dự báođược diễn biến môi trường LVS cần đánh giá chất lượng nước và xu hướng pháttriển chất lượng nước, kiểm soát và có đủ chế tài xử lý các nguồn gây ô nhiễm Ởđây quy trình quản lý chất lượng nước lưu vực sông có một ý nghĩa rất quan trọng.Một quy trình quản lý chất lượng nước sông có sử dụng phần mềm mô hìnhhóa hỗ trợ là một công cụ được sử dụng hiệu quả trên thế giới phục vụ công tácquản lý chất lượng nước lưu vực sông Tại Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu và sửdụng công cụ phần mềm mô hình hóa môi trường trong khoảng 10 năm gần đây, tuynhiên, chưa có một quy trình quản lý chất lượng nước lưu vực sông hoàn chỉnh Vìvậy, quy trình quản lý chất lượng nước một lưu vực sông có sử dụng công cụ phầnmềm mô hình hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trong luận văn, dựa trên những kinh nghiệm của thế giới và hiệu chỉnh quátrình đảm bảo phù hợp điều kiện thực tiễn và hiện trạng quản lý lưu vực sông củaViệt Nam, tác giả nghiên cứu và đề xuất một quy trình quản lý chất lượng nước lưu

Trang 2

vực sông gồm 10 bước cụ thể Quy trình đưa ra hướng dẫn chi tiết theo từng bước

và lộ trình cụ thể để thu được những đánh giá thực trạng chất lượng nước sông và

dự đoán mô phỏng chất lượng nước trong tương lai Luận văn sử dụng chương trình

mô phỏng chất lượng nước QUAL2K là công cụ kỹ thuật hỗ trợ quy trình Phầnmềm QUAL2K được phát triển bởi Cục Bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) là một trongnhững mô hình tiên phong được sử dụng rộng rãi trên thế giới phục vụ nghiên cứuảnh hưởng của các chất ô nhiễm thông thường đến chất lượng nước sông Mặc dù,phần mềm QUAL2K không phải là một kỹ thuật mới nhưng dễ sử dụng với tínhhiệu quả cao và không yêu cầu nhiều dữ liệu như các phần mềm khác, phù hợp làcông cụ nghiên cứu bước đầu cho Quy trình đề xuất

Đối tượng áp dụng thử nghiệm quy trình đề xuất là lưu vực sông Nhuệ - Đáy,một lưu vực sông lớn, quan trọng của vùng đồng bằng Bắc Bộ Chất lượng môitrường nước của các con sông thuộc lưu vực đã và đang bị suy giảm nhanh chóng

do ảnh hưởng từ các hoạt động phát triển kinh tế, do các khu công nghiệp, khu đôthị, làng nghề, các cơ sở sản xuất mọc lên rất nhanh nhưng thiếu sự quản lý chặt chẽđối với các vấn đề môi trường Trong khi đó hàng triệu người sống trong lưu vựcsông Nhuệ - Đáy sử dụng nguồn nước này trong các nhu cầu khác nhau của cuộcsống Vì vậy, việc có một quy trình quản lý thống nhất, hiệu quả và bền vững chấtlượng nước lưu vực trở thành yêu cầu vô cùng cấp thiết

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa khoa

học và thực tiễn to lớn Chính bởi lý do đó, tác giả đã tiến hành luận văn “Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông”

Luận văn bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

Chương I: Tổng quan quy trình quản lý chất lượng nước lưu vực sông

Chương II: Cơ sở lý thuyết đề xuất quy trình quản lý chất lượng nước lưu vựcsông

Chương III: Đánh giá tính khả thi quy trình quản lý chất lượng môi trường nước áp dụng với lưu vực sông Nhuệ - Đáy

Trang 3

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN QUY TRÌNH QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản về lưu vực sông

1.1.1 Chất lượng nước lưu vực sông

Khái niệm lưu vực sông:

Theo EPA, lưu vực sông (river basin) có thể được hiểu là một vùng địa lý màtrong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông Khi nói tới lưuvực sông (LVS) là xét đến toàn bộ vùng đất với tài nguyên nước (nước mặt, nướcdưới đất), đất đai, rừng, hệ động vật…[24]

Theo Bộ Tài nguyên và môi trường tiểu bang Bắc Carolina - Mỹ, LVS làvùng đất mà các dòng nước chảy qua hoặc chảy ngầm dưới đất cùng đổ vào mộtcon sông Giống như một cái bồn thu toàn bộ lượng nước rơi vào phía trong nó,LVS chuyển toàn bộ lượng nước rơi vào trong nó đến sông chính và chảy đến cửasông hoặc cửa biển LVS có thể chia thành các tiểu lưu vực (watershed) đó là vùngđất xung quanh sông nhỏ, dòng suối hoặc hồ

Do đó, có thể hiểu đơn giản, LVS là phần diện tích khu vực tập trung toàn bộnước đổ vào con sông hay vận chuyển nước chảy trên vùng đất phụ cận đến sôngchính và chảy đến cửa sông hoặc cửa biển

Hình 1.1: Sơ đồ lưu vực sông [16]

Trang 4

Chất lượng nước lưu vực sông:

Chất lượng nước là tính chất lý hoá và thành phần sinh học của nước Ngoàilượng nước, chất lượng nước rất quan trọng quyết định việc khai thác sử dụngnguồn nước Chất lượng nước xét đến toàn bộ các tính chất vật lý (như độ dẫn, độđục, nhiệt độ ), thành phần hoá học (pH, DO, BOD, COD, N, P ) và thành phần

vi sinh (coliform, Ecoli, pathogen ) có trong nước Hàm lượng các chất này quyếtđịnh việc nguồn nước đó có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau Để xác địnhcác yếu tố chất lượng nước, đòi hỏi sự đo đạc, phân tích mẫu nước trong các phòngthí nghiệm chuyên dụng

Chất lượng nước tác động mạnh mẽ đến sự sống của con người cũng như môitrường Nói chung, trong tự nhiên nước sông khá sạch, nhưng do các chất thải độchại không được xử lý đổ vào môi trường nước, khi vượt quá giới hạn nào đó, nguồnnước có thể trở thành nguồn độc và là nguồn bệnh

1.1.2 Ô nhiễm nước sông

Định nghĩa ô nhiễm nước

Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi “chất lượng” so với nước tự nhiên.Nguồn gốc ô nhiễm có thể do các hoạt động của con người, do các quá trình tựnhiên, do thiên tai, do mất cân bằng hệ sinh thái Có thể phân loại sự ô nhiễm nướcnhư sau: ô nhiễm tại nguồn, ô nhiễm tại nơi tiếp nhận, ô nhiễm do thiếu ô xy, do cácchất dinh dưỡng (N, P, …), do các chất độc [16]

Ô nhiễm môi trường nước: Có ảnh hưởng quan trọng đến các vấn đề môitrường, hệ sinh thái, sức khỏe nên cần kiểm soát được để có thể quản lý chấtlượng nước nghĩa là cần đánh giá được trước khi có thể kiểm soát và quản lý

Khái niệm ngưỡng chịu tải ô nhiễm của nguồn nước

Khái niệm ngưỡng chịu tải (carrying capacity) liên quan tới khả năng chốngchịu và phục hồi, tức là là một con số giới hạn mà khi vượt quá sẽ làm mất cân bằng

hệ sinh thái [Nguồn: The concepts and analysis of carrying capacity-a management tool for effective planning, Lim L.C (1995)] Kỹ thuật tìm ngưỡng chịu tải ô nhiễm

của nguồn nước đòi hỏi nhiều công cụ: mô hình hóa, các nghiên cứu về độc tính,…

Trang 5

1.1.3 Quy trình quản lý chất lượng nước lưu vực sông

Quản lý chất lượng nước LVS là hoạt động thuộc chương trình quản lý LVS,

là một quá trình thúc đẩy sự hợp tác giữa khai thác và quản lý nước, đất và các tàinguyên khác trong lưu vực, với mục đích đạt được lợi ích kinh tế và xã hội cao nhấtmột cách hợp lý mà không làm tổn hại đến sự bền vững của hệ sinh thái [12]

1.2 Tổng quan chất lượng nước các lưu vực sông ở Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm lưu vực sông ở Việt Nam

Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc với 2.370 con sông có chiềudài lớn hơn 10 km Trong số đó, 10 con sông chảy qua biên giới nhiều nước ViệtNam có 16 LVS chính, trong các lưu vực đó có 9 lưu vực chiếm diện tích trên 90%tổng diện tích LVS của cả nước Chín (9) lưu vực đó bao gồm: lưu vực sông Hồng,sông Thái Bình, sông Bằng Giang - Kỳ Cùng, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn,sông Ba, sông Đồng Nai và sông Cửu Long (Mekong) Bản đồ các LVS lớn ở ViệtNam thể hiện qua hình 1.2 [22,7]

Trang 6

Hình 1.2 Bản đồ các lưu vực sông lớn của Việt Nam [2]

Trang 7

Mỗi LVS có đặc điểm riêng về tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyênnước Các LVS mang lại các giá trị rất to lớn [8]: Cung cấp các nguồn tài nguyênquý giá cho sản xuất và sinh hoạt; Bảo vệ sự sống của con người và các hệ sinh thái;

Là môi trường tiếp nhận, chuyển tải và làm sạch các chất thải; Là nơi tập trungnhiều loại hàng hoá tự nhiên có giá trị về mặt kinh tế; các giá trị của tài nguyênnước như cung cấp nước cho sinh hoạt và công nghiệp, phục vụ giao thông vận tảithuỷ, khai thác cát lòng sông, cung ứng dịch vụ phi thị trường như tiếp nhận và tựlàm sạch chất thải, tạo cảnh quan môi trường và các giá trị bảo tồn như tham gia vàochu trình nước trong tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học…

Đặc điểm các hệ thống sông chính có ở Việt Nam như sau (bảng 1.1)

Bảng 1.1: Các thông số chính của một số lưu vực sông lớn chảy

qua địa phận Việt Nam

(Nguồn: Dữ liệu về tài nguyên nước quốc gia, Cục Quản lý Tài nguyên nước)

Hiện tại, tài nguyên nước sẵn có tính theo đầu người trung bình khoảng 10.000

m3/người/năm Trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam được coi là có nguồn tài nguyênnước dồi dào nhưng phụ thuộc nhiều vào lượng nước bên ngoài lãnh thổ, và theo sốliệu thống kê, đa số lượng nước là của sông Mekong Tổng lưu lượng nước hàngnăm của sông Mekong chiếm 60% tổng lượng nước trên toàn quốc Sông Hồng

Trang 8

chiếm 15% và sông Đồng Nai chiếm 4% tổng lượng nước [27] Nếu không tính đếnlượng nước của sông Mekong, thì phần còn lại của lãnh thổ Việt Nam sẽ ở tìnhtrạng thiếu hụt nước Nếu loại trừ tất các các nguồn nước từ ngoài lãnh thổ, thì trongtương lai Việt Nam có lượng nước dưới mức thiếu hụt Mặt khác, với sự gia tăngmạnh mẽ của dân số và việc sử dụng nguồn nước không hợp lý, “mức căng thẳng”nguồn tài nguyên nước đang trở thành vấn đề quan trọng [2,27] Hình 1.3 cho thấymức độ khai thác nước tại các LVS Việt Nam vào mùa khô rất đáng báo động.

(Nguồn: Báo cáo đánh giá ngành nước)

Như vậy, hiện nay, một số khu vực trên lãnh thổ Việt Nam đang phải đối mặtvới sự thiếu nước và sự cạnh tranh để được sử dụng nguồn nước Theo xu hướngphát triển và nhu cầu sử dụng trong tương lại, sự thiếu hụt càng trầm trọng hơn.Điều đó cho thấy việc quản lý bền vững nguồn TNN và đảm bảo chất lượng nước làrất cần thiết đối với Việt Nam

1.2.2 Hiện trạng chất lượng nước lưu vực sông Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng nguồn nước mặt khá phong phú nhưngnhững năm gần đây hoạt động phát triển kinh tế xã hội nhanh đã tác động rất lớnđến TNN dẫn đến nguy cơ suy thoái về chất lượng Theo kết quả điều tra của CụcQuản lý TNN thì có năm (5) LVS hiện nay đang bị ô nhiễm nghiêm trọng là lưu vực

Hình 1.3: Mức độ khai thác nước vào mùa khô tại 16 lưu vực sông Việt

Trang 9

đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng Thái Bình, sông Đồng Nai, Sông Vũ Gia Thu Bồn, LVS Cả trong đó có nhiều điểm nóng là sông Đồng Nai - Thị Vải, sôngTrà Khúc, sông Cầu, LVS Nhuệ - Đáy đang bị suy thoái nghiêm trọng Nguyênnhân ô nhiễm nước chủ yếu là do việc xả thải các loại nước thải vào lưu vực và khaithác sử dụng nguồn nước không hợp lý Một số dạng nước thải như sau:

-Nước thải công nghiệp của các ngành nghề khác nhau có lưu lượng và tảilượng khác nhau nhưng nói chung chứa nhiều chất độc hại như: dầu mỡ, chất rắn lơlửng, chất hữu cơ, hoá chất vô cơ, kim loại nặng… nếu không được xử lý và thảitrực tiếp xuống sông làm ô nhiễm nước càng trở nên trầm trọng Theo báo cáo hiệntrạng môi trường Quốc gia năm 2006, trên LVS Cầu có hơn 2.000 doanh nghiệp sảnxuất công nghiệp, LVS Nhuệ-Đáy có tới 4.113 doanh nghiệp công nghiệp, LVSĐồng Nai có tới 9.147 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nên đây là nguồn gây

áp lực rất lớn tới sự suy giảm chất lượng nước của các LVS [2] Hình 1.4 là ví dụcho thấy sự ô nhiễm nghiêm trọng hàm lượng N-NH4 tại LVS Nhuệ -Đáy, đặc biệttại sông Nhuệ nồng độ vượt gấp nhiều lần so tiêu chuẩn cho phép

(a)

(b)

( Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường – Tổng cục Môi trường, 2010 )

Hình 1.4: Số liệu quan trắc nồng độ N-NH 4 trên LVS Nhuệ - Đáy từ năm

2006 đến năm 2010 so với QCVN 08:2008

(a) sông Nhuệ (b) sông Đáy

Trang 10

Nước thải sinh hoạt của cư dân sống trong lưu vực cũng là một nguồn gây ônhiễm lớn Dân số của các tỉnh thuộc các LVS ngày càng tăng trong khi hạ tầng kỹthuật đô thị không phát triển tương ứng càng làm gia tăng vấn đề ô nhiễm do nướcthải sinh hoạt Đặc trưng của nước thải sinh hoạt là chứa nhiều các chất hữu cơ,chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh và mầm bệnh do đó nếu không được xử lý trước khithải thì nguy cơ gây ô nhiễm cho sông là tất yếu Có thể nói hầu hết lượng nước thảisinh hoạt không được xử lý mà đổ trực tiếp vào các sông Hình 1.5 là ví dụ cho thấy

sự gia tăng ô nhiễm BOD5 trên một số con sông do dòng nước thải đổ vào dòngsông từ các khu đô thị và công nghiệp

(a) (b)

( Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường – Tổng cục Môi trường, 2007 )

Hình1.5: Nồng độ BOD5 trung bình trong 5 năm gần đây (2005-2009) so với quy chuẩn quốc gia Việt Nam về chất lượng nước mặt, tại

(a) LVS Cầu (b) sông Nhuệ (c) sông Đáy (d) sông Đồng Nai

Nước thải làng nghề: lưu lượng lớn, mức độ ô nhiễm cao, thành phần các chất

ô nhiễm phức tạp là một nguồn gây ô nhiễm đáng lưu ý Số lượng các làng nghềtrên các LVS Việt Nam khá lớn: LVS Cầu có khoảng 200 làng, LVS Nhuệ- Đáy có

Trang 11

458 làng nghề [2] Các làng nghề này thường là các cơ sở tiểu thủ công nghiệp sửdụng hệ thống thiết bị lạc hậu, công nghệ đơn giản, quy mô nhỏ mang tính gia đình,khả năng đầu tư hệ thống xử lý nước thải hạn chế nên nước thải thường không xử lýhoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn và thải trực tiếp vào nguồn tiếp nhận.

Nước thải y tế là một trong những nguồn đặc biệt nguy hiểm do đặc tính loạinước thải này thường chứa nhiều hoá chất độc hại, các chất hữu cơ, các vi sinh vậtgây bệnh và nhiều mầm bệnh khác Do đó đây là nguồn tiềm ẩn nguy cơ lan truyềndịch bệnh qua môi trường nước

Các hoạt động nông nghiệp cũng có tác động đến ô nhiễm nguồn nước do sửdụng quá mức phân bón hoá học và thuốc trừ sâu Ngoài ra, các hoạt động chănnuôi gia súc, gia cầm trên các tỉnh thành ngày càng tăng nhưng có rất ít cơ sở chănnuôi thực hiện các biện pháp xử lý chất thải kể cả các trang trại chăn nuôi quy môlớn, hầu hết nước thải đều đổ trực tiếp vào nguồn tiếp nhận

Nguồn nước ngầm ven biển cũng bị ô nhiễm nhiễm mặn do nước biển ngấmvào khi khai thác quá mức nước ngầm hoặc chất gây ô nhiễm qua các lỗ khoanngấm vào các tầng nước ngầm Hoạt động giao thông thủy với những sự cố rò rỉ dầutrên sông, biển, làm ô nhiễm nặng nguồn nước và phá huỷ môi trường sống nơi vếtdầu loang tràn qua

Như vậy, ô nhiễm nguồn nước không chỉ gây ảnh hưởng đến cảnh quan môitrường tại các LVS, gây ảnh hưởng tiêu cực đối với phát triển kinh tế (đặc biệt vấn

đề cung cấp nước) mà còn là nguy cơ gây bệnh tiềm ẩn đối với con người nên dẫnđến những mâu thuẫn trong sử dụng nước làm tăng nguy cơ thiếu hụt nước cấp [5]

Có thể nhận thấy, cùng với sự gia tăng dân số, phát triển KT - XH, việc khaithác quá mức, sử dụng và bảo vệ nguồn nước không hợp lý đã dẫn đến suy giảm vềchất lượng và số lượng nguồn nước tại các LVS Việt Nam Để khôi phục, bảo vệ và

sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này, cần có những chính sách và biện phápquản lý hiệu quả Trong khi, hiện nay, trên thế giới phương pháp quản lý thống nhấttheo LVS với công cụ kỹ thuật (mô hình hóa ) là hướng quản lý đạt hiệu quả nhất.Thực trạng quản lý theo LVS tại nước ta như sau

Trang 12

1.3 Thực trạng công tác quản lý lưu vực sông và quy trình quản lý chất lượng nước lưu vực sông tại Việt Nam

Việc quản lý thống nhất và tổng hợp nguồn nước của một LVS là vấn đề cònnhiều vướng mắc đối với Việt Nam, hạn chế về mặt nhận thức và tất yếu sẽ gặpkhông ít lúng túng khi triển khai Quản lý môi trường nước có thể được xem xéttrên hai khía cạnh: (1) các biện pháp bảo vệ nước tại các nguồn ô nhiễm do các cơ

sở phát sinh thải lượng ô nhiễm thực hiện và, (2) quản lý và phản ứng của nhà nước

về hướng dẫn và giám sát các biện pháp bảo vệ nước Cụ thể hơn, tại Việt Nam hiệnnay, tình hình quản lý các LVS như sau [2, 26]

1.3.1 Chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý lưu vực sông

Bảo vệ môi trường nước các LVS là một trong những nội dung cơ bản của quyhoạch khai thác, sử dụng và quản lý TNN trong LVS Một số văn bản quy phạmpháp luật có liên quan sử dụng và quản lý TNN nói chung và LVS nói riêng nhưsau:

- Luật bảo vệ môi trường - năm 2005; Luật tài nguyên nước - năm 1998; Luậtđất đai - năm 2003;

- Quyết định số 67/2000/QĐ-TTg ngày 15 tháng 6 năm 2000 - thành lập Hộiđồng quốc gia về TNN; Quyết định số 99/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 6 năm2001về việc ban hành Quy chế tổ chức hoạt động của Hội đồng quốc gia về TNN;

- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủquy định việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thảivào nguồn nước; Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 vềhướng dẫn Nghị định số 149/2004/NĐ-CP;

- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quyđịnh về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực TNN;

- Quyết định số 59/2006/QĐ-BTC ngày 25 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí

Trang 13

thẩm định, lệ phí cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nướcthải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất;

- Nghị định số 112/2008/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Chính phủquy định về việc quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên nước và môi trườngcác hồ chứa, thủy điện, thủy lợi;

- Nghị định số 120/20008/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 20008 của Chính phủquy định về Quản lý LVS như một giải pháp chiến lược nhằm quản lý tổng hợp vàtoàn diện tài nguyên nước vùng LVS với các nhận thức mới, phù hợp với yêu cầuthực tiễn phát triển KT - XH của đất nước và khu vực Nghị định số 120 có thể pháttriển định hướng quản lý LVS, nó cho phép quản lý ảnh hưởng giữa các vùng vàgiữa các vùng với môi trường và cung cấp cơ hội để tối thích việc sử dụng cơ sở hạtầng chung để đạt được nhu cầu khác nhau Nghị định rất toàn diện và bao gồm: cácnguyên lý và nội dung của quản lý LVS; danh sách các LVS, sự đầu tư chính sáchcho phát triển bền vững LVS; điều tra cơ bản về môi trường LVS và các nguồnnước; chương trình LVS; kiểm soát các nguồn ô nhiễm và sự bảo vệ chất lượngnước LVS

- Thông tư số 14/2009/TT-BTC ngày 22 tháng 01 năm 2009 của Bộ Tài chính

để thực hiện nhiệm vụ, dự án thuộc Đề án bảo vệ môi trường LVS;

- Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam như QCVN QCKT Quốc gia về chất lượng nước mặt, QCVN 14:2008/BTNMT- QCKT quốcgia về nước thải sinh hoạt, QCVN 40:2011/BTNMT- QCKT quốc gia về nước thảicông nghiệp Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thựchiện công tác bảo vệ chất lượng và phòng chống ô nhiễm nguồn nước nói chung vànước LVS nói riêng

08:2008/BTNMT-Đến nay, luật nước được thực hiện hơn 10 năm đã bộc lộ những khiếm khuyết,

vì vậy Bộ TN&MT đang tiến hành sửa đổi Luật Tài nguyên nước và trình Quốc hộivào cuối năm 2011 Các văn phản pháp luật khác về TNN mặc dù đã cơ bản đượcxây dựng nhưng còn thiếu nhiều nội dung và chưa đáp ứng với yêu cầu của quản lýTNN Nghị định về quản lý LVS với những nhận thức mới cơ bản định hướng đúng

Trang 14

theo thực tế và xu hướng thế giới, nhưng chưa có hướng dẫn thi hành trong thực tế.Trong bối cảnh chung đó, chúng ta có thể tham khảo, học hỏi kinh nghiệm của cácnước và các tổ chức quốc tế về các vấn đề liên quan và cố gắng vận dụng các kinhnghiệm đó vào trong hiện trạng chính sách quản lý LVS Việt Nam một cách linhhoạt và phù hợp nhất có thể.

1.3.2 Công tác tổ chức quản lý môi trường lưu vực sông [27]

Các cơ quan quản lý môi trường có vai trò quan trọng đến xu hướng biến đổichất lượng môi trường nước, bởi vì quyết định quản lý thực chất là dung hòa giữalợi ích kinh tế và BVMT Hiện nay, Nhà nước đã có những văn bản quy định rõchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý cấpquốc gia (như Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT…), cấp liên vùng và địa phương (các

Ủy ban LVS, các Sở TN&MT, UBND ) như sau:

- Bộ TN&MT: Theo nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BộTN&MT Theo đó, tại điều 1 quy định BộTN&MT là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnhvực TNN ;

- Bộ NN&PTNT: Theo nghị định số 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ NN&PTNT có chức năng thườngtrực quốc gia về công tác phòng, chống lụt, bão

- Các Bộ, ngành khác: Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủthực hiện chức năng quản lý nhà nước về TNN theo sự phân công của Chính phủtheo quy định tại Luật tài nguyên nước;

- Cục Quản lý tài nguyên nước: Là tổ chức trực thuộc Bộ TN&MT, có chứcnăng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và thực thi nhiệm vụ, quyền hạnquản lý nhà nước về TNN trong phạm vi cả nước Chức năng, nhiệm vụ và quyềnhạn của Cục Quản lý TNN được quy định tại Quyết định số 1035/2008/QĐ-BTNMT ngày 19 tháng 05 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ TN&MT;

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhệmquản lý nhà nước về TNN trong phạm vi địa phương theo quy định của Luật Tài

Trang 15

nguyên nước, các quy định khác của pháp luật và sự phân cấp của Chính phủ Theonghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 quy định việc thi hành Luật Tàinguyên nước, UBND cấp tỉnh, thành phố có nhiệm vụ thực hiện các quy định vềbảo vệ TNN, các quy định về khai thác, sử dụng TNN;

- Sở TN&MT là cơ quan tham mưu giúp UBND các tỉnh, thành phố thực hiệnquản lý nhà nước tại địa phương theo quy định tại Thông tư liên Bộ TN&MT - BộNội vụ số 03/2008/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/07/2008;

- Sở NN&PTNT là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh, thành phố thực hiệnchức năng phòng chống lụt bão tại địa phương;

- UBND cấp huyện, xã: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý tài nguyênnước được quy định trong Luật tài nguyên nước

- Việt Nam hiện có 16 LVS lớn và đã có 11 tổ chức LVS: Ban Quản lý Quyhoạch LVS Hồng-Thái Bình, Cầu, Đáy, Cả, Vũ Gia-Thu Bồn, Đồng Nai, Serepok

và Cửu Long, Ủy ban Bảo vệ Môi trường LVS Cầu, Đồng Nai, Nhuệ-Đáy Với việcthành lập các ban quản lý LVS và các ủy ban BVMT LVS cho thấy Việt Nam đã cónhững bước tiến nhất định trong cách tiếp cận tiên tiến trong phát triển và quản lýTNN theo hướng bền vững Tuy nhiên về thể chế, chức năng và nhiệm vụ của các tổchức LVS cần tiếp tục cải tiến để xử lý được những vấn đề quản lý TNN trong tìnhhình phát triển kinh tế xã hội nhanh và mạnh như hiện nay

Như vậy, mặc dù theo hướng dẫn nguyên tắc quản lý LVS của Nghị định120/2008/NĐ-CP, TNN trong LVS phải được quản lý thống nhất, không chia cắtgiữa các cấp hành chính, giữa thượng nguồn và hạ nguồn Tuy nhiên, thực tế hoạtđộng quản lý ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam từ lâu vẫn được xử lý theo địagiới hành chính là chủ yếu Để thực thi hiệu quả cần có sự thay đổi cách tổ chứcquản lý như hướng dẫn trong nghị định 120/2008/NĐ-CP, đó cũng là phù hợp xuhướng thế giới

1.3.3 Áp dụng các công cụ kinh tế

Các công cụ kinh tế (thuế, phí, lệ phí, cota ô nhiễm, hệ thống ký quỹ và hoàntrả, quỹ môi trường…) đóng một vai trò quan trọng trong quản lý môi trường LVS

Trang 16

Hầu hết các tỉnh, thành phố trong lưu vực đều thu được phí BVMT đối với tài TNNtuy rằng tỷ lệ phần trăm số tiền thu được so với dự kiến là rất thấp, đây là dấu hiệurất đáng mừng, tạo đà cho việc phát triển và áp dụng các công cụ kinh tế trongBVMT các LVS.

1.3.4 Thực hiện quy hoạch lưu vực sông

Trong các hoạt động quy hoạch và quản lý LVS cần kể đến quy hoạch TNNLVS với mục tiêu là xây dựng khuôn khổ chung cho công tác bảo vệ, khai thác,phát triển và sử dụng TNN, phòng chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra vàBVMT có liên quan đến TNN LVS; xác định các quy tắc, các hoạt động cần thựchiện để quản lý sử dụng tổng hợp và bền vững TNN LVS Tuy nhiên, công tác nàymới chỉ đạt triển khai ở giai đoạn đầu về lập nhiệm vụ quy hoạch từng khu vực.Trước khi Nghị định số 120/2008/NĐ-CP về quản lý LVS và Thông tư số15/2009/TT-BTNMT ngày 05/10/2009 quy định về Định mức kinh tế - kỹ thuật lậpquy hoạch, điều chỉnh quy hoạch TNN ban hành, Việt Nam đã tiến hành Quy hoạchTNN tại các LVS và vùng kinh tế trọng điểm (LVS Đồng Nai, sông Ba, vùng cựcNam trung bộ, sông Hương và vùng phụ cận, vùng bán đảo Cà Mau, LVS Cầu,vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam và tài nguyên nước đảo Phú Quốc) Sau khi Nghị định số120/2008/NĐ-CP và thông tư số 15/2009/TT-BTNMT ban hành, Việt Nam đã thựchiện lập nhiệm vụ quy hoạch LVS Hồng, sông Cả, sông Mã, sông Lô - Gâm, sôngSerêpok và sông Bằng Giang - Kỳ Cùng

Trong khi đó, việc phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nướcthải cũng hết sức quan trọng, phải được thực hiện thống nhất cho toàn LVS nhằmtránh sự xung đột, mâu thuẫn giữa các địa phương, giữa vùng thượng, trung, hạ lưucác con sông Những khó khăn trong công tác lập quy hoạch TNN: năng lực các cơquan trong việc lập quy hoạch TNN còn hạn chế, cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở kỹthuật của các đơn vị chưa đảm bảo và đáp ứng được yêu cầu lập quy hoạch TNN.Nhưng hiện nay, mỗi ngành khai thác, sử dụng TNN chỉ chú trọng đến lợi ích của

Trang 17

ngành mình là chủ yếu chưa có một sự điều phối chung về việc phân phối sử dụngTNN một cách hiệu quả, kể cả công trình đa mục tiêu.

Như vậy, công tác lập quy hoạch LVS cần được đầu tư vật chất và kỹ thuậtnhiều hơn để đảm bảo sự phát triển bền vững hiệu quả của các LVS phù hợp pháttriển chung của đất nước

1.3.5 Hiện trạng quy trình quản lý chất lượng nước LVS

Nghiên cứu về LVS ở Việt Nam đã được thực hiện khá sớm, đặc biệt nhữngnghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực: khí tượng - thủy văn, địa hình - địa mạo…

và gần đây các nghiên cứu về diễn biến, chất lượng môi trường nước trong LVS đãđược phát triển mạnh hơn Các công trình nghiên cứu này đề xuất một số giải phápthiết thực, có những đóng góp tích cực trong công tác BVMT các LVS và cung cấpcác số liệu quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứuvẫn còn một số hạn chế như: phân tán, không tập trung, mới dừng ở mức khái quát,chưa có nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng nước, thiếu phương pháp luận trongquy hoạch…

Bên cạnh đó, các đề án nhiệm vụ trọng tâm về bảo vệ chất lượng nước LVStiêu biểu được thực hiện là: (1) Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên

và môi trường quốc gia đến năm 2020 (Căn cứ Quyết định Số 16/2007/QĐ-TTgngày 29/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ), (2) Đề án tổng thể BVMT của ba LVSchính đến năm 2020 (sông Nhuệ- Đáy, sông Cầu, sông Đồng Nai) (Theo quyết định

số 57/2008/QĐ-TTg ngày 29/04/2008) Các nghiên cứu, đề án đã đạt được mục tiêusau:

- Đánh giá hiện trạng môi trường và tác động môi trường của các hoạt độngKT-XH thuộc lưu vực (LVS Nhuệ- Đáy, sông Cầu, sông Đồng Nai ) Điều trathống kê các nguồn thải, hiện trạng môi trường và những tác động đến môi trườngtrên LVS;

- Tiến hành quan trắc môi trường liên tục và thường xuyên các chỉ tiêu hóa lý

cơ bản, sinh học, bùn lắng và độc học với số điểm và tần suất, thông số quan trắcngày càng tăng;

Trang 18

- Dự báo diễn biến môi trường LVS, xác định nguyên nhân gây ô nhiễm môitrường vùng nghiên cứu bằng công cụ mô hình (mô hình QUAL2E, mô hình sinhthái AQUASIM, mô hình MIKE 11, MIKE 21, mô hình DPSIR (Driving force -Pressure - State - Impact - Respond) ) cho các giai đoạn hiện tại, giai đoạn đếnnăm 2015, năm 2020;

- Đánh giá ngưỡng chịu tải và đề xuất các giải pháp quản lý, khắc phục tìnhtrạng ô nhiễm môi trường nước LVS;

- Lập quy hoạch BVMT LVS Nhuệ - Đáy, sông Cầu, sông Sài Gòn - Đồng Naiđến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;

- Các đề án cũng đã nêu rõ xu hướng chung để quản lý tổng hợp TNN thì cần

áp dụng đầy đủ và triệt để các công cụ luật pháp và chính sách; công cụ kinh tế;công cụ kỹ thuật quản lý; công cụ giáo dục và nâng cao nhận thức Hiện nay, cáccông cụ kỹ thuật quản lý LVS thường được áp dụng và đóng vai trò quan trọngtrong việc ra quyết định quy hoạch và quản lý LVS là công cụ mô hình, công nghệviễn thám, hệ thống thông tin địa lý GIS Trong đó, công cụ mô hình đã và đangđược sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như tại Việt Nam đặc biệt trong công tácquản lý chất lượng nước Các mô hình 1D, 2D và 3D cho nước ngầm và nước mặt,được xây dựng theo các sơ đồ sai phân hữu hạn và phần tử hữu hạn đã rất phát triển.Các mô hình hiện có thuộc về hai dạng miễn phí và thương mại Các phần mềmthương mại có giá bán rất cao, thường khá mạnh và dễ sử dụng… trong khi đó cácphần mềm miễn phí thường có giao diện kém thân thiện, khó tìm hiểu và sử dụng Các chương trình nghiên cứu và đề án môi trường trọng điểm đã và đang đượcthực hiện khá tốt, giảm thiểu đáng kể các nguồn xả thải trực tiếp gây ô nhiễmnghiêm trọng vào các LVS, song các hoạt động này được thực hiện ở quy mô phântán, mới chỉ dừng tại mức đánh giá khái quát, chưa theo một quy trình quản lý thốngnhất trong cả nước, không đưa ra dự báo ngăn chặn trước khi ô nhiễm xảy ra, nênkhi đã bị ô nhiễm phải thực hiện những biện pháp xử lý tốn kém đồng thời môitrường bị suy giảm Ngoài ra, hiện tại, do sự phối hợp giữa các Bộ và các địaphương trên LVS chưa đồng bộ, chồng chéo và quyền chế tài chưa đủ mạnh, việc

Trang 19

triển khai xây dựng các dự án cụ thể tại các địa phương với nguồn lực đầu tư hạnchế, dẫn tới sự suy thoái môi trường lưu vực vẫn có nguy cơ gia tăng.

Vấn đề này có thể giải quyết bằng quy trình quản lý chất lượng nước LVS.Tuy nhiên, sau nghị định 120/2008/NĐ-CP về quản lý LVS, hiện chưa có thêmhướng dẫn cụ thể hay về quy trình thực hiện quản lý LVS

Như vậy, hiện nay ở nước ta quản lý nước theo LVS đã bắt đầu được thựchiện, nhưng chưa hiệu quả Quá trình quản lý vẫn được thực hiện theo địa giới hànhchính là phương thức truyền thống thuộc trách nhiệm của bộ máy hành chính cáccấp từ trung ương đến địa phương (thể hiện trong điều 58 của Luật Tài nguyênnước) Trong khi đó, các LVS của nước ta đang có nhiều tồn tại và bức xúc khôngchỉ trong quy hoạch và cả trong quản lý nguồn nước cần phải tháo gỡ, hậu quả củacách quản lý riêng rẽ theo địa giới hành chính từ nhiều năm qua để lại đến ngàynay

Hiện tại nhà nước đã phân cấp cho hệ thống quản lý nước theo địa giới hànhchính chịu trách nhiệm quản lý nước tại các tỉnh và địa phương, nhưng bao quát vàgiải quyết các vấn đề về quản lý nguồn nước trên toàn bộ LVS cả số lượng và chấtlượng thì gần như chưa có ai chịu trách nhiệm (thí dụ như các vấn đề phân chia hợp

lý nguồn nước giữa các ngành dùng nước, giữa các khu vực, thượng lưu và hạ lưu,duy trì dòng chảy trên dòng chính và yêu cầu nước cho hệ sinh thái , ) Điều này sẽgây trở ngại rất nhiều cho việc thực hiện các nguyên tắc về quản lý tổng hợp TNN

và phát triển bền vững TNN trên lưu vực và chỉ có thể giải quyết được khi trao chứcnăng này cho tổ chức LVS

Các phân tích trên cho thấy việc giao trách nhiệm chỉ đạo, điều phối và kiểmsoát việc sử dụng nước trong phạm vi toàn bộ LVS cho các tổ chức LVS của nước

ta như phần lớn các tổ chức LVS trên thế giới thường đảm nhận là rất cần thiết đểkhắc phục các tồn tại của quản lý nước riêng rẽ theo địa giới hành chính hiện hành.Tuy nhiên, để không chồng chéo thì các tổ chức LVS ở nước ta không nên tham giavào các hoạt động quản lý khai thác và sử dụng nước của hệ thống quản lý nướctheo địa giới hành chính hiện hành mà tổ chức LVS chỉ nên đóng vai trò theo dõi,

Trang 20

kiểm soát và trợ giúp cho hoạt động quản lý nước của các tỉnh và địa phương trênLVS hài hoà với nhau, vì quyền lợi riêng của các tỉnh cũng như cả lợi ích chung củatoàn bộ LVS Mặt khác, chỉ có được giao cho tham gia trực tiếp vào việc chỉ đạo,điều phối và kiểm soát việc sử dụng nước trên LVS thì tổ chức LVS mới có vai trò

và ảnh hưởng rõ rệt tới phát triển của LVS và hơn nữa có thể sử dụng một phần cácnguồn thu về thuế, phí tài nguyên nước, cho các hoạt động thường xuyên của tổchức LVS

Việc thực hiện quản lý nước theo LVS là một xu thế và định hướng cần thiết.Tuy nhiên đây là vấn đề còn mới và trong bối cảnh của nước ta thì việc thực hiệntrong thực tế không phải dễ dàng, sẽ có nhiều vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu đểtừng bước giải quyết Phương hướng chung là phải tiếp cận kinh nghiệm của cácnước trên thế giới và nghiên cứu vận dụng với điều kiện tự nhiên, KT-XH của cácLVS ở nước ta, thông qua trao đổi rộng rãi để tìm ra một mô hình hợp lý.

1.4 Kinh nghiệm thực hiện quy trình quản lý lưu vực sông trên thế giới

Quản lý LVS là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giớitrong nửa cuối thế kỷ 20 và phát triển mạnh trong những thập kỷ gần đây nhằm đốiphó với sự khan hiếm nước, sự gia tăng ô nhiễm nước, sự suy thoái các nguồnTN&MT và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Nhiều nước, đặc biệt là các nước pháttriển như các nước châu Âu, Mỹ, Pháp, Úc, Trung Quốc, Nhật Bản,… đã sử dụngnhiều mô hình tổ chức quản lý LVS rất đáng để học tập kinh nghiệm

1.4.1 Một số Chương trình Quản lý lưu vực sông điển hình

Chương trình quản lý vùng lưu vực sông Danube [29]: Là một chương trình hợp

tác đa quốc gia lớn, 13 quốc gia hợp tác trong Hiệp định Bảo vệ sông Danube(DRPC) cùng tiến hành mọi nỗ lực để thực thi Nghị định về khung nước châu Âu(WFD) Chương trình bắt đầu được thiết lập vào tháng 11 năm 2000, nhiều nhiệm

vụ đã được thực hiện từ năm 2001 đến năm 2015 Chương trình quản lý LVSDanube gồm 4 giai đoạn và đánh giá cải tiến chương trình 6 năm/lần (hình 1.6)

Trang 21

Hình 1.6: Chương trình quản lý LVS Danube thực thi theo khung WFD

Xác định đối tượng môi trường

Pha I

Pha III

Pha IV

Xác định cơ chế hợp tác

Xác định áp suất và tác động đến nước ngầm và bề mặt

Thực hiện phân tính kinh tế của việc sử dụng nước

Xác định và mô

tả các phần nước ngầm

Thiết lập đăng

ký các khu vực được bảo vệ

Thiết lập các chương trình giám sát

Các vấn đề quản lý nước cộng đồng quan trọng nhất

Bản thảo chương trình quản lý LVS cộng đồng

Chương trình quản lý LVS cộng đồng

Tư vấn cộng đồng và sửa chương trình quản lý LVS

đo đạc

Hầu hết các nhiệm vụ vận hành đồng thời & thường bắt đầu sớm hơn biểu đồ này

Trang 22

Chương trình quản lý LVS bao gồm bốn giai đoạn như hình trên Hầu hết bốngiai đoạn này vận hành đồng thời để đảm bảo thực hiện đúng tiến độ và xã hội hóaChương trình Quản lý Vùng LVS Danube

Giai đoạn I: Xác định vùng LVS, xác định cơ cấu và thể chế hợp tác

Giai đoạn II: Phân tích các đặc điểm LVS, áp lực - tác động, phân tích tínhkinh tế và thiết lập đăng ký các khu vực được bảo vệ

Giai đoạn III: Phát triển hệ thống và chương trình giám sát

Giai đoạn IV: Phát triển Chương trình Quản lý LVS Danube tổng quát,chương trình đo đạc và sự tham gia cộng đồng

Cấu trúc Chương trình Quản lý LVS: được thiết lập để chương trình có thể

thực hiện với tiểu lưu vực mức quốc gia và mức vùng LVS Danube Với mục đíchnày, xu hướng modul được lựa chọn, giới thiệu vấn đề chung của vùng LVSDanube, tổng quan đặc trưng lưu vực, áp lực và tác động, các chương trình đo đạc,thông tin cộng đồng và quá trình tham vấn ý kiến cộng đồng Cấu trúc gồm haiphần: phần A đưa ra tổng quan toàn bộ lưu vực, phần B đưa ra tất cả các thông tin ởmức quốc gia và thông tin hợp tác song phương giữa các quốc gia

Chương trình Quản lý Vùng lưu vực sông quốc tế Neagh Bann [28]: Chương

trình thực hiện hướng kết hợp bảo vệ, phát triển và sử dụng LVS quốc tế NeaghBann mô tả điều kiện môi trường nước hiện tại, những đối tượng cho sự phát triển

và đo đạc mà sẽ được sử dụng để thực hiện sự phát triển này Dự thảo chương trình

có ý nghĩa to lớn là đối tượng thực cho chu kỳ ba chương trình LVS tiếp theo tớinăm 2015, năm 2021 và năm 2027 Hiện nay, châu Âu đang phát triển chương trìnhtrong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015

Chương trình bao gồm các hạng mục:

- Khung bộ máy và luật pháp

- Khung kỹ thuật và quản trị

- Chương trình Quản lý Lưu vực sông dự thảo

- Đánh giá ảnh hưởng của chương trình

- Giáo dục ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ LVS

Trang 23

Chương trình quản lý vùng LVS Neagh Bann áp dụng cho 6 hạt thuộc quốcgia Bắc Ireland (là một phần của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland) làchương trình quản lý LVS của một quốc gia vừa đảm bảo đạt theo yêu cầu WFDvừa đảm bảo đạt tiêu chuẩn riêng của Neagh Bann Theo kết quả đầu vào phần LVSNeagh Bann chỉ ra rằng chất lượng nước sông là khá tốt, 23% nước bề mặt (sông,

hồ, phần nước ven biển thuộc lưu vực) được phân loại là tốt đến tốt hơn, 93%nước ngầm được phân loại là tốt Với hiện trạng chất lượng nước tốt, chương trìnhquản lý vùng LVS Neagh Bann có những yêu cầu mục đích riêng và do đó các bướchoạt động đặc trưng riêng

Tại Ấn Độ [30]: Đối với một quốc gia đang phát triển có dân số rất đông như Ấn

Độ, nước là nguồn tài nguyên cần thiết nhất nhưng đang bị đe dọa nghiêm trọng.Hiện tại, chất lượng và khả năng sẵn có của nguồn nước ngọt đang là áp lực tháchthức lớn nhất đối với cân bằng quốc gia Với quá trình đô thị hóa nhanh, côngnghiệp hóa và sự phát triển nông nghiệp dẫn đến ảnh hưởng cao với chất lượng và

số lượng TNN Ấn Độ Ban kiểm soát ô nhiễm trung ương (CPCB) thuộc Bộ Môitrường và Rừng Ấn Độ đã thực hiện đánh giá chất lượng nước ở nhiều bang khácnhau và nguồn dữ liệu được sử dụng để hình thành chương trình quản lý chất lượngnước Chương trình quản lý chất lượng nước nhằm mục tiêu bảo vệ và khôi phụcchất lượng nước trong quá trình phát triển đất nước Chương trình tổng hợp và dựatrên những chính sách pháp luật liên quan quản lý chất lượng nước của Ấn Độ, đưa

ra khung kiểm kê các hoạt động thải và biện pháp bảo vệ nguồn nước khác nhau,bao gồm các bước thực hiện như sau:

- Tổng quan về chính sách pháp luật hiện hành

- Tổng quan chất lượng nước hiện tại

- Xác định ảnh hưởng đe dọa chất lượng nước

- Xác định mục tiêu chất lượng nước cho từng phần nước

- Xác định bản chất sự ô nhiễm

- Kiểm kê nguồn

- Xác định tải lượng ô nhiễm

Trang 24

- Lựa chọn phương pháp đối phó vấn đề ô nhiễm

- Lựa chọn công nghệ bền vững nhất

- Công nghệ chi phí thấp và tái sử dụng nước thải trong tưới tiêu

- Xác định yếu tố tài chính

- Áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm trả phí

- Xác định một số chỉ thị đơn giản cho quá trình và thực hiện chương trình

- Công khai trong quan trắc quá trình và những lợi ích mang lại

- Thiết lập hệ thống phản hồi thông tin

Chương trình này được thực hiện tại DelHi - Ấn Độ bắt đầu từ năm 2006 và

đã thu nhận được những phản hồi tích cực: xác định cơ bản chất lượng nước 86phần nước từ 1.019 trạm quan trắc được thiết lập từ chương trình; một vài đoạn ônhiễm được xử lý có dòng thải vào đạt tiêu chuẩn; giảm lượng nước thải đô thị ảnhhưởng nguồn ô nhiễm về nước mặt và nước ngầm; giảm lượng thuốc trừ sâu sửdụng trong nông nghiệp; cung cấp nguồn quỹ cho việc lắp đặt các nhà máy xử lýnước thải để kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt ở các đô thị

Hệ thống quản lý lưu vực sông ở nước Pháp [6]: Dựa vào 6 sông lớn, ở Pháp

đã ghép một số sông nhỏ gần 6 sông lớn thành 6 LVS và lấy việc quản lý thống nhấttheo 6 LVS này làm nền tảng của việc quản lý nước Ở mỗi cấp lưu vực có Ủy banLưu vực và Cơ quan quản lý lưu vực:

- Ủy ban LVS: thành phần Ủy ban LVS của Luật nước bao gồm 50% là đạidiện của lãnh đạo địa phương và lãnh đạo những cơ quan nhà nước ở địa phương,

họ thống nhất chỉ định hoặc bầu ra một ông Chủ tịch 25% là đại diện của những

Trang 25

người dùng nước, những điền chủ hai bên bờ sông, những hiệp hội sử dụng nước 25% là đại diện của nhà nước và của các cơ quan Bộ, Ngành liên quan.

Chức năng: Ủy ban LVS đóng vai trò như một nghị viện hoặc Hội đồng vềnước của LVS Ủy ban thực hiện hai chức năng chính: Thảo luận, phê chuẩn hoặctrình cấp thẩm quyền phê chuẩn các đề án về quản lý và quy hoạch phát triển TNNtrên LVS Thảo luận, phê chuẩn hoặc trình cấp thẩm quyền phê chuẩn các chínhsách kinh tế về nước như: giá nước, phí ô nhiễm, thuế TNN

- Cơ quan Nước Lưu vực: quản lý chung về số lượng và chất lượng nước và hệsinh thái sông Thanh tra thực hiện luật nước và các văn bản dưới luật về nước Thuphí gây ô nhiễm nước và thuế tài nguyên nước (qua cơ quan cấp nước)

Mô hình quản lý theo các ủy ban LVS song song với Cục quản lý nước đãđược thực hiện tại Pháp từ những năm 1960 là ví dụ điển hình chứng minh xuhướng tổ chức quản lý theo LVS là hiệu quả và phù hợp cho đến ngày nay

Tại Trung Quốc [15]: Quản lý tổng hợp LVS đã được đặt ra từ những năm 30

của thế kỷ trước, tuy nhiên, tới năm 1950, Ủy ban bảo tồn sông Hoàng Hà mới đượcthành lập có nhiệm vụ quản lý toàn diện LVS Đến nay, ở Trung Quốc hiện có 7 Ủyban quản lý LVS, nhưng chỉ có duy nhất Ủy ban sông Hoàng Hà quản lý trực tiếptoàn lưu vực với ba nhiệm vụ cơ bản là quản lý vùng hạ lưu, quản lý lũ, quản lý vàphân phối nguồn nước Nhiệm vụ của ủy ban gồm:

- Thực thi, hướng dẫn và giám sát việc thi hành các luật và quy định (luậtNước, luật Bảo vệ đất và nước) trong phạm vi lưu vực;

- Xây dựng các chính sách, kế hoạch chiến lược, các chương trình trung và dàihạn về phát triển TNN trên toàn lưu vực;

- Cùng với các cơ quan và các chính quyền địa phương, xây dựng quy hoạchtổng thể và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan nhằm quản lý thống nhấtTNN, quan trắc và đánh giá TNN trên lưu vực;

- Hướng dẫn và điều phối các lĩnh vực: bảo vệ TNN, quản lý sông hồ và vùngcửa sông, phòng chống lũ lụt; điều phối giải quyết các tranh chấp về nước giữa cácngành và các địa phương, hướng dẫn và quản lý tổng thể các khu vực bị xói mòn

Trang 26

nặng, chỉ đạo công tác bảo vệ chống xói mòn của các địa phương; kiểm tra các dự

án kỹ thuật do trung ương và địa phương đầu tư;

Trung Quốc là quốc gia có chung đường biên giới với sông Việt Nam, lànguồn thượng lưu của một số sông Việt Nam, bởi vậy, quá trình quản lý LVS củaViệt Nam cần xem xét tới ảnh hưởng của những nguồn nước sông bên ngoài lãnhthổ, trong đó có Trung Quốc Tháng 11/2009, Bản Ghi nhớ và các Kế hoạch thựchiện chi tiết việc trao đổi số liệu thủy văn các sông xuyên biên giới Việt Nam -Trung Quốc đã được ký kết Từ những ảnh hưởng và học hỏi kinh nghiệm quản lýLVS của Trung Quốc cũng là nguồn dữ liệu đáng để đánh giá

Tại Australia [15]: Để quản lý LVS Murray - Darling là một trong những con

sông lớn trên thế giới với diện tích lưu vực khoảng 1 triệu km2, người ta đã thànhlập một hội đồng, một ủy ban và nhiều nhóm đại diện cho các cộng đồng Cơ cấunày tạo nên một diễn đàn để hoạch định các chính sách và chiến lược trong việcchia sẻ nguồn nước và quản lý những vấn đề nghiêm trọng về môi trường trong lưuvực

- Hội đồng được thành lập năm 1985 với thành phần bao gồm: các Bộ trưởngphụ trách tài nguyên đất đai, nước và môi trường của liên bang và các bang với giới

hạn mỗi bang không quá 3 thành viên Chức năng của hội đồng là: Xem xét các vấn

đề về chính sách liên quan đến lợi ích chung của chính quyền và các bang trong quyhoạch và quản lý nhằm sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn TNN, đất và môitrường của lưu vực Murray - Darling; đề xuất và xem xét các biện pháp nhằm sử

dụng hiệu quả và bền vững các tài nguyên đó (Biên bản thỏa thuận lưu vực Murray

- Darling, 1992) Là một diễn đàn chính trị, Hội đồng có quyền đưa ra các quyết

định liên quan đến toàn lưu vực thông qua quyết định đồng thuận Hội đồng dựavào chính quyền các bang để thi hành các quyết định đó

- Ủy ban có 4 chức năng chính: (1) tư vấn cho hội đồng về các vấn đề quyhoạch, phát triển và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong lưu vực; (2)giúp hội đồng đề ra các giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tàinguyên thiên nhiên trong lưu vực; (3) điều phối việc thực hiện hoặc khi được hội

Trang 27

đồng giao, trực tiếp thực hiện các giải pháp đó; (4) triển khai các chính sách vàquyết định của hội đồng.

Mô hình quản lý lưu vực Murray - Darling hiện đang hoạt động khá hiệu quả

và được nhiều nước coi như là một trong những mô hình mẫu mực cần được họctập

Như vậy, với một số quy trình (mô hình) quản lý LVS trên, đánh giá thựctrạng và hiệu quả các quy trình tác giả đưa ra bảng so sánh một số nét cơ bản cácquy trình như sau (bảng 1.2):

Trang 28

Bảng 1.2: So sánh một số đặc điểm của một số quy trình quản lý LVS điển hình trên thế giới

STT Nội dung Đối tượng áp dụng Điều kiện KT-XH quốc gia có LVS

chảy qua

Đặc trưng chất lượng nước LVS

Mục tiêu chất lượng nước cần đạt

Yêu cầu quy trình

1 Lưu vực sôngDanube Đa quốc gia (13 quốc gia) Phát triển Tình trạng tốt

- Đảm bảo đạttheo yêu cầuWFD

- Chất lượngnước đạt nhưnguyên sơ

Đòi hỏi sự phối hợp rấtchặt chẽ giữa các quốcgia thành viên, nguồnkinh phí hỗ trợ rất lớn

và đội ngũ chuyên giagiàu kinh nghiệm

2 Lưu vực sôngquốc tế Neagh

Bann

Một quốc gia điqua địa phậnnhiều địa phương(6 hạt thuộc quốcgia Bắc Ireland)

biển thuộclưu vực) đượcphân loại làtốt đến tốthơn

- 93% nướcngầm đượcphân loại làtốt

Vừa đảm bảođạt theo yêucầu WFD vừađảm bảo đạttiêu chuẩnpháp lý củaNeagh Bann

3 LVS tại Ấn Một quốc gia Đang phát triển Nguồn nước Vừa bảo vệ

Trang 29

nhanh, công nghiệphóa và sự phát triểnnông nghiệp dẫnđến ảnh hưởng caovới chất lượng và sốlượng TNN)

nhiễm vừa đảm bảoquá trình phát

Trang 30

Từ một số quy trình và hệ thống tổ chức quản lý hiện đang được áp dụng trênthế giới, tác giả nhận thấy, chuỗi các bước thực hiện quy trình cơ bản có nét tươngđồng Tuy các quy trình khác nhau có hướng dẫn chi tiết cụ thể khác nhau để phùhợp đặc trưng riêng của từng LVS, nhưng không có sự khác nhau cơ sở giữa cácbước thực hiện cơ bản.

Xét thấy đối tượng nghiên cứu là chất lượng nước LVS của Việt Nam khôngphải chất lượng nước tốt (như các nước châu Âu) và mục tiêu Việt Nam là vừa đảmbảo phát triển KT-XH vừa phát triển bền vững môi trường, nên lựa chọn quy trìnhquản lý chất lượng nước với phù hợp, không đòi hỏi đầu tư kinh tế kỹ thuật quá cao,

để đảm bảo tính khả thi trong những áp dụng nghiên cứu bước đầu Do đó, lựa chọnquy trình quản lý chất lượng nước tại Delhi và có sửa đổi phương thức quản lý phùhợp chính sách của Việt Nam Bắt đầu từ sự xác lập mục tiêu, sử dụng các công cụ

kỹ thuật (quan trắc, phân tích, mô hình hóa ) xác định hiện trạng chất lượng nước

và đánh giá dự báo, đưa ra quyết định phù hợp, thực thi quyết định và cuối cùng làđánh giá lại quy trình thực hiện sau một thời gian thực hiện

Bên cạnh đó, từ các quy trình của thế giới, nhận thấy công cụ mô hình hóa làcông cụ kỹ thuật quan trọng Bởi vì quá trình quản lý LVS là sự quản lý theo mộtthể thống nhất với yêu cầu dữ liệu thông tin rất lớn, hơn nữa để có cơ sở đưa quyếtđịnh quản lý đúng cần dự đoán được xu hướng và đánh giá các kịch bản phát triểntrong tương lai Do đó, công cụ mô hình hóa là công cụ kỹ thuật không thể thiếu.Việc lựa chọn một công cụ mô hình phù hợp với quy trình quản lý là điều tất yếu

Vì thế, trong nghiên cứu này, tác giả thực hiện đánh giá một số công cụ mô hìnhhóa để lựa chọn một công cụ mô hình hóa phù hợp

1.4.2 Sử dụng mô hình hóa trong quản lý chất lượng nước sông [16][17][18]

Trên thế giới, việc sử dụng các phần mềm mô hình hóa các thông số của nướcsông đã diễn ra khá lâu, với các mục đích nghiên cứu, mô phỏng trên các đối tượngkhác nhau nên các mô hình chất lượng nước được sử dụng rất phong phú và đadạng Sau đây là một số mô hình chất lượng nước tiêu biểu:

Mô hình Streeter- Phelps: Đây là một mô hình được phát triển từ năm 1925,

Trang 31

chỉ áp dụng cho hệ thống đơn giản Mô hình này cho phép tính diễn biến độ thiếuhụt oxy theo thời gian Phương trình Streeter- Phelps mô tả tương quan BOD vàDO.

Hạn chế của mô hình Streeter Phelps là chỉ lưu ý tới sự tiêu thụ oxy do quátrình oxy hoá các chất hữu cơ trong dòng chảy do các vi sinh vật hiếu khí và sự hoàtan oxy qua mặt thoáng của nước mà chưa lưu ý tới quá trình quang hợp, hô hấp củathực vật dưới nước, hô hấp trong tầng cặn đáy, các quá trình amôn hoá, nitrit hoá,nitrat hoá, sự lan truyền, dòng chảy rối, ảnh hưởng của gió

Mô hình HSPF (Hydrological Simulation Program Fortran) (1984) Mô

phỏng trong không gian 2 chiều ở trạng thái động lực với các thông số chất lượngnước: các chất hoà tan, SS, DO, các chất dinh dưỡng và các loại vi khuẩn chỉ thị

Mô hình dự báo xu thế thay đổi chất lượng nước trong dòng chảy sau các trận mưa

và các thông tin về việc thu nước ở các kênh

Mô hình SWMM (Storm Water Management Model): Mô hình được phát

triển trên cơ sở mô hình HSPF, tính toán xu thế biến đổi chất lượng nước cho cảmột LVS với các nguồn thải phi điểm Mô hình SWMM là mô hình 1 chiều vớitrạng thái động lực mô phỏng sự chảy tràn nước mưa qua các vùng đất nông nghiệp

và các khu vực đô thị với các thông tin về dòng chảy của các hệ thống thu gomnước

Mô hình WAPS: Ghép nối mô hình thuỷ lực (DYNHYD) với mô hình lan

truyền chất (WAPS), mô phỏng sự lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm trongdòng chảy Tùy theo mục đích, số liệu đầu vào và các thông tin cơ sở về các quátrình chuyển hóa các chất trong dòng chảy, có thể sử dụng để tính toán ở các dạngđơn giản, cải tiến hay phức tạp

Mô hình QUAL2K: Mô hình QUAL2K phiên bản mới nhất là 2.11 vào tháng

12/2008 là mô hình chất lượng nước sông tổng hợp và toàn diện được phát triển bởiCục môi trường Mỹ (EPA) Mô hình này được sử dụng để dự đoán hàm lượng tảitrọng của các chất thải cho phép thải vào sông Mô hình cho phép mô phỏng 23thành phần thông số chất lượng nước sông bao gồm nhiệt độ, CBOD phản ứng

Trang 32

chậm, CBOD phản ứng nhanh, DO, độ dẫn, chất rắn vô cơ lơ lửng ISS, nitơ hữu cơ(Norg), nitrit (NO2-), nitrat (NO3-), phốt pho hữu cơ (Porg), phốt pho vô cơ, thực vậtphù du (Phytoplankton), thực vật phù du dạng nitơ, thực vật phù du dạng phốtpho,sinh khối tảo đáy, tảo đáy dưới dạng nitơ, tảo đáy dạng phốtpho, độ kiềm, pathogen(mầm bệnh), detritus (vật chất lơ lửng), tổng cacbon vô cơ (TIC) và 3 thông sốthành phần khác ít biến đổi trong nước.

Mặc dù chương trình QUAL2K còn một số hạn chế, tuy nhiên đây là một môhình đã được khẳng định tính hiệu quả từ lâu, do nhu cầu số liệu đầu vào ít và dễthao tác vận hành

Mô hình sinh thái AQUASIM: là mô hình kết hợp điều kiện thuỷ văn và sinh

thái Trong mô hình sinh thái AQUASIM, bên cạnh đầu vào và đầu ra do nước vào

và ra khỏi hệ, quá trình trao đổi chất giữa nước và trầm tích cũng như nước và khíquyển cũng được xét đến

Hệ thống phần mềm MIKE: Trong những năm 1990, Viện thủy lực Đan

Mạch đã thiết lập hệ thống mô hình chất lượng nước cho kênh, sông Hệ thống này

có thể tính toán sự lan truyền chất ô nhiễm trong dòng chảy từ các nguồn khác nhauvào các lưu vực khác nhau Tùy thuộc đối tượng nghiên cứu, yêu cầu tính toán cácthông số chất lượng nước trong dòng chảy sông, cửa sông, hồ hay biển mà áp dụngcác phiên bản khác nhau như MIKE 11, MIKE 21, MIKE 3, MIKE SHE, MIKEMOUSE và MIKE BASIN

Mô hình AQUATOX: mô phỏng hệ sinh thái nước sạch để dự báo sự phá huỷ

của các chất ô nhiễm như chất dinh dưỡng, chất hoá học vô cơ và những ảnh hưởngcủa chúng đối với hệ sinh thái bao gồm cá, động vật không xương sống và thực vậtthuỷ sinh AQUATOX cũng giúp định dạng và hiểu được nguyên nhân cũng nhưảnh hưởng qua lại giữa chất lượng hoá học của nước, môi trường vật lý và thuỷ sinh.AQUATOX là công cụ rất có giá trị cho các nhà sinh vật, nhà nghiên cứu về sinhhọc, người làm mô hình chất lượng nước hoặc cho người thực hiện đánh giá rủi rosinh thái đối với hệ sinh vật thuỷ sinh

Từ một số mô hình được giới thiệu ở trên, nhận thấy chương trình QUAL2K

Trang 33

là mô hình một chiều đơn giản mô phỏng khá đầy đủ các quá trình vận chuyển vàxáo trộn cơ bản trong sông Mô hình đã được sử dụng hiệu quả để dự đoán hàmlượng tải trọng của các chất thải cho phép thải vào sông (mô phỏng 23 thành phầnthông số chất lượng nước sông) Ứng dụng của QUAL2K được tìm thấy trong nhiềutài liệu khác nhau như Caroll và cs (2006), Kannel và cs (2007), Pelletier vàBilhimer (2004) Đây là một trong những mô hình đã được ứng dụng thành thạo từlâu, có cơ sở lý thuyết đơn giản và đầy đủ, đòi hỏi nhu cầu số liệu đầu vào ít nhưngvẫn đảm bảo sự mô phỏng xu hướng khá chính xác Nó hữu ích trong điều kiện dữliệu hạn chế và được cung cấp miễn phí bởi Cục bảo vệ môi trường Mỹ - EPA(http://ecy.wa.gov/) Hơn nữa, đối tượng nghiên cứu của đề tài là LVS ở mức độ môphỏng theo chiều dài sông ở khía cạnh độ dài hỗn hợp trên mặt cắt ngang và sự pháttán phần nhiều theo chiều dọc sông nên lựa chọn sử dụng mô phỏng bằng QUAL2K

là quá mô hình 1D là hợp lý Hơn nữa, nghiên cứu thực hiện với sự hạn chế dữ liệunhưng được áp dụng cho đối tượng quản lý khá mới mẻ, và do đó QUAL2K đượcchọn như là giao diện mô hình chất lượng nước là phù hợp với những nghiên cứubước đầu này

Từ những hiện trạng và đánh giá về quy trình quản lý chất lượng nước và cáccông cụ mô hình hóa, tác giả thấy rằng quản lý theo một thể thống nhất một LVSkhông phân chia địa giới hành chính là xu hướng tất yếu để phát triển bền vững cáncân kinh tế- môi trường Việt Nam Do đó, một quy trình quản lý chất lượng nướcLVS là công cụ không thể thiếu để các nhà cầm quyền thực hiện được sự quản lýthống nhất này Bên cạnh đó, với mục tiêu yêu cầu chất lượng nước không quá cao(như các nước châu Âu, châu Mỹ) và với khả năng đáp ứng kinh tế kỹ thuật củanước ta hiện nay, lựa chọn quy trình quản lý chất lương nước LVS áp dụng theoquy trình của Dulhin - Ấn Độ có sử dụng phần mềm QUAL2K hỗ trợ là phù hợpvới những nghiên cứu bước đầu

Quy trình là một công cụ khoa học logic, cần có những hiểu biết kỹ về cơ sở lýthuyết để có thể áp dụng cho hiệu quả tốt, do đó, tác giả sẽ trình bày trong chương

II cơ sở lý thuyết đề xuất quy trình quản lý chất lương nước LVS áp dụng theo quy

Trang 34

trình của Dulhin-Ấn Độ có sử dụng phần mềm QUAL2K hỗ trợ

Trang 35

CHƯƠNG II:

CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH QUẢN LÝ

CHẤT LƯỢNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG2.1 Cơ sở lý thuyết đề xuất quy trình quản lý chất lượng nước lưu vực sông theo quy trình của Dulhin- Ấn Độ

Để quản lý nguồn nước tốt bao gồm việc kết hợp tối thích giữa mô hình hóa

và số liệu thống kê với các chính sách pháp lý để đưa ra quyết định quản lý đúng.Quy trình quản lý chất lượng nước với phần mềm mô hình hóa là công cụ giúp mô

tả và đưa ra đánh giá dự báo cho tương lai bằng việc thu thập thông tin, kiến thức vềhiện trạng và chức năng môi trường

Mục tiêu quy trình quản lý chất lượng nước LVS

Một quy trình quản lý môi trường được đề xuất đều nhằm mục tiêu bảo vệ vàphát triển bền vững môi trường nói chung Quy trình quản lý chất lượng nước mộtLVS bao gồm hai mục tiêu chính như sau:

1 Hai ảnh hưởng quan trọng nhất đến chất lượng nước là: chất lượng nước nguồn (hệ thống xử lý nước cấp, sức khỏe của con người) và cân bằng hệ sinh thái

(năng suất sinh học của các loài quan trọng, tính đa dạng sinh học) Vì vậy, mụctiêu cuối cùng của việc quản lý chất lượng nước LVS là cần đảm bảo các chỉ tiêuchất lượng nước và nước thải (pH, SS, TS, TDS, độ đục, độ màu, mùi, DO, BOD,COD, các chất dinh dưỡng N, P, các chỉ tiêu vi sinh, các chất độc ) đạt theo tiêuchuẩn cho phép trước khi đổ vào môi trường LVS để không làm ảnh hưởng môitrường thủy sinh LVS;

2 Tập hợp các phương thức quản lý (công cụ kỹ thuật, kinh tế, pháp lý) saocho TNN, sự phát triển kinh tế và con người được sử dụng hợp lý

Với quy trình quản lý LVS áp dụng theo quy trình của Ấn Độ được đề xuấtnhư sau (hình 2.1) đảm bảo đạt mục tiêu

Trang 36

Hình2.1: Đề xuất các bước thực hiện quy trình quản lý chất lượng nước LVS

Xác lập mục tiêu cho toàn lưu vực

Quan trắc chất lượng nước, xác định bản chất và mức độ ô nhiễm, kiểm kê nguồn thải

Không được thực hiện

Không đạt mục tiêu/tiêu chuẩn

Đạt mục tiêu/tiêu

So sánh các kịch bản với mục tiêu toàn lưu vực/tiêu chuẩn quy định

Quyết định quản lý

Chính sách tài chính

Lựa chọn công nghệ

Kiểm tra lại

dữ liệu có bị lỗi? Có thực hiện quá trình khác không?

Trang 37

Đề xuất quy trình quản lý chất lượng nước một LVS, gồm 10 bước như sau:

1 Thiết lập mục tiêu chất lượng nước

2 Quan trắc chất lượng nước

3 Xác định bản chất và mức độ ô nhiễm

4 Kiểm kê nguồn thải đổ vào lưu vực sông

5 Thông tin về tải lượng nước

Cụ thể quy trình như sau:

Bước 1: Xác lập mục tiêu chất lượng nước

Để bắt đầu cho Chương trình quản lý chất lượng nước, bước đầu tiên là xácđịnh mục tiêu chất lượng nước cho khối nước (thường sử dụng dạng bảng câu hỏi).Thiết lập mục tiêu chất lượng nước có xác định việc sử dụng nước cho toàn bộ khối

nước hoặc cho từng phần của khối nước ở dạng câu hỏi (theo phụ lục 1).

Xác định yêu cầu chất lượng nước theo khái niệm đạt ngưỡng giới hạn (theonhững tiêu chuẩn cho phép đã quy định hay đạt mức chất lượng nước tốt nhất nhưnguyên sơ) Do mỗi mục đích sử dụng nước có những yêu cầu riêng (về thành phầntính chất vật lý, hóa học và vi sinh), nên việc đặt mục tiêu chất lượng nước cho mỗi

đối tượng trước hết cần phải xác định nhu cầu sử dụng nước Đối với nước LVS,

có thể phân chia sơ bộ theo các mục đích sử dụng như sau:

- Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt hoặc các mục đích sử dụngkhác có yêu cầu chất lượng nước tương đương;

- Dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có yêucầu chất lượng nước tương đương;

- Giao thông thủy và các mục đích khác với yêu cầu nước chất lượng thấp

Trang 38

Bước 2: Quan trắc chất lượng nước

Quan trắc chất lượng nước được thực hiện để thu thập thông tin về hiện trạngchất lượng nước của khối nước Tài liệu đánh giá chất lượng nước được thực hiện

và báo cáo theo “Khung quan trắc chất lượng nước” (phụ lục 2) Khung quan trắc

này nên được thực hiện liên tục định kỳ để theo dõi và đánh giá lại quy trình

Căn cứ vào nhu cầu thông tin cần thu thập, yêu cầu quản lý, mục đích sử dụngnước và các dạng nguồn nước mà thiết kế chương trình quan trắc phù hợp, baogồm:

+ Lựa chọn điểm lấy mẫu: Thiết kế chương trình quan trắc chất lượng nước

cần phải cân nhắc đến:

Sự phân bố các chất ô nhiễm trong các môi trường khác nhau (nước/trầm tích,các vùng giáp ranh ) Vị trí các điểm lấy mẫu nước cần chọn ổn định và phải đạidiện được cho môi trường nước mặt ở nơi quan trắc, được xác định dựa vào khảnăng tự làm sạch của thuỷ vực Ví dụ, dòng chảy qua thành phố và khu công nghiệpthì tối thiểu phải quan trắc tại hai điểm: điểm đầu nguồn nước chảy vào thành phố

và điểm cuối nguồn nước chảy ra khỏi thành phố; đối với cửa sông điểm lấy mẫuđược lựa chọn dựa vào số liệu thuỷ triều, chế độ thuỷ văn, đặc điểm dòng chảy vùngcửa sông và kinh nghiệm của người quan trắc

Các yếu tố liên quan đến sự phân bố, pha loãng trong khu vực quan trắc nhưtốc độ, lưư lượng dòng chảy, lưu vực, thời tiết, sự phân bố đồng nhất các chất cầnxác định

+ Thời gian và tần suất lấy mẫu

Tần suất lấy mẫu là số mẫu cần phải lấy trong một chu kỳ nhất định Tuỳthuộc vào yêu cầu của công tác quản lý môi trường, đặc điểm nguồn nước mà xâydựng tần suất lấy mẫu thích hợp Thiết kế tần suất lấy mẫu phải dựa trên quan điểmthống kê và yêu cầu của mục tiêu quan trắc

Khi có những thay đổi theo chu kỳ hay thường xuyên, cần thiết kế khoảng thờigian đủ ngắn giữa các lần lấy mẫu liên tiếp để phát hiện được những thay đổi

+ Phương pháp lấy mẫu và phân tích tại hiện trường

Trang 39

Căn cứ vào mục tiêu chất lượng, khả năng vật tư, thiết bị và dụng cụ mà lựachọn các phương pháp/tiêu chuẩn lấy mẫu và phương pháp/tiêu chuẩn phân tích phùhợp

Phương pháp/tiêu chuẩn lấy mẫu, phương pháp/tiêu chuẩn phân tích bao gồmcác tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu chuẩn quốc tế (ISO) hoặc các tổ chức khác(EPA, APHA ) hoặc theo các tài liệu hướng dẫn sử dụng kèm theo thiết bị, cácphương pháp do phòng thí nghiệm xây dựng Các phương pháp/tiêu chuẩn trước khi

áp dụng cần phải tiến hành hiệu chỉnh phương pháp và viết thành văn bản để luônluôn sẵn sàng sử dụng

Bước 3: Nhận dạng bản chất và mức độ ô nhiễm

Chất lượng nước là tính chất lý hoá và thành phần sinh học của nước Ngoàilượng nước, chất lượng nước rất quan trọng quyết định việc khai thác sử dụngnguồn nước Hàm lượng các thành phần trong nước quyết định việc nguồn nước đó

có thể sử dụng cho các mục đích khác nhau

Với nguồn thông tin thu được từ hoạt động quan trắc chất lượng nước và thựchiện quan trắc nhiều lần theo không gian và thời gian nhất định, tổng hợp và so sánhvới yêu cầu chất lượng nước mong muốn và mục tiêu chất lượng nước đã thiết lập

Sự so sánh này giúp nhận dạng những thiếu hụt của thông số nào đó và phạm vithiếu hụt Từ đó, giúp nhận ra cơ bản tính chất ô nhiễm tại thời điểm nhất định vàmức độ cần kiểm soát ô nhiễm

Sau khi thực hiện theo dõi lặp chất lượng nước ở các mùa khác nhau, dữ liệuchất lượng nước nên được tổng hợp và so sánh với yêu cầu chất lượng nước mongmuốn và mục tiêu chất lượng nước đã thiết lập ở bước I

Sự so sánh này dẫn đến sự nhận dạng những thiếu hụt ở khía cạnh của mộthoặc nhiều thông số và phạm vi thiếu hụt, mà sẽ giúp nhận ra cơ bản tính chất ônhiễm và mức độ cần kiểm soát ô nhiễm

Bước 4: Kiểm kê nguồn thải đổ vào môi trường LVS

Khi đã xác định được tính chất và mức độ sự ô nhiễm, một điều quan trọng làxác định được những nguồn gây ô nhiễm

Trang 40

Kiểm kê số lượng cửa cống/cửa sông đổ vào khối nước để xác định các nguồnđiểm (thực hiện kiểm kê theo phụ lục 3).

Đo đạc chất lượng và số lượng nước thải chảy qua mỗi cửa cống Đối với mỗicửa cống, tải lượng ô nhiễm đổ vào theo đơn vị thời gian (bình thường là ngày) cóthể chỉ cần xác định một số chất ô nhiễm quan trọng Việc đo đạc này yêu cầu quátrình lấy mẫu liên tục trong 24/48/72 giờ trên dòng chảy

Kiểm kê các hoạt động của con người trong khu vực lấy nước thượng nguồnlưu vực để xác định các nguồn ô nhiễm phi điểm Các hoạt động có thể bao gồmnước thải vệ sinh chưa xử lý, không thu gom rác thải, nước thải và chất thải côngnghiệp chất thải thương mại trong trường hợp khu vực đô thị, công nghiệp và sửdụng hóa chất nông nghiệp trong khu vực nông thôn

Bước 5: Xác định thông tin tải lượng nước

Thực hiện cân bằng khối để ước tính khả năng pha loãng của nước sông theocác mùa khác nhau để đảm bảo môi trường nước có thể phục hồi Thực hiện ướctính khả năng pha loãng trong một khoảng thời gian dài nhất định Ước tính khảnăng pha loãng kém nhất trong 5 năm

Thực hiện đánh giá sức chịu tải của nguồn nước tiếp nhận trong một thời giandài (có thể phụ thuộc quy hoạch chất lượng nước từ 5÷10 năm, hoặc 20 năm ).Trong trường hợp sông hoặc suối có dữ liệu dòng từ dữ liệu quốc gia, trong ít nhất 5năm trở lên Trong trường hợp hồ, hồ chứa thu thập thông tin về mực nước trong ítnhất 5÷10 năm

Đánh giá khả năng đồng hóa và dự báo chất lượng trong tương lai bằng cách

áp dụng mô hình (QUAL2K,…) với các kịch bản khác nhau để ước tính khu vựckiểm soát ô nhiễm Khi đó, đồng thời đánh giá được hiệu quả của việc xử lý nướcthải và đánh giá kết quả dự báo của các kịch bản kinh tế - xã hội - môi trường khác

nhau Phân tích ảnh hưởng về áp lực tiêu thụ là công cụ quan trọng để đánh giá các kịch bản khác nhau Ví dụ như, giảm ô nhiễm nguồn điểm bằng việc xử lý nước

thải đồng thời giảm ô nhiễm nguồn phân tán với các hoạt động quản lý thay đổi

Ngày đăng: 21/04/2017, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Central pollution control board (2008), Guidelines for water quality management. http://www.cpcb.nic.in Link
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2003 - Môi trường nước Khác
2. Báo cáo môi trường quốc gia (2006). Hiện trạng môi trường nước 3 lưu vực sông: Cầu, Nhuệ - Đáy, hệ thống sông Đồng Nai Khác
3. Bộ tài nguyên và môi trường (2008), Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2008- Môi trường làng nghề Việt Nam, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Văn Cư (2005), Báo cáo xây dựng đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ và sông Đáy, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Tiến Đạt. (2006), Mô hình quản lý lưu vực sông ở Pháp. Báo nông nghiệp và phát triển nông thôn, kỳ 1, tháng 06/2006, trang 68-70 Khác
6. Nguyễn Tất Đắc (2005), Mô hình toán cho dòng chảy và chất lượng nước trên hệ thống kênh, Nhà xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
7. Hợp tác Jica – Việt Nam (2011). Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị Việt Nam - tập 04 Báo cáo nghiên cứu Quản lý lưu vực sông tại ba lưu vực sông Khác
8. TSKH.Bùi Tá Long (2008). Mô hình hóa môi trường. NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Khác
9. Trần Văn Nhân, Ngô Thị Nga (2006), Giáo trình công nghệ xử lý nước thải, Nhà xuất bản khoa học và giáo dục, Hà Nội Khác
10. Lê Văn Nghinh, Bùi Công Quang, Hoàng Thanh Tùng (2006), Giáo trình cao học thủy lợi- Mô hình toán thủy văn, Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội Khác
11. Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội (2006), Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thủ đô Hà Nội thời kỳ 2001-2010-2020, Hà Nội Khác
12. Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Tây cũ (2005), Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây đến năm 2020, Hà Tây cũ Khác
13. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (2005), Báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Hà Nội, Hà Nội Khác
14. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tây cũ (2005), Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hà Tây cũ, Hà Tây cũ Khác
15. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nam (2004), Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Hà Nam, Hà Nam Khác
16. Ths.Lê Anh Tuấn (2008), Bài giảng Thủy văn môi trường. Trường đại học Cần Thơ Khác
19. International Commission for the Protection of the Danube (2005), Development of the Danube river basin district management plan - strategy for coordination on a large international tiver basin Khác
20. Neagh Bann draft river basin management plan. Northern Ireland environment agency.www.ni-environment.gov.uk/wfd. 2008 Khác
21. Prakash Raj Kannel, S. Lee, Y.-S. Lee, S.R. Kanel, G.J. Pelletier (2007), Application of automated QUAL2Kw for water quality modeling and management in the Bagmati River, Nepal.. Ecological modelling journal 202, p 503–517 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ lưu vực sông [16] - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 1.1 Sơ đồ lưu vực sông [16] (Trang 3)
Hình 1.2. Bản đồ các lưu vực sông lớn của Việt Nam [2] - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 1.2. Bản đồ các lưu vực sông lớn của Việt Nam [2] (Trang 6)
Bảng 1.1: Các thông số chính của một số lưu vực sông lớn chảy - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 1.1 Các thông số chính của một số lưu vực sông lớn chảy (Trang 7)
Hình 1.3: Mức độ khai thác nước vào mùa khô tại 16 lưu vực sông Việt - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 1.3 Mức độ khai thác nước vào mùa khô tại 16 lưu vực sông Việt (Trang 8)
Hình 1.4: Số liệu quan trắc nồng độ N-NH 4  trên LVS Nhuệ - Đáy từ năm - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 1.4 Số liệu quan trắc nồng độ N-NH 4 trên LVS Nhuệ - Đáy từ năm (Trang 9)
Hình 1.6: Chương trình quản lý LVS Danube thực thi theo khung WFD - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 1.6 Chương trình quản lý LVS Danube thực thi theo khung WFD (Trang 21)
Bảng 1.2: So sánh một số đặc điểm của một số quy trình quản lý LVS điển hình trên thế giới - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 1.2 So sánh một số đặc điểm của một số quy trình quản lý LVS điển hình trên thế giới (Trang 28)
Hình 2.2: Cách phân đoạn của QUAL2K cho sông đơn - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 2.2 Cách phân đoạn của QUAL2K cho sông đơn (Trang 45)
Bảng 3.1. Đặc trưng thủy lực của các đoạn sông trong đoạn LVS nghiên cứu - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 3.1. Đặc trưng thủy lực của các đoạn sông trong đoạn LVS nghiên cứu (Trang 58)
Bảng 3.4:Ước tính dân số một số địa bàn TP.Hà Nội có sông Nhuệ chảy qua (khi - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 3.4 Ước tính dân số một số địa bàn TP.Hà Nội có sông Nhuệ chảy qua (khi (Trang 66)
Bảng 3.6. Dự báo dân số Hà Tây cũ giai đoạn 2010- 2020 - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 3.6. Dự báo dân số Hà Tây cũ giai đoạn 2010- 2020 (Trang 68)
Bảng 3.7. Tổng hợp xu hướng phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Tây cũ giai - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 3.7. Tổng hợp xu hướng phát triển công nghiệp của tỉnh Hà Tây cũ giai (Trang 69)
Bảng 3.8. Dự báo dân số của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010- 2020 - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Bảng 3.8. Dự báo dân số của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2010- 2020 (Trang 70)
Hình 3.3. Kết quả tính toán DO theo các kịch bản dọc sông Nhuệ - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 3.3. Kết quả tính toán DO theo các kịch bản dọc sông Nhuệ (Trang 74)
Hình 3.4. Kết quả tính toán BOD 5  theo các kịch bản dọc sông Nhuệ - Nghiên cứu đề xuất quy trình quản lý chất lượng môi trường nước một lưu vực sông
Hình 3.4. Kết quả tính toán BOD 5 theo các kịch bản dọc sông Nhuệ (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w