Như vậy khi thực hiện các hoạt động GDAN cũng như các VĐ nhịp điệu không những giúp trẻ phát triển tai nghe, tăng cường hoạt động của các cơ quan trong cơ thể mà quan trọng hơn là giúp t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG VẬN ĐỘNG NHỊP ĐIỆU CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Lê Thu Trang Sinh viên thực hiện : Trần Thị Hằng
HÀ NỘI - 2016
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU Trang
1.Lý do chọn đề tài………7
2.Mục đích nghiên cứu đề tài… 8
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu……… 8
3.1. Khách thể nghiên cứu………8
3.2. Đối tượng nghiên cứu………8
4.Giả thiết khoa học………8
5.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……… 8
6.Các phương pháp nghiên cứu đề tài………8
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận……….8
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn……… 8
7.Giới hạn nghiên cứu đề tài……… 9
PHẦN NỘI DUNG Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài………10
1.1.Sơ lược vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 10
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới……… 10
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam……… 11
1.2.Âm nhạc và vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của trẻ mầm non……… 11
1.2.1. Âm nhạc……… 11
1.2.2. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của trẻ mầm non………12
1.3. Một số những khái niệm cơ bản……….18
1.3.1. Vận động……… 18
1.3.2. Vận động nhịp điệu 18
1.3.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu……… ……….19
1.4.Mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động…… 19
1.5.Các nhóm hoạt động VĐ nhịp điệu……….21
1.5.1. Nhóm thứ nhất: Vận động nhịp điệu………19
1.5.2. Nhóm thứ hai: Vận động minh họa……….20
1.6. Đặc điểm về khả năng VĐ nhịp điệu của trẻ MG 5-6 tuổi……….
……….22
1.6.1. Đặc điểm về khả năng tiếp nhận âm nhạc của trẻ MG 5-6 tuổi……… 23
1.6.2. Đặc điểm phát triển kĩ năng VĐ nhịp điệu ở trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN ở trường MN……… 24
1.7. Các yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức của hoạt động GDAN trên hoạt động học của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN ……….25
1.7.1. Mục tiêu……… … 25
Trang 31.7.2. Nội dung……… 25
1.7.3. Phương pháp……….26
1.7.4. Hình thức tổ chức……… 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG I……… 29
Chương II: Thực trạng về việc nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi……….30
2.1 Mục đích điều tra……… 30
2.2 Nội dung điều tra……….30
2.3 Đối tượng điều tra……… ……31
2.4 Thời gian điều tra………31
2.5 Phương pháp điều tra…… 31
2.6 Thực trạng về chương trình GDAN ở trường MN……… 32
2.7 Tiêu chí đánh giá mức độ nhận thức về hoạt động VĐ nhịp điệu của trẻ……….33
2.8 Kết quả khảo sát……… 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG II……… …45
Chương III: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học ở trường MN……… 46
3.1 Một số yêu cầu khi xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi……….……….46
3.2 Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN……… ………46
KẾT LUẬN CHƯƠNG III……….……… 58
Chương IV: Thực nghiệm sư phạm và kết quả ………59
4.1 Thực nghiệm một số bài tập nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN……… ……… 59
4.1.1 Vài nét về khách thể thực nghiệm………59
4.1.2 Mục đích thực nghiệm……….59
4.1.3 Nội dung tổ chức thực nghiệm……….59
4.1.4 Các tiêu chí và thang đánh giá (đã đề xuất ở mục 2.7)………59
4.1.5 Các điều kiện tiến hành thực nghiệm………59
4.1.6 Quy trình tổ chức thực nghiệm……….59
4.1.7 Tổ chức thực nghiệm………60
4.1.8 Phân tích kết quả thực nghiệm……….61
KẾT LUẬN CHƯƠNG IV……… ……… 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM……….68
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 71
Trang 4DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
VĐ : Vận động
GDMN : Giáo dục mầm non
GVMN : Giáo viên mầm non
Trang 5GDAN : Giáo dục âm nhạc
Bảng 2.1………36
Bảng 2.2……… ….36
Bảng 2.3 Nhận thức của GV về VĐ nhịp điệu cho trẻ MN……….36
Trang 6Bảng 2.4 Ý kiến của GV về việc sử dụng các tiết tấu gõ theo nhịp, phách và các hình tiết tấu khi tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học……….37
Bảng 2.5 Ý kiến của GV về việc sử dụng các hình thức tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học……… 38
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về việc sử dụng các phương tiện để tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học………40
Bảng 2.7 Ý kiến của GV về những ảnh hưởng của việc tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điêu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học……….41
Bảng 2.8 Ý kiến của GV về sự cần thiết của việc tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học……… …… 42
Bảng 2.9 Kết quả về mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN Đống Đa………42
Bảng 4.1 Mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ nhóm ĐC và
TN trước khi thực nghiệm……… 61
Biểu đồ 4.1 So sánh mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ nhóm ĐC và nhóm TN trước thực nghiệm……… … 62 Biểu đồ 4.2 Biểu đồ phân bố tần số mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của trẻ trước TN………63
Bảng 4.2 Mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu của nhóm trẻ ĐC và
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Ở trường Mầm non, đặc biệt là đối với lứa tuổi Mẫu giáo thì âm nhạc là một trong những loại hình nghệ thuật phát triển năng lực, cảm xúc, tưởng tượng, sáng tạo, sự tập trung chú ý và khả năng diễn đạt những hứng thú của trẻ Khác với các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, văn học, điện ảnh…
âm nhạc không hoàn toàn xác định rõ những hình ảnh cụ thể Âm nhạc được thể hiện bằng ngôn ngữ riêng như giai điệu, âm sắc, trường đô, hòa âm, tiết tấu… tất cả đã thu hút, hấp dẫn và làm thỏa mãn nhu cầu của trẻ.
Âm nhạc là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát triển lời nói, quan hệ giao tiếp… Đối với trẻ, âm nhạc là một thế giới kì diệu đầy cảm xúc Trẻ có thể tiếp thu âm nhạc ngay từ khi trẻ còn nằm trong nôi và
Trang 8ở lứa tuổi Mầm non (MN) trẻ rất dễ cảm xúc nên tiếp xúc với âm nhạc là một điều không thể thiếu Thế giới âm thanh muôn màu và không ngừng chuyển động tạo điều kiện cho trẻ phát triển các chức năng tâm lý, năng lực hoạt động và hiểu biết.
Trong chương trình GDMN, hoạt động âm nhạc là một hoạt động hết sức gần gũi với trẻ, là hoạt động được trẻ yêu thích và là nguồn cảm hứng mạnh mẽ để trẻ cảm thụ nghệ thuật Nó là phương tiện hữu hiệu cho việc tổ chức hoạt động giáo dục ở trường MN Âm nhạc và vận động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trẻ lứa tuổi Mầm non do đặc điểm hồn nhiên, ham hoạt động nên việc ca hát bao giờ cũng kèm theo nhảy múa hay vận động theo nhạc Chính điều này làm cho mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động được hình thành dẽ dàng hơn, nó có mối quan hệ tác động trực tiếp với nhau Các bài hát đem đến cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ và dưới những ảnh hưởng của cảm xúc đó sẽ giúp trẻ vận động sao cho phù hợp với tính chất âm nhạc.
Trẻ lứa tuổi này đã có những vận động cơ bản hoàn thiện, khả năng vận động của các cơ lớn đã phát triển, trẻ biết phối hợp chân, tay và đôi mắt để thực hiện vận động Và khi các hình thức vận động theo nhạc làm hấp dẫn trẻ thì sẽ làm tăng khả năng cảm thụ theo nhạc cho trẻ Vận động theo nhạc(VĐTN) giúp trẻ phát triển cảm giác, nhịp điệu, sự khéo léo, khả năng phản ứng nhanh , ngoài ra nó còn làm thỏa mãn nhu cầu tình cảm của trẻ giúp trẻ tự bộc lộ cảm xúc và giao lưu với bạn bè Trong VĐTN có hai dạng vận động là VĐ nhịp điệu và VĐ minh họa, hai dạng vận động này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và đều rất cần thiết trong hoạt động GDAN trên hoạt động học của trẻ.
Hiện nay, trong thực tế ở trường Mầm non, chương trình GDAN đang được phổ biến rộng rãi và mục đích của nhà giáo dục khi tổ chức cho trẻ VĐTN là nhằm hình thành tính tập thể, giúp nâng cao nhận thức, thỏa mãn nhu cầu tình cảm, cảm xúc cho trẻ để giao tiếp với xung quanh và giải phóng nhu cầu muốn vận động của cơ thể, đồng thời giúp giáo viên có được những
Trang 9cơ hội và điều kiện thực hiện khả năng của mình Tuy nhiên trong thực tế thì người giáo viên tổ chức hoạt động VĐTN cho trẻ thường chỉ chú ý và sử dụng nhiều nhóm VĐ minh họa, trong khi đó VĐ nhịp điệu thường được sử dụng rất
ít trong các giờ hoạt động GDAN vì thế mà chưa làm cho giờ hoạt động GDAN phong phú, chưa tạo được hứng thú và chưa phát triển được tai nghe cho trẻ
mà chỉ đơn thuần là nhằm mục đích chú trọng đến VĐTN là VĐ minh họa và đơn giản các động tác chỉ mang tính đơn điệu, qua loa mà chưa chú trọng đến hiệu quả trong hoạt động VĐTN Người giáo viên chưa chú trọng nhiều đến
VĐ nhịp điệu và đồng thời chưa có những biện pháp phù hợp và sáng tạo trong quá trình tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ Do vậy việc đưa ra một số các biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu là rất cần thiết và cần được chú trọng
Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề trong hoạt động VĐ nhịp điệu và mong muốn nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ, tôi đã chọn đề tài:
“ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Thông qua đề tài : “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” từ đó nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu nói chung và nâng cao chất lượng GDAN nói riêng cho trẻ MG 5-6 tuổi.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình tổ chức hoạt động VĐ nhịp điệu ở trẻ MG 5-6 tuổi.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
4. Giả thiết khoa học
Trang 10Nếu xây dựng được một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5- 6 tuổi thì sẽ nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5- tuổi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động
VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
5.2. Nghiên cứu thực trạng sử dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt
động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
5.3. Xây dựng một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu
cho trẻ MG 5-6 tuổi và tiến hành các thực nghiệm nhằm kiểm chứng hiệu quả, tính khả thi của các biện pháp đã đề ra.
6. Các phương pháp nghiên cứu đề tài
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc sách, báo, tài liệu có liên quan đến đề tài, từ đó nghiên cứu, phân tích, tông hợp, hệ thống hóa để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát : Dự các hoạt động GDAN để nắm được thực trạng, nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp giúp giáo viên sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
- Phương pháp điều tra : Sử dụng phiếu điều tra giáo viên nhằm tìm hiểu cách
tổ chức và mức độ nhận thức của giáo viên trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu và các phương pháp họ sử dụng.
- Phương pháp đàm thoại : Trao đổi với giáo viên để thấy được các biện pháp
mà giáo viên thường sử dụng và tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng của giáo viên
và trẻ để tìm ra các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu cách phù hợp.
- Phương pháp thực nghiệm : Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp.
- Phương pháp xử lý số liệu : Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm : Tổng kết lại kinh nghiệm của giáo viên trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
7. Giới hạn nghiên cứu đề tài
7.1. Số lượng trẻ nghiên cứu : 25 trẻ nhóm thực nghiệm và 25 trẻ nhóm đối chứng.
Trang 117.2 Địa điểm nghiên cứu : 3 trường MN (Trường Mầm non Đống Đa,
MN Hoa Hồng, MN Họa Mi)
7.3. Vấn đề nghiên cứu : Một số biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động VĐ
nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sơ lược vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
VĐTN rất gần gũi với con người đặc biệt là trẻ thơ Việc đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu về VĐTN mà cụ thể là VĐ nhịp điệu và VĐ minh họa cho trẻ
là một việc rất cần thiết.
Trên thế giới đã có một số nước nhìn nhận đước tầm quan trọng của
âm nhạc đối với trẻ Đại thi hào M Gorki đã nhận xét : “ Âm nhạc có tác động
kì diệu đến tận đáy lòng, nó khám phá ra các phẩm chất cao quý của con người Chính vì vậy, người lớn cần đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục âm nhạc cho trẻ càng sớm càng tốt” Một số nước như Liên Xô (cũ), Hung- ga-ri, Tiệp Khắc, Đức, Singapo… đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng vận động cũng như tâm lí vận động theo giai điệu, tiết tấu của trẻ “ Vận động theo nhịp điệu ” được đưa đến với trẻ từ rất sớm và nó được coi như mầm mống khởi đầu của việc hình thành thị hiếu nghệ thuật, như ngay từ khi trẻ được sinh ra đã được nghe các bài hát do mẹ và những người xung quanh vừa hát vừa kết hợp với vỗ tay theo giai điệu của bài Như vậy VĐ nhịp điệu có ảnh
Trang 12hưởng đến trẻ từ rất sớm Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về con người
đã khẳng định rằng, thời kì từ lúc sơ sinh đến 10 tuổi là thời kì tốt nhất cho sự phát triển năng khiếu nghệ thuật Những ấn tượng để lại trong thời kì này sẽ theo trẻ trong suốt cuộc đời mà âm nhạc là một nghệ thuật lôi cuốn mạnh mẽ nhất Trong cuốn “ Sáng tạo nghệ thuật ” của tác giả Ôtstraylia vấn đề VĐTN của trẻ cũng được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh : trẻ thơ và việc nhảy múa trong lớp học, tầm quan trọng của khiêu vũ với trẻ, phương pháp dạy trẻ vận động…
1.1.2. Những nghiên cứu tại Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề VĐTN nói chung cho trẻ mẫu giáo cũng được quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau Một số những nghiên cứu về GDAN cho trẻ
• Luận văn tốt nghiệp đại học “ Một số biện pháp tăng cường khả năng thể hiện các bài hát mang tính chất vui nhộn nhảy múa cho trẻ Mẫu giáo lớn 5-6 tuổi ” của tác giả Bùi Thị Hằng cũng xây dựng một số biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi tăng cường khả năng thể hiện các bài hát mang tính chất vui nhộn nhảy múa.
• Luận văn tốt nghiệp đại học “ Bước đầu áp dụng hình thức vận động theo nhạc mới cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ” của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Bích đã tìm hiểu về các hình thức vận động theo nhạc cho trẻ 5-6 tuổi.
• Luận văn tốt nghiệp đại học sư phạm “ Tìm hiểu những bài hát trong chương trình dạy trẻ mẫu giáo lớn múa và vận động theo nhạc ở thị xã Hà Đông- Tỉnh
Hà Tây ” của tác giả Quan Thương Lý đã cho thấy được thực trạng dạy và học múa , vận động theo nhạc của mẫu giáo lớn còn gặp nhiều khó khăn và hạn
Trang 13chế Từ đó đã phân tích , khai thác những kĩ năng múa, vận động theo nhạc cho trẻ 5-6 tuổi từ chất liệu âm nhạc điển hình của một số bài hát vào dạy trẻ
và giúp giáo viên mầm non hiểu biết sâu sắc hơn bài hát sử dụng để dạy trẻ mầm non vận động theo nhạc.
Mỗi đề tài nghiên cứu trên tập trung vào một khía cạnh của vấn đề VĐTN cho trẻ MG 5-6 tuổi nhưng qua các đề tài trên tôi nhận thấy rằng các đề tài còn tập trung nhiều đến khía cạnh VĐ minh họa, mà có rất ít đề tài quan tâm đến VĐ nhịp điệu Chọn cho nghiên cứu của mình là nhóm VĐ nhịp điệu
và đối tượng trẻ mẫu giáo lớn, tôi hy vọng công trình nghiên cứu về VĐ nhịp điệu cho trẻ mẫu giáo lớn nói riêng và cho trẻ mẫu giáo nói chung sẽ góp phần làm phong phú thêm một số phương pháp, hình thức vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo để GDAN thực trẻ hấp dẫn trẻ và đạt hiệu quả GD cao trong công tác GDMN ngày càng phát triển.
1.2. Âm nhạc và vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của
Âm nhạc nảy sinh từ quá trình lao động của con người và hỗ trợ trở lại để con người sản xuất và sáng tạo Âm nhạc gắn liền với con người từ lúc chào đời, những khúc hát ru, những bài hát đồng dao, những điệu hò lao động luôn là cội nguồn cho những sáng tác của các nhạc sĩ.
Âm nhạc được chia làm 2 loại hình cơ bản:
- Âm nhạc có lời (âm nhạc cho hát tức thanh nhạc) Thanh nhạc viết cho giọng hát (có đệm bằng nhạc cụ hoặc không có đệm) Thanh nhạc gắn liền với lời
ca, với ngôn ngữ - một yếu tố giúp cho người nghe dễ tiếp thu tác phẩm.
- Âm nhạc không lời (âm nhạc cho nhạc cụ tức nhạc khí) Khí nhạc là âm nhạc viết cho nhạc cụ diễn tấu Trong khí nhạc, nội dung tư tưởng sâu sắc mà các
Trang 14nhạc sĩ đưa vào đó lại được thể hiện hoàn toàn bằng các hình tượng âm thanh, không có lời ca
1.2.2. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển của trẻ MN
Âm nhạc tác động rất mạnh mẽ đến trẻ em nói chung và trẻ MN nói riêng Trẻ em rất yêu thích âm nhạc và ngược lại, âm nhạc giúp trẻ hoàn thiện hơn, có một tâm hồn nhạy cảm và đẹp đẽ hơn.
Đặc điểm của lứa tuổi MN là thích vui chơi, hoạt động, ham tìm hiểu
để nhận thức cuộc sống thì âm nhạc lại càng gần gũi và gắn bó một cách hết sức tự nhiên Đây chính là phương tiện để giúp trẻ phát triển cảm xúc, phát triển tình cảm, trí tuệ, mở rộng nhận thức, phát triển trí tưởng tượng, phát triển ngôn ngữ….
Múa hát, vận động và trò chơi âm nhạc là những nội dung thúc đẩy quá trình phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc của trẻ Âm nhạc còn có khả năng tác động đến con người ngay từ thuở còn nằm trong nôi, qua tiếng hát ru của mẹ Những phản ứng xúc cảm từ rất sớm, những biểu hiện sinh động của trẻ khi nghe thấy âm thanh (âm nhạc) như hướng về phái có âm thanh hay
âm nhạc phát ra, phản xạ định hướng phát triển đã khẳng định rằng: có thể cho trẻ làm quen với âm nhạc ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời Những lời hát ru của bà, của mẹ, những câu hát mộc mạc, gần gũi đã nuôi lớn những tâm hồn trẻ thơ Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, đứa trẻ dược tiếp xúc nhiều với âm nhạc sẽ thông minh hơn, nhạy cảm hơn, âm nhạc chính là phương tiện tích cực giáo diện toàn diện cho trẻ.
1.2.2.1. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển khả năng thẩm mĩ của trẻ MN
Giáo dục thẩm mĩ nhằm phát triển ở trẻ khả năng cảm thụ, lĩnh hội
và hiểu cái đẹp, trẻ phân biệt được cái đẹp, hoạt động độc lập vá sáng tạo trong khi tiếp xúc với các dạng hoạt động khác nhau.
Âm nhạc được xem là phương tiện hữu hiệu để giáo dục thẩm mĩ Trẻ
MN thích thú với những hoạt động mang tính nghệ thuật Ca hát đi đôi với nhảy múa là một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ ÂM nhạc góp phần tích cực trong việc phát triển những cảm xúc thẩm mĩ, bồi dưỡng thị hiếu trong
Trang 15Được tiếp xúc với âm nhạc qua lời ca, giai điệu của bài hát, bản nhạc giúp trẻ tưởng tượng, học nói lên cảm xúc của mình, trẻ thấy mình có thể diễn tả những ý nghĩ, những ước mơ, những cảm xúc mạnh mẽ Ở một chừng mực nào đó trẻ sẽ biết nhận xét, trao đổi với nhau sự cảm nhận về ý nghĩa lời
ca, âm điệu, tiết tấu… của mình Đó chính là ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ Những ca từ, những hình ảnh trong những bài hát rất giản dị có tính nghệ thuật, phù hợp với lứa tuổi sẽ hình thành ở trẻ thị hiếu âm nhạc trong sáng, lành mạnh, là cơ sở của tình cảm thẩm mĩ, đạo đức tốt đẹp Ví dụ như bài hát
“Hoa trường em” của nhạc sĩ Dương Hưng Bang đã tạo dựng hình ảnh của cháu bé 3-4 tuổi với Bác Hồ kính yêu Lòi ca trên giai điệu bay bổng như nhắn gửi, nhắc nhở các em biết vâng lời cô và chăm ngoan học giỏi Âm nhạc giáo dục tình cảm thẩm mĩ cho trẻ, trong đó có cái đẹp về ứng xử, giao tiếp với ông
bà, cha mẹ, cô giáo, bạn bè và người trong cộng đồng Vận động theo nhịp điệu cũng như các động tác múa giúp trẻ bộc lộ cảm xúc khi nghe hát nghe nhạc.
Trong hoạt động GDAN, trẻ không chỉ cảm nhận, hưởng ứng với trạng thái cảm xúc có trong tác phẩm mà đồng thời trẻ còn cảm thấy cái đẹp trong các động tác, hình thể của mình, của các bạn Điều này làm cho cảm xúc của trẻ thêm phing phú Trên cơ sở đó trẻ thêm hứng thú với âm nhạc, thêm yêu thích và nảy sinh nhu cầu hoạt động âm nhạc cũng như hoạt động nghệ thuật.
Trong quá trình VĐTN nói chung trẻ hình dung ra các hình tượng khác nhau và tưởng tượng theo cách của mình, phối hợp với các động tác biến đổi, sáng tạo để hình thành những động tác mới lạ Đây là cơ sở ban đầu của sự sáng tạo cái đẹp của trẻ Được múa, vận động trong tập thể, trẻ dần biết nhận xét, đánh giá chất lượng biểu diễn của bạn từ đó rút ra kinh nghiệm cho chính mình Vì vậy, giáo dục thị hiếu thẩm mĩ cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc trong trường MN làm phong phú thêm đời sống tinh thần của trẻ, giúp trẻ cảm thụ cái tốt cái đẹp hơn.
Trang 16Thông qua hoạt động âm nhạc nói chung và hoạt động VĐ nhịp điệu nói riêng tai nghe cũng như khả năng cảm nhận tiếp tấu, giai điệu của trẻ ngày càng phát triển Trẻ biết thể hiện một cách diễn cảm những hoạt động mang tính nhịp điệu, cũng như có yếu tố sáng tạo trong hoạt động biểu diễn, biết đánh giá chất lượng vận động Từ đó trẻ có thêm hứng thú, say mê với các hoạt động nghệ thuật.
1.2.2.2. Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển nhận thức và phát triển ngôn ngữ
của trẻ MN
Âm nhạc là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát triển lời nói, trao đổi tình cảm… Trẻ MN dễ cảm xúc, vốn ngây thơ, trong sáng, nên tiếp xúc với âm nhạc là nhu cầu không thể thiếu GDAN là một loại hình nghệ thuật giúp trẻ phát triển trí tuệ, có khả năng trải nghiệm những cảm xúc trong quá trình cảm thụ và thể hiện âm nhạc Khi nghe nhạc, trẻ cảm nhận được tính chất, tình cảm của âm nhạc, ảnh hưởng đên những trạng thái cảm xúc có trong tác phẩm Đồng thời âm nhạc dẫn dắt trẻ đến những hiện tượng sống động của đời sống, giúp trẻ hình thánh sự liên tưởng Ví dụ : Nghe bản nhạc vui vẻ trẻ lắc lư, đập tay vào đùi, vỗ tay, nhảy ; nhạc buồn trẻ ngồi đong đưa nhẹ nhàng….
VĐ nhịp điêu cũng là phương tiện thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của trẻ Trong quá trình VĐ nhịp điệu thì trước hết trẻ phải chú ý lắng nghe, ghi nhớ những đặc điểm, tính chất của các hình tượng âm nhạc từ đó có những động tác phù hợp Tác phẩm âm nhạc càng phức tạp, các động tác được sử dụng nhiều hơn thì sự chú ý nghe của trẻ càng tích cực hơn Điều đó giúp trẻ phát triển trí nhớ âm nhạc trên cơ sở thống nhất của thính giác và các cơ quan vận động Nhiều hiện tượng của đời sống được phản ánh trong tác phẩm âm nhạc làm phong phú thêm vốn hiểu biết của trẻ bằng những khái niệm về xã hội, về thiên nhiên.
Đồng thời trong khi VĐ nhịp điệu giúp trẻ phát triển khả năng ngôn ngữ: Trong khi tập trung nghe nhạc trẻ không chỉ tiếp thu giai điệu, tiết tấu
Trang 17cảm, mở rộng vốn từ Ở trẻ MG các tư duy trực quan hành động, trực quan hình tượng và tư duy trìu tượng được biểu hiện trong bất kì hoạt động nào, trong đó có âm nhạc Tiếp xúc với âm nhạc, đứa trẻ dần dần có khả năng tổng hợp và tư duy logic Ví dụ, khi được nghe các thể loại âm nhạc khác nhau như hát ru có tính em dịu tình cảm, còn hành khúc có tính mạnh mẽ, hung tráng; trẻ không những chỉ nêu dấu hiệu, đặc điểm mà còn giải thích tại sao tác phẩm đó lại là hành khúc, là hát ru
Tính tích cực và sự tập trung chú ý trong khi hát, VĐ nhịp điệu giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển trí nhớ Trẻ hát và VĐ nhịp điệu cùng lúc giúp ghi nhớ lời ca, giai điệu, tiết tấu kết hợp với thực hiện động tác phối hợp các cơ quan trong cơ thể Trẻ yêu thích ca hát bao nhiêu thì càng thuộc nhanh và nhớ lâu, nhớ chính xác bài hát đó bấy nhiêu Điều này có tác dụng rèn luyện đôi tai nhạy bén cho trẻ, đồng thời tăng cường sự nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh.
1.2.2.3.Vai trò của âm nhạc đối với việc hình thành tình cảm, kĩ năng xã hội và các
phẩm chất đạo đức của trẻ MN
Âm nhạc có tác động mạnh mẽ đên tâm hồn trẻ thơ Ca hát, VĐTN là những hình thức hoạt động âm nhạc được trẻ yêu thích nhất Nội dung phong phú của các ca khúc MN có chức năng quan trọng trong việc giáo dục tình cảm đạo đức cho trẻ Ví dụ như trong bài hát “ Cháu vẽ ông mặt trời” của nhạc sĩ Tân Huyền đã cho thấy hoạt động học tập của trẻ giờ vẽ, cháu cầm bút vễ cảnh vật thiên nhiên là ông mặt trời Nhưng trong tưởng tượng của trẻ thì lại liên hệ đến hình ảnh cô giáo yêu thương.
Các hoạt động âm nhạc ở trường MN thường mang tính tập thể, từng nhóm trẻ theo độ tuổi Trẻ cùng nhau múa hát, cùng nhau chia sẻ niềm vui về một hình ảnh âm nhạc; qua đó giữa trẻ xuất hiện sự cảm thông, sự quan tâm đến nhau, phát triển tinh thần tập thể, tính tổ chức, tinh thần kỉ luật; nhưng trẻ vẫn luôn vui tươi, hồn nhiên, ngay cả những trẻ nhút nhát cúng cảm thấy thoải mái, tự tin hơn Hơn nữa, âm nhạc còn ảnh hưởng đến văn hóa chung trong hành vi của trẻ Lời ca của âm nhạc giàu tính biểu hiện và chất trữ
Trang 18tình Nội dung lời ca trong sự thống nhất với nhạc điệu tác động rất sâu vào tâm hồn trẻ Trẻ không chỉ được nghe hát mà còn tự mình ca hát, từ đó phát hiện ra vẻ đẹp của thiên nhiên, tình cảm gia đình, bạn bè… Từ đó gợi mở cho trẻ cách ứng xử hay nói cách khác là dạy trẻ đạo đức làm người.
Niềm vui, sự phấn khích trong khi thực hiện các hoạt động âm nhạc
là yếu tố động viên những trẻ nhút nhát, thiếu tự tin, giúp các em mạnh dạn hơn trong mọi hoạt động, hòa nhập với tập thể và cộng đồng Như vậy, hoạt động GDAN tạo những điều kiện cần thiết để hình thành những tình cảm, kĩ năng xã hội, phẩm chất nhân cách cho trẻ.
1.2.2.4.Vai trò của âm nhạc đối với sự phát triển thể chất của trẻ MN Hoạt động âm nhạc gắn liền với sự phát triển sinh lí của trẻ, đẩy mạnh chắc năng hoạt động của các cơ quan phát thanh, hô hấp, làm giọng trẻ tốt hơn, tạo điều kiện rèn luyện sự phối hợp giữa nghe và hát Trong kết hợp với các bài hát vận động theo nhịp điệu, theo lời ca sẽ làm cho trẻ hứng thú vận động hơn, cảm nhận và ghi nhớ kĩ thuật vận động nhanh hơn Vì thế các bài tập vận động sẽ được thực hiện hiệu quả hơn, nhờ đó quá trình hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động được rút ngắn lại Hát cũng liên quan trực tiếp đến sự phát triển thể chất của trẻ, giúp trẻ củng cố cơ quan phát âm, thở sâu, tránh nói lắp… tạo sự liên hệ nhạy bén giữa các cơ quan Hát còn ảnh hưởng đến tư thế của trẻ: khi học hát trẻ luôn được nhắc nhở phải ngồi thẳng, không gù lưng, đó là điều quan trọng để tạo tư thế đúng Âm nhạc được sử dụng cho trẻ MN thường có tính chất sôi nổi, linh hoạt, vui tươi nên các động tác phụ họa của trẻ cúng khỏe khoắn, sôi nổi trẻ luôn luôn hướng
về cái đẹp nên chúng muốn thực hiện động tác đúng, đẹp như mẫu của cô giáo, muốn phối hợp đều và nhịp nhàng với các bạn, nhờ đó việc thực hiện các bài tập vận động cũng chính xác hơn và đẹp hơn.
Như vậy khi thực hiện các hoạt động GDAN cũng như các VĐ nhịp điệu không những giúp trẻ phát triển tai nghe, tăng cường hoạt động của các
cơ quan trong cơ thể mà quan trọng hơn là giúp trẻ ghi nhớ các bài tập vận
Trang 19động chính xác và lâu bền hơn, thực hiện đúng, đẹp và nhịp nhàng hơn Nhờ
đó, cơ thể của trẻ phát triển một cách hài hòa cân đối Trong khi VĐTN trẻ tập phối hợp các động tác linh hoạt,phát triển tai nghe âm nhạc cho trẻ Vận động toàn thân khi có nhạc kèm theo tạo cho trẻ sự mềm dẻo nhịp nhàng, có ảnh hưởng tốt đến tim mạch và sự phát triển cơ.
Tất cả các vận động của tay, chân, đầu, vai… nhờ có sự phụ họa của
âm nhạc sẽ trở lên chính xác, nhịp nhàng hơn, cường độ, nhịp độ của accs tác phẩm âm nhạc đòi hỏi trẻ phải thay đổi tốc độ của vận động Sự thay đổi tính chất âm nhạc của các câu, các đoạn dẫn đến sự thay đổi hướng và đội hình của vận động Từ đó, qua hoạt động âm nhạc tạo cho trẻ sự hoạt bát, nhanh nhẹn, có phong thái đẹp, uyển chuyển, duyên dáng.
1.3. Một số khái niệm cơ bản
1.3.1. Vận động
Tham khảo tài liệu về tâm vận động của Viện nghiên cứu trẻ em thuộc viện Khoa học giáo dục , tôi thấy rằng:
Về sinh lí : Vận động là sự chuyển động của cơ thể con người trong đó có
sự tham gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh.
Trong cuốn “ Từ điển tâm lý học ” , Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có đưa ra khái niệm về “ Tâm vận động ” như sau: “ Thần kinh phát triển đến đâu thì vận động phát triển theo và kết hợp với sự luyện tập, với kinh nghiệm, chịu sự chi phối của tình cảm, vận động dần dần phù hợp với ý đồ, mục tiêu Trong thời thơ ấu, phát triển vận động và trí khôn gắn liền với nhau”.
1.3.3. Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu
- Theo từ điển Tiếng Việt: “ Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề
cụ thể ”
Trang 20- Theo từ điển Tâm lí học: “ Biện pháp là cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể ”.
- Các nhà giáo dục học khẳng định : Biện pháp giáo dục là các tác động riêng biệt của GV trong mỗi phương pháp giáo dục cụ thể.
Biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu là cách làm, cách giải quyết vấn đề về VĐ nhịp điệu cho trẻ Từ đó đưa ra một số biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi.
1.4. Mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động
Âm nhạc và vận động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trẻ lứa tuổi MG rất hồn nhiên, ham hoạt động nên ca hát bao giờ cũng kèm theo VĐTN Chính điều này làm cho mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động được hình thành dễ dàng và nhạy bén Các bài hát mang đến cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ và dưới ảnh hưởng của những cảm xúc đó, trẻ vận động phù hợp với đặc tính của âm nhạc.
Giữa âm nhạc và vận động có mối quan hệ trực tiếp xuất phát từ cơ sở sinh lí, đó là cơ quan thính giác và cơ quan cảm giác về chuyển động và thăng bằng Nhà tâm lí học B.N Chep-lo-va cho rằng: “Việc tri giác âm nhạc xảy ra cùng lúc hoàn toàn trực tiếp với những phản ứng vận động âm nhạc theo diễn biến thời gian”
Âm nhạc với hình tượng âm nhạc, sự tương phản hay đồng nhất trong cấu trúc, những đặc thù của âm hình tiết tấu, trọng âm, nhịp độ, tính chất âm nhạc… đều có thể được phản ánh trong vận động.
Hình tượng âm nhạc được phát triển, biến đổi trong thời gian, được trình bày trong sự tương hỗ của các phương tiện diễn tả âm nhạc như giai điệu, tiết tấu, âm sắc, hòa âm, nhịp độ… thì vận động cũng diễn ra trong thời gian bởi tính chất, hướng chuyển động thay đổi hay sự phát triển của các động tác (cá nhân hay tập thể) nối tiếp liên tục hoặc luân phiên.
Sự tương phản đồng nhất và nhắc lại trong cấu trúc âm nhạc gợi ra những động tác có tính chất đối xứng hoặc lặp lại trong vận động.
Trang 21Những tiết tấu đơn giản, trọng âm trong nhịp nhạc được nhấn mạnh bởi các động tác vỗ tay, dậm chân, gõ nhịp… trong vận động.
Cường độ, nhịp điệu âm nhạc cũng được diễn tả bằng sự thay đổi mức
độ khống chế, tốc độ, biên độ hướng chuyển động trong vận động.
Các yếu tố diễn tả ngôn ngữ âm nhạc đóng vai trò chủ đạo, làm cho các động tác vận động có những thay đổi tương ứng.
Việc vận động trên nền âm nhạc sẽ là một hoạt động thú vị và hấp dẫn đối với trẻ thơ nếu được tổ chức một cách phù hợp nó sẽ góp phần thúc đẩy hứng thú vận động cũng như khả năng cảm thụ âm nhạc Từ đó, phát triển thẩm mĩ âm nhạc, thẩm mĩ nghệ thuật và đặt cơ sở hình thành nhân cách toàn diện cho trẻ.
Vận động âm nhạc giúp cho sự cảm thụ tác phẩm âm nhạc được đầy đủ hơn.
Quả đúng như vậy, âm nhạc luôn chiếm vị trí hàng đầu, đóng vai trò quyết định còn vận động trở thành phương tiện đặc biệt diễn tả hình tượng
âm nhạc Đặc biệt đối với múa, âm nhạc là yếu tố không thể thiếu được Ngay trong bản thân động tác múa đã chứa đựng tiết tấu âm nhạc, âm nhạc được coi như là linh hồn của múa Múa chịu sự quy định của nội dung và tính chất
âm nhạc, thể hiện những hình tượng, những tư tưởng tình cảm có trong âm nhạc Chính vì thế, người ta gọi “ Múa là âm nhạc qua những hình tượng thấy bằng mắt ”.
Âm nhạc dùng cho múa có thể hoàng tráng, có thể đơn giản là âm hình tiết tấu để vỗ tay, gõ nhịp… nhưng trong quá trình cảm thụ nghệ thuật âm nhạc, múa lại góp phần quan trọng cụ thể hóa, hình ảnh hóa những đường nét giai điệu, tiết tấu, màu sắc âm thanh… Trìu tượng bằng những bước nhảy, bước chuyển động nhẹ nhàng, bay bổng, nét đưa tay uyển chuyển, sự dồn nén xúc động, mãnh liệt trong những vòng quay.
Trang 221.5. Các nhóm hoạt động VĐTN
Hoạt động VĐTN ở trẻ MN được chia làm hai nhóm là những VĐ nhịp điệu và VĐ minh họa (Múa) Mỗi dạng đều có những đặc trưng riêng nhưng tất cả đều thể hiện nội dung âm nhạc và lời ca Âm nhạc và lời ca quy điịnh đặc tính và sự thay đổi của vận động.
1.5.1. Nhóm thư nhất : VĐ nhịp điệu
Vận động nhịp điệu thường là một động tác đơn lẻ như vỗ tay, dậm chân… Biểu hiện tính chất nhịp điệu theo một nét nhạc, một tiết tấu nhất định của bài hát Vận động đơn giản của trẻ MGL trong chương trình vận động theo nhạc gồm những hình thức sau:
hiện ít mang tính nghệ thuật và thường không hấp dẫn trẻ Khi nghe các thể loại âm nhạc khác nhau, trẻ có thể bộc lộ cảm xúc bằng các hoạt động hình thể một cách ngẫu hứng nhưng mọi trẻ không nhất thiết phải vận động giống nhau Đây là những xúc cảm tự nhiên thể hiện bằng hành động theo tính chất giai điệu, nhịp điệu âm nhạc Ở đây giáo viên (GV) là người gợi ý giúp trẻ cảm thụ các tính chất âm nhạc khác nhau, vận động theo và không cần hát.
1.5.2. Nhóm thứ hai : Múa
Múa giúp trẻ hướng vào kĩ năng chuyển động trong quá trình tổ chức
âm nhạc: đi vòng tròn trong bài tập thể lực, dựng thành các hình tượng trò chơi và múa các động tác dễ trong chất liệu dân gian các dân tộc Việt Nam hoặc minh họa lời bài hát.
Múa là dạng vận động có tác dụng phát triển thẩm mĩ cho trẻ, hình thành những tư thế, dáng điệu, động tác đẹp Các bài múa được xây dựng trên
cơ sở nội dung, tính chất, nhịp điệu âm nhạc, lời ca Tuy nhiên không phải bài hát nào cũng xây dựng thành điệu múa Do đặc điểm tư duy trực qua hình tượng của trẻ mà múa có thể là những động tác minh họa lời ca, miêu tả sinh hoạt, mô phỏng thiên nhiên… Các chất liệu cơ bản của múa dân gian các dân
Trang 23chủ yếu với trẻ ở độ tuổi mẫu giáo, cùng với sự phát triển của trẻ và đặc biệt thể hiện rõ ràng, đa dạng các kĩ năng nhảy múa ở trẻ 5-6 tuổi.
Múa dành cho trẻ mẫu giáo Lớn có thể chia làm 3 loại chính:
1.5.2.1. Múa minh họa
Là loại múa đơn giản, các động tác phù hợp với nội dung lời ca và tiết tấu của bài hát nhằm minh họa cho bài hát đó Tuy nhiên những động tác minh họa phải tự nhiên, hợp lý, có dáng dấp và đường nét.
Thông thường các bài hát được múa minh họa thường ca ngợi thiên nhiên, phản ánh cuộc sống xã hội hoặc miêu tả hình tượng của sự vật Trong múa minh họa, tất cả trẻ trong lớp đều có thể tham gia.
1.5.2.2. Múa sinh hoạt
Múa sinh hoạt cũng gồm các động tác đơn giản, thể hiện tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết Những bài múa sinh hoạt thường mang tính chất dân gian, mô phỏng cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Múa sinh hoạt của các dân tộc mang những đặc trưng riêng do khác nhau về địa hình, phong tục, tập quán…vv ví dụ : Dân tộc Thái có điệu múa nón, dân tộc Tây Nguyên lại có điệu múa cồng chiêng, lắc hông…
1.5.2.3. Múa biểu diễn
So với hai hình thức múa minh họa và múa sinh hoạt thì múa biểu diễn nâng cao hơn: các động tác phức tạp, đội hình của múa biểu diễn cũng đa dạng và thay đổi linh hoạt Múa biểu diễn yêu cầu phải biên động tác, dàn dựng đội hình công phù hơn Đối với múa biểu diễn số lượng trẻ tham gia không nhiều, chỉ một nhóm trẻ hoặc một trẻ thể hiện Múa biểu diễn của trẻ mẫu giáo thường được sử dụng trong ngày lễ hội, trong các cuộc thi, hội diễn văn nghệ….
1.6. Đặc điểm về khả năng VĐTN nói chung và VĐ theo nhịp điệu nói riêng
ở trẻ MG 5-6 tuổi
1.6.1. Đặc điểm khả năng tiếp nhận AN ở trẻ 5-6 tuổi
- Đặc điểm tâm lí của trẻ liên quan đến VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng.
Trẻ em có một tâm hồn rất nhạy cảm Trẻ thường tỏ ra rất dễ xúc cảm đối với cảnh vật và con người xung quanh để từ đó cảm thụ vẻ đẹp, muốn
Trang 24mình cũng trở lên đẹp hơn Chính vì vậy, lứa tuổi MG đến với cái đẹp, đến với nghệ thuật, VĐTN một cách hồn nhiên, dễ dàng và sâu sắc.
Ngoài ra so với các lứa tuổi trước, trẻ từ 5-6 tuổi có khả năng tập trung chú ý lâu hơn, trẻ có khả năng tri giác toàn vẹn hình tượng âm nhạc cùng với những kinh nghiệm được tích lũy từ khi nghe hát cùng đàn đệm, xem động tác, điệu bộ và cảm nhận được trạng thái chung của tác phẩm.
Lứa tuổi MGL là giai đoạn hoàn thiện cấu trúc tâm lí người về nhận thức, tình cảm, ý chí… Chính vì vậy, khả năng tiếp nhận các lĩnh vực khó của VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng đã dễ dàng hơn Khả năng cảm nhận về nhịp điệu, tiết tấu trong âm nhạc đã thành thục hơn.
- Đặc điểm sinh lí của trẻ liên quan đến VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng.
VĐTN là một hoạt động âm nhạc hấp dẫn trẻ Tuy nhiên, tùy vào sự phát triển của mỗi lứa tuổi mà có những vận động phù hợp Theo tài liệu về “ Tâm vận động” của Viện nghiên cứu trẻ em thuộc Viện khoa học GD thì trẻ 3 tuổi đã có thể làm một số động tác toàn thân, các động tác mang tính đối xứng Trẻ từ 4-5 tuổi biết giữ thăng bằng và biết phối hợp động tác với bạn Còn trẻ 5-6 tuổi làm được nhiều động tác chi tiết, các vận động cơ bản đã hoàn thiện hơn, khả năng vân động của các cơ bắp đã phát triển Trẻ biết phối hợp động tác tốt, đặc biệt giữa bàn tay và đôi mắt để thể hiện vận động tối
ưu Hơn nữa trẻ 5-6 tuổi đã biết khống chế vận động khi nghe nhạc.
Trẻ lứa tuổi MG tiếp nhận thế giới xung quanh bằng trực quan cảm tính, do đó hoạt động ca hát, vui chơi, đặc biệt là vận động có âm nhạc tạo điều kiện cho trẻ tự bộc lộ cảm xúc, nhu cầu giáo tiếp với xung quanh và để giải tỏa năng lượng cơ thể Vận động có tiết tấu nhịp nhàng tạo sự phát triển cân bằng các giác quan làm cho trẻ vui tươi, hồn nhiên, hoạt bát, nhanh nhạy hơn, đặc biệt giúp trẻ có năng lực cảm thụ âm nhạc.
1.6.2. Đặc điểm phát triển kĩ năng VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng ở
trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động giáo dục Âm nhạc ở trường Mầm non.
Trang 25Trẻ 5-6 tuổi đã làm được các động tác chi tiết, khả năng vận động của các cơ lớn đã phát triển, trẻ vận động theo bài hát đúng, nhịp nhàng, biểu cảm, hơn nữa trẻ cũng đã có khả năng tự sáng tạo động tác Vận động với cường độ âm nhạc phù hợp với ba mức độ : Trung bình, to hơn, nhỏ hơn Trẻ
đã biết vận động phù hợp về nhịp độ vừa phải, nhanh hơn, chậm hơn Nhịp điệu âm nhạc đã thành thạo hơn so với hai lứa tuổi trước.
Trẻ đã có thẻ chuyển đổi điệu bộ theo âm điệu, biết kết hợp khăng khít giữa thời gian với âm nhạc, vận động phối hợp toàn thân với một trình tự tương đối phức tập trong các điệu múa hay tái hiện một số tiết tấu khó Có nhu cầu hoạt động âm nhạc, biết thể hiện biểu cảm khi hát múa.
Tuy nhiên, ở độ tuổi này, sự nhảy cảm về âm nhạc bắt đầu giảm dần Trẻ có ấn tượng sâu sắc khi nghe nhạc qua đâì, xem bang đĩa… biết so sánh một vài thể loại âm nhạc về âm thanh, tính chất, lời ca.
Trẻ biết chuyển động nhịp nhàng theo tính chất của âm nhạc, thay đổi bước chuyển động theo điệu nhạc, từ tốc độ nhịp nhàng có thể chuyển sang tốc độ nhanh hoặc chậm, thực hiện được các động tác nhảy múa chuyển động từng đôi : thứ tự từng bước chân nhảy lên phía trước, nhảy gập đầu gối, đi nhịp nhàng, chạy nhẹ nhàng, nhún mềm tại chỗ, tham gia các trò chơi âm nhạc, thể hiện các bài hát và các trò chơi dân gian mà không phải bắt chước nhau Trẻ vận động hàng ngang, thực hiện đúng đẹp, biểu cảm các động tác quy định, bước đầu tự sáng tạo được các động tác riêng, phối hợp nhịp nhàng toàn thân với động tác tay và chân.
Có thể nói trẻ 5-6 tuổi đã có khả năng thực hiện và thực hiện hiệu quả các bài tập VĐTN trong chương trình GDAN mầm non.
1.7. Các yêu cầu về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức
của hoạt động GDAN trên hoạt động học của trẻ 5-6 tuổi ở trường MN
1.7.1. Mục tiêu
Thông qua hoạt động GDAN trên hoạt động học ở trường MN nhằm giáo dục tình cảm đạo đức, thẩm mĩ, đồng thời tạo điều kiện cho trẻ phát huy năng khiếu, góp phần phát triển trí tuệ và thể chất.
1.7.2. Nội dung
Trang 26Nội dung GDAN được tiến hành theo các hoạt động : Hát, nghe hát, nghe nhạc, VĐTN và trò chơi âm nhạc:
- Hát là nội dung hoạt động âm nhạc được trẻ yêu thích Nó có nguồn hứng thú mạnh mẽ để cảm thụ nghệ thuật Hát còn là phương tiện thiết thực cho các hoạt động GD ở trường MN.
Trẻ được xem cô biểu diễn, được hát các bài hát MN và được cô trò chuyện về ý nghĩa nội dung bài hát, tạo cho trẻ sự cảm nhận về nghệ thuật và liên hệ đến việc GD tình cảm đạo đức, thẩm mĩ thông qua nội dung bài hát theo chủ điểm.
Khi hát trẻ thể hiện tình cảm, hát đúng nhạc, hát rõ lời, hát biểu diễn với cường độ, sắc thái phù hợp nội dung bài hát Hát kết hợp sử dụng đồ chơi
gõ đẹm theo tiết tấu âm nhạc, tạo cho trẻ có những kĩ năng hoạt động nghệ thuật phong phú.
- VĐTN là nội dung dạy trẻ những động tác phối hợp giữa accs bộ phận cơ thể phù hợp với giai điệu, tiết tấu của âm nhạc, tạo cho trẻ có sự cảm nhận về nhịp điệu, góp phần tích cực vào sự phát triển trí tuệ và thể chất.
Trẻ được nhảy múa hoặc thực hiện các động tác múa nghệ thuật theo nhịp điệu của ca khúc, làn điệu dân ca Thực hiện đại trà với cả lớp hoặc với mức độ thể hiện cho những trẻ có khả năng biểu diễn múa cơ bản mang tính nghệ thuật chuyên ngành cao hơn sẽ tạo cho trẻ có được cảm giác nhịp điệu góp phần phát triển trí tuệ và thể chất.
- Nghe hát, nghe nhạc là nội dung hoạt động âm nhạc tạo điều kiện cho trẻ được thưởng thức và nhận biết một số tác phẩm âm nhạc tiêu biểu, đặc biệt
là các làn điệu dân ca các vùng miền nhằm làm phong phú thêm đời sống văn hóa cho trẻ.
Cho trẻ nghe nhạc là hoạt động nghệ thuật với yêu cầu cảm thụ âm nhạc mang tính trìu tượng, nội dung tác phẩm, giai điệu âm nhạc sẽ là nguồn cảm hứng đêm đến cho trẻ sự yêu thích âm nhạc Vì vậy, cô cho trẻ được nghe những bản nhạc phù hợp với khả năng nhận thức Trẻ được cô gợi ý để bước đầu cảm nhận giai điệu và ý nghĩa của tác phẩm, đồng thời trẻ được cùng cô
Trang 27trò chuyện về đời sống văn hóa các vùng miền thông qua nghe cô giới thiệu và nghe hát về các làn điệu dân ca.
Trẻ được nghe hát hoặc nghe nhạc không lời Đặc biệt là các ca khúc quen thuộc, các làn điệu dân ca được chuyển thể biểu diễn hoặc độc tấu dàn nhạc nhạc cụ , hoặc được nghe nhạc kết hợp với xem múa sẽ góp phần tích cực vào việc GD thẩm mĩ.
- Trò chơi âm nhạc là nội dung giúp trẻ phát triển năng khiếu, đồng thời ôn luyện những kiến thức và kĩ năng thực hành trong các hoạt động nghệ thuật.
Vì vậy, trò chơi âm nhạc sẽ được thực hiện với các nội dung và hình thức sau đây:
Trẻ được chơi các trò chơi phát triển tai nghe âm nhạc về cao độ, trường độ, định hướng âm thanh, cường độ và sắc thái âm nhạc Đặc biệt là được làm quen với âm hình tiết tấu thông dụng, với các quãng cao độ cơ bản trong âm nhạc thông qua nghe tiếng đàn tập xướng âm đơn giản và tập xướng âm cao độ âm thanh bằng tiếng kêu của các con vật gần gũi như tiếng chim hót, tiếng mèo kêu, tiếng vịt kêu, gà gáy…
Trẻ được chơi đóng vai, diễn kịch thể hiện các nhân vật theo bài hát, chơi các trò chơi phản xạ nhanh bằng nghe âm thanh, các trò chơi ôn luyện bài hát tạo cho trẻ tác phong mạnh dạn hồn nhiên thông qua các hình thức biểu diễn các tiết mục văn nghệ.
- Phương pháp thực hành : Trẻ hát, chơi trò chơi âm nhạc, VĐTN, sử dụng nhạc
cụ, hoạt động sáng tạo dưới sự hướng dẫn của GV là kết quả của GDAN Sự phát triển trí tuệ, năng khiếu của trẻ được bắt nguồn từ hát múa và các cuộc thử nghiệm khác Những buổi thực hành làm cho nâng cao trình độ âm nhạc
và phát triển trí não.
Trang 28Trong quá trình GDAN, các phương pháp trực qua thính giác, dùng lời
và thực hành nghệ thuật quan hệ mật thiết với nhau Sự kết hợp các phương pháp phụ thuộc vào nhiệm vụ GD cụ thể, nội dung, mức độ khó dễ của tác phẩm âm nhạc và lứa tuổi của trẻ.
Việc dạy các dạng hoạt động GDAN ở trường MN với các phương pháp, biện pháp dạy học trên cơ sở các nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức, tuần tự liên tục, tự giác, tích cực Tuy nhiên, trong khi chuẩn bị cũng như tiến hành, mỗi dạng hoạt động hát, nghe, VĐTN, chơi… có những điểm khác biệt và trong mỗi bài yêu cầu chi tiết khác nhau nên khi tổ chức hoạt động âm nhạc cho trẻ, phải kết hợp các dạng hoạt động âm nhạc với nhau cũng như kết hợp các hình thức tổ chức khác nhau.
1.7.4. Hình thức tổ chức
- Hát: Trẻ được biểu diễn với hình thức: tập thể, tốp ca, song ca và đơn ca; hát nối tiếp từng câu, hát có lĩnh xướng, hát kết hợp với biểu diễn minh họa phù hợp với nhịp điệu âm nhạc và nội dung lời ca, tạo cho trẻ hứng thú cảm thụ
âm nhạc.
- Vận động theo nhạc: Trẻ được VĐTN với các hình thức múa hát hoặc hình thức hát vỗ tay theo nhịp tiết tấu bài hát theo tập thể, theo nhóm, theo tổ hoặc từng cá nhân.
- Nghe nhạc, nghe hát: Nội dung này thường được tổ chức dưới hình thức tập thể là chủ yếu.
- Trò chơi âm nhạc: Nội dung này được thể hiện dưới hình thức tập thể, theo tổ, theo nhóm hoặc biểu diễn các tiết mục văn nghệ.
- Biểu diễn văn nghệ theo chủ đề: Nội dung này được thể hiện dưới các hình thức tập thể, theo tổ, theo nhóm hoặc cá nhân.
Trang 30dụng cụ gõ Nghe nhạc và vận động tự do theo sự cảm nhận âm nhạc của riêng mình Ngoài ra khi nghe nhạc trẻ có thể vận động minh họa và múa.
Trẻ 5-6 tuổi đã biết thể hiện các động tác đơn giản theo tính chất của
âm nhạc, thay đổi bước chuyển động theo điệu nhạc, từ tốc độ nhịp nhàng có thể chuyển sang tốc độ nhanh hoặc chậm, thực hiện được các đông tác đơn giản như vỗ tay, dậm chân…
Như vậy, VĐ nhịp điệu cũng rất cần thiết và phù hợp đối với trẻ thơ, nó tạo điều kiện phát triển chung cho nhân cách toàn diện của trẻ Mối quan hệ giữa tất cả các mặt giáo dục thể hiện trong các dạng, các hình thức VĐTN phong phú.
Việc sử dụng các biện pháp tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu trong GDAN trên hoạt động học của GV rất quan trọng để thực hiện mục tiêu và nội dung đã đề ra dưới các hình thức khác nhau Đây là vấn đề mà tôi quan tâm và là cơ sở quan trọng để đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG VĐ
NHỊP ĐIỆU CHO TRẺ MG 5-6 TUỔI.
2.2. Nội dung điều tra
Điều tra thực trạng về việc tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN về các vấn đề sau:
Trang 31- Nhận thức của GVMN về:
+ Sự cần thiết của việc tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ.
+ Khái niệm VĐ nhịp điệu cho trẻ.
+ Nhiệm vụ của việc nâng cao hiệu quả trong VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
+ Những tác động của việc nâng cao hiệu quả trong VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
- Thực trạng việc nâng cao tổ chức hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG
5-6 tuổi trên hoạt động học ở trường Mầm non:
+ Các nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
+ Các biện pháp tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
+ Phương tiện tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
+ Mức độ thực hiện các động tác đơn giản của VĐ nhịp điệu của trẻ MG 5-6 tuổi.
+ Thuận lợi, khó khăn trong việc tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi hoạt động GDAN trên hoạt động học.
2.3. Đối tượng điều tra
- 32 GVMN ở trường MN Đống Đa- Hà Nội, MN Hoa Hồng- Hà Nội, MN Họa Mi- Hà Nội
- 50 trẻ MGL số 5 ở trường MN Đống Đa- Hà Nội
2.4. Thời gian điều tra
Từ tháng 2/2016 – 3/2016
2.5. Phương pháp điều tra
2.5.1. Phương pháp khảo sát bằng phiếu Anket
Để tìm hiểu nhận thức của GVMN về việc tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ
MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học, tôi sử dụng phiếu điều tra, trong đó:
Bước 1: Thiết kế phiếu điều tra Bước 2: Tiến hành điều tra Bước 3: Tổng hợp kết quả điều tra Bước 4: Phân tích kết quả điều tra
2.5.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Trang 32Dự giờ tổ chức hoạt động GDAN trên hoạt động học của GV lớp MGL, quan sát phương pháp, biện pháp tổ chức của GV, quan sát bầu không khí lớp học, quan sát thái độ, sự tiếp thu và mức độ thực hiện các động tác VĐ nhịp điệu cho trẻ trong hoạt động này để thu thập những thông tin và kết quả cần thiết.
2.5.3. Phương pháp đàm thoại
- Đàm thoại với GV về các vướng mắc, khó khăn khi tổ chức hoạt động GDAN trên hoạt động học.
- Đàm thoại với trẻ để nắm bắt thái độ cũng như khả năng VĐ nhịp điệu của trẻ
MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học.
2.5.4. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý kết quả thu được để khảo sát thực trạng mức độ thực hiện VĐ nhịp điệu của trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN Đống Đa.
2.6. Thực trạng về chương trình đổi mới GDAN ở trường Mầm
non.
GDAN cho trẻ MGL được thể hiện rõ ở lĩnh vực GD phát triển thẩm mĩ.
Mục tiêu phát triển thẩm mĩ:
- Thích nghe hát, hát và VĐTN
- Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc
- Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật
Nội dung
- Vận động nhịp nhàng theo giai điệu, nhịp điệu và thể hiện sắc thái phù hợp với các bài hát, bản nhạc.
- Sử dụng các dụng cụ gõ đệm theo nhịp, tiết tấu (nhanh, chậm, phối hợp)
- Thể hiện sự sáng tạo khi tham gia các hoạt động nghệ thuật:
+ Tự nghĩ ra các hình thức để tạo ra âm thanh, vận động theo các bài hát hát, bản nhạc yêu thích.
+ Đặt lời theo giai điệu một bài hát, bản nhạc quen thuộc (một câu hoặc một đoạn)
Kết quả mong đợi:
- Cảm nhận và thể hiện cảm xúc trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống và các tác phẩm âm nhạc:
+ Tán thưởng, tự khám phá, bắt chước âm thanh, dáng điệu và sử dụng các từ gợi cảm nói lên cảm xúc của mình khi nghe các âm thanh gợi cảm.
Trang 33+ Chăm chú lắng nghe và hưởng ứng cảm xúc (hát theo, nhún nhảy, lăc
lư, thể hiện động tác minh họa phù hợp) theo bài hát, bản nhạc.
Một số kĩ năng trong hoạt động VĐTN:
Vận động nhịp nhàng phù hợp với sắc thái, nhịp điệu bài hát, bản nhạc với các hình thức (vỗ tay theo các loại tiết tấu, múa).
Thể hiện sự sáng tạo khi tham gia các hoạt động âm nhạc:
- Tự nghĩ các hình thức để tạo ra âm thanh, vận động, hát theo các bản nhạc, bài hát yêu thích.
- Gõ đệm bằng dụng cụ theo tiết tấu tự chọn.
2.7 Tiêu chí đánh giá mức độ nhận thức về hoạt động VĐ nhịp điệu của trẻ
2.7.1 Tiêu chí đánh giá
VĐ nhịp điệu nhằm giáo phát triển ở trẻ cảm giác về nhịp điệu và khả năng thực hiện nhịp điệu âm nhạc bằng sự vận động cơ thể Ngoài tác dụng rèn luyện năng lực tập trung và giáo dục tính mạnh dạn cho trẻ, VĐ nhịp điệu còn giúp trẻ sớm có ý thức về vận động của mình, làm cho hệ cơ khỏe mạnh, nhanh chóng biết vận động khéo léo và đặc biệt phát triển chung về âm nhạc
vì thực chất nhịp điệu là một trong những phương tiện diễn tả âm nhạc cách
cơ bản Khi VĐ nhịp điệu trẻ luôn phải lắng nghe nhạc để làm cho động tác của mình phù hợp với giai điệu của bài hát, bản nhạc nên khả năng nghe nhạc của trẻ được phát triển và do đó nhạy cảm với nhịp điệu khi ca hát Từ đó, trẻ
có thể VĐ nhịp điệu một cách chính xác, có thể sự dụng phối hợp các hình tiết tấu và cũng có thể tự sáng tạo các động tác VĐ nhịp điệu theo sự cảm nhận của mình.
Dựa vào mục đích, nhiệm vụ của VĐTN nói chung và VĐ nhịp điệu nói riêng trong hoạt động GDAN trên hoạt động học, tôi đưa ra 4 tiêu chí và cách cho điểm như sau:
Tiêu chí 1: (2 điểm) Hứng thú của trẻ
Trang 34Trong suốt quá trình trẻ VĐ nhịp điệu đòi hỏi trẻ cần phải hứng thú và tích cực tham gia Và đây còn được hiểu là đòi hỏi trẻ phải tập trung, chú ý và tích cực hoạt động trong suốt quá trình thì kết quả của hoạt động mới đạt hiệu quả cao và đạt được tính mục đích đã đề ra.
- Trẻ hứng thú trong suốt quá trình: 2 điểm (giỏi)
- Trẻ hứng thú khoảng 1/3 đến 2/3 thời gian hoạt động, đôi khi trẻ mất tập trung :1,5 điểm (khá)
- Trẻ hứng thú khoảng 1/3 thời gian hoạt động và mất tập trung nhiều lần: 1 điểm (TB)
- Trẻ không hứng thú toàn bộ quá trình và cần có sự động viên, khuyến khích của giáo viên: 0,5 điểm (Yếu)
Tiêu chí 2: (4 điểm) Sử dụng âm hình tiết tấu đúng giai điệu của bài hát,
bản nhạc
Sử dụng âm hình tiết tấu đúng giai điệu bài hát, bản nhạc là trẻ thể hiện cảm xúc theo tính chất, nhịp điệu âm nhạc như vỗ tay, dậm chân….đúng nhịp, đúng giai điệu bài hát Trong từng đoạn nhạc các âm hình tiết tấu được trẻ sử dụng phải phù hợp với giai điệu, tiết tấu… bài hát, bản nhạc
- Trẻ sử dụng âm hình tiết tấu đúng giai điệu bài hát, bản nhạc: 4 điểm (giỏi)
- Trẻ sử dụng âm hình tiết tấu chưa đúng giai điệu bài hát, bản nhạc (có lúc đúng, có lúc sai): 3 điểm (khá)
- Trẻ sử dụng âm hình tiết tấu sai giai điệu bài hát, bản nhạc: 2 điểm (TB)
- Trẻ không sử dụng được âm hình tiết tấu : 1 điểm (Yếu)
Tiêu chí 3: (2 điểm) Khả năng khéo léo khi sử dụng dụng cụ âm nhạc
Đây cũng là yêu cầu không thể thiếu trong VĐ nhịp điệu của trẻ VĐ nhịp điệu đòi hỏi trẻ phải biểu hiện đúng giai điệu, tiết tấu của từng bài hát, bản nhạc Trẻ có khả năng sử dụng đạo cụ sẽ góp phần phát triển tai nghe âm nhạc và vận động của trẻ.
- Trẻ biết sử dụng dụng cụ âm nhạc và thực hiện đúng giai điệu bài hát, bản nhạc : 2 điểm (giỏi)
Trang 35- Trẻ biết sử dụng dụng cụ âm nhạc và đôi khi còn thực hiện chưa đúng với giai điệu của bài hát, bản nhạc (có lúc đúng, có lúc sai): 1,5 điểm (khá)
- Trẻ biết sử dụng dụng cụ âm nhạc và thực hiện chưa đúng với giai điệu bài hát, bản nhạc: 1 điểm (TB)
- Trẻ không biết sử dụng dụng cụ âm nhạc: 0,5 điểm (Yếu)
Tiêu chí 4: (2 điểm) Thể hiện sự sáng tạo
Đây là yêu cầu tương đối nâng cao khi trẻ VĐ nhịp điệu Trẻ có thể tự sáng tạo, hoặc có thể kết hợp các dạng âm thanh tiết tấu khác nhau để làm cho bài hát, bản nhạc thêm sinh động hơn.
- Trẻ tự gõ theo đúng giai điệu, tiết tấu bài hát bằng cách tự cảm nhận,
tự lắng nghe: 2 điểm (giỏi)
- Trẻ tự gõ theo giai điệu, tiết tấu bài hát bằng cách tự cảm nhận, tự lắng nghe (có lúc đúng,có lúc sai): 1,5 điểm (khá)
- Trẻ tự gõ được theo giai điệu bài hát nhưng sai không theo âm hình tiết tấu nào : 1 điểm (TB)
- Trẻ hoàn toàn không gõ được theo giai điệu, tiết tấu của bài : 0,5 điểm (Yếu)
2.7.2 Cách đánh giá
Khi thực nghiệm trên mức độ thực hiện bài VĐ nhịp điệu của trẻ mà cụ thể là khả năng là thực hiện các động tác đơn giản, được thực hiện qua thang điểm 10 Dựa vào kết quả (tính theo điểm) thực hiện bài VĐ của mỗi trẻ, tôi phân loại trẻ theo các mức độ thực hiện các động tác như sau:
Trang 362.8.1 Kết quả điều tra thực trạng việc tổ chức nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN
Tôi tiến hành điều tra 32 GVMN ở 3 trường MN Đống Đa, MN Hoa Hồng, MN Họa Mi Sau đây là một số thông tin về GV được khảo sát:
Trình độ GV được đào tạo:
Kết quả điều tra cụ thể:
- Nhận thức của GVMN về VĐ nhịp điệu cho trẻ MN
Bảng 2.3 Nhận thức của GV về VĐ nhịp điệu cho trẻ MN
3 Là động tác biểu hiện cảm xúc theo
4 Là sự sáng tạo các động tác múa theo
Trang 37- Thực trạng việc GV sử dụng các tiết tấu gõ theo nhịp, phách và các hình tiết tấu khi tổ chức VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động GDAN trên hoạt động học
Bảng 2.4 Ý kiến của GV về việc sử dụng các tiết tấu gõ theo nhịp, phách và các hình tiết tấu khi tổ chức VĐ nhịp cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học
STT Các dạng âm thanh tiết
tấu
Mức độ sử dụng (%) với n = 32 Thường
xuyên (%)
Số lượng (GV) thường xuyên Không
(%)
Số lượng (GV)
Trang 38gõ theo phách là 84,37 % Còn lại các dạng âm thanh tiết tấu được sử dụng ít hơn đáng kể như hình tiết tấu 2, hình tiết tấu 3 Qua thực trạng kết quả trên
ta thấy được vấn đề GV sử dụng các dậng hình tiết tấu còn ít, vì thế cần quan tâm hơn và đưa ra các biện pháp phù hợp để trẻ được thường xuyên vận động, làm tăng hứng thú và sinh động của buổi học.
- Thực trạng việc GV sử dụng các hình thức tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học.
Bảng 2.5 Ý kiến của GV về việc sử dụng các hình thức tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học
Hình thức Thường Mức độ sử dụng (%) với n = 32
xuyên (%)
Số lượng (GV) thường Không
xuyên (%)
Số lượng (GV)
Trang 39100% các GV thường xuyên sử dụng hình thức cả lớp, sau đó hình thức theo tổ là 93,75 % và theo nhóm là 78,12 % Tiếp đó đến các hình thức cá nhân và đan xen các hình thức đạt mức trung bình từ 46,87 % đến 68,75 %.
Và ở mức độ sử dụng thấp nhất là hình thức đan xen chỉ chiếm 46,87 %.
Hình thức “ Các hình thức khác” có lợi thế như qua hoạt động các trẻ
có thể tự cảm nhận giai điệu của bài hát và tự gõ được theo giai điệu của bài hát đó, từ đó giúp trẻ có thể nhớ lâu hơn về bài hát và phát triển khả năng tự sáng tạo, phát triển năng khiếu của trẻ
Tuy nhiên qua bảng kết quả cho thấy, GV còn rất ít sử dụng các hình này như để trẻ tự cảm nhận, tự nghe giai điệu bài hát, bản nhạc; các hình thức sử dụng còn mang tính chất đơn điệu nhiều như các trẻ chưa được tương tác với nhau…
Ví dụ: Khi trẻ sử dụng phách tre, trẻ chỉ tương tác với phách tre của cá nhân trẻ có, mà chưa có sự tương tác với các bạn như tương tác từng đôi một, từng đôi một gõ vào nhau…
Từ đó dẫn đến từ đó trẻ còn thụ động, bắt chước cô nên nhận thấy tầm quan trong đó cần phải đưa ra biện pháp để khắc phục.
Trang 40- Thực trạng việc GV sử dụng các phương tiện để tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học.
Bảng 2.6 Ý kiến của GV về việc sử dụng các phương tiện để tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học
Tuy nhiên các phương tiện tự làm như mõ, phách gõ, mõ dừa….để làm cho hoạt động phong phú thêm khi tổ chức VĐ nhịp điệu giúp trẻ có cảm giác thích thú hơn và khám phá thêm nhiều lợi ích khác từ các công cụ bình
thường hàng ngày còn ít ỏi chỉ với 31,25 %
- Nhận thức của GVMN về những ảnh hưởng của việc tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học.
Bảng 2.7 Ý kiến của GV về những ảnh hưởng của việc tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động VĐ nhịp điệu cho trẻ MG 5-6 tuổi trên hoạt động học