Bên cạnh đó kỹ năng Hợp tác, kỹnăng thể hiện sự Tự tin là một trong những kỹ năng nền tảng cơ bản của con ngườinếu được giáo dục sẽ tác động trực tiếp vào hệ ý thức cảm xúc.. Nhận thức đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -TRẦN THỊ NGOAN
GI¸O DôC Kü N¡NG X· HéI TH¤NG QUA Tæ CHøC TRß CH¥I
§ãNG VAI Cã CHñ §Ò CHO TRÎ 5 - 6 TUæI ë C¸C TR¦êNG MÇM NON THùC HµNH THUéC TR¦êNG CAO §¼NG S¦ PH¹M TRUNG ¦¥NG
Chuyên ngành: Giáo dục học (Lí luận và lịch sử Giáo dục)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Tuyết Oanh
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Lời cảm ơn!
===**===
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS TS Trần Thị Tuyết Oanh - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Tâm lý
- Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ, động viên, hướng dẫn và cho em những lời chỉ dẫn bổ ích trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Sau đại học, thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trường MNTH Hoa Hồng, trường MNTH Hoa Sen, trường MNTH Hoa Thủy Tiên đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên trong gia đình tôi, tới các đồng nghiệp
và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Ngoan
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề trên thế giới 6
1.1.2 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Khái niệm kỹ năng 10
1.2.2 Khái niệm kỹ năng xã hội 14
1.2.3 Khái niệm giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ MG 18
1.2.4 Khái niệm trò chơi đóng vai có chủ đề 18
1.3 Lý luận về GDKNXH cho trẻ MG 5-6 tuổi 19
1.3.1 Đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi 19
1.3.2 Kỹ năng xã hội ở trẻ 5-6 tuổi 21
1.4 Trò chơi đóng vai trong giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi 34
1.4.1 Đặc điểm của trò chơi đóng vai ở trẻ MG 5-6 tuổi 34
1.4.2 Vai trò của trò chơi đóng vai có chủ đề trong giáo dục KNXH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 36
Kết luận chương 1 39
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MN THỰC HÀNH THUỘC TRƯỜNG
CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG 40
2.1 Khái quát quá trình khảo sát 40
2.1.1 Địa bàn khảo sát 40
2.1.2 Giới thiệu về quá trình tiến hành nghiên cứu thực trạng 42
2.2 Kết quả nghiên cứu 43
2.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục KNXH thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ MG 5-6 tuổi 43
2.2.2 Mức độ quan tâm giáo dục KNXH thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ MN 5-6 tuổi 44
2.2.3 Thực trạng mức độ biểu hiện 3 KNXH của trẻ MG 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVCCĐ 45
2.2.4 So sánh kết quả mức độ biểu hiện của các KNXH: KN thể hiện sự tự tin, KN kiềm chế cảm xúc, KN hợp tác 59
2.2.5 Hình thức giáo dục KNXH cho trẻ ở trường mầm non 63
2.2.6 Thực trạng về các biện pháp giáo dục KNXH cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 63
2.2.7 Khó khăn của giáo viên khi tiến hành giáo dục KNXH thông qua trò chơi đóng vai có chủ đề 69
2.2.8 Nguyên nhân của thực trạng 70
Kết luận chương 2 72
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MN THỰC HÀNH THUỘC TRƯỜNG CĐSPTW VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Nguyên tắc xác định biện pháp giáo dục KNXH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVCCĐ 73
Trang 53.1.1 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với mục tiêu, nội dung GD trẻ mầm
non 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của trẻ 5- 6 tuổi 73
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 73
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hứng thú, tự giác, tích cực của trẻ 74
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính trải nghiệm 74
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt hóa trong giáo dục 74
3.1.7 Nguyên tắc dựa trên đặc trưng của trò chơi ĐVCCĐ 74
3.2 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng XH cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVCCĐ ở trường mầm non Thực hành thuộc trường CĐSPTW 75
3.2.1 Biện pháp 1: Cung cấp và làm giàu vốn kinh nghiệm sống cho trẻ về bản thân và về các mối quan hệ xã hội 75
3.2.2 Biện pháp 2: Tạo không gian hoạt động và môi trường thân thiện để rèn luyện các KNXH trong quá trình chơi của trẻ 79
3.2.3 Biện pháp 3: Tạo tình huống có vấn đề trong tổ chức trò chơi 82
3.2.4 Biện pháp 4: Động viên, khuyến khích để nuôi dưỡng hứng thú thể hiện các mối quan hệ xã hội trong vui chơi của trẻ 85
3.2.5 Biện pháp 5: Tạo cơ hội cho trẻ được thực hành, trải nghiệm các kỹ năng xã hội qua các vai chơi 88
3.2.6 Biện pháp 6: Tổ chức cho trẻ tự đánh giá bản thân và đánh giá bạn khi tham gia hoạt động chơi 92
3.2.7 Biện pháp 7: Phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc GDKNXH cho trẻ 94
3.3 Thực nghiệm sư phạm 96
3.3.1 Khái quát về thực nghiệm 96
3.3.2 Kết quả thực nghiệm 97
Kết luận chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
1 Bảng
Bảng 2.1 Mức độ quan tâm giáo dục KNXH thông qua trò chơi đóng
vai theo chủ đề cho trẻ MN 5-6 tuổi 44
Bảng 2.2 Mức độ biểu hiện KNXH của trẻ MG 5-6 tuổi thông qua trò chơi ĐVCCĐ 55
Bảng 2.3 Kết quả quan sát kỹ năng thể hiện sự tự tin 60
Bảng 2.4 Kết quả quan sát kỹ năng hợp tác 60
Bảng 2.5 Kết quả quan sát kỹ năng hợp tác 61
Bảng 3.1 Hệ số tin cậy kết quả mức độ biểu hiện 3KNXH 98
Bảng 3.2 Mức độ biểu hiện của cả 3 KNXH của nhóm TN và nhóm ĐC trước thực nghiệm 98
Bảng 3.3 Mức độ biểu hiện của cả 3 KNXH sau thực nghiệm 100
Bảng 3.4 Mức độ biểu hiện 3 KNXH của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN (tính theo %) 103
2 Biểu đồ Biểu đồ 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của KNXH đối với việc GD trẻ MG 5-6 tuổi 44
Biểu đồ 2.2 So sánh kết quả mức độ biểu hiện của các KNXH 59
Biểu đồ 2.3 So sánh kết quả mức độ biểu hiện các KNXH theo mức độ 62
Biểu đồ 2.4 Hình thức giáo dục KNXH cho trẻ ở trường mầm non 63
Biểu đồ 2.5 Thực trạng về các biện pháp giáo dục KNXH cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề (đơn vị %) 64
Biểu đồ 3.1 .Kết quả biểu hiện 3 KNXH của trẻ ở nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm 99
Biểu đồ 3.2 Kết quả mức độ biểu hiện cả 3 KNXH của trẻ ở nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 101
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai” điều đó có nghĩa là, trẻ em hôm nay
là chủ nhân tương lai của xã hội ngày mai, là niềm hi vọng của các bậc cha mẹ nóiriêng, là niềm tự hào của đất nước ta trong quá trình phát triển vì mục tiêu “dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”
Nghị quyết của Đảng lần thứ IX lần đầu tiên đề ra: “chăm lo phát triển giáodục mầm non” đã mở đường cho một cái nhìn mới, một hướng đi mới của ngànhgiáo dục mầm non, đưa sự nghiệp giáo dục mầm non trở thành chiến lược phát triểncủa toàn xã hội; chúng ta đã không ngừng đổi mới chương trình đào tạo cũng nhưtiếp cận với nền giáo dục hiện đại trên thế giới để ngày càng hoàn thiện, minh triếthơn trên con đường giáo dục trẻ một cách đúng mức và phù hợp Vì vậy giáo dụcMầm non luôn được xác định là mắt xích đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân,không những có vai trò quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện mà cònhướng đến phát triển một con người “Cá nhân” tức là con người có “Năng lực hànhđộng thực tiễn” Ngoài biết vận dụng những kiến thức vào trong thực tế cuộc sốngphải có những năng lực xã hội: Sự đồng cảm, thấu hiểu, năng lực hợp tác, chia sẻ,trách nhiệm xã hội… thì mới có thể thành công và hạnh phúc được Trên thực tếkhông một hành động nào của con người là thuần lí trí, luôn có vai trò cảm xúctrong đó Cảm xúc chi phối mạnh mẽ hành động của con người, cảm xúc ảnh hưởngkhông nhỏ đến mọi hoạt động của đời sống con người Đặc biệt là nếu không kiểmsoát tốt được những cảm xúc tiêu cực mọi nỗ lực và thành quả lao động của conngười thì chỉ trong giây lát sẽ tan thành mây khói! Bên cạnh đó kỹ năng Hợp tác, kỹnăng thể hiện sự Tự tin là một trong những kỹ năng nền tảng cơ bản của con ngườinếu được giáo dục sẽ tác động trực tiếp vào hệ ý thức cảm xúc Trẻ sẽ được tạo cácthói quen hành vi cũng như tư duy tích cực, những tính cách tốt để tạo được thànhcông, hạnh phúc và các mối quan hệ tốt đẹp trong mọi lĩnh vực và khuyến khích trẻbiết suy nghĩ, làm việc và học tập một cách tự lập ngay từ nhỏ để có thể làm chủđược cuộc sống của mình sau này
Trang 10Nhận thức được điều đó cùng với mong muốn là góp phần nhỏ bé vào việccải thiện được tình trạng mất cân bằng của nền giáo dục còn mang nặng tính “Hànlâm kinh viện” chưa chú trọng đến việc giáo dục phát triển các kỹ năng xã hội chotrẻ dẫn đến có những đứa trẻ rất giỏi về kiến thức có trong sách vở mà thiếu đinhững kinh nghiệm và kỹ năng cần thiết của cuộc sống hàng ngày: rụt rè khi thamgia vào các hoạt động tập thể, không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, khókhăn trong việc hợp tác với bạn chơi, ít quan tâm chia sẻ với người khác, thiếu đi sựđồng cảm với bạn bè, khả năng tự lập hạn chế luôn cần sự bao bọc và che chở củangười lớn… Tất cả các yếu tố đó khiến cho đứa trẻ cảm thấy không an toàn, luôn sợhãi trước môi trường mới lạ, ít các mối quan hệ, sống thu mình, hay buồn phiền nếu
bị thất bại trong cuộc sống, dễ làm những chuyện tồi tệ vì không quản lí được cảmxúc của bản thân… điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của đứa trẻ
Bên cạnh đó việc GDKNXH của trẻ ở các trường Mầm non Thực hành thuộctrường cao đẳng Sư phạm Trung ương chưa được tiến hành triển khai thực hiện,giáo viên còn rất loay hoay trong việc xây dựng nội dung cũng như thiếu kinhnghiệm để GDKNXH cho trẻ Trẻ thiếu mạnh dạn tự tin, nhút nhát trước đám đông,trước môi trường mới lạ cũng như khi có khách đến thăm lớp Trẻ ít khi dám bày tỏnguyện vọng mong muốn hoặc mạnh dạn đề nghị người khác giúp đỡ khi cần thiết,
có những trẻ không bao giờ chấp nhận sự thua cuộc, mỗi khi thất bại thường hay tỏ
ra buồn chán làm ảnh hưởng đến học tập, sinh hoạt cũng như các mối quan hệ củatrẻ với nhau trong lớp, đặc biệt sự xung đột của các cá nhân trẻ trong lớp thườngxuyên xảy ra không những làm ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa trẻ với trẻ mà cònlàm ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ giữa giáo viên và phụ huynh
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài “ Giáo dục kỹ năng xãhội thông qua tổ chức trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trườngmầm non Thực hành thuộc trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương” để nghiên cứutrong luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định các biện pháp tổ chức trò chơi ĐVCCĐ nhằm giáo dục năng xã hộicho trẻ ở trường mầm non
Trang 113 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ 5 – 6 tuổi
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng xã hội của trẻ 5-6 tuổi và giáo dục KNXH thông qua tổ chức tròchơi đóng vai có chủ đề ở các trường mầm non thực hành thuộc trường Cao đẳng
Sư phạm Trung ương
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được những biện pháp Giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổchức trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thực hànhthuộc trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương phù hợp với sự phát triển tâm, sinh lý
ở lứa tuổi, phù hợp với thực tiễn như: Tạo môi trường cho trẻ chơi; tổ chức các tròchơi; lựa chọn các trò chơi; động viên khuyến khích trẻ kịp thời… thì sẽ giáo dụcmột số kỹ năng xã hội cho trẻ có hiệu quả
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu hệ thống lý luận về giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổ
chức trò chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non
5.2 Khảo sát thực trạng việc giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổ chức trò
chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thực hành thuộctrường Cao đẳng Sư phạm Trung ương
5.3 Xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội thông qua tổ chức trò
chơi đóng vai có chủ đề cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thực hành thuộctrường Cao đẳng Sư phạm Trung ương và thực nghiệm sư phạm
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu một số kỹ năng xã hội: Kỹ năng Hợp tác; Kỹ năng Kiểm
soát cảm xúc; Kỹ năng thể hiện sự Tự tin ở trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi
6.2 Triển khai nghiên cứu trên địa bàn 03 trường mầm non thực hành Hoa
Hồng, Hoa Sen, Hoa Thủy Tiên
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích tư liệu đã có về lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Trực tiếp quan sát trẻ trong quá trình tổ chức các hoạt động vui chơi để nắmđược thực trạng về các Kỹ năng hợp tác; Kỹ năng kiểm soát cảm xúc; Kỹ năng thểhiện sự tự tin
Quan sát hoạt động của giáo viên đối với trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) nhằmtìm những biện pháp GD kỹ năng xã hội: Kỹ năng Hợp tác; Kỹ năng Kiểm soát cảmxúc; Kỹ năng thể hiện sự Tự tin cho trẻ ở độ tuổi này
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Điều tra, thu thập các thông tin về nhận thức và đánh giá của các bậc phụhuynh có con tuổi MGL, các giáo viên, cán bộ quản lý trường mầm non về tình hình
GD kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ MGL nói riêng tại trường mầmnon thực hành và nguyện vọng của họ trong thời gian tới Trên cơ sở đó, đánh giáthực trạng nhận thức, thái độ, nguyện vọng của cán bộ, giáo viên mầm non, các bậcphụ huynh về các biện pháp, hình thức đưa GD phát triển các kỹ năng xã hội vàochương trình chăm sóc - giáo dục trẻ mẫu giáo lớn (5-6 tuổi) ở các trường mầm non
7.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Thu thập, lấy ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ quản lý ngành học mầmnon có kinh nghiệm về vấn đề giáo dục trẻ mẫu giáo để có được các thông tin khoahọc và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu nhằm kiểm chứng một cách khách quan cácgiả thuyết khoa học, các biện pháp đề xuất thực nghiệm Việc lấy ý kiến chuyên giacòn cho phép nhìn nhận vấn đề từ nhiều phía khác nhau đối với thực trạng các biệnpháp GD kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, từ đó sẽ làm tăng thêm độ tincậy về các kết quả điều tra thu được
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trao đổi, thảo luận với các nhà quản lý giáo dục mầm non, giáo viên mầm
Trang 13non, nghiên cứu quá trình GD Kỹ năng xã hội thông qua tổ chức trò chơi đóng vai
có chủ đề của trẻ, nhằm tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn trong việc GD pháttriển các kỹ năng xã hội cho trẻ MN nói chung và trẻ MGL nói riêng
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thử nghiệm một số biện pháp GD Kỹ năng xã hội đã xây dựng đốivới nhóm trẻ thực nghiệm Còn nhóm đối chứng giữ nguyên không tác động Cácnhóm thực nghiệm và đối chứng tương đương nhau về mọi mặt
7.3 Nhóm các phương pháp xử lí số liệu
Phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê
Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lý số liệu điều tra có địnhlượng chính xác cho nội dung, biện pháp nhằm nâng cao tính thuyết phục củavấn đề nghiên cứu
Trên cơ sở so sánh các giá trị thu được giữa nhóm thực nghiệm và đối chứng,đánh giá hiệu quả của các biện pháp được đề xuất
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI THÔNG QUA
TỔ CHỨC TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI CÓ CHỦ ĐỀ CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Vấn đề GDKNXH bắt đầu được đặt nền móng, được quan tâm tìm hiểu từ thậpniên 80 của thế kỷ XX Từ năm 1979, nhà khoa học hành vi Gilbert Botvin đã thànhlập nên một chương trình GDKNXH cho giới trẻ từ 17-19 tuổi [7] Chương trình đàotạo này nhằm giúp xây dựng ở người học có khả năng từ chối những lời mời, rủ rê sửdụng chất gây nghiện bằng cách nâng cao sự tự khẳng định bản thân, kỹ năng ra quyếtđịnh và tư duy phê phán Thực ra, việc học tập và thực hành các kỹ năng ấy chỉ là mộttrong những khía cạnh của chương trình, nhưng có thể coi như là bước đầu để chươngtrình giáo dục KNXH được triển khai rộng rãi trong thời gian kế tiếp
Một trong những tên tuổi góp phần xây dựng hệ thống lý luận về KNXH
là Michael Bernard, Ông là nhà tâm lý học, là nhà quản lý và nhà cố vấn của cáctrường Đại học Wisconsin, Madison và trường Đại học Melbourne, Australia.Trong suốt thập kỷ 80, giáo sư Bernard đã là nhà tư vấn quốc tế cho các tổ chứcgiáo dục tư nhân và chính phủ Michael E Bernard là nhà sáng lập ra chươngtrình giáo dục “The you can do it”, chương trình kết hợp giữa nhà trường và giađình để thúc đẩy sự phát triển các KNXH của học sinh từ lứa tuổi tiền tiểu họcđến 18 tuổi, đang được áp dụng rộng rãi ở Úc, New Zealand và đang phát triển ởAnh, Bắc Mỹ [4]
Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tếthế giới (WHO), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc(UNESCO), Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) đã có sự đầu tư, đưa
ra những chương trình giáo dục KN cụ thể với các đối tượng khác nhau trong đó có
kỹ năng xã hội nhằm trang bị cho họ những KNS cơ bản, giúp đối phó với một số
Trang 15vấn đề cụ thể trong cuộc sống như bảo về sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòngchống HIV/AIDS, ma túy….[7]
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng pháttriển của các quốc gia, giáo dục của các nước đã và đang có những định hướng rất
cơ bản nhằm đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu(năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động
xã hội) Sự thống nhất giữa các quốc gia được thể hiện thông qua Kế hoạch hànhđộng Dakar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000) [6] yêu cầu mỗi quốc giacần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNXH phù hợp.Người ta coi đánh giá chất lượng giáo dục có tính đến những tiêu chí đánh giáKNXH của người học
Sau tuyên bố Dakar dưới sự đầu tư của chính phủ các nước rất nhiều côngtrình nghiên cứu về KNS trong đó có đề cập đến KNXH đã được triển khai Tiêubiểu như một số tác giả sau: Ellen J.Hahn, Urelody Power Noland, Mary KayRayens, Dawn Myers Christie thuộc một số trường đại học ở Mỹ đã công bố kết quảnghiên cứu, chỉ ra hiệu quả giáo dục và độ tin cậy của việc thực hiện những chươngtrình đó Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở góc độ giáo dục và đánh giáchương trình chứ chưa có những đánh giá về mức độ một cách cụ thể
Các công trình nghiên cứu của tiến sĩ Elizabeth Dunn và J.Gordo Abuckle củatrường đại học thuộc Colombia về sự thiếu hụt KNXH đã gây ra những hậu quả hếtsức nghiêm trọng: tình trạng bạo lực học đường ra tăng, tình trạng trẻ em có nhữnghành vi tiêu cực: trộm cắp, tự tử, nghiện hút, giết người đã được công bố năm 2003
Một nghiên cứu khác của hai tác giả người Canada là T.Scott Murray, YvanClermont và tiến sĩ người Mỹ Manlyn Binkley (3/2005) có tên “Measuring AdultLiteracy and life skills” đã nhấn mạnh tới việc đo lường và đánh giá về KN đọcviết và KNS, sự phân biệt giữa KNS và KN cần thiết của con người Trong nghiêncứu cũng đề xuất hướng phát triển KNS và KN thông thường trong cuộc sốngtrước những tác động xã hội, trong việc thiết lập quan hệ, làm việc nhóm, tìmkiếm thông tin
Trang 16Bên cạnh nghiên cứu về khái niệm, nội dung, bản chất các nhà khoa họccũng tập trung nghiên cứu con đường để GDKNXH cho thế hệ trẻ Có nhiều côngtrình nghiên cứu về các con đường để GDKNXH trong đó cách nhà giáo dụcthường tập trung vào đối tượng giáo dục là thanh thiếu niên, rất ít công trình tậptrung vào nghiên cứu trên đối tượng là trẻ tiền tuổi học.
Trở lại với các nghiên cứu về giáo dục thông qua trò chơi chúng ta thấy từđầu những năm 30 của thế XX các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Xô Viết như:L.X.Vưgốtxky; Đ.B.Encônhin; A.N.Lêonchiep; A.V.Dapôrôzet, A.I.Xôrôkila;N.K.Crupxkaia; K.Đ.Usinxki; E.U.Chikhiepva; A.P.Uxôva đã khẳng định hoạtđộng chơi chính là một phương tiện vô cùng hữu hiệu trong giáo dục nhân cáchcho trẻ Các nhà nghiên cứu Xô Viết đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hộitrong trò chơi trẻ em Đặc biệt các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu sâu về tròchơi của trẻ Họ đều khẳng định: Trò chơi, đặc biệt là trò chơi ĐVCCĐ có vai tròquan trọng hình thành hành vi cho trẻ MG Theo họ, trò chơi là một hình thứchoạt động chủ yếu hình thành hành vi xã hội của bản thân trẻ em, hình thành thái
độ của các em đối với cuộc sống và đối với nhau Đó là phương tiện kích thíchtrẻ em thực hiện các hành động thực tiễn và là phương tiện củng cố sự hợp táccần thiết ở trẻ MG
Các nhà giáo dục phương tây như như: Bearit, Tudor, Gard trong cuốn “Đồchơi – trò chơi và kỷ luật” đã chứng minh trò chơi có khả năng giáo dục cho cáccháu tính ngăn nắp, tình bạn bè, tính công bằng và kỷ luật Theo ý kiến của một sốnhà xã hội học người Mỹ, trò chơi giúp trẻ tích lũy những kinh nghiệm về xã hội,
về mối quan hệ của con người, từ đó giúp trẻ dễ dàng bước vào cuộc sống
Như vậy, các công trình nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới thường tậptrung vào đối tượng thanh thiếu niên và người trưởng thành Còn rất ít công trìnhnghiên cứu KNXH cho trẻ tiền tuổi học
1.1.2 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ xa xưa việc giáo dục các KNXH cũng được thực hiện nhưngmang đậm tính chất giáo dục gia đình, giáo dục theo kiểu truyền miệng, theo những
Trang 17kinh nghiệm của ông cha để lại: “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừalòng nhau; học ăn, học nói, học gói, học mở” đó là những câu tục ngữ ca dao nhằmmục đích giáo dục con người cách nói năng lễ phép, lịch sự, cách đối nhân xử thếtrong cuộc sống hằng ngày Hay những câu ca dao thể hiện tinh thần đoàn kết “Bầu
ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”; trong lao độngsản xuất, trong cách ứng phó để bảo vệ thiên tai mùa màng “Ráng mỡ gà ai có nhàphải chống; nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”
Vào khoảng đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cùng với thuật ngữ “GD Kỹ năngsống”, “GDKNXH” bắt đầu được quan tâm Điều này được minh chứng thông quavăn bản chỉ đạo tại Quyết định 1363/TTg về việc cần rèn luyện KNXH ở các bậc học.Nội dung của Quyết định cũng đề cập đến việc trang bị cho người học những hiểubiết về văn hóa ứng xử, thái độ sống Tiếp đó là một số văn bản chỉ thị của Bộ giáodục như: Chỉ thị 10-CT/BGD&ĐT năm 1995 hay Chỉ thị 24- CT/BGD&ĐT 1996 nêubật vai trò quan trọng của việc giáo dục KNXH cho học sinh [67]
Năm 1996, chương trình “Giáo dục kỹ năng XH để bảo vệ sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF tài
trợ đã được tiến hành và đạt được nhiều thành quả
Từ năm 2001, Bộ GD&ĐT thực hiện GDKNXH cho học sinh phổ thôngthông qua dự án “GD sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho trẻ và vị thành niên” vớisáng kiến và hỗ trợ của Unicef tại Việt Nam Dự án khá thành công, hình thành thái
độ tích cực của học sinh đối với việc xây dựng cuộc sống khoẻ về thể chất, mạnh vềtinh thần, hiểu biết về xã hội, đồng thời nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh để
họ chủ động trong việc truyền thụ kiến thức kỹ năng cho con em mình [9]
Cũng giống như thế giới ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứuriêng biệt về KNXH Các nghiên cứu thường tập trung vào KNS, trong đó có một
bộ phận là kỹ năng xã hội Đại diện cho các nghiên cứu theo hướng này như:
Nguyễn Thanh Bình có những nghiên cứu mang tính hệ thống với một loạtcác bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo.Đóng góp này tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam Tác
Trang 18giả đã xuất bản giáo trình về Giáo dục kỹ năng sống Trong giáo trình này, tác giả
cũng có nói đến KNXH như là một phần của KNS [7].
Bên cạnh đó, có một số tác giả như Nguyễn Quang Uẩn với bài viết “Khái niệm kỹ năng sống nhìn từ góc độ tâm lý học” đăng trên Tạp chí Tâm lý học số 6 (6-
2008) tác giả đưa ra định nghĩa riêng về KNS và phân loại KNS dưới góc độ tâm lý
Tác giả Đào Thị Oanh với bài viết cho đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số
cơ sở tâm lý học của việc GDKNS cho học sinh” trình bày về sự hình thành và phát
triển của KNS như một mặt quan trọng của nhân cách con người hiện đại [44]
Nguyễn Thị Oanh với bộ sách về giáo dục KNS cho tuổi vị thành niên gồm 2
tập: tập 1 - “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” và tập 2 – “10 cách thức rèn kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên” Nhìn chung, đây là bộ sách về giáo dục KNS với
một số KNXH cụ thể Tác giả vừa tổng quát lại vừa có ví dụ minh họa, rất hữu íchcho những người làm công tác giáo dục [42,43]
Ngoài ra, một số tác giả khác, trên một vài phương diện nhất định, cũng đã đề cậpđến vấn đề GDKNS như: Nguyễn Thị Thanh Nhàn nghiên cứu KNS của học sinh THCS
Hà Nội; Võ Diệu Hiền nghiên cứu GDKNS cho học sinh THPT thông qua hoạt độnggiáo dục ngoài giờ lên lớp; Nguyễn Thị Thắm nghiên cứu GDKNS cho trẻ em bị ảnhhưởng của bạo lực gia đình…
Gần đây nhất có các tác giả là: Huỳnh Minh Như Hương “Nghiên cứuKNXH của học sinh trung học cơ sở thành phố Trà Vinh và tác giả Trần BáHưng “Một số biện pháp tổ chức hoạt động vẽ nhằm GD tình cảm và KNXH chotrẻ MG 5 - 6 tuổi”
Như vậy, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể và đầy đủ về KNXH Cácnghiên cứu còn lồng ghép trong các công trình nghiên cứu về KNS Đối tượnghướng đến của các nghiên cứu chủ yếu vẫn chưa hướng tới đối tượng trẻ mầm non
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Theo một cách phổ biến nhất kỹ năng được hiểu là việc cá nhân thực hiện cókết quả một hành động hay một hoạt động nào đó Tuy nhiên khi xem xét một cách
Trang 19hệ thống, chỉ tính riêng trong khoảng thời gian từ những năm 1960 cho đến nay đã
có rất nhiều những quan điểm khác nhau về kỹ năng được các tác giả đề cập đến.Tóm lược lại chúng tôi thấy, tất cả những quan điểm cơ bản chủ yếu tập trung vàohai khuynh hướng nổi bật như sau:
* Khuynh hướng thứ nhất xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác hay kỹ thuật hành động
Các tác giả đi theo xu hướng này coi kỹ năng như sự nắm vững và vận dụngphương thức hành động vào thực tiễn trên cơ sở tri thức và những kỹ năng đượchình thành trước đó [43]
V.A.Kruchetxki coi kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt động- những cái
mà con người nắm vững, với ông chỉ cần nắm vững phương thức của hành động làcon người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của hành động Quan điểm của tácgiả đã bộc lộ một hạn chế là để đạt được kết quả cho mỗi hành động còn phụ thuộcvào rất nhiều yếu tố, nếu chỉ nắm phương thức của hành động trong hoạt động cụthể liệu có chắc chắn mang lại kết quả hay không.
Rất gần gũi với quan điểm trên, A.G Côvaliov [13] cho rằng “Kỹ năng làphương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hànhđộng” theo ông kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trong đóquan trọng hơn cả là năng lực thực hiện hành động nào đó của con người chứkhông chỉ là con người có cách thức thực hiện hành động tốt thì sẽ thu được tươngứng, ông cũng đặc biệt nhấn mạnh là khi cá nhân tìm được phương thức hànhđộng thích hợp với mục đích nhất định nào đó trong những điều kiện xác định củahoạt động chính là kỹ năng
- P.A Rudich cho rằng: Kỹ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận độngthực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt hiệu quả trong một hình thức hoạt động
cụ thể Như vậy tác giả đề cao khía cạnh kỹ thuật của kỹ năng và xem đó như là kếtquả của những kiến thức đã tiếp thu được từ vận động thực tế
- Đề cập đến kỹ năng, tác giả Trần Trọng Thủy cũng nhấn mạnh kỹ năng làmặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cách thức hành động tức là có kỹthuật hành động, có kỹ năng [53]
Trang 20- Tác giả Bùi Thị Xuân Mai đưa ra quan niệm “Kỹ năng là sự vận dụng đúngđắn những tri thức, giá trị, thái độ liên quan vào hoạt động hay hành động thực tiễntrong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động có kết quả Theotác giả chỉ khi nào cá nhân nắm rõ tri thức hành động và có thái độ vận dụng nó vàohoạt động thực tiễn thì cá nhân mới được coi là kỹ năng trong hoạt động đó [36].
- Tác giả Phạm Thị Tuyết cũng đi theo xu hướng này khi nghiên cứu kỹnăng, tác giả coi kỹ năng là sự vận dụng tri thức về phương thức thực hiện hànhđộng có kết quả nhằm đạt mục đích xác định trước Tác giả quan niệm cá nhân có
kỹ năng chỉ khi cá nhân có tri thức về hành động đó bao gồm (phương thức thựchiện, mục đích thực hiện…) [60]
Đánh giá một cách hệ thống các quan điểm trên dễ nhận thấy một điểmchung trong quan niệm của các tác giả nêu trên đó là sự nhấn mạnh phương thứccủa hành động, đặt kỹ năng trong mối quan hệ với hành động và khía cạnh kỹ thuậtcủa hành động
* Khuynh hướng thứ hai xem xét kỹ năng như một biểu hiện của năng lực cá nhân
Khuynh hướng này cũng đồng thời xem xét kỹ năng như là một điều kiệncần thiết để có năng lực trong một lĩnh vực nhất định Đại diện cho quan điểm này
là các tác giả: Levitov N.D cho rằng kỹ năng là năng lực của người thực hiện côngviệc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau vàtrong khoảng thời gian tương ứng, các tác giả cũng đồng thời nhấn mạnh bất kỳ một
kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, kỹ xảotập trung và phân phối, di chuyển chú ý, kỹ xảo tri giác, quan sát, tư duy sáng tạo,
tự kiểm tra, điều chỉnh quá trình hoạt động cũng như kỹ xảo hành động [35] Thêmvào đó Platonov.K.K cũng khẳng định “Cơ sở tâm lý của kỹ năng là sự thông hiểumối liên hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức hành động”[45] Rất gần gũi với quan điểm nêu trên, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, NguyễnThạc, Vũ Dũng, Trần Quốc Thành… cũng đều cho rằng kỹ năng là năng lực vậndụng tri thức về hành động hay các thao tác của hành động theo đúng qui trình để
có kết quả mong muốn Như vậy các tác giả quan niệm kỹ năng không chỉ đơn
Trang 21thuần là khía cạnh kỹ thuật của hành động mà còn là sự gắn kết với kết quả, khảnăng vận dụng tri thức trong những điều kiện nhất định.
Nguyễn Minh Châu đưa ra quan niệm “KN là trình độ, khả năng vận dụngkiến thức đã tiếp thu để giải quyết một nhiệm vụ, thực hiện một công việc nào đó ởmột cấp độ, tiêu chuẩn xác định” Tác giả đã đề cập đến trình độ và khả năng vậndụng kiến thức của cá nhân như là một biểu hiện của kỹ năng khi thực hiện mộtcông việc nào đó
Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thành cũng có quan niệm kỹnăng theo xu hướng này, tác giả coi kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệthống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống hành động.Điều này cũng đồng nghĩa là nếu cá nhân nào không có khả năng thực hiện có hiệuquả hệ thống hành động thì cá nhân đó được xem là không có kỹ năng Quan niệmnày phần nào phản ánh chưa được đầy đủ và trọn vẹn kỹ năng bởi để có được kỹnăng còn đòi hỏi cá nhân phải nắm được các thao tác kỹ thuật, xác định được mụcđích trên cơ sở đó luyện tập để củng cố nhằm thuần thục kỹ năng Mặt khác yếu tố
“năng lực” rất có ý nghĩa trong việc đẩy nhanh và làm tăng tính hiệu quả của việchình thành kỹ năng ở cá nhân song không phải là yếu tố duy nhất [26]
Tổng hợp các phân tích về kỹ năng nói trên, chúng tôi xin đề xuất khái niệm
kỹ năng như sau:
Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, thái độ của cá nhân một cách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn vào trong những điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả.
Trong khái niệm này, kỹ năng có một số đặc điểm như sau:
- Kỹ năng là một biểu hiện của năng lực trí tuệ và đồng thời là mặt kỹ thuậtcủa hành động, là kết quả của quá trình luyện tập củng cố, kỹ năng bao giờ cũnggắn với một hành động cụ thể Một cá nhân có kỹ năng đòi hỏi phải có tri thức, kinhnghiệm về yêu cầu thao tác, kỹ thuật hành động, phương thức hành động… đồngthời biết vận dụng một cách thuần thục, sáng tạo và có hiệu quả vào trong nhữngtình huống cụ thể nhằm đạt mục đích đã đề ra
Trang 22- Bất cứ kỹ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết Cơ sở lí thuyết đóchính là kiến thức, xuất phát từ cấu trúc kỹ năng (mục đích, cách thức thực hiện vàhiểu được những điều kiện cần thiết để triển khai các cách thức đó) Kỹ năng chỉ cóđược khi con người biết vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào trong những tìnhhuống, hoàn cảnh thực tiễn một cách có kết quả.
- Tiêu chuẩn để đánh giá kỹ năng là tính đúng đắn, sự thuần thục, sáng tạo vàlinh hoạt Mỗi kỹ năng sẽ không thể được xem là được thực hiện thành thạo nếuthiếu đi một trong những tiêu chuẩn này
- Kỹ năng không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân mà là sản phẩm của hoạtđộng thực tiễn Kết quả thực hiện kỹ năng là sự tổng hòa của kiến thức, kinhnghiệm, thái độ… của cá nhân với mỗi tình huống cụ thể trong khách quan
1.2.2 Khái niệm kỹ năng xã hội
- Có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu kỹ năng xã hội nên các địnhnghĩa cũng có nhiều cách khác nhau Có quan điểm cho rằng, kỹ năng xã hội lànăng lực giao tiếp, thuyết phục và tương tác với các thành viên khác trong xã hội
mà không tạo ra xung đột hay bất hòa
- Kỹ năng xã hội cũng được định nghĩa là tập hợp các kỹ năng con người
sử dụng để tương tác và giao tiếp với người khác Chúng ta cần chú ý rằng mỗingười sinh ra trong những nền văn hóa khác nhau với những phong tục, tập quánkhác nhau và những chuẩn mực xã hội khác nhau quyết định cách thức hành xửnào là thành công
- Theo các nhà tâm lý học, hoạt động con người mang bản chất xã hội.Những hoạt động cùng hoặc với người khác là một phần không thể thiếu trong hoạtđộng sống của mỗi người Quá trình lớn lên của mỗi đứa trẻ chính là quá trình trảinghiệm, tập nhiễm, học các kỹ năng thích ứng xã hội để giúp chúng thích ứng vàthành công trong các hoạt động với người khác
- Vậy kỹ năng thích ứng xã hội là gì? Kỹ năng thích ứng xã hội gồm nhữngnhóm KN nào? Sử dụng loại công cụ nào để đo lường KN thích ứng XH?
Theo Gresham và Elliot (1990) khái niệm kỹ năng thích ứng XH (Social
Trang 23skill) là những mẫu ứng xử tập nhiễm hay học được, được chấp nhận về mặt xã hội,giúp một cá nhận có thể quyết định hành động và ứng xử một cách có hiệu quả vớingười khác, giúp người đó nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh, tránh được nhữnghậu quả tiêu cực về mặt XH.
Những nghiên cứu của các nhà tâm lý học (Coie & Dodge, 1983; Pasker &Asher, 1987) khẳng định rằng một đứa trẻ nếu không phát triển đầy đủ các kỹ năng
xã hội: KN thể hiện sự tự tin, KN kết bạn, hợp tác nhóm, KN đồng cảm, chia sẻ,
KN quyết đoán, tự khẳng định, KN kiềm chế, kiểm soát stress, KN giải quyết vấn
đề, KN thích ứng hòa nhập với môi trường mới, KN thuyết phục sẽ báo trước rằngđứa trẻ này có nguy cơ gặp nhứng khó khăn học đường: kém thích ứng, khó kếtbạn, khó hòa nhập với các bạn trong lớp, thụ động, kém tự tin, sợ giáo viên, khônghứng thú học, chán học hoặc mắc các lỗi rối nhiễu hành vi, rối nhiễu đạo đức dẫnđến thất bại học đường Những người có kỹ năng xã hội thường tạo ra được mộtphạm vi rộng các mối quan hệ quen biết, và họ có tài tìm ra được tiếng nói chungvới hầu hết các kiểu người khác nhau trong xã hội - nói cách khác, họ có sở trườngtrong việc tạo ra tình trạng đồng thuận Họ hoàn toàn có khả năng hội nhập và thíchnghi tốt với những môi trường sống khác nhau
- Theo Bách khoa toàn thư trực tuyến (Wikipedia) KNXH là thuật ngữ dùng đểchỉ bất cứ KN quan trọng nào trong cuộc sống con người: KN sống, KN giao tiếp, lãnhđạo, làm việc theo nhóm, KN quản lý thời gian, thư giãn, vượt qua khủng hoảng, sángtạo và đổi mới tạo điều kiện thuận lợi cho sự tương tác và giao tiếp với người khác
- Theo tài liệu giáo dục phát triển tình cảm và KNXH cho trẻ mầm non củaTrung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non 2009 KNXH là KN thích ứng và duy trìcác mối quan hệ xã hội Đối với trẻ nhỏ KNXH được hiểu là KN hình thành và duytrì mối quan hệ XH với người lớn và các bạn Đây là nền tảng của sự phát triểnquan hệ xã hội của trẻ
- Tài liệu Trung tâm KNS Tâm Việt đưa ra khái niệm: KNXH là một tập hợpcác kỹ năng mà cho phép chúng ta hợp tác, giao tiếp và hòa nhập, thích ứng với
XH Các KNXH bao gồm các hình thức bằng lời nói và không lời
Trang 24- Theo Tricia Ellis Christensen: khái niệm “kỹ năng xã hội” (social skill) baogồm các kỹ năng cho phép con người giao tiếp, thiết lập các mối quan hệ với ngườikhác Cần lưu ý rằng khái niệm này có thể được định nghĩa khác nhau do đặc trưng vănhóa khác nhau KNXH bao gồm các hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của con người.
- Kỹ năng xã hội rất quan trọng và được xem là một trong các yếu tố của chỉ
số thông minh cảm xúc (EQ) Theo Daniel Goleman – tác giả của cuốn “Thôngminh cảm xúc” (Emotional Intelligence) thì các kỹ năng xã hội bao gồm: Kỹ nănggây ảnh hưởng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý xung đột, kỹ năng lãnh đạo, kỹnăng khởi xướng thay đổi, kỹ năng xây dựng quan hệ, kỹ năng cộng tác và hợp tác,
kỹ năng làm việc đồng đội.
- Năm 1990, Thomas Hatch và Gardner trình bày “Trí tuệ xã hội của trẻ em”tại đại hội hàng năm của Hội tâm lý học Hoa Kỳ Theo đó có 4 thành tố của trí tuệ
xã hội tạo nên KNXH như sau:
Một là: Năng lực tổ chức nhóm – đó là năng lực đầu tiên của các thủ lĩnh,
biết khởi đầu và phối hợp các nỗ lực, các cá nhân, đó là tài năng của các đạo diễn,cán bộ xã hội, cán bộ đoàn, đội,…Trong trò chơi đóng vai có chủ đề trẻ đã bộc lộnăng lực này (biết cách phối hợp nỗ lực các cá nhân,…)
Hai là: Năng lực thương lượng về các giải pháp – đó là năng lực cho phép
ngăn ngừa các cuộc xung đột và biết cách giải quyết chúng Họ biết dàn xếp, làmtrọng tài cho các cuộc bất đồng,… các nhà ngoại giao, tư pháp có năng lực này Trẻ
em biết phân xử các tranh giành đồ chơi, cãi nhau, xung đột, các cán bộ lớp biếtphân xử những tranh cãi, bất đồng trong lớp
Ba là: Năng lực thiết lập các liên hệ cá nhân: biết tập hợp mọi người vào một
hoạt động chung, biết đoàn kết với mọi người, biết hợp tác với nhiều người,…Muốn vậy phải có năng lực đồng cảm trong giao tiếp, thấu cảm trong giao tiếp,…nhờ đó mà cảm hóa được những người xung quanh Những dấu hiệu biểu hiện bênngoài: Là đứa trẻ đáng tin cậy, là bạn bè tốt của nhau, trẻ được nhiều bạn yêu mến,
là đứa trẻ cởi mở, vui vẻ, chan hòa, không để bụng, trẻ không thù dai, không đố kỵ,trẻ rất hứng thú khi được tiếp xúc với mọi người, trẻ rất quan tâm đến mọi người
Trang 25đặc biệt rất nhạy cảm với những thay đổi xúc cảm của người thân, người gần gũivới mình: hay đặt câu hỏi (vì sao bạn khóc? Vì sao mẹ lại buồn? Tại sao hôm nay
cô giáo lại không vui?)
Bốn là: Năng lực phân tích xã hội – đó là biết nhận ra những tình cảm,
những động cơ, những lo lắng của người khác Sự hiểu biết này thể hiện sự quantâm, gần gũi,… từ đó đem lại sự thân mật lớn lao, đem lại sự thiện cảm ở ngườikhác Người có năng lực phân tích xã hội cao nhất thường là những người làmcông tác tư vấn tâm lý, chữa trị tâm lý (thầy tu, linh mục, hòa thượng, nhà văn,biên kịch, đạo diễn,…)
Bốn năng lực xã hội phân tích trên phối hợp với nhau để hình thành các kỹnăng xã hội, nói cách khác là biết giao tiếp xã hội tạo cho bản thân sự hấp dẫn,quyến rũ, … những người xung quanh để từ đó kích thích trí tuệ, các năng lực tiềmtàng ở họ, tạo ra sức mạnh trí tuệ, cảm xúc, thể chất,… đảm bảo cho sự thành công
ở nhiều lĩnh vực hoạt động
Điều dễ nhận thấy ở năng lực nào cũng có sự xâm nhập của tình cảm nếukhông thiện chí, không cởi mở, không vì mọi người, không hoạt động tích cực trongcác quan hệ xã hội để trải nghiệm những vui buồn, tự hào, xấu hổ,… thì không thể
có các năng lực xã hội hay còn gọi kỹ năng xã hội, để giúp con người luôn có cảmgiác an toàn trong học tập, lao động sáng tạo
* Như vậy ta có thể tổng kết rằng: Kỹ năng xã hội là một tập hợp các kỹ
năng hoặc những mẫu ứng xử tập nhiễm hay học được, được chấp nhận về mặt xãhội mà cho phép chúng ta giao tiếp, tương tác, thích ứng, hội nhập, quyết định hànhđộng và ứng xử một cách có hiệu quả với người khác giúp nhanh chóng thích ứngvới hoàn cảnh, tránh được những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội
Các nguyên tắc, quan hệ được tạo lập và truyền bá hoặc thay đổi thông quaquá trình tương tác bằng ngôn từ hoặc phi ngôn từ Quá trình học các kỹ năng xãhội người ta gọi là quá trình xã hội hóa (socialization) Quá trình tương tác với cácvấn đề xã hội cũng giúp con người củng cố các kỹ năng xã hội
Trang 261.2.3 Khái niệm giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ MG
1.2.3.1 Khái niệm về giáo dục
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nộidung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trongcác cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho người được giáo dục [41]
1.2.3.2 Khái niệm GDKNXH cho trẻ MG thông qua TCĐVCCĐ
Khái niệm về GDKNXH cho trẻ MG thông qua trò chơi ĐVCCĐ là quá trìnhtác động sư phạm có mục đích, có định hướng của nhà giáo dục tới trẻ thông quaviệc tổ chức trò chơi ĐVCCĐ nhằm hình thành, rèn luyện hoặc thay đổi các hành vicủa trẻ theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách trẻ,dựa trên cơ sở giúp trẻ có tri thức, thái độ và kỹ năng phù hợp đáp ứng được nhữngyêu cầu của cuộc sống hiện đại
1.2.4 Khái niệm trò chơi đóng vai có chủ đề
Hoạt động vui chơi của trẻ MG rất đa dạng, trẻ có thể tham gia vào nhiều loạitrò chơi học tập, trò chơi xây dựng, trò chơi vận động, trò chơi đóng kịch, trò chơiĐVCCĐ Mỗi loại trò chơi đều có những tác dụng nhất định đến sự phát triển nhâncách của trẻ Trong đó, trò chơi ĐVCCĐ là trò chơi trung tâm của trẻ mẫu giáo.Chính trò chơi này là loại trò chơi chủ yếu tạo ra những nét đặc trưng trong đời sốngtâm lý của trẻ mẫu giáo Đồng thời nó mang đầy đủ ý nghĩa nhất của việc chơi
Trò chơi ĐVCCĐ là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai cụ thể để tái tạolại những ấn tượng, những xúc cảm mà trẻ thu nhận được từ một môi trường xã hộicủa người lớn nhờ sự tham gia tích cực của trí tưởng tượng
“Bản chất của trò chơi ĐVCCĐ có thể hiểu đó là sự tái tạo lại những hànhđộng của người lớn cũng như thái độ và các mối quan hệ giữa họ với nhau tronghoạt động lao động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ trong trò chơi của mình” [20]
Nói cách khác, trò chơi ĐVCCĐ là loại trò chơi mà khi chơi trẻ mô phỏngmột mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc nhập vai (hay còngọi là đóng vai) một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ bằngnhững hành động mang tính tượng trưng [58]
Trang 27Từ đó, có thể hiểu: Trò chơi ĐVCCĐ là dạng trò chơi sáng tạo, đặc trưng của lứa tuổi MG, phản ánh một mảng hiện thực của cuộc sống xã hội, lao động, mối quan hệ giữa con người với con người thông qua việc đóng vai người lớn mà trẻ thực hiện hành động theo chức năng xã hội mà họ đảm nhận.
1.3 Lý luận về GDKNXH cho trẻ MG 5-6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm của trẻ 5-6 tuổi
* Đặc điểm phát triển thể chất
- Về sức vóc: Trẻ 5 tuổi tăng trưởng nhanh về chiều cao và cân nặng Chiềucao trung bình cơ thể là 105cm, cân nặng trung bình là 17kg
- Về giải pháp sinh lý: Hệ xương bắt đầu được cốt hóa, cơ bắp to ra, các cơquan hô hấp và tuần hoàn phát triển, trọng lượng của não tăng nhanh từ 1.100g đến1.350g Tăng cường vai trò điều chỉnh và kiểm tra của vỏ bán cầu đại não đối vớicác vùng vỏ dưới Tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện tăng nhanh, hệ thống tínhiệu thứ nhất phát triển mạnh mẽ
Sự phát triển thể chất đó tạo lên những điều kiện cần thiết để trẻ có thể hoạtđộng độc lập nhiều hơn và giúp trẻ lĩnh hội những hình thức mới của kinh nghiệm xãhội trong quá trình giáo dục Tuy vậy sự phát triển đó chưa tạo ra được một biến đổimạnh mẽ thật thuận lợi cho hoạt động học tập, phải đến cuối 5 tuổi, bước sang tuổithứ 6 thì sự phát triển thể chất của trẻ mới bắt đầu thích ứng với hoạt động học tập
* Đặc điểm phát triển tâm lý xã hội của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5- 6 tuổi nói riêng
- Từ lọt lòng đến 1 tuổi: trẻ dần biết tin ở người khác về việc thỏa mãn cácnhu cầu của mình và do đó phát triển được các cảm xúc về giá trị của bản thân.Những trẻ nào không được chăm sóc đầy đủ sẽ có thể mất tin tưởng ở những ngườisống xung quanh Trẻ biết bẽn lẽn, không theo người lạ …
- Từ 1-3 tuổi: trẻ tập tự chủ, tập đi, tập ăn một mình, tập rửa mặt, tập tự mặcquần áo và bắt đầu tập tuân theo các quy tắc xã hội Những trẻ nào không tự chủđược là do không tin ở khả năng của mình trong việc đối phó với thế giới bên ngoài
và cảm thấy xấu hổ về chuyện này
Trang 28- Từ 3-6 tuổi: trẻ nâng cao khả năng tự chủ đã có ở giai đoạn trước, chơi tròchơi ĐVCCĐ, nhận làm một số việc trong nhà giúp người lớn Đôi khi hành độngcủa trẻ xung đột với người lớn, trẻ có thể tập tránh các xung đột bằng cách điều hòa
ý muốn của mình với các yêu cầu của người lớn, của cha mẹ
* Đặc điểm phát triển cảm xúc
Đối với trẻ 5-6 tuổi: trẻ đã bắt đầu có ý thức về bản thân được thể hiện quacác nội dung sau:
- Trẻ có thể nhận biết và làm chủ được cảm xúc của mình, diễn đạt ra đượcbằng lời, nhận biết được các mối liên hệ giữa các ý nghĩ, các cảm xúc và các phảnứng, biết được các mối liên hệ giữa các ý nghĩ, các cảm xúc và các phản ứng, biếtđược một quyết định của mình là do sự suy nghĩ hay cảm xúc, biết được các hậuquả của quyết định để có thể tránh những vướng mắc khi phải xử lý trong tìnhhuống có thể gặp
- Ý thức về bản thân còn là nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình
để nhận biết mình một cách tích cực và thực tế (tránh tự kiêu)
- Nhận biết được nguyên nhân làm phát sinh một cảm xúc (ví dụ: bị bạncướp đồ chơi mà tức giận …), biết dẹp bớt nỗi lo buồn, cơn giận dữ và cũng cầnbiết nhận trách nhiệm về các quyết định và hành động của mình, tôn trọng điềumình đã cam kết
- Có khả năng đồng cảm: Hiểu được cảm xúc của người khác, tôn trọng quanđiểm và thái độ của họ
* Đặc điểm phát triển ngôn ngữ
Ở trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách thành thạo Vốn
từ của trẻ phong phú dần (khoảng 4000 từ), cấu trúc và ngữ pháp câu đã phát triển.Khi giao tiếp biết thể hiện ngữ âm, ngữ điệu, trẻ có nhu cầu nhận sự giải thích vàmuốn giải thích với mọi người
Ngôn ngữ tình huống được vận dụng do giao tiếp với những người xungquanh bằng thông tin trẻ trực tiếp tri giác được trong hoàn cảnh cụ thể
Tính mạch lạc, rõ ràng được thể hiện trong câu nói Do danh từ chiếm đến50% vốn từ của trẻ nên câu nói của trẻ thường ngắn gọn
Trang 29Tính cá nhân được bộc lộ qua sắc thái ngôn ngữ khác nhau của trẻ đặc biệt ởchức năng ngôn ngữ biểu cảm: có trẻ nói năng khôi hài, có trẻ ấp úng, rời rạc, có trẻnói năng lưu loát nhưng đại đa số cho đến thời điểm này trẻ có thể diễn đạt điềumình cần nói cho người khác hiểu một cách dễ dàng Lúc này sự phát triển ngônngữ đã bắt đầu gắn liền với sự phát triển tư duy.
1.3.2 Kỹ năng xã hội ở trẻ 5-6 tuổi
1.3.2.1 Các loại KNXH
* Các cách phân loại kỹ năng xã hội:
Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liênhợp quốc (UNESCO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã có những cách phânchia khác nhau nhưng về cơ bản đều phân chia theo các lĩnh vực sau [6],[7]
- Dựa vào phạm vi tác động các kỹ năng ta có:
+ Các kỹ năng cơ bản: kỹ năng đọc, viết, tính toán …
+ Các kỹ năng chung mang tính tâm lý - xã hội: kỹ năng giải quyết vấn đề,
kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năngthương lượng, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng thể hiện mình …
+ Kỹ năng trong các tình huống hoàn cảnh cụ thể trong đời sống xã hội: kỹnăng tạo ra thu nhập (biết kiếm tiền), gìn giữ sức khỏe, tổ chức gia đình, kỹ nănghọc tập suốt đời
- Phân chia theo lĩnh vực cấu trúc nhân cách.
+ Kỹ năng nhận thức tư duy phê phán, giải quyết vấn đề nhận thức hậu quảhành vi, ra quyết định, sáng tạo, tự nhận thức bản thân, đặt mục tiêu, thiết lập kếhoạch chương trình hành động, xác định giá trị …
+ Kỹ năng đương đầu với cảm xúc: động cơ, ý thức trách nhiệm, cam kết.Cam kết giải tỏa dồn nén (stress) làm chủ cảm xúc, chế ngự được sự tức giận,chuyển hóa cảm xúc tiêu cực sang tích cực, tự giám sát, tự điều chỉnh
+ Kỹ năng giao tiếp xã hội: kỹ năng hợp tác, kỹ năng thuyết phục, kỹ năngthể hiện sự tự tin, kỹ năng nhận biết con người qua hành vi, qua ngôn ngữ, quatrang phục, kỹ năng thương lượng, kỹ năng từ chối, thông cảm, kỹ năng cảm hóa,
kỹ năng khích lệ, động viên… kỹ năng làm việc nhóm
Trang 30- Phân chia theo lĩnh vực giáo dục giúp học sinh có các kỹ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống mới và tự hoàn thiện bản thân
+ Kỹ năng nhận biết bản thân và sống với chính mình
+ Kỹ năng nhận biết người khác và sống chung với mọi người
- Giao tiếp có hiệu quả: bao gồm kỹ năng thiết lập quan hệ, lắng nghe hiểu
- KN thiết lập mối quan hệ liên nhân cách
- KN tư duy phê phán/ suy nghĩ có phán đoán
- KN tư duy sáng tạo
- KN ứng phó với căng thẳng
- KN kiềm chế cảm xúc
1.3.2.2 Một số KNXH cần giáo dục cho trẻ 5-6 tuổi
Sách hướng dẫn “Giáo dục KNS cho trẻ 5-6 tuổi” của Viện Chiến lược và chương trình giáo dục (2007) đã cung cấp cho chúng ta cách hiểu cụ thể hơn về
KNXH Một mặt nhấn mạnh vai trò của KNS trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ
Trang 31em ở cả gia đình và trường mầm non; giúp trẻ an toàn, khỏe mạnh, tự lực, tự tin,giàu sức sáng tạo, sẵn sàng vào lớp một, mặt khác nêu rõ KNS là một loạt các kỹnăng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người [65].
Tài liệu cũng đưa ra 7 nhóm KNS cần cung cấp cho trẻ 5-6 tuổi:
5 Sự tự tin (kỹ năng giao tiếp)
6 Kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ
7 Kỹ năng thực hiện các quy tắc xã hội
8 Kỹ năng giữ gìn đồ dùng đồ chơi
9 Kỹ năng làm chủ cảm xúc (Kiểm soát cảm xúc)
10 Kỹ năng trọng đồng tiền
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi chủ yếu đi sâu vào ba trong số những
KNXH cơ bản, cần thiết đối với trẻ đó là: KN thể hiện sự tự tin, KN Hợp tác, KN Kiềm chế cảm xúc.
* KN thể hiện sự tự tin
Tự tin là gì?
- Trí Đức viết: Theo như một số người thì tính tự tin là biết tin tưởng vào khảnăng phẩm chất của mình, tin tưởng vào khả năng to lớn và phẩm chất tốt đẹp củamình có thể đạt được qua rèn luyện trong học tập và lao động Tự tin phải đi đôi với
nỗ lực, bền bỉ và kiên trì phấn đấu Tự tin là dám chịu trách nhiệm về một việc
Trang 32mình làm và chủ động tìm cách khắc phục trong mọi hoàn cảnh khó khăn [15]
- PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết có viết: Tính tự tin khác với tính tự cao, tự đại,đánh giá quá cao sự thực, năng lực và phẩm chất của mình, luôn luôn tự cho mình làtài giỏi hơn người và coi thường mọi người
- PGS.TS Ngô Công Hoàn cũng cho rằng: Tự tin là một trong những phẩmchất nhân cách Tự tin là tin vào mình và tin vào người Đúng hẹn, đúng giờ,đúng việc [22]
- Tính tự tin là hiện tượng tâm lý thể hiện trạng thái tin tưởng vào tài năng và
năng lực trong chính bản thân mỗi người [15 ].
- Sa Tư nói về tính tự tin: Việc mất đi tính tự tin ngang với việc phủ định bản thân
- Trong luận án Tiến sĩ Nguyễn Thanh Huyền với đề tài: “Các biện pháp giáodục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt tại trườngmầm non” có viết: Niềm tin vào bản thân (sự tự tin) là một phẩm chất của thế giớiquan, là sự kết tinh của những hiểu biết và tình cảm của bản thân đối với mình và ýchí của mình, là sự tin tưởng vào năng lực của mình khi hành động Niềm tin tạocho trẻ nghị lực, ý trí để hành động phù hợp với quan điểm của bản thân, tạo cho trẻtính kiên định khi hành động, giúp trẻ có nhu cầu, trạng thái hành động dựa trênnăng lực của bản thân, tin tưởng, yêu quý, trân trọng mình Sự tự tin quyết định tínhnguyên tắc và tính kiên định trong suốt quá trình hành động Tự tin thể hiện cao đốivới bản thân trong quá trình hành động [29]
- Trong bài tập NCKH của tác giả Phan Thị Hồng Nga có trích lời nói của
tiến sĩ Chrisdophr: Nếu bạn tự tin, những trục trặc trong cuộc sống hằng ngày
giống như những hòn sỏi trên đường đi Nhưng nếu không có tính tự tin, chúng
ta dễ mất phương hướng và những việc vặt vãnh có thể trở thành đại sự Vì thếviệc giáo dục tính tự tin cho trẻ cần được quan tâm đúng mức và phải bắt đầu từkhi trẻ còn bé để giúp trẻ cảm nhận được trong việc đối mặt với những vấn đềhọc tập ở trường và đời sống [37]
- Jan Dargatz tác giả cuốn sách “52 cách giúp trẻ có tinh tự tin và tự trọng cóviết: “Tính tự tin của con cái bạn được bén rễ trong nhận thức về khả năng của
Trang 33chúng Trẻ cần tin tưởng chắc rằng mình có thể đương đầu với sự thất bại, đạt đượcnhững mục tiêu tích cực và tự giải quyết dễ dàng mọi tình huống”, ”Một đứa trẻ tựtin là đứa trẻ biết nỗ lực, tiến gần nhất đến việc đạt được khả năng phát triển dồi dàocủa chúng Một đứa trẻ tự trọng là đứa trẻ tự tin vào khả năng của chính mình để
trưởng thành và thích ứng Và đó là những đứa con mà ta kì vọng”.
Các tác giả Nga chỉ ra rằng, sự tin tưởng tuyệt đối vào chính mình và thế giới
là không thể có Sự tuyệt đối tin vào chính mình chỉ dẫn đến sự tù hãm, mụ mẫmnhân cách và cuối cùng là hủy diệt chính mình Ngược lại, sự tuyệt đối hóa việckhông tin vào bản thân dẫn đến sự chối bỏ tính cá nhân của mình, bởi một ngườikhông tin vào chính mình luôn tìm kiếm những điểm tựa ở bên ngoài chứ khôngphải ở chính bản thân mình, vì vậy họ dễ trở thành phụ thuộc và không tự thân vậnđộng được, luôn tìm kiếm sự khẳng định giá trị của chính mình từ bên ngoài và kếtquả là họ trở thành đối tượng bị điều khiển bởi những người khác Họ đánh mất thếchủ động sáng tạo của mình Nếu không có niềm tin vào chính mình, con ngườikhông thể có cá tính sáng tạo, bởi con người sẽ không hình thành được mối quan hệgiá trị với chính mình Sự tự tin còn được coi như khả năng của con người đi ra khỏi
“giới hạn của bản thân”
Trong mỗi hoạt động, con người thể hiện sự tự tin ở mức độ cụ thể khácnhau Có thể trong dạng hoạt động này con người tự tin vào chính mình, còn ởtrong hoạt động khác thì không Tất cả phụ thuộc vào việc con người nhận thứcđược khả năng của chính mình cũng như giá trị của những nhu cầu mà cuộc sốngđặt ra cho họ
Như vậy sự tự tin có thể hiểu như một hiện tượng tương đối độc lập củanhân cách, cho phép con người giữ được vị trí giá trị nhất định trong mối quan
hệ đối với bản thân, với thế giới Từ vị trí đó con người kiến tạo chiến lược cuộcsống của riêng mình Chính vì vậy mà sự tự tin là điều kiện quan trọng trong sựphát triển nhân cách
Kỹ năng thể hiện sự tự tin là gì? là khả năng của cá nhân biết vận dụng
niềm tin, tin tin tưởng vào năng lực của mình và thể hiện được nó khi hành động
Trang 34giúp cho họ thành công và đạt được những kết quả như mong đợi.
Khi phân tích hai loại này chúng ta thấy:
Tự tin bên trong
Có bốn dấu hiệu làm tiêu chuẩn chính để đánh giá một người có sự tự tin bêntrong:
- Tự tin (Tự tôn)
Người tự tin luôn yêu bản thân mình và hơn nữa họ không cần che đậy tínhích kỉ (tự tôn- đề cao) của bản thân Người xung quanh dễ nhận ra họ luôn yêu mếncon người họ vì lẽ lối sống và cách ứng xử luôn được chính họ nuôi dưỡng Từthành phần đầu tiên này của sự tự tin bên trong, đứa trẻ tự tin sẽ có những biểu hiệnchính như sau:
Luôn coi trọng những nhu cầu về thể xác lẫn tinh thần của mình và đặt chúngngang hàng những nhu cầu của người khác
Xem việc mình đòi hỏi người khác thực hiện những nhu cầu của mình làchuyện đương nhiên, hoàn toàn có lý, và không bao giờ tâm lý bị day dứt mỗi khiyêu cầu đòi hỏi một điều gì đó ở người khác Luôn tỏ ra cho mọi người thấy mìnhthích được tán dương, thích được khen thưởng và không cần tìm cách sai bảo ngườikhác làm điều đó một cách gián tiếp
Thích được người khác dạy bảo, rất sành sỏi trong việc học cách yêu cầungười khác làm việc này cho bản thân mình
Biết tự hào về ưu điểm của mình và cố làm ưu điểm đó tốt hơn lên
Chúng không muốn phí bỏ thời gian, sức lực và cả tiền bạc vào những điểmchưa hoàn hảo
Trang 35Luôn muốn được khỏe mạnh cũng biết lắng nghe lời khuyên, dạy bảo cáchgiữ gìn sức khỏe.
Không bao giờ cố tình làm những việc ảnh hưởng đến thành công, hạnh phúchay điều có hại cho bản thân
- Biết rõ khả năng bản thân:
Người tự tin luôn biết mình có thể làm được gì, họ không phải lúc nào cũngnhìn lại những cảm xúc, những suy nghĩ và những hành vi của mình, hay luôn cốtìm hiểu người khác xem họ đánh giá mình như thế nào Nếu trẻ biết rõ những khảnăng bản thân, thì sẽ:
Biết rõ những điểm mạnh của bản thân và do đó dễ dàng phát huy được khảnăng tiềm ẩn của mình
Biết nhược điểm và những hạn chế của bản thân để tránh bớt thiệt hại
Trưởng thành với một cá tính riêng do đó sẽ là “một cá thể độc lập” chúngkhông ngây thơ chạy theo đa số
Có cách đánh giá riêng của mình nên không lo lắng hay thắc mắc những điềungười khác đang làm hoặc không làm là có hợp đạo đức hay không
Biết tìm những người bạn phù hợp vì biết cần những phẩm chất nào từ tình bạn.Biết lắng nghe ý kiến của người khác và không phải lúc nào cũng thủ thế khivừa mới nghe một lời phê bình nhẹ nhàng bóng gió
Sẵn sàng và háo hức đón nhận những lời đóng góp, dạy bảo có tính xây dựng
vì hiểu rằng mình không phải là người” tinh thông mọi thứ trên đời”
- Luôn có những mục tiêu cụ thể:
Người tự tin luôn có những mục đích cụ thể cho việc mình làm Họ thấy rõđược lý do tại sao lại hành động như vậy Họ như nhìn thấy kết quả mà họ hằngmong đợi, chính thành phần này sẽ tăng thêm tính tự tin bên trong của trẻ, có mộtvài biểu hiện như sau:
Có thói quen đặt cho bản thân những mục tiêu hợp với khả năng của mình.Không phải dựa vào người khác để buộc bản thân mình phải làm việc, học hành
Được tiếp thêm sức lực, thêm niềm hứng thú khi bản thân được người kháckhích lệ động viên
Trang 36Khi có mục đích cụ thể sẽ kiên trì hơn vì đã nhìn thấy trước những trở ngạinhỏ hay những điều có thể làm chúng nản lòng.
Học cách tự đánh giá bản thân vì có thể giám sát được sự tiến bộ của mìnhkhi cân nhắc những mục tiêu cho bản thân
Dễ dàng tìm cách tự quyết định vì sự thấu đáo được bản thân muốn và cần gì
từ kết quả công việc
- Tư tưởng lạc quan:
Sống gần người tự tin thật là thú vị, một trong những lý do như vậy là vì họluôn có thói quen nhìn cuộc đời rất lạc quan Họ sẽ luôn tìm kiếm, hy vọng nhữngđiều tốt và những kết quả tốt đẹp đến với họ Khi có được những sức mạnh này sẽ
có vài biểu hiện như sau:
Khi trưởng thành hy vọng cuộc đời sẽ tốt đẹp
Luôn nhìn thấy điều tốt ở người khác, trừ một vài trường hợp cá biệt
Luôn tin rằng mọi rắc rối đều có hướng giải quyết
Không phí thời gian vô ích để lo lắng những hậu quả xấu có khả năng xảy ra.Luôn tin rằng tương lai bao giờ cũng tốt hơn hoặc bằng quá khứ
Luôn hăng hái nỗ lực làm việc để vượt qua những nỗi thất vọng, khi bị thayđổi thích thú, háo hức với những chuyển biến tốt đẹp
Sẵn sàng bỏ thời gian công sức vào việc học và vào những công tác chuẩn bịcần thiết vì tin rằng thế nào cũng đạt được mục đích
Tự tin Thể hiện ra bên ngoài
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy người có khả năng tự tin thường có nhữngbiểu hiện sau: Họ thường có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quyết đoán, kỹ năng trìnhbày, lập luận trước đám đông, kỹ năng kiểm soát những cảm xúc tốt
Tự tin của trẻ MG là gì?
Những đứa trẻ tự tin sẽ không sợ mắc lỗi khi học những điều mới Chúng tin rằng sẽ thành công nếu chúng chăm chỉ Chúng chỉ cần đến sự giúp đỡ khi đã cố gắng hết sức Những đứa trẻ tự tin không ngại gặp bạn mới Chúng mong được kết bạn Và khi ai đó muốn chúng làm điều gì chúng không muốn thì chúng sẽ vui vẻ
Trang 37nói với họ về những điều chúng không muốn làm Những đứa trẻ tự tin phát biểu ý kiến của mình một cách rõ ràng, mạch lạc.
Những biểu hiện về KN Tự tin của trẻ MG
Trẻ dễ dàng kết bạn
Biết nhìn thẳng vào người nói chuyện, nói rõ ràng
Thể hiện kỹ năng thỏa thuận vai chơi tốt
Biết mạnh dạn đề nghị giúp đỡ khi cần thiết
Gặp khó khăn không vội nhờ người khác giúp đỡ hay từ bỏ
Chia sẻ ý kiến mới mà không sợ nói sai
Đứng trước lớp (nhóm) phát biểu ý kiến
Tự giới thiệu về bản thân
Xung phong làm một việc mới mà không sợ mắc lỗi
Dáng đứng thẳng và cao
* Kỹ năng hợp tác
Khái niệm về kỹ năng hợp tác
Hợp tác là yêu cầu tự thân của cuộc sống Trong “Từ điển tiếng Việt” hợptác được quan niệm: “Hợp tác là chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, mộtlĩnh vực nào đó nhằm đạt mục đích chung” [46]
Theo C.Mac: “Hình thức lao động của nhiều người làm việc bên nhau và vớinhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khác nhau,nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác”
Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, việc tiếp thu khái niệm “hợp tác” củakinh tế học đã dẫn đến “tương tác xã hội” trong tâm lý học Nghĩa là: “sự tác động qualại ít nhất là hai cá nhân trong một hoạt động bất kỳ nào đó thuộc một hoạt động trongcuộc sống diễn ra trong một hệ quy chiếu không gian, thời gian chung”
Từ những kết quả phân tích trên, có thể hiểu hợp tác như sau: Hợp tác là quá trình tương tác xã hội, trong đó con người chung sức hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt được mục đích chung.
Kỹ năng hợp tác của trẻ MG
Trang 38Dựa trên sự phân tích khái niệm “Kỹ năng” và “Hợp tác” chúng tôi xác định
kỹ năng hợp tác như sau: Kỹ năng hợp tác là khả năng tương tác cùng thực hiện có hiệu quả một hành động, một công việc nào đó dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có của trẻ trong một điều kiện nhất định.
Biểu hiện về KN Hợp tác của trẻ MG
Trẻ biết làm việc cùng nhau trong nhóm
Biết chia sẻ đồ chơi với bạn
Trẻ biết thỏa thuận với bạn để cùng thống nhất chủ đề và về công việcchung của nhóm
Tuân thủ nội quy của nhóm chơi, vai chơi
Chấp nhận sự phân công của nhóm
Không lấy mình làm trung tâm
Dùng lời nói bày tỏ mong muốn nguyện vọng của mình
Quan tâm, giúp đỡ bạn cùng chơi
Cùng nhau thu dọn đồ chơi
Đoàn kết khi chơi
* Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
Khái niệm cảm xúc
Từ điển Oxford Englisd Dictionnary định nghĩa: cảm xúc (emotion) như làmột kích động hay là một rối loạn tinh thần, tình cảm, đam mê, mọi trạng thái mãnhliệt hay kích thích
Còn trong từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê- 1987) cho rằng: cảm xúc- rungđộng trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó
Theo từ điển tâm lý (Nguyễn Khắc Viện chủ biên - 1991): Cảm xúc phảnứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việcgồm hai mặt:
+ Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh, toát mồhôi, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa
+ Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu,khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn
Trang 39Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét gọi là cảmđộng, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích.
Trong từ điển tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên - 2000): Cảm xúc được hiểu là
sự phản ánh tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức
là mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể,dưới hình thức những rung động trực tiếp
Còn trong tâm lý học: xúc cảm thường được quan niệm là thái độ phản ánh ýnghĩa của sự vật, hiện tượng với nhu cầu của các cá thể có tính chất tình huống
Tồn tại rất nhiều quan điểm khoa học về bản chất và ý nghĩa của cảm xúc,thậm chí trái ngược nhau
Còn Tomkins (1962, 1963) và Izard (1971, 1972) lại khẳng định rằng các
xúc cảm tạo lên một hệ thống động cơ sơ cấp của con người, sự tạo động cơ và sựcủng cố hành vi Tomkis nhấn mạnh mặt biểu hiện của xúc cảm khi ông cho rằng
“xúc cảm - về cơ bản là những phản ứng đáp lại bằng vẻ mặt”
Trong tâm lý học, việc nghiên cứu bản chất, cấu trúc của xúc cảm luôn là vấn
đề phức tạp vì nó là đối tượng của khoa học liên ngành như tâm lý học xã hội, tâm
lý học nhân cách, tâm lý học y học, tâm thần học, thần kinh học, sinh hóa học, dược
và biểu hiện dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ông khẳng định: xúc cảm của người,xét về nguồn gốc, chức năng hay biểu hiện luôn mang tính xã hội
Caroll E.Lzard, nhà tâm lý Mỹ với quan điểm: những xúc cảm tạo nên hệthống động cơ chính của con người, đã không nêu một định nghĩa cụ thể của xúccảm mà chỉ nêu 3 yếu tố đặc trưng của định nghĩa xúc cảm, đó là:
- Cảm giác được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc
Trang 40- Các quá trình diễn ra trong các hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa vàcác hệ khác của cơ thể.
- Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được đưa ra quan sát, đặc biệt là nhữngphức hợp phản ánh trên bộ mặt
Daniel Goleman dưới góc độ nghiên cứu xúc cảm và mối quan hệ giữa xúccảm và trí tuệ, đã định nghĩa: “ xúc cảm vừa là một tình cảm và các ý nghĩ, cáctrạng thái tâm lý và sinh học đặc biệt, vừa là thang của các xu hướng hành động
do nó gây ra” [16] Ông cho rằng số lượng các xúc cảm rất phong phú do khôngchỉ có các xúc cảm đơn lẻ mà còn có sự kết hợp, sự biến thể và biến đổi của cácxúc cảm tạo ra
Ở Việt Nam, Nguyễn Huy Tú nhằm làm rõ sự nảy sinh xúc cảm, đã địnhnghĩa: “Xúc cảm của con người là những rung động khác nhau của chúng ta nảysinh do sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nào đó, do sự phù hợphay không phù hợp của các biến cố, hoàn cảnh, khuynh hướng, niềm tin và thóiquen của chúng ta”
Trần Trọng Thủy quan niệm: Cảm xúc là một quá trình tâm lý, biểu thị thái
độ của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu của
cá thể đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện với bản năng
Tâm lý học xem cảm xúc cũng như các khái niệm tâm lý khác, là một trongnhững hình thức phản ánh về thế giới hiện thực Tuy nhiên khác với các quá trìnhnhận thức, cảm xúc phản ánh hiện thực khách quan qua các “rung động”, chứ khôngphản ánh dưới các dạng cảm giác, hình tượng, biểu tượng, khái niệm, ý nghĩa…
Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những
sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quanvới nhu cầu và động cơ của con người
Như vậy: kỹ năng kiểm soát cảm xúc là khả năng kiềm chế những cảm xúc tiêu cực và cách thức biểu hiện cảm xúc cho phù hợp với các chuẩn mực của xã hội.
Kỹ năng kiểm soát cảm xúc của trẻ MG là gì?