1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP

134 500 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều trong số họ đã và đanggiữ những trọng trách quan trọng trong các cơ quan nhà nước như các sở, ban,ngành; trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế… Tuy nhiên, từ khichuyể

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 NGUYỄN THỊ MAI ANH

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60.14.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Thanh Thúy

Trang 2

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tác giả xin chân thành cảm ơn Trường Đại học

Sư phạm Hà Nội, Phòng Sau đại học, khoa Quản lý giáo dục, các thầy, cô giáogiảng dạy lớp cao học Quản lý giáo dục K22 đã quan tâm, tạo điều kiện thuậnlợi, tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong thời gian theo học tại trường.Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Thanh Thuý,người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo trường Cao đẳng nghề Thươngmại và Công nghiệp, các phòng, ban chức năng, các đồng CBQL, GV và SV nhàtrường đã cung cấp thông tin, tạo điều kiện giúp đỡ để tác gải hoàn thành luận văn.Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng khắc phục mọi khó khăn nhưng vì điều kiêncông tác và khả năng có hạn, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếusót Kính mong sự chỉ bảo của các thầy, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và nhữngngười quan tâm nghiên cứu khoa học nói chung và lĩnh vực khoa học quản lýgiáo dục nói riêng

Xin trân trọng cảm ơn!

Hải Dương, tháng 7 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Mai Anh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Quản lý 9

1.2.1 Khái niệm quản lý 9

1.2.2 Chức năng quản lý 10

1.3 Hoạt động tự học và tự học theo học chế tín chỉ 12

1.3.1 Khái niệm tự học 12

1.3.2 Các hình thức tự học 13

1.3.3 Hoạt động tự học của sinh viên 15

1.3.4 Đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ 17

1.3.5 Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 19

1.3.6 Ý nghĩa của tự học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ 21

1.4 Quản lý hoạt động tự học theo học chế tín chỉ đối với sinh viên 22

1.4.1 Quản lý hoạt động tự học và biện pháp quản lý hoạt động tự học 22

1.4.2 Các nhân tố tham gia vào quá trình quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo HCTC 23

Trang 5

1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo

theo HCTC 25

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của SV theo HCTC 29

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP 32

2.1 Vài nét về Trường CĐ nghề Thương mại và Công nghiệp 32

2.1.1 Cơ cấu tổ chức: Bảng 2.1 32

2.1.2 Quy mô và chất lượng đào tạo của Trường 33

2.1.3 Tình hình đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất của Trường 33

2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp 35

2.2.1 Nhận thức của sinh viên về tự học 35

2.2.2 Thực trạng các hình thức tự học của sinh viên 41

2.2.3 Thực trạng về phương pháp tự học của sinh viên trường CĐN Thương mại và Công nghiệp 44

2.2.4 Thực trạng về thời gian, thời điểm tự học 46

2.2.5 Thực trạng về kỹ năng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên 47

2.2.6 Nhận xét chung về kết quả điều tra thực tiễn hoạt động tự học của sinh viên trường CĐN Thương mại và Công nghiệp đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ 49

2.3 Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trước xu thế đào tạo theo học chế tín chỉ 50

2.3.1 Công tác chỉ đạo quản lý hoạt động tự học 50

2.3.2 Thực trạng về công tác quản lý hoạt động tự học của SV 52

2.3.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tự học của SV 57

Trang 6

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CĐN THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP 60

3.1 Các nguyên tắc đề xuất 60

3.1.1 Nguyên tắc tính hệ thống 60

3.1.2 Nguyên tắc tính thực tiễn 60

3.1.3 Nguyên tắc tính hiệu quả 60

3.2 Các định hướng đề xuất 61

3.3 Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của SV đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ 62

3.3.1 Biện pháp thứ nhất: Tổ chức tốt các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ và thái độ học tập đúng đắn cho SV 62

3.3.2 Biện pháp thứ hai: Tổ chức tốt các hoạt động nhằm bồi dưỡng và rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học cho SV 66

3.3.3 Biện pháp thứ ba: Quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy của GV nhằm tăng cường tính tích cực tự học của SV 75

3.3.4 Biện pháp thứ tư: Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của SV nhằm kích thích SV tự học- tự nghiên cứu 86

3.3.5 Biện pháp thứ năm: Quản lý hoạt động cố vấn học tập cho SV 90

3.3.6 Biện pháp thứ sáu: Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tự học 93

3.3.7 Biện pháp thứ bảy: Tổ chức tốt công tác thi đua khen thưởng nhằm thúc đẩy hoạt động tự học của SV 96

3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý 99

3.5 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý 102

Tiểu kết Chương 3 105

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cụm từ viết tắt Diễn giải

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trường CĐN Thương mại và Công nghiệp 32

Bảng 2.2 Kết quả tốt nghiệp của sinh viên CĐ 33

Bảng 2.3 Nhận thức của SV về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động tự học đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ 35

Bảng 2.4: Nhận thức của SV về các biểu hiện của hoạt động tự học 38

Bảng 2.5 Thực trạng các hình thức tự học của sinh viên 42

Bảng 2.6 Việc thực hiện phương pháp tự học của sinh viên 44

Bảng 2.7 Ý kiến của 30 GV và CBQL về việc sử dụng phương pháp tự học của SV 45

Bảng 2.8 Thời gian tự học của sinh viên 46

Bảng 2.9: Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học của sinh viên 47

Bảng 2.10: Ý kiến của SV về vấn đề quản lý hoạt động tự học 52

Bảng 2.11: Ý kiến của GV+ CBQL về vấn đề quản lý hoạt động tự học 53

Bảng 2.12: Ý kiến của GV+ CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý HĐTH của SV 57

Bảng 3.1: Khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý 103

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với cả nhân loại, chúng ta đang bước vào thế kỷ 21- thế kỷ với đặctrưng là sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin, sựphát triển như vũ bão của công nghệ cao Trong quá trình hội nhập quốc tế, ViệtNam tiến hành đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với mục tiêu đếnnăm 2020 sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp với nền kinh tế tri thức phát triển.Nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người phải có nhiều kiến thức, kỹ năng mới và mộtthái độ tích cực để làm chủ cuộc sống Với sự bùng nổ của thông tin và khoa họccông nghệ, kiến thức của nhân loại ngày càng tăng nhanh mà kiến thức của conngười học được ở trường là có hạn, không thể đủ để học tất cả kiến thức ngày cànggia tăng của nhân loại Để giải quyết mâu thuẫn trên, theo các nhà sư phạm, ngườihọc phải biết tự học, bằng phương pháp tự học, người học có thể học thường xuyên,học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội

Để đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp phát triểnđất nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và

phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam, Đảng ta đã coi: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”; “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Chất lượng

và hiệu quả giáo dục được nâng lên khi tạo ra được năng lực sáng tạo của ngườihọc, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy mô giáo dục được

mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học

Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc: “lấy tự học làm gốc” đã được nhân dân ta luôn coi trọng Điều 5 của luật Giáo dục năm 2005 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành và lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; “…đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh phát triển phong trào tự học, tự đào tạo…”; “…tạo ra năng lực tự học sáng tạo của mỗi học sinh” [26].

Trang 10

Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII khẳng định “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian

tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên; nhất là sinh viên đại học” [9].

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, vấn đề cốt lõi

của đường lối đổi mới giáo dục được xác định là “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục…” [11].

Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại

học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sáng chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích luỹ kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo trong nước và ở nước ngoài” [29].

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ hiện là hình thức đào tạo khá phổ biến tại nhiềuquốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Năm học 2010 – 2011, trường Caođẳng nghề Thương mại và Công nghiệp cũng áp dụng hình thức đào tạo này Vớiquy trình mềm dẻo, lấy người học làm trung tâm, chương trình đào tạo tín chỉ tạo cơchế cho tính chủ động của sinh viên trong quá trình tự đào tạo - một quá trình rấtquan trọng trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo Cái khó nhất trong đào tạo theohọc chế tín chỉ là sinh viên phải tự học, tự nghiên cứu và tự tìm ra phương pháp họctập tối ưu nhất để đạt được kết quả cao nhất

Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp là một trường đa ngành,với quy mô đào tạo hơn 6000 sinh viên các hệ Với mục tiêu “ Xây dựng trườngthành một trường cao đẳng nghề trọng điểm quốc gia, đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh Hải Dương và các tỉnhlân cận”

Như vậy, tiêu chí đặt ra của nhà trường là đào tạo những con người vừa cóđức vừa có tài để phục vụ đất nước Trên thực tế các thế hệ học sinh, sinh viên do

Trang 11

nhà trường đào tạo ra đã và đang có những đóng góp tích cực vào sự nghiệp xâydựng tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung Nhiều trong số họ đã và đanggiữ những trọng trách quan trọng trong các cơ quan nhà nước như các sở, ban,ngành; trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế… Tuy nhiên, từ khichuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nhà trường đã gặpkhông ít khó khăn trong việc quản lý hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên,đặc biệt là các em chưa đầu tư thoả đáng cho việc tự học, tự nghiên cứu ngoài giờlên lớp, nhiều em chưa biết vân dụng phương pháp học tập phù hợp nên chất lượngchưa cao.

Vì các lý do trên tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ Biện pháp quản lý hoạt

động tự học của sinh viên trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận giáo dục đại học và thực tiễn quản lý của Nhàtrường, đề tài làm rõ và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học nhằmnâng cao kết quả tự học của sinh viên khi áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ ởtrường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp, góp phần nâng cao chất lượngđào tạo nghề

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng nghề

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng nghềThương mại và Công nghiệp

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, kết quả tự học của sinh viên trường cao đẳng nghề Thương mại vàCông nghiệp vẫn còn hạn chế Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động tựhọc của sinh viên một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm đào tạo nghề, điều kiệncủa nhà trường thì sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu đàotạo theo học chế tín chỉ

Trang 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu đề tài trên chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứucủa đề tài này bao gồm:

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở trường Cao đẳng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

5.2 Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tự học và thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp 5.3 Đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theohọc chế tín chỉ

6.2 Giới hạn về địa bàn khảo sát

Trường cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp

6.3 Giới hạn về khách thể khảo sát

Nghiên cứu trên 120 sinh viên thuộc khoa Điện- Điện tử, Xăng dầu về một

số hoạt động tự học của sinh viên đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ và

30 cán bộ quản lý và giảng viên

Chỉ nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp củasinh viên

7 Phương pháp nghiên cứu

Đê hoàn thành việc nghiên cứu đề tài này, tác giả xác định các phương phápnghiên cứu sau:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tàiliệu lý thuyết đã công bố như: tư liệu về Giáo dục học – Tâm lý học, Lý luận vềquản lý giáo dục, các văn bản về sinh viên, về đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm xâydựng cơ sở lý luận cho đề tài

Trang 13

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

7.2.1 Phương pháp quan sát

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tìm kiếm thông tin về hoạt động

tự học của sinh viên

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn và điều tra bằng Anket

Sử dụng hệ thống câu hỏi “đóng”, “mở” để phát hiện thực trạng tự học vàthực hiện các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên

7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

Nhằm tổng kết kinh nghiệm về biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinhviên Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp

7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ

Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm máy tính đểthống kê và xử lý số liệu thu thập được và thể hiện chúng bằng các sơ đồ, biểu đồ

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị và các danh mục tài liệu thamkhảo luận văn bao gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh

viên trường Cao đẳng nghề đáp ứng đào tạo theo học chế tín chỉ

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao

đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Cao

đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học là vấn đề đã được quan tâmnghiên cứu từ lâu cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực củangười học Song ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử vấn đề, tự học được đề cậpdưới nhiều hình thức khác nhau

1.1.1 Ở nước ngoài

Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò quantrọng của tự học Khổng Tử (551-479 TrCN) – nhà Giáo dục kiệt xuất thời Trunghoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình luôn quan tâm và coi trọng mặt tíchcực suy nghĩ của người học Ông từng dạy học trò: “không giận vì không muốn biếtthì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày cho, vật có 4 góc, bảocho biết 1 góc mà không suy ra được 3 góc kia thì không dạy nữa”

Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc J.A Comenxky (1592-1670) - Ông tổ của nềngiáo dục cận đại đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trởthành tài năng” [16]

Đến thế kỷ XVIII-XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như: J.JRutxo (1712-1778), J.H Petstalogi (1746-1827), A.L Dixtecvec (1790-1886), K.ĐUsinxky (1824-1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình đã khẳng định: Tựmình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là conđường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức [13,27]

N.A Rubakin [27], Smith Hecbot [16] đã nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động

cơ học tập đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong học tập

Kết quả nghiên cứu của P.V Exipov đã chỉ ra rằng: các kỹ năng cơ bản của

tự học là vấn đề hết sức quan trọng đảm bảo cho người học đạt kết quả cao tronghọc tập [13]

Trang 15

M.Machiuskin [20] đã chỉ rõ trách nhiệm của giáo viên trong việc bồi dưỡng,hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên thông qua việc giao bài tập nhận thức chosinh viên trong thời gian tự học.

Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách mạngtìm phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở tiếp cận “lấy người học làm trungtâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của người học, đại diện cho tư tưởngnày là J.Deway, ông cho rằng: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọiphương tiện giáo dục” [34]

Học chế tín chỉ được khai sinh năm 1872, tại Viện Đại học Harvard (HoaKỳ) dưới sự điều hành của Charles Elios, xuất phát từ yêu cầu là quá trình đào tạođược tổ chức sao cho người học lựa chọn được cách học phù hợp nhất với khả năng,điều kiện của mình và cơ sở đào tạo phải thích ứng dễ dàng trước những biến độngnhanh chóng, đa dạng của đời sống xã hội Với ý nghĩa đó, đào tạo theo học chế tínchỉ phát triển nhanh và lan rộng ra toàn nước Mỹ Từ đầu thế kỷ XX, học chế tín chỉphát triển ra nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như: NhậtBản, Philippines, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan,Trung Quốc, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda,…Trước sự lớn mạnh đó, 29 Bộtrưởng đặc cách giáo dục đại học ở các nước liên minh Châu Âu ký “Tuyên ngônBogloga” với mục đích hình thành “Không gian giáo dục đại học Châu Âu”(European Higher Education Area) nhằm triển khai học chế tín chỉ trong toàn bộ hệthống giáo dục đại học

1.1.2 Ở Việt Nam

Hoạt động tự học chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền giáo dụcXHCN Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam làtấm gương sáng ngời về ý chí quyết tâm trong học tập và rèn luyện Bác đãđộng viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm

vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được do đó mà tích cực,

tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [22] Người còn chỉ rõ: “Về việc họcphải lấy tự học làm cốt”

Trang 16

Tư tưởng của Hồ Chí Minh được Đảng, Nhà nước vận dụng và đề ra trongcác nghị quyết Đảng Tại hội nghị lần thứ II BCH Trung ương Đảng khoá VIII đãkhẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học…nâng cao khả năng tự học, tự nghiêncứu của người học”.[9]

Trước năm 1975, học chế tín chỉ được triển khai ở Viện Đại học Cần Thơ,Viện Đại học Thủ Đức Sau năm 1975, tư tưởng về học phần xuất hiện năm 1987,Quy chế đào tạo theo học phần tạm thời ra đời năm 1988 và hoàn chỉnh vào năm

1990 với khái niệm HỌC PHẦN và ĐƠN VỊ HỌC TRÌNH, đào tạo theo 2 khốikiến thức và 3 học phần, điểm trung bình chung Học chế học phần được xây dựngvới mục đích tạo điều kiện cho người học tích luỹ dần kiến thức theo các mô-đun.Như vậy, học chế học phần có điểm giống nhau cơ bản với học chế tín chỉ, nhưng

nó chưa hoàn toàn là học chế tín chỉ mà thực chất là sự kết hợp giữa niên chế và tínchỉ Trường Đại học tiên phong áp dụng học chế học phần triệt để - học chế tín chỉ

là trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh, năm học 1994-1995 Sau đó, cácđại học khác như: Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Khoa học - Tự nhiên

TP Hồ Chí Minh, Đại học Thuỷ sản Nha Trang, Đại học Thương mại, Đại họcNông nghiệp Hà Nội, Đại học Dân lập Phương Đông, …cũng đã triển khai học chếtín chỉ Trong “Chương trình hành động của Chính phủ” thực hiện Nghị quyết số37/2004/QH11 khoá IX, ký họp thứ sáu của Quốc hội đã chỉ rõ: “Mở rộng, áp dụnghọc chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp…” [30]

Triết lý cơ bản của hệ thống tín chỉ là “Tôn trọng người học, xem người học

là trung tâm của quá trình đào tạo” Nói cách khác, đào tạo theo học chế tín chỉ làhình thức đào tạo hướng về người học, tất cả vì người học

Chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo ra sự thay đổi lớn

về phương cách, thói quen dạy-học của người dạy lẫn người học Đối với hình thứcđào tạo này thì khối lượng giờ giảng trên lớp sẽ giảm đi, mà sẽ tăng thời gian tựhọc, tự nghiên cứu của sinh viên Vì vậy, khi áp dụng theo học chế tín chỉ, việc tựhọc, tự nghiên cứu của sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết địnhkết quả chất lượng đào tạo Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp

Trang 17

cũng đã tổ chức thực hiện chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đàotạo theo học chế tín chỉ từ năm 2010-2011 Có thế thấy, đã có rất nhiều tác giả, cónhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học như Đặng Bá Lâm, Hà Thế Ngữ,Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn,… Gần đây, dưới sự hướngdẫn của các nhà khoa học, các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ViệnQuản lý giáo dục, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về hoạt động

tự học và đều khẳng định tự học không phải là vấn đề mới nhưng nghiên cứu vềhoạt động tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ thì vẫn còn ít Vì vậy, trong luậnvăn này tác giả tập trung vào việc xây dựng các biện pháp quản lý các hoạt động tựhọc của sinh viên trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp nhằm nângcao kết quả hoạt động tự học, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường theo họcchế tín chỉ

1.2 Quản lý

1.2.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là sự điều khiển một hệ thống động xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi

mô, vì vậy có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi cách tiếp cận có nhữngđịnh nghĩa khác nhau:

- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kếhoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thểquản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.[24]

- Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,

có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, vănhoá, xã hội, kinh tế…bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sựphát triển của đối tượng”.[12]

- Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt độngquản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thểquản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đíchcủa tổ chức” [17]

Trang 18

- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sựphối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mụctiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người

có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bấtmãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, cònkiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [15]

- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động

có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm các quy tắc ràng buộc vềhành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lýcủa cơ cấu và đưa hệ thống sớm đạt được mục tiêu

Qua các định nghĩa và quan niệm về “Quản lý” như đã trình bày ở trên, ta thấyrằng hoạt động quản lý luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lý và khách thể quản

lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý,điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu Khách thể quản lý lànhững người chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung

Quản lý có nhiều loại khác nhau, trong đó quản lý xã hội là phức tạp nhất.Bởi vì, xã hội một mặt là hệ thống trên của nền kinh tế, bao gồm toàn bộ các hoạtđộng về kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, tinh thần,… nên nó chứa đựng tất cảnhững sự phức tạp của đối tượng phải quản lý; mặt khác, trong quá trình quản lý xãhội còn có những quan hệ phi kết cấu như quan hệ đạo đức, quan hệ cá nhân, quan

hệ xã hội nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Hơn nữa, sự tác động qua lạigiữa các đối tượng, các quan hệ làm cho việc quản lý càng phức tạp và khó khănhơn Do vậy, quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một

hệ thống xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô

Trang 19

xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có trong tươnglai mà xác định rõ hệ thống của các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện phápcần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức Lập kế hoạch bao gồm 3nội dung chủ yếu sau:

- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển

- Chẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức

- Xác định những mục tiêu, biện pháp và đảm bảo các điều kiện để thực hiệncác mục tiêu đã đặt ra

1.2.2.2 Chức năng tổ chức

Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để hiện thực hoácác mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặp một cách khoa học những con người, nhữngcông việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tácđộng tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của cáctác động thành phần Công tác tổ chức gồm 3 nhiệm vụ chính dưới đây:

- Xác định cấu trúc của bộ máy

- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy

- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức

12.2.3 Chức năng chỉ đạo

Chỉ đạo là quá trình liên kết, liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức, tậphợp động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổchức Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:

- Chỉ huy, ra lệnh

- Động viên, khen thưởng

- Theo dõi, giám sát

- Uốn nắn, sữa chữa, bù đắp và chỉnh lý

1.2.2.4 Chức năng kiểm tra

Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường vàđánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân

và biện pháp khắc phục Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ hội, các

Trang 20

nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của tổ chức Trong hoạt độngquản lý, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năngkiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quảhoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lý

sẽ tiến hành điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá đượchiệu quả quản lý, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức năng kiểm tra

Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối quan hệ ngược trongquản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

- Xây dựng chuẩn để thực hiện

- Đánh giá việc thực hiện dựa trên chính sách so với chuẩn

- Nếu kết quả hoạt động có sự chênh lệch so với chuẩn thì cần điều chỉnhhoạt động để đạt được hiệu quả mong muốn

Bốn chức năng của hoạt động quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạothành một chu trình quản lý Chu trình quản lý bao gồm bốn giai đoạn với sự thamgia của hai yếu tố vô cùng quan trọng đó là thông tin và quyết định Trong đó thôngtin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý đồng thời cũng là tiền đề của mộtquán trình quản lý tiếp theo

Sơ đồ 1.1 Chức năng quản lý

Trang 21

- Nhà tâm lý học N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [27]

- Theo tác giả Lê Khánh Bằng: “Tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [3]

- Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “ Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích luỹ kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội” [12]

- Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “ Tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…và có khi cả

cơ bắp khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [31]

Từ những quan điểm tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học

như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.

1.3.2 Các hình thức tự học

Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:

- Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không

có sách và sự hướng dẫn của giáo viên.

Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quátrình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới,

Trang 22

đây là thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này phải được dựatrên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thờiphải có vốn tri thức vừa rộng vừa sâu Tới trình độ tự học này, người học khôngthầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạtđộng tự học của mình.

- Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:

+ Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Trường hợp này, người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sáchqua đó sẽ phát triển về tư duy Tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi ngườiphải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

+ Tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy

và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phảnánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá,…

- Hình thức 3:Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày sau đó sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.

+ Trong quá trình học tập trên lớp, thầy với vai trò là nhân tố hỗ trợ, là chấtxúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò chủthể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá

trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, ngoại lực dù có quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy nội lực phát triển.

+ Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầynhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch, huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân

để hoàn thành những yêu cầu do giáo viên đề ra Tự học của người học theo hìnhthức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giáo viên, được giáo viên định hướng

về nội dung, phương pháp tự học để người học thực hiện Như vậy, ở hình thức tự

Trang 23

học thứ 3 này quá trình tự học của người học có liên quan chặt chẽ với quá trình dạyhọc, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quátrình dạy học của giáo viên và quá trình tự học của sinh viên.

Do mục đích và nội dung nghiên cứu, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứucông tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong và ngoài giờ lên lớp dưới sựhướng dẫn của giáo viên trong quá trình dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạotheo học chế tín chỉ và nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng nghềThương mại và Công nghiệp

1.3.3 Hoạt động tự học của sinh viên

* Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên

Sinh viên là đối tượng đã có ý thức phát triển, được trang bị những kiến thức

cơ bản có khả năng thực hiện hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tự lĩnh hội tri thức.Khả năng tư duy của sinh viên đã phát triển ở mức độ cao Quá trình học tập củasinh viên khác với quá trình học tập của học sinh phổ thông Những tri thức mà sinhviên lĩnh hội được chủ yếu liên quan tới lĩnh vực nghề nghiệp, sinh viên bắt đầu tậpdượt nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các vấn đề khoa học, nó cao hơn và phức tạphơn so với quá trình học tập của học sinh phổ thông Chính vì vậy, trong quá trìnhhọc tập sinh viên phải có tính tích cực, độc lập rất cao mới có thể tiếp cận và làmquen với phương pháp học tập mới

Nét đặc trưng cơ bản trong hoạt động học tập của sinh viên là tập trung căngthẳng về trí tuệ, sự hứng thú, say mê về cảm xúc và thái độ đúng đắn trong học tập.Hoạt động tự học của sinh viên có vai trò quyết định tới quá trình nhận thức, nómang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của hoạt động tự học nói chung, đó là quátrình sinh viên tự giác, tự lực, tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viên để sinh viên

có thể chiếm lĩnh được những tri thức khoa học ở một lĩnh vực chuyên môn nào đóbằng hành động của chính mình nhằm đạt mục tiêu đào tạo Thực chất hoạt động tựhọc của sinh viên chính là bản thân sinh viên tự giác, tích cực tham gia vào hoạtđộng nhận thức, sinh viên huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, chức năng

tư duy trong quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

Trang 24

* Các hình thức tự học của sinh viên

Trong quá trình tự học, sinh viên tiến hành hoạt động tự học dưới nhiều hìnhthức khác nhau:

- Tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên trong quá trình dạy họctrên lớp

- Tự học ngoài giờ lên lớp, dưới sự điều khiển và hướng dẫn gián tiếp củagiáo viên thông qua bài tập nhận thức mà giáo viên giao cho sinh viên thực hiện

- Tự học hoàn toàn độc lập theo hứng thú và sở thích riêng của bản thân sinhviên mà không có sự hướng dẫn và điều khiển của giáo viên, những tri thức đó nằmngoài chương trình đào tạo của nhà trường

Tất cả các hình thức tự học trên của sinh viên đều nhằm mục đích chiếmlĩnh, lĩnh hội tri thức mới, làm giàu thêm vốn tri thức của bản thân

* Các giai đoạn hoạt động tự học của sinh viên

- Ở giai đoạn đầu, sinh viên tiến hành hoạt động tự học một cách thụ động,miễn cưỡng, gò bó Sinh viên ít chủ động, tự giác, tích cực tham gia vào hoạt động

tự học nếu không có sự kiểm tra, giám sát, thúc giục của giáo viên và các lực lượnggiáo dục khác Đây là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tự học, sinh viên chưa pháthuy được tính tích cực, tự giác trong học tập, học theo kiểu gò ép, đối phó, do vậykết quả học tập của sinh viên còn hạn chế

- Đến một giai đoạn nhất định, khi bản thân sinh viên đã tích luỹ được mộtlượng kiến thức nhất định, khả năng tư duy của sinh viên phát triển ở mức độ cao hơn

Ở giai đoạn này, những tri thức bản thân sinh viên tích luỹ được đã đủ sức trở thànhnhững công cụ, những phương tiên phục vụ đắc lực cho việc tiếp thu những tri thứckhoa học mới Lúc này sinh viên đã có đầy đủ năng lực để tự học, tự nghiên cứu trongquá trình học tập, dần dần thông qua hoạt động tự học sẽ hình thành cho sinh viên niềmtin, sự say mê vào khả năng tự học của mình, sinh viên sẽ tích cực tham gia vào hoạtđộng tự học với tinh thần tự giác cao nhất mà không cần một ai nhắc nhở

Qua vấn đề nêu trên ta thấy, hoạt động tự học của sinh viên có phạm vi rấtrộng, từ việc tự học ở trên lớp dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của giáo viên,

Trang 25

tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự hướng dẫn, điều khiển gián tiếp của giáo viên hayviệc tự học hoàn toàn độc lập theo sở thích, hứng thú của bản thân Tất cả các hìnhthức đó đều nhằm mục đích lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho bản thân sinh viên.

1.3.4 Đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ

Tinh thần cốt lõi của đào tạo theo học chế tín chỉ chính là dạy học tích cực vàtạo điều kiện thuận lợi nhất cho người học Dạy học tích cực hay phương pháp tíchcực đều có cùng đặc điểm với tinh thần “dạy học lấy người học làm trung tâm”.Cách dạy của thầy không còn là truền thụ một chiều, chỉ cung cấp thông tin nữa mà

là dạy cách học, cách học của trò không chỉ là tích luỹ kiến thức mà phải nắm lấycách tự học Các nghiên cứu về phương pháp dạy học trên thế giới cũng như ở ViệtNam đã cho thấy chừng nào thầy còn dạy theo kiểu truyền thụ một chiều, trò cònhọc theo kiểu ghi nhớ kiến thức, kiểm tra đánh giá nặng về kiến thức, coi nhẹ kỹnăng, tư duy thì chất lượng đào tạo còn hạn chế, sản phẩm đào tạo không đáp ứngnhu cầu của thị trường lao động Bộ giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số43/2007/QĐ- BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 về việc ban hành “Quy chế đàotạo đại học và cao đẳng chính quy theo hệ thống tín chỉ” Đó là bước đột phá chiếnlược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, cao đẳng ở nước ta

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ có các đặc điểm cơ bản sau đây:

- Quá trình học là sự tích luỹ kiến thức theo học phần (tín chỉ)

- Lớp học tổ chức theo học phần, sinh viên đăng ký học các học phần ở đầu

mỗi học kỳ

- Kiến thức phải được cấu trúc thành các môđun (học phần)

Có thể xem HP là một môn học có cấu trúc chặt chẽ, được giảng dạy trọnvẹn trong một học kỳ và được đánh giá độc lập với các HP khác

Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên là tín chỉ Một tín chỉ được quyđịnh bằng một số tiết học trên lớp tương đương với 15 tiết lý thuyết; 30- 45 tiết thựchành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45- 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45- 60 giờ làm tiểuluận, bài tập lớn,…

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thuđược một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị bài ở nhà

Trang 26

Công thức 1 tín chỉ ứng dụng với 15 tiết lý thuyết trên lớp tương đối phổbiến vì nói chung một học kỳ thường có 15 tuần thực học Một HP thôngthường từ 2 đến 4 tín chỉ Các HP trước đây đã tính theo ĐVHT thì quy đổi 1,5ĐVHT = 1 tín chỉ.

Một tiết học được tính bằng 50 phút

- Quy định khối lượng kiến thức phải tích luỹ cho từng văn bằng

Khối lượng kiến thức tối thiểu cho chương trình của một ngành hệ cao đẳng

3 năm không dưới 90 tín chỉ Hiệu trưởng quy định cụ thể khối lượng kiến thức tốithiểu cho từng chương trình đào tạo được triển khai đào tạo trong phạm vi trường

- Không thi tốt nghiệp

Quá trình học là sự tích luỹ kiến thức theo học phần HP nào đã được tích luỹthì không phải thi nữa

Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốtnghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn

+ Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên đạt mức quy địnhcủa trường Là Hp có khối lượng không quá 5 tín chỉ cho trình độ cao đẳng

+ Học và thi một số HP chuyên môn: sinh viên không được giao làm đồ án,khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưatích luỹ đủ số tín chỉ quy định cho chương trình

- Có hệ thống cố vấn học tập

Mỗi cố vấn học tập phụ trách một số sinh viên kể từ lúc vào trường cho đếnkhi ra trường Cố vấn học tập phải nắm vững tình hình của sinh viên mình phụtrách, tư vấn cho sinh viên chọn chương trình và tiến trình học phù hợp và giúp sinhviên đăng ký học từng học kỳ

- Chương trình đào tạo có thể mềm dẻo, có nhiều khả năng lựa chọn cho sinh

viên và tạo điều kiện dễ dàng cho sinh viên chuyển ngành hoặc học một lúc 2chương trình

- Đánh giá kết quả mỗi học phần một cách thường xuyên và theo thàng điểm chữ Phải có phương pháp kiểm tra đánh giá sao cho đánh giá được cả sự học tích

cực của sinh viên

Trang 27

1.3.5 Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ

Có thể khẳng định rằng: hoạt động tự học của sinh viên là một hoạt độngkhông thể thiếu và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập ởbậc cao đẳng, đại học Tuy nhiên, trong các phương thức đào tạo khác nhau, hoạtđộng này lại có những nét đặc thù riêng Sự khác biệt giữa hoạt động tự học theohọc chế niên chế so với học chế tín chỉ được thể hiện ở một số điểm sau:

Trước hết, trong phương thức đào tạo theo niên chế, sinh viên tuân thủ theomột chương trình do nhà trường định sẵn của từng học kỳ, từng năm học, từng khoáhọc căn cứ vào thời khoá biểu Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ,

kế hoạch học tập cụ thể phụ thuộc vào chính bản thân người học Sinh viên cónhiệm vụ và quyền được lựa chọn môn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh,chậm phù hợp với điều kiện của mình Phương thức này tạo cho sinh viên năng lựcchủ động trong việc lập kế hoạch học tập khoa học, xác định thời gian, phương tiện,biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch học tập đó Khi đó ngườisinh viên phải ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu sao cho quá trình họctập hiệu quả nhất

Thứ hai, hình thức tổ chức dạy học trong phương thức tín chỉ quy định hoạtđộng tự học của sinh viên như là một thành phần bắt buộc trong thời khoá biểu và làmột nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập Hoạt động dạy- học theo tínchỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học Trong ba hình thức

tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữagiảng viên và sinh viên (giảng viên giảng bài, hướng dẫn; sinh viên nghe giảng,thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giảng viên,…), hình thức thứ ba có thểkhông có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên (giảng viên giao nộidung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi đượcyêu cầu) Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉlên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học

Trang 28

Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ

Lý thuyết

Thực hành, thí nghiệm, xêmina

Tự học

Tổng Chuẩn bị Tự nghiên cứu

Tuỳ thuộc tính chất đặc thù của từng môn học (mục tiêu, nội dung môn học)

mà có các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau Có những môn học chỉ có mộtkiểu giờ tín chỉ, nhưng có những môn học có hai hoặc cả ba kiểu giờ tín chỉ Trongmọi trường hợp, công thức tính cho mỗi môn học là không đổi: 1+0+2 (môn họcthuần lí thuyết); 0+2+1 (môn học thuần thực hành); 0+0+3 (môn học thuần tự học)

Cách tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ cho chúng ta thấy một đặc điểm rấtquan trọng góp phần tạo nên sự khác biệt với phương thức đào tạo truyền thống.Nếu hoạt động tự học trong học chế niên chế chỉ mang tính chất tự nguyện thìphương thức đào tạo theo học chế tín chỉ coi tự học là một thành phần hợp pháp vàbắt buộc phải có trong hoạt động học tập của sinh viên Để có được một giờ lýthuyết hay hai giờ thực hành, thực tập trên lớp sinh viên cần phải có 2 hay 1 giờchuẩn bị ở nhà Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của sinh viên

Thứ ba, nội dung của một bài giảng trong hệ thống tín chỉ thường gồm 3thành phần chính:

- Phần nội dung bắt buộc phải biết (N1) được giảng trực tiếp trên lớp

- Phần nội dung nên biết (N2) có thể không được giảng trực tiếp trên lớp màgiáo viên có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp

- Phần nội dung có thể biết (N3) dành riêng cho học sinh tự học, chuẩn bịbài, làm bài tập, thảo luận nhóm, xêmina, làm thí nghiệm…và các hoạt động khác

có liên quan đến môn học

- Như vậy kiến thức của mỗi môn học được phát triển thông qua những tìmtòi của người học dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giảng viên Nếu sinh viên không

tự học thì họ mới chỉ lĩnh hội được 1/3 khối lượng kiến thức của môn học và nhưvậy đồng nghĩa với việc học không đạt được yêu cầu của môn học đó

- Ngoài ra, một điểm rất quan trọng, khác biệt với học chế niên chế là trong

Trang 29

học chế tín chỉ, hoạt động tự học được kiểm tra, đánh giá thường xuyên thông quacác bài kiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận…trong suốt cả quá trình học.

Qua phân tích trên đây, rõ ràng rằng trong phương thức đào tạo theo tín chỉ,hoạt động tự học của sinh viên trở thành hoạt động bắt buộc với các chế tài cụ thểquy định cho hình thức học tập này

1.3.6 Ý nghĩa của tự học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Trong xu thế toàn cầu hoá, đặc biệt là trong đổi mới đào tạo theo hệ thống tínchỉ thì vấn đề tự học của sinh viên được đặt ra và trở thành một trong những vấn đềthen chốt cho hình thức đào tạo này Chính tự học của sinh viên là chìa khoá cho sựthành công không chỉ cho chính bản thân sinh viên mà còn góp phần thực hiệnthành công đổi mới phương thức đào tạo của nhà trường

- Tự học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ để thực hiện hoá triết lý giáo dụclấy người học làm trung tâm, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo của sinh viênthông qua vấn đề nhận thức, lập kế hoạch tự học trong kế hoạch học tập chung, tiếpcận hệ thống lý luận, rèn luyện các kỹ năng tự học, tự rèn luyện các kỹ năng DH,

GD, tự kiểm soát và đánh giá việc học của chính mình

- Tạo ra sự phù hợp cao nhất giữa năng lực học tập, tài chính cũng như cácđiều kiện khác của sinh viên với tiến độ và cường độ học tập sao cho việc học diễn

ra nhanh nhất, hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất Cụ thể là thực hiện được nănglực sư phạm, chứng tỏ được bản lĩnh nghề nghiệp

- Đào tạo theo hệ thống tín chỉ mang đến cho SV hình thức học tập mềm dẻo,linh hoạt Ngoài nguồn tri thức cơ bản tích luỹ được trên lớp, SV phải chủ động và

có khả năng cơ động trong tự học, củng cố, trau dồi thêm tri thức từ các nguồn tàiliệu khác nhau, bao đảm liên kết, liên hệ dễ dàng các lĩnh vực kiến thức khác nhauphục vụ quá trình tự học, làm cho tri thức, kỹ năng GD thêm phong phú, đồng thờikhẳng định tính nhạy bén và thích ứng với yêu cầu nghiệp vụ sư phạm

- Trong xu thế toàn cầu hoá, người GV phải là nhà tư vấn, tổ chức các hoạtđộng DH, GD Do đó, tự học trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ là cơ hội để SV tựmình nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm theo khả năng của từng cá nhân để phục

Trang 30

vụ trong môi trường GD thời kỳ đổi mới, đáp ứng xu thế hội nhập.

Đặc điểm của đào tạo theo tín chỉ là sự lựa chọn “mở” nên tự học theo đàotạo tín chỉ là điều kiện cho SV phát huy được khả năng trí tuệ năng lực cá nhân, đểchiếm lĩnh tri thức và rèn luyện “tay nghề” DH của mình một cách tự do, sáng tạo.Chính vì thế chắc chắn sẽ có sự phân tầng trong trình độ của SV SV nào không có

ý thức tự học một cách có kế hoạch ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ dẫnđến việc xa rời lý luận GD, lý luận DH và sẽ rất lúng túng, thậm chí không thànhcông trong công tác sau này Chính điều đó đặt ra yêu cầu tự học với SV

1.4 Quản lý hoạt động tự học theo học chế tín chỉ đối với sinh viên

1.4.1 Quản lý hoạt động tự học và biện pháp quản lý hoạt động tự học

Quản lý hoạt động tự học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản

lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệthống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường Quản lý hoạt động tựhọc của sinh viên được tiến hành trên cả hai phương diện: ở trường và ở nhà Baogồm hai quá trình cơ bản:

- Quản lý hoạt động tự học trong giờ học trên lớp

- Quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp

Quản lý hoạt động tự học là tác động của chủ thể quản lý đến toàn bộ quátrình tự học của sinh viên làm cho sinh viên chủ động, tích cực tự mình chiếm lĩnhtri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính mình Quản lý tự học của sinh viên có liênquan chặt chẽ với quá trình tổ chức dạy học của giáo viên Hoạt động tự học củasinh viên chịu sự tác động của nhiều yếu tố tổ chức và quản lý hoạt động dạy họccủa giáo viên có ảnh hưởng nhiều nhất Chính vì vậy để nâng cao kết quả hoạt động

tự học cho sinh viên thì nhiệm vụ quan trọng hàng đầu có ý nghĩa quyết định đó làphải đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên

Nội dung quản lý tự học bao gồm nhiều hoạt động, có quan hệ đến nhiều đốitượng, nhiều chủ thể quản lý khác nhau Các chủ thể tham gia vào quản lý hoạtđộng tự học không chỉ do nhà trường tổ chức mà còn có quan hệ tương tác, phốihợp giữa nhà trường với các tổ chức khác

Như vậy: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên thực chất là một hệ thống

Trang 31

các tác động sư phạm có mục đích, có phương pháp, có kế hoạch của các lực lượng trong và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của sinh viên nhằm thúc đẩy sinh viên tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân sinh viên.

* Biện pháp quản lý hoạt động tự học

Biện pháp quản lý là tổ hợp các phương pháp, cách thức tiến hành của chủthể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề cụ thểcủa hệ quản lý, làm cho hệ vận hành phát triển đạt được mục tiêu mà chủ thể quản

lý đề ra và phù hợp với quy luật khách quan

Biện pháp quản lý hoạt động tự học là tổ hợp các phương pháp, các cách thức tiến hành của các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm tác động đến toàn bộ quá trình tự học của sinh viên nhằm thúc đẩy sinh viên tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân sinh viên.

1.4.2 Các nhân tố tham gia vào quá trình quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo HCTC

Có nhiều nhân tố tham gia vào quá trình quản lý hoạt động tự học của sinhviên trong đó có hai lực lượng cơ bản: các lực lượng bên trong nhà trường và lựclượng bên ngoài nhà trường Trong luận văn này chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu

về các nhân tố bên trong nhà trường

Các lực lượng quản lý bên trong nhà trường có vai trò hỗ trợ, kích thích, tạođiều kiện thuận lợi để sinh viên thực hiện tốt hoạt động tự học của mình

1.4.2.1 Giáo viên tổ chức các hoạt động tự học cho sinh viên

Giáo viên là lực lượng nòng cốt tham gia tích cực quản lý hoạt động tự họccủa sinh viên thông qua các nội dung dưới đây:

- Giáo viên không chỉ thực hiện chức năng truyền thụ tri thức mà điều quantrọng hơn là dạy cho sinh viên phương pháp học tập và nghiên cứu

- Giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức, thiết kế, điều khiển các hoạt độnghọc tập của sinh viên thông qua các hình thức tổ chức quá trình dạy học trên lớp

- Giáo viên bồi dưỡng ý chí và năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên

Trang 32

nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập.

- Hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu thông qua việc giao các dạng bài tập chosinh viên tự học ở nhà

- Bồi dưỡng hình thành động cơ và thái độ tự học nghiêm túc cho sinh viênthông qua các hoạt động giáo dục nhận thức, thi đua khen thưởng, hay thông quakiểm tra đánh giá kết quả tự học của sinh viên

- Tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động học tập ngoại khoá như: tổngoại khoá, câu lạc bộ khoa học, nói chuyện chuyên đề, tham gia các buổi thảo luậnhay các buổi xêmina nhằm tạo điều kiện cho sinh viên mở rộng, đào sâu tri thức,phát triển hứng thú tự học, tự nghiên cứu

- Giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ thiết kế kế hoạch, xây dựng và pháttriển tập thể sinh viên, xây dựng bộ máy của lớp có đủ năng lực và uy tín để điềuhành mọi hoạt động của lớp nhằm phát huy vai trò tự quản trong việc quản lýhoạt động tự học

- Giáo viên chủ nhiệm tập hợp và khai thác sức mạnh tổng hợp của các lựclượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viênđạt hiệu quả

1.4.2.2 Các tổ chức tham gia quản lý hoạt động tự học của sinh viên

- Ban Giám hiệu nhà trường: quản lý hoạt động tự học thông qua việc lập kếhoạch, tổ chức thực hiện, công tác chỉ đạo và kiểm tra đánh giá việc quản lý hoạtđộng tự học của sinh viên

- Phòng đào tạo tạo điều kiện cho sinh viên đăng ký tín chỉ phù hợp với kếhoạch của cá nhân trên cơ sở đó sinh viên có thời gian tự học hợp lý

- Phòng công tác sinh viên, Ban quản lý ký túc xá, Đội an ninh cung kích,đội cờ đỏ có vai trò tích cực trong việc tổ chức các hoạt động tự học cho sinhviên nội trú

- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên là lực lượng nòng cốt và gươngmẫu trong phong trào học tập và rèn luyện

- Các khoa, Tổ bộ môn có nhiệm vụ:

Trang 33

+ Quản lý giáo viên, nhân viên và sinh viên thuộc đơn vị mình tổ chức tốtquá trình dạy- tự học.

+ Tổ chức tốt quá trình đào tạo, giảng dạy và học tập của khoa mình theođúng chương trình, kế hoạch giảng dạy và học tập của nhà trường

+ Chỉ đạo, tổ chức biên soạn chương trình, giáo án, giáo trình môn học thuộcđơn vị mình phụ trách Tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy và họctập theo tinh thần dạy - tự học

- Cố vấn học tập: tư vấn cho sinh viên chọn chương trình và tiến trình họcphù hợp

1.4.3 Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo HCTC

1.4.3.1 Quản lý việc xây dựng kế hoạch tự học

Kế hoạch tự học là bảng mô tả một cách chi tiết các hoạt động tự học màngười học dự định thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, có đảm bảo cácyếu tố về thời gian, không gian, nội dung, phương tiện và các điều kiện để thực hiện

Từ việc xây dựng kế hoạch, người học sẽ chủ động nắm bắt được những nhiệm vụ cụthể để đạt được mục tiêu, người học phải tự giác thực hiện các nhiệm vụ của mình,kiểm soát được toàn bộ quá trình tự học Kế hoạch tự học của SV cần được cụ thểhoá thành thời gian biểu trong từng buổi, từng tuần, từng tháng đối với từng môn học.Khi kế hoạch tự học được xác định rõ ràng SV sẽ thuận lợi trong việc kiểm tra, đánhgiá kết quả tự học và mức độ đạt được của mục tiêu tự học đã đề ra

Việc xây dựng kế hoạch tự học của SV là yếu tố quan trọng góp phần nângcao hiệu quả tự học Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thờigian một cách hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân vàcác điều kiện đảm bảo nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học Kếhoạch tự học giúp cho người học thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa họchiệu quả Xây dựng kế hoạch tự học là quá trình hình thành một biểu tượng rõ ràng

về trình tự các công việc làm theo ý nghĩa và nhu cầu của nó Đây là kết quả củaviệc giải quyết mâu thuẫn giữa cái thích và không thích, giữa tính tuỳ tiện và tính nềnếp đòi hỏi sinh viên phải có tính dứt khoát, kiên quyết

Trong quá trình được đào tạo, SV phải tuân thủ theo kế hoạch dạy học chung

Trang 34

của khoa, của lớp, nhưng kế hoạch dạy học không thể đồng nhất với kế hoạch tựhọc của cá nhân Kế hoạch tự học của cá nhân phải là các nội dung, các yêu cầu cụthể được tiến hành trong thời gian hợp lý của cá nhân nhằm hoàn thành kế hoạchhọc tập, đáp ứng được kế hoạch dạy- học chung của khoa, của nhà trường Các nộidung và yêu cầu của kế hoạch tự học được cá nhân xác định trên cơ sở thực hiện kếhoạch dạy học chung, xác định nội dung và yêu cầu tự học phải hướng tới bổ sung

và hoàn thiện kiến thức, đào tạo sâu và mở rộng sự hiểu biết, hoàn thành nhiệm vụhọc tập được giao của từng cá nhân SV Vì vậy, xây dựng kế hoạch tự học phải dochính cá nhân người học thực hiện

Xây dựng kế hoạch tự học là việc làm thể hiện tính khoa học, tính tích cựcchủ động nhằm giúp cho SV bố trí thời gian công việc một cách hợp lý, hoàn thànhđúng tiến độ và chất lượng Song việc thực hiện kế hoạch một cách có hiệu quả vàthường xuyên lại là một việc khó hơn Đây là quá trình biến những điều đã dự địnhthành hiện thực, là sự tiến hành trong thực tiễn các hoạt động theo những phươngthức đã lựa chọn, chính giai đoạn này đòi hỏi sự kiên trì, mạnh mẽ và chủ động ởngười học nhằm vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập

Từ đó, quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện kế hoạch tựhọc sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên

1.4.3.2 Quản lý nội dung tự học

Nội dung tự học, tự đào tạo trong nhà trường đã được xác định một cách chặtchẽ theo mục tiêu đào tạo, bao gồm các khối kiến thức về khoa học cơ bản, khoahọc cơ sở và khoa học chuyên ngành Trong mục tiêu đào tạo từng ngành học, bậchọc đều có nội dung chương trình, khối lượng kiến thức bắt buộc và lựa chọn,nhiệm vụ của SV phải hoàn thành trong thời gian quy định Ngoài nội dung bắtbuộc trong khung chương trình, SV có thể tự học, tự nghiên cứu trong lĩnh vực trithức và nghề nghiệp tương ứng với trình độ được đào tạo

Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho SV nội dung tự học phù hợpvới mục tiêu, yêu cầu đào tạo thì người giáo viên phải hướng dẫn nội dung tự họccho SV gồm 2 phần:

- Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc

Trang 35

- Tư vấn nội dung tự học cho SV, định hướng nghiên cứu đào sâu, mở rộngtri thức từ các vấn đề trong nội dung học tập.

1.4.3.3 Quản lý phương pháp tự học

Để quản lý phương pháp học tập, tự học phải bắt đầu từ việc xác định mụcđích, động cơ học tập đúng đắn, đó chính là cách học, biện pháp học và kỹ thuậthọc…Do vậy, SV phải biết sử dụng phương pháp tự học của mình theo kế hoạchhợp lý, phù hợp, biết tạo ra điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc học tập và tựhọc suốt đời, học ở mọi người, mọi lúc, mọi nơi Phương pháp tự học đối với từngngười, từng môn học khác nhau nhưng chúng vẫn có điểm chung mà chúng tathường sử dụng đó là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, trìu tượng hoá,khái quát hoá, quy nạp, diễn dịch, đọc sách, diễn đạt sự hiểu biết của mình bằngngôn ngữ, sơ đồ, ký hiệu,…Bên cạnh các phương pháp học chung còn có cácphương pháp đặc thù của từng môn học

Việc quản lý các phương pháp tự học của SV được thực hiện thông qua việcchỉ đạo, tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học tích cực; việc hướng dẫn cácphương pháp tự học; thông qua tổ chức xêmina hoặc báo cáo chuyên đề về tự họccủa SV, thông qua việc tổ chức sơ kết, tổng kết, biểu dương, nêu gương những SV

có phương pháp tự học hiệu quả,…

Muốn tự học thành công và mang lại hiệu quả cao, mỗi SV phải biết vượtkhó, vượt khổ, phải tìm ra được nội dung và phương pháp học tập đúng, phù hợpvới yêu cầu, điều kiện và năng lực của mình, phải quyết tâm thực hiện đúng kếhoạch hàng ngày, hàng tháng và từng năm; phải tận dụng được sự giúp đỡ của giáoviên, các bạn và các phương tiện kỹ thuật học tập

1.4.3.4 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học

Kiểm tra đánh giá góp phần rèn luyện củng cố các phương pháp học tập, kíchthích SV vươn tới đạt kết quả cao trong học tập, hình thành nhu cầu tự đánh giá.Kiểm tra, đánh giá được thừa nhận là một hoạt động giữ vai trò động lực thúc đẩycho quá trình đào tạo và tự đào tạo Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự họcbao gồm:

- Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của SV (hàng tuần, hàng tháng,

Trang 36

năm học,…).

- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch theo mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tự học,phát hiện sai lệch giúp SV điều chỉnh hoạt động tự học

- Kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả tự học là chức năng của giáo viên

và cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ quản lý sinh viên Đối với cán bộ quản lý đào tạocòn phải thực hiện cả nội dung quản lý công tác kiểm tra, đánh giá của giáo viênnhằm đảm bảo tính khoa học, thống nhất và công bằng (qua việc làm tham mưu,hướng dẫn, giám sát các hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên và chủ nhiệmlớp đối với hoạt động của SV)

1.4.3.5 Quản lý cố vấn học tập cho sinh viên

Trong đào tạo theo HCTC, cố vấn học tập (CVHT) là người có vai trò quantrọng đến sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của SV Với vai trò

cố vấn, các CVHT là người định hướng, giám sát hoạt động học tập của SV, giúp

SV nhận thức được tầm quan trọng của quy chế đào tạo, nhận thức chính xác cáckhái niệm của quy chế, hiểu được chương trình đào tạo, phương pháp và nhiệm vụhọc tập của mình, từ đó xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với điều kiện về trình

độ, vật chất, hoàn cảnh cá nhân và tự tìm ra biện pháp khắc phục các khó khăn đểhoàn thành tốt nhiệm vụ học tập

Để hoạt động tư vấn học tập đạt hiệu quả cao, các nhà quản lý phải làm tốtmột số công việc sau:

- Quản lý việc xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động CVHT hàng năm

- Biên soạn, sửa đổi, bổ sung Cẩm nang dành cho CVHT, thiết kế các biểumẫu và chuẩn bị bộ công cụ dành cho CVHT

- Tổ chức các khoá tập huấn dành cho CVHT

- Tổ chức hội nghị để thảo luận, đánh giá, tổng kết công tác CVHT hàng năm

- Giải quyết tốt các vướng mắc trong công việc và chế độ chính sách cho CVHT

1.4.3.6 Quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động tự học

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải đảm bảo các điều kiện phục vụcho hoạt động tự học của SV trên các mặt sau:

- Quản lý cơ sở vật chất đảm bảo cho việc học tập trên lớp, tự học, sinh hoạt

Trang 37

tập thể Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập góp phần nângcao hiệu quả dạy và học: tu sửa, nâng cấp, hiện đại hoá phòng học, thư viện, cáctrung tâm rèn nghề, phòng ở,…những việc làm này không chỉ có ý nghĩa đảm bảochất lượng dạy-học mà còn có ý nghĩa kích thích hứng thú cho SV Để tăng cườnghoạt động dạy- học, tự học việc đầu tư hợp lý đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bịdạy học, tự học là vấn đề cấp bách và thiết thực.

- Quản lý sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo, phương tiện kỹ thuậtdạy học; quản lý khai thác, sử dụng giáo trình, tài liệu tham khảo và các phươngtiện phục vụ dạy- học là biện pháp nhằm đảm bảo đủ điều kiện vật chất- kỹ thuật để

SV có thể tiếp thu nội dung chương trình cả về lý thuyết lẫn thực hành Do đó, đây

là giải pháp tích cực đảm bảo tính hiệu quả của quá trình dạy chữ, dạy nghề

Đảm bảo sự phục vụ tích cực của thư viện để giúp SV một mặt khẳng địnhlại phần kiến thức đã học nhưng chưa rõ, đồng thời bổ sung thêm phần kiến thứcchưa hoàn chỉnh sau buổi học, Vì vậy, cán bộ thư viện không chỉ có chức năng coigiữ mà còn phải giới thiệu, giúp đỡ bạn đọc lựa chọn, khai thác tư liệu, sử dụng thưviện điện tử một cách có hiệu quả, thuận lợi Việc đảm bảo sự phục vụ tích cực củathư viện có ý nghĩa tăng cường hiệu quả tự học vừa góp phần kích thích, củng cốđộng cơ học tập tích cực của SV

- Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian tự học cho SV

- Quản lý việc xây dựng môi trường thuận lợi cho SV học tập

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tự học của SV theo HCTC

Quản lý hoạt động tự học của SV không tách rời các điều kiện tác động, baogồm hai yếu tố chính: yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan

* Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan là những yếu tố tác động từ bên ngoài bao gồm:

- Đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết,chỉ thị, thông tư, hướng dẫn của Bộ GD& ĐT,…có liên quan đến quá trình giáodục- đào tạo của thầy và trò nhà trường

- Nội dung, chương trình đào tạo của nhà trường phải đáp ứng yêu cầu của

Trang 38

xã hội, gắn liền với thực tiễn công việc từ đó mới nâng cao tính tích cực, tự giác họctập của SV.

- Phương pháp giảng dạy của giáo viên nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo, độc lập, tự giác học tập của SV

- Các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho hoạtđộng dạy và học của thầy và trò nhà trường

- Thời gian dành cho tự học: hoạt động tự học đòi hỏi phải có quỹ thời gianphù hợp do vậy SV phải bố trí kế hoạch tự học thật phù hợp và khoa học mới đảmbảo qáu trình tự học đạt hiệu quả, đáp ứng tốt yêu cầu đào tạo theo HCTC

- Các yếu tố môi trường xã hội bên ngoài như vấn đề cơ hội tìm việc làm saukhi ra trường, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội với nghề nghiệp,…cũng ảnh hưởng tớihoạt động tự học của SV

- Sự tác động của gia đình như sự quan tâm của các bậc cha mẹ, truyền thốnghiếu học của gia đình,…đều có sự ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức tự học của SV

* Yếu tố chủ quan

- Đội ngũ quản lý có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý, hoạt động cóhiệu quả Các chủ thể quản lý luôn quan tâm xây dựng kỷ cương, nề nếp trong giảngdạy và học tập để tạo ra một môi trường học tập nghiêm túc

- Đội ngũ giáo viên nhà trường giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thầntrách nhiệm trong công việc, nắm vững phương pháp giảng dạy theo hướng pháthuy tính tích cực học tập của người học

- Hệ thống cố vấn học tập có nhiều kinh nghiệm trong tư vấn, làm việc vớitinh thần trách nhiệm cao

- Tất cả các cán bộ giảng viên, nhân viên của nhà trường làm việc với tinhthần trách nhiệm cao và mong muốn có sản phẩm đào tạo chất lượng cao, mọi SVđều mong muốn đạt được trình độ chuyên môn vững vàng để lập thân, lập nghiệp

- Đối với SV, để hoạt động tự học và nghiên cứu đạt kết quả cao,đáp ứngđược với yêu cầu đào tạo theo HCTC đòi hỏi mỗi SV phải trang bị cho mình một hệthống kiến thức cơ bản, hệ thống các kỹ năng tự học, nắm bắt và sử dụng thành thạo

Trang 39

các phương pháp tự học hiện có.

Tóm lại: Quản lý hoạt động tự học của SV chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu

tố tham gia chi phối

Tiểu kết chương 1

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí

óc để chiếm lĩnh tri thức Tự học có vai trò quan trọng, tác động mạnh mẽ đến kết quảhọc tập của người học Tự học đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độkhác nhau, nhưng tựu chung lại là tự học là công việc của người học Trong quá trìnhhọc tập, người học phải tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những

cơ sở nghề nghiệp tương lai và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầutrước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra Để phát huy tính chủ động, sáng tạocủa mình SV cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phươngpháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là mục tiêu quan trọng của học tập

Trong quá trình tự học của SV, bên cạnh tính chủ động, tự giác thì việc sửdụng các biện pháp quản lý tự học nhằm giúp cho quá trình tự học của SV đạt đượckết quả đặt ra Quản lý hoạt động tự học là hệ thống những tác động có mục đích,

có kế hoạch của nhà quản lý đến tất cả các khâu của quá trình tự học giúp cho SVhoàn thành nhiệm vụ học tập Những vấn đề nêu trên là cơ sở lý luận cho việc đánhgiá thực trạng quản lý hoạt động tự học của SV và đề xuất các biện pháp quản lýhoạt động tự học của SV trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp đápứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay

Chương 2

Trang 40

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP

2.1 Vài nét về Trường CĐ nghề Thương mại và Công nghiệp

Trường Cao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp tiền thân là Trường đàotạo nghề Thương mại thuộc Bộ Thương mại được thành lập ngày 24/3/1973, trườngCao đẳng nghề Thương mại và Công nghiệp được thành lập theo Quyết định số250/QĐ-BLĐTBXH ngày 21/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương Binh và

Xã hội; hoạt động theo Quyết định số 2596/QĐ-BCT ngày 02 tháng 5 năm 2008của Bộ trưởng Bộ Công thương

Đến nay, trường đã có 41 năm (1973 – 2014) phát triển và trưởng thành, đã đàotạo, bồi dưỡng được hơn 17.000 công nhân kỹ thuật bậc cao và bậc lành nghề, ngoài ratrường còn đào tạo bồi dưỡng gần 15.000 công nhân kỹ thuật bậc thấp đang công tác phục

vụ trên khắp mọi miền của đất nước Trường được Nhà nước lựa chọn đầu tư trọng điểmchương trình mục tiêu quốc gia gia đoạn 2001 – 2005 và giai đoạn 2006 – 2010

Đào tạo, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong banhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá then chốt để phát triển kinh tế- xã hội theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

kế toán

Phòng

Tổ chức hành chính

Khoa

VH Kỹ thuật cơ sở

Khoa

Cơ khí sửa chữa

Khoa Điện

Khoa Xăng dầu

Phòng Đào tạo

Phòng Chính trị công tác HSSV

Ngày đăng: 21/04/2017, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
2. Đặng Quốc bảo (2001), Tự học - Vấn đề bức thiết của cán bộ quản lý, của mọi người. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học - Vấn đề bức thiết của cán bộ quản lý, của mọingười
Tác giả: Đặng Quốc bảo
Năm: 2001
3. Lê Khánh Bằng (1998), Tổ chức phương pháp tự học học sinh, sinh viên đại học – ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức phương pháp tự học học sinh, sinh viên đạihọc
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1998
6. Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến (2003), Để tự học đạt được hiệu quả. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để tự học đạt được hiệu quả
Tác giả: Vũ Quốc Chung – Lê Hải Yến
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
7. Đại học Hùng Vương (2009), Một số văn bản áp dụng trong đào tạo theo học chế tín chỉ. (lưu hành nội bộ) Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn bản áp dụng trong đào tạo theo họcchế tín chỉ
Tác giả: Đại học Hùng Vương
Năm: 2009
8. Đại học Hùng Vương (2012), Kỷ yếu hội thảo kinh nghiệm 3 năm đào tạo theo học chế tín chỉ. Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo kinh nghiệm 3 năm đào tạo theohọc chế tín chỉ
Tác giả: Đại học Hùng Vương
Năm: 2012
9. Đảng Cộng sán Việt Nam (1997), Nghị quyết Trung ương II, khoá XIII. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương II, khoá XIII
Tác giả: Đảng Cộng sán Việt Nam
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
Năm: 1997
10. Đảng Cộng sán Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng IX. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng IX
Tác giả: Đảng Cộng sán Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sán Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng X. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng X
Tác giả: Đảng Cộng sán Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trịQuốc gia
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Đạo (1998), Tự học là kinh nghiệm suốt cả cuộc đời của mỗi con người. Tự học - Tự đào tạo tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam.NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học là kinh nghiệm suốt cả cuộc đời của mỗi conngười. Tự học - Tự đào tạo tư tưởng chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
13. Exipov, P.V (1997), Những cơ sở lý luận dạy học tập 1,2,3 – NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận dạy học tập 1,2,3
Tác giả: Exipov, P.V
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1997
14. Trương Thanh Hải (2009), Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ (Luận văn thạc sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đạihọc An Giang đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Trương Thanh Hải
Năm: 2009
15. Harold Koontz (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý – NXB Khoa hoc- kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý –
Tác giả: Harold Koontz
Nhà XB: NXB Khoa hoc-kỹ thuật
Năm: 1992
16. Hecbơt, S.M (1984), Nghiên cứu học tập như thế nào – NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu học tập như thế nào
Tác giả: Hecbơt, S.M
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1984
17. Bùi Minh Hiền (2006), Quản lý giáo dục. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2006
18. Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức (2004), Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Đại họcSư phạm Hà Nội
Năm: 2004
19. Trần Kiểm (2007), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Sưphạm Hà Nội
Năm: 2007
20. Machiuskin, A.M (1986), Các tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạy học – Tư liệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tình huống có vấn đề trong tư duy và trong dạyhọc –
Tác giả: Machiuskin, A.M
Năm: 1986
21. M.I.KonĐaCôp (1984), Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục - Trường CBQL Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: M.I.KonĐaCôp
Năm: 1984
22. Hồ Chí Minh (1957), Bàn về học tập. NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về học tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1957

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Nhận thức của SV về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động tự học - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.3. Nhận thức của SV về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động tự học (Trang 40)
Bảng 2.4: Nhận thức của SV về các biểu hiện của hoạt động tự học - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.4 Nhận thức của SV về các biểu hiện của hoạt động tự học (Trang 43)
Bảng 2.5.Thực trạng các hình thức tự học của sinh viên - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.5. Thực trạng các hình thức tự học của sinh viên (Trang 47)
Bảng 2.8.Thời gian tự học của sinh viên Đối tượng - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.8. Thời gian tự học của sinh viên Đối tượng (Trang 51)
Bảng 2.9: Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học của sinh viên - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.9 Mức độ thực hiện các kỹ năng tự học của sinh viên (Trang 52)
Bảng 2.10: Ý kiến của SV về vấn đề quản lý hoạt động tự học - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.10 Ý kiến của SV về vấn đề quản lý hoạt động tự học (Trang 57)
Bảng 2.12: Ý kiến của GV+ CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản - BIỆN PHÁP QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THƯƠNG mại và CÔNG NGHIỆP
Bảng 2.12 Ý kiến của GV+ CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w