Đây là sản phẩm bồi tụ của sông Mê Kông, con sông dài nhất, nhiều nước và nhiều phù sa nhất Đông Nam Á trên một khuôn vịnh nông kéo dài từ bồn địa Tông-lê-sáp của Campuchi
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ 7
1.1 Một số vấn đề về văn hóa 7
1.1.1 Khái niệm văn hóa 7
1.1.2 Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ 8
1.1.2.1 Nền tảng văn hóa Nam Bộ 8
1.1.2.2 Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ 10
1.2 Ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Hồ Biểu Chánh 14
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ THÔNG QUA CHÂN DUNG CUỘC SỐNG NAM BỘ 15
2.1 Cảnh quê Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh 15
2.1.1 Thiên nhiên gần gũi, thơ mộng 15
2.1.2 Đời sống của người dân Nam Bộ 16
2.2 Tính cách của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh 17
2.2.1 Nét cần cù, chất phác 17
2.2.2 Nét bộc trực, thẳng thắn 19
2.2.3 Trọng nghĩa khinh tài 21
Trang 22.3 Phong tục tập quán trong đời sống người dân Nam Bộ 23
2.3.1 Lối sống của người dân quê 23
2.3.2 Nếp sống của thị dân đầu thế kỉ XX 25
CHƯƠNG 3: DẤU ẤN VĂN HÓA NB QUA NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT HỒ BIỂU CHÁNH 27
3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện theo mô hình truyện kể truyền thống 27
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật có tính xung đột lẫn nhau 28
3.3 "Sắc thái Nam Bộ" đậm đà trong cách sử dụng ngôn ngữ 30
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hồ Biểu Chánh (1885 – 1958) là nhà văn lớn của vùng đất Nam Bộ Ông là tác giả tiêu biểu, có vị trí quan trọng trong đời sống văn học những năm đầu thế kỷ XX Chất Nam Bộ đậm đà trong sáng tác của ông khơi gợi không chỉ người đọc mà các nhà phê bình, nghiên cứu dưới nhiều góc độ (văn học, văn hóa,…) sự tò mò, thích thú Không ít các công trình nghiên cứu, bài tham luận về Hồ Biểu Chánh, tuy nhiên, để tìm hiểu cái hấp dẫn trong từng câu chữ, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc thỉ ít ai để ý đến Chính vì lí do đó, tôi lựa chọn và thực hiện đề tài: Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Với đề tài này, người viết sẽ cố gắng làm rõ chất Nam Bộ – một trong những nguyên nhân làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
2 Lịch sử vấn đề
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, một số công trình tiêu biểu và cần đề cập đến là:
Trong công trình nghiên cứu Nhà văn hiện đại (1942), tuy Vũ Ngọc Phan viết về Hồ Biểu Chánh còn khá sơ lược nhưng cũng đã khẳng định Hồ Biểu Chánh
là một nhà tiểu thuyết nổi tiếng
Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) cũng đánh giá cao nhưng đồng thời cũng chỉ ra một số mặt hạn chế trong vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
Trong Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974), Nguyễn Khuê cũng cho rằng: Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết phong tục "cũng chỉ nhằm đạt chủ đích luân lí"
Năm 1989, khi viết lời tựa cho cuốn tiểu thuyết Tiền bạc bạc tiền, GS
Nguyễn Huệ Chi đánh giá cao những giá trị mà tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đạt được nhất là ở phương diện phản ánh hiện thực đời sống xã hội
Nhận xét về tác phẩm tiểu thuyết bằng thơ của Hồ Biểu Chánh là U tình lục, Bùi Đức Tịnh trong công trình nghiên cứu Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và Thơ mới (1865 – 1932) đã khẳng định: “Mục đích chính của tác giả
Trang 4là tiếp nối truyền thống luân lý của các truyện cổ điển: đề cao hiếu nghĩa và chứng minh định luật làm lành gặp lành, làm dữ gặp dữ
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thắng trong công trình nghiên cứu Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (2007) cũng đã cho rằng: “Hồ Biểu Chánh là một nhà văn sung sức nhất ở Nam Bộ hồi đấu thế kỷ XX với một văn phong đậm màu sắc “Miệt vườn Lục tỉnh Nam Kỳ” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu này cũng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu một số tác phẩm mà chưa đi sâu làm rõ sắc thái “miệt vườn Lục tỉnh” trong sáng tác của nhà văn Hồ Biểu Chánh
Khi nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh, nhà nhiên cứu Nguyễn Phong Nam đã cho rằng: “Hồ Biểu Chánh cũng là nhà văn thể hiện rất thành công cái diện mạo văn hóa Nam bộ xưa trong tác phẩm của mình Hồ Biểu Chánh đã rất thành công ở thể loại tiểu thuyết phong tục – điều không nhiều nhà văn đương thời làm được Đây cũng là nét độc đáo của văn chương Hồ Biểu Chánh”
Ngày 17 và 18 tháng 11 năm 1988, tại Tiền Giang, Hội thảo khoa học về cuộc đời và văn nghiệp của Hồ Biểu Chánh đã được tổ chức Trong hội thảo này,
30 bản tham luận của các nhà nghiên cứu đã đề cập nhiều đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Biểu Chánh; đặc biệt là đã chỉ ra nhiều giá trị mới về nội dung tư tưởng cũng như những đặc sắc nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn, nhất là trong lĩnh vực tiểu thuyết
Năm 2005, website http://www.hobieuchanh.com được thành lập bởi nhóm tác giả Trang Quang Sen, Phan Tấn Tài, Huỳnh Thị Lan Phương Trang website này đã đăng tải hầu như toàn bộ những sáng tác của Hồ Biểu Chánh và hơn 70 bài viết có giá trị liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn từ trước tới nay
Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh đã được công bố từ trước tới nay, có thể thấy, các nhà nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu về Hồ Biểu Chánh theo phương pháp tiếp cận văn học sử nhằm làm sáng rõ vị trí văn học sử của Hồ Biểu Chánh trong nền văn học dân tộc và khẳng định vai trò mở đường của Hồ Biểu Chánh đối với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Vấn đề về văn hóa Nam Bộ trong tiểu
Trang 5thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng đã được nghiên cứu nhưng còn rải rác, chưa được hệ thống Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những người đi trước, trong luận văn Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chúng tôi sẽ tập trung đi sâu làm
rõ và khái quát một cách có hệ thống hơn những dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết của nhà văn này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tiểu luận là dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh Cụ thể là chân dung cuộc sống Nam Bộ qua cảnh quê, qua hình tượng người nông dân, qua những phong tục tập quán trong đời sống của người dân Nam Bộ Ngoài ra, tiểu luận còn tập trung làm rõ nghệ thuật tiểu thuyết – một đóng góp quan trọng về phương diện văn hóa của Hồ Biểu Chánh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu khoanh vùng ở hầu hết trong tất cả các sáng tác của Hồ Biểu Chánh Tuy nhiên, đa số tôi tập trung nghiên cứu một số tiểu thuyết mà trong
đó nhà văn đã làm nổi bật những vấn đề về văn hóa Nam Bộ: Cay đắng mùi đời, Chúa tàu Kim Quy, Ai làm được, Tiền bạc bạc tiền, Tân phong nữ sĩ, Cha con nghĩa nặng
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã vận dụng kết hợp một số phương pháp: phương pháp chọn mẫu, phương pháp hệ thống – cấu trúc, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận văn học dưới góc độ văn hóa học, dân tộc học
Trang 6NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA NAM BỘ
1.1 Một số vấn đề về văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn với nhiều cách định nghĩa khác nhau Theo số liệu chưa thống kê đầy đủ, hiện nay có khoảng 500 định nghĩa về thuật ngữ này Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể tìm ra những định nghĩa chứa những hạt nhân hợp lý, phù hợp với mục đích nghiên cứu của mình Trong số các cách hiểu về khái niệm văn hóa, cách hiểu phổ biến và gặp nhiều nhất là quan niệm coi văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động Vào năm 1982, tại Hội nghị thế giới về các chính sách văn hóa
đã thông qua tuyên bố: "Theo nghĩa rộng, ngày nay văn hóa có thể được coi là toàn bộ các đặc tính đặc biệt về tâm hồn, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội Nó không chỉ bao gồm nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống, tín ngưỡng" Như vậy, theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ hoạt động tinh thần – sáng tạo, tác động vào tự nhiên, xã hội và con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần ngày càng cao hơn để vươn tới sự phát triển theo khát vọng chân, thiện, mỹ và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, phát triển không ngừng của đời sống xã hội Đó cũng chính là quan điểm của các nhà văn hóa lớn Việt Nam như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu…
Theo cách hiểu hẹp hơn, được sử dụng thông thường và khá phổ biến, khi tách giáo dục, khoa học ra thành các lĩnh vực, các ngành có đặc trưng riêng, văn hóa còn được coi chủ yếu là các loại hình hoạt động cụ thể của ngành văn hóa như bảo tồn, bảo tàng, thư viện, xuất bản, lễ hội, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… "và các loại hình sáng tạo văn học, nghệ thuật – một lĩnh vực được coi là nhạy cảm nhất, mang tính sáng tạo đậm đặc và là bước phát triển cao của văn hóa" Khi quan tâm vấn đề văn hóa nằm trong mối quan hệ với văn học nghệ thuật và những vấn đề về đạo đức, lịch sử, địa lý của dân tộc ta, có hai cách tiếp cận về văn hóa, vừa có ý nghĩa lý luận vừa có tính thực tiễn lâu dài Thứ nhất, "văn hóa là kết tinh những cố gắng nhiều mặt và liên tục của con người trong trường kỳ lịch sử để
Trang 7khẳng định bản chất và năng lực của mình, để nâng cao chất lượng sống và trình độ sống" Thứ hai, "văn hóa là một lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người trong xã hội bên cạnh các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế" Với ý nghĩa này, văn hóa lại chia thành các ngành, các bộ phận như giáo dục, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật, tư tưởng, Trong số đó, văn học nghệ thuật là bộ phận quan trọng nhất của văn hóa Nó có vai trò lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của dân tộc Chính các sáng tác văn học đã thể hiện được điều đó và chính các nhà văn, nhà thơ là người giúp cho người đọc thấy được điều này qua cảm quan nghệ sĩ của mình
1.1.2 Đặc điểm về văn hóa Nam Bộ
1.1.2.1 Nền tảng văn hóa Nam Bộ
Nền tảng địa - văn hóa của một vùng là khái niệm liên quan trực tiếp đến những vấn đề về văn hóa và địa lý “Theo nghĩa hẹp, địa - văn hóa là sự nhìn nhận văn hóa trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố địa lý, nghĩa là căn cứ trực tiếp vào ý nghĩa của chính cụm từ này Theo nghĩa rộng, đó là cách xem xét văn hóa như là một sản phẩm do ý thức chủ quan của con người sáng tạo ra nhưng đồng thời, đó cũng vừa là những kết quả của 2 nhân tố khách quan do các quy luật của tự nhiên tương tác vào”
Nam Bộ vốn bao gồm hai vùng đất có nét riêng rõ rệt Đông Nam bộ là vùng đồi núi thấp với những thềm phù sa cổ Nơi đây được nhìn nhận như diềm phía nam của đai khối cao Tây Nguyên, từ đó các dòng Đa Nhim, Đa Dung hợp lưu lại thành sông lớn Đồng Nai, tiếp nước của La Ngà rồi vượt qua Trị An tới gặp Sông Bé, sông Sài Gòn để đổ ra cửa Lòng Tàu Và Tây Nam bộ tức đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất tiếp nối địa hình bán sơn địa ấy với một đồng bằng châu thổ phẳng và thấp Đây là sản phẩm bồi tụ của sông Mê Kông, con sông dài nhất, nhiều nước và nhiều phù sa nhất Đông Nam Á trên một khuôn vịnh nông kéo dài từ bồn địa Tông-lê-sáp của Campuchia tới khu vực đồng bằng Sông Tiền
và sông Hậu Những cứ liệu về mặt địa lý trên giúp chúng ta xác định vấn đề cụ thể về địa - văn hóa Nam Bộ ở đây chính là nói về khu vực Tây Nam bộ (chúng tôi gọi tắt là Nam Bộ) Khi nghiên cứu về nền tảng địa - văn hóa Nam Bộ, việc đặt trong mối tương quan với các đặc điểm về sinh thái và xã hội của vùng văn hóa này là điều kiện cần thiết Lịch sử Nam tiến nói riêng và lịch sử Nam Bộ nói chung là lịch sử của vùng đất mới với độ dài thời
Trang 8gian hơn ba thế kỷ hình thành và phát triển Đặc tính “mới” là nét bao trùm lên cả hai phương diện địa lý và lịch sử của vùng đồng bằng sông Cửu Long So với cả nước, đây là khu vực có lịch sử khai phá trẻ nhất Vì vậy văn hóa vùng miền của khu vực này cũng chính là văn hóa của vùng đất mới với những nét tiếp thu và bảo tồn truyền thống dân tộc và những nét đặc sắc riêng biệt phù hợp với những điều kiện tự nhiên và xã hội trên địa bàn Quá trình Nam tiến được phản ánh rất rõ trong văn học từ những sáng tác dân gian cho đến văn chương bác học Trong kho tàng văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long, ca dao, thành ngữ, truyền thuyết, giai thoại về đất và người trong quá trình khai phá mở đất chiếm số lượng khá lớn và được xem là đặc sắc, hấp dẫn nhất Đa số truyện kể, truyền thuyết dân gian Nam Bộ đều thể hiện những đặc tính mới của vùng miền trên nhiều biểu hiện khác nhau của văn hóa Văn chương bác học cũng đã có không ít những tác phẩm tập trung khai thác mảng đề tài này một cách thành công Qua đây càng chứng tỏ được đặc trưng của các sáng tác văn học trong việc tái hiện cuộc sống và vai trò của nó trong việc lưu giữ và truyền tải những giá trị văn hóa dân tộc Xem xét nguồn gốc của những người đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ đã chứng tỏ cho chúng ta thấy nền văn hóa của khu vực này một mặt phát sinh từ những điều kiện địa lý nhân văn mới, mặt khác lại liên quan mật thiết đến các yếu tố gốc gác, cội nguồn xuất thân
Có thể tìm thấy vô số biến thể ca dao, dân ca từ miền Bắc được cải sửa trong kho tàng văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long Ngày nay, khu vực này bao gồm mười hai tỉnh
và một thành phố Đồng bằng sông Cửu Long có đặc điểm địa hình là một châu thổ thấp, bằng phẳng, là sản phẩm bồi tụ của sông Mê Kông, và là nơi có cửa sông giáp biển nên việc bồi tụ này vẫn diễn ra hàng năm Đây là nơi sở hữu một hệ thống kinh rạch chằng chịt với hơn “2500 km sông rạch tự nhiên và 2500 km sông rạch đào” Vì thế đặc điểm nổi bật của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long là văn hóa sông nước, kênh rạch Điều này được thể hiện qua nền nông nghiệp lúa nước, tập quán khai thác đánh bắt thủy sản, việc giao thông đi lại đến các lễ hội về nước và đặc biệt là ngôn ngữ giao tiếp có liên quan đến sông nước
Là một vùng văn hóa có tuổi đời trẻ nhất cả nước, văn hóa đồng bằng sông Cửu Long dù đã được hình thành trong một thời gian dài nhưng vẫn đang ngày được định hình rõ nét
Trang 9hơn Nó góp phần tô thắm bức tranh văn hóa đa sắc của đất nước ta nhưng vẫn giữ được những nét đặc sắc cho riêng mình
1.1.2.2 Một số nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ
Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh chia đất nước ta thành 7 vùng văn hóa, trong đó văn hóa Nam Bộ là vùng thứ bảy và có những đặc điểm của một vùng đất mới Việc phân vùng văn hóa được xác định trên cơ sở mối quan hệ giữa văn hóa lịch sử và địa lý của một vùng và gọi tắt là vùng văn hóa “Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ, có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã trải qua các mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại mật thiết, nên từ lâu đã hình thành những sắc thái văn hóa chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, có thể phân biệt với những vùng văn hóa khác”
Văn hóa vùng hay văn hóa vùng lãnh thổ được xác định có tính chất liên văn hóa Nó cũng chính là văn hóa địa phương, vốn là một thực thể văn hóa, hình thành và tồn tại trong một không gian lãnh thổ nhất định, thể hiện qua một tập hợp các đặc trưng văn hóa về cách thức hoạt động sản xuất; về ăn, mặc, ở, đi lại, vận chuyển; về cách tổ chức xã hội cổ truyền
và giao tiếp cộng đồng; về vui chơi giải trí; về các sắc thái tâm lý của cư dân,… từ đó có thể phân biệt với các đặc trưng văn hóa của vùng khác Những đặc trưng văn hóa đó hình thành và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài, do cư dân các dân tộc trong vùng thích ứng với một điều kiện môi trường, có sự tương đồng về trình độ phát triển xã hội, đặc biệt là giữa họ
có mối quan hệ giao lưu văn hóa mật thiết Trong mỗi vùng như vậy lại có những tiểu vùng
có những đặc trưng riêng lẻ “Vùng văn hóa Nam Bộ, xét trên cả phương diện địa lý và lịch sử, đều là vùng thứ bảy và nó có ba tiểu vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ và tiểu vùng Sài Gòn - Gia Định”
Những đặc trưng của vùng văn hóa Nam Bộ được xác định trên các phương diện cơ bản: Nam Bộ là một vùng đất mới; vùng đất giao hòa chủng tộc và văn hóa; là vùng văn hóa với nhiều sắc thái đặc trưng Sở dĩ gọi Nam Bộ là vùng đất mới bởi những lý do liên quan trực tiếp đến những vấn đề về lịch sử của vùng miền Với tính chất “mới” như vậy, Nam Bộ vừa là nơi lạ lẫm, xa vời, lại vừa thu hút, vẫy gọi con người đến đây Tuy vậy, đây không phải là
Trang 10mảnh đất vô chủ vì tính chất “mới’ ở đây có nghĩa đối với những người Khmer, Việt, Chăm,… hiện cùng đang sinh sống, tiếp tục khai thác vùng đất này Đất mới với những con người cũng mới, trên vai họ không còn nặng trĩu những lề thói, cổ tục của hàng ngàn năm nên con người nơi đây cũng năng động, mạnh bạo và cởi mở hơn Người Việt, người Chăm, người Hoa và sau đó là những người tứ xứ khác đặt chân đến vùng đất Nam Bộ sớm nhất cũng chỉ từ thế kỷ thứ XVI lại đây, còn người Khmer thì có thể sớm hơn, khoảng thế kỷ XIII
Những yếu tố văn hóa từ ngoài du nhập vào đồng bằng sông Cửu Long rất rõ nét: văn hóa Ấn Độ qua người Khmer, văn hóa Trung Quốc qua người Hoa, văn hóa Hồi giáo qua người Chăm Sự hỗn hợp dân cư thuộc nhiều nguồn gốc địa phương, nhiều tôn giáo tín ngưỡng khác biệt, nhiều trình độ phát triển về mặt xã hội cũng là điều hiển nhiên Song tất cả sự đa dạng, khác biệt đó đều được liên kết lại trong một nền văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng trên vùng đất mới Cùng với sự đa dạng về tộc người và được đánh giá như hệ quả tất yếu của quá trình giao thoa và hỗn dung về văn hóa, Nam Bộ nói chung và miền Tây Nam bộ nói riêng là một khu vực hết sức đặc biệt về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán Ở vùng này có đầy đủ 6 tôn giáo lớn là Phật giáo, Thiên chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo và là khu vực đứng đầu trong cả nước về tín đồ tôn giáo Ngoài các tôn giáo kể trên cư dân trong vùng còn theo một số tín ngưỡng khác như Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tịnh Độ Cư Sĩ,… Nam Bộ nói chung và đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng có một diện mạo văn hóa hết sức đa dạng Và vượt lên trên tất cả, từ rất sớm các cộng đồng dân cư Nam Bộ đã có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, không phân biệt người đến trước, người đến sau, không kỳ thị dân tộc Truyền thống quý báu này được hình thành và phát triển trong nhiều thế kỷ chung lưng đấu cật cùng nhau khai phá, phát triển vùng đất Nam Bộ trước đây và trong quá trình đấu tranh chống áp bức của phong kiến và thực dân sau này
Nam Bộ là một khu vực bao gồm nhiều dân tộc, cư dân trong vùng theo nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng các cộng đồng ở đây không tồn tại biệt lập theo nhiều không gian văn hóa tộc người riêng rẽ mà sống xen kẽ nhau trong một đơn vị hành chính Chính điều kiện cộng cư này làm cho các dân tộc có điều kiện tiếp xúc với nhau nhiều hơn Trong
Trang 11quá trình đó các dân tộc vừa giao lưu vừa tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhau để làm giàu thêm bản sắc văn hóa vốn có của mình Nam Bộ là vùng đất với những sắc thái văn hóa đặc trưng dựa trên những nét cơ bản:
Thứ nhất, người dân Nam Bộ cơ bản vẫn là những người nông dân, những người làm ruộng vườn, những việc lao động đồng áng Như vậy, văn hóa truyền thống của vùng đất này vẫn là văn hóa, văn minh nông nghiệp Tuy vậy, nông nghiệp và người dân Nam Bộ vẫn có những sắc thái riêng biệt Đó là kiểu canh tác giữa ruộng và vườn được kết hợp chặt chẽ Ở Nam Bộ, hệ thống kênh rạch chằng chịt vừa tự nhiên vừa nhân tạo không những đóng vai trò tưới tiêu mà còn là huyết mạch giao thông đi lại Chính đặc trưng này đã chi phối toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân Nam bộ Mặc dù vậy, nông thôn Nam Bộ không gắn chặt trong mối quan hệ kiểu tự cấp tự túc như Bắc bộ trước đây mà phần nhiều cũng gắn với nền kinh tế thị trường của các khu vực lân cận như Sài Gòn và các
đô thị khác trong vùng
Thứ hai, mô hình tụ cư của cư dân Nam Bộ vẫn theo phương thức chung của cư dân nông nghiệp nước ta, tuy nhiên, do môi trường và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng nên cách tổ chức dân cư và xã hội nông thôn ở đây cũng có những sắc thái riêng Kiểu tụ cư phân tán theo kênh rạch, theo địa hình canh tác được người dân Nam Bộ ưa thích nhất vẫn là “tiền viên hậu điền”, nhiều khuôn viên tụ lại thành ấp, xóm với phương tiện đi lại phổ biến vẫn là những chiếc ghe xuồng quen thuộc Vốn là nơi đất mới, dân cư tứ xứ đến khai phá vì vậy không có sự ràng buộc chặt chẽ giữa con người với địa bàn mới, nếu thích hợp sinh sống họ sẽ ở lại, bằng không họ lại ra đi tìm nơi phù hợp hơn Chính vì lẽ đó quan hệ cộng đồng làng xã ở đây cũng không gắn bó quá chặt chẽ
Thứ ba, những sắc thái riêng trong nếp sinh hoạt ăn, mặc, ở, đi lại của người dân Nam Bộ: Nếp sống và cách ăn uống thường không đi vào cầu kỳ, tỉ mỉ, thưởng thức cái tinh tế của lối sống, cách ăn mà thiên về sự dư dật, phong phú Nếu người Hà Nội, người Huế thích
ăn uống trong khung cảnh gia đình, thì ở một chừng mực nào đó, nhất là trong quan hệ bạn
bè, người Nam Bộ lại ưa ăn uống nơi hàng quán Về nơi ở, cư dân trong vùng thường chọn nhà kiểu ba gian hai chái, làm bằng tre nứa, lợp bằng lá dừa, phân vách, khá đơn giản nhằm tiện di chuyển khi cần thiết Nét đặc sắc trong trang phục của người Nam Bộ rất dễ nhận
Trang 12thấy, đó chính là bộ bà ba đen và tấm khăn rằn, hình ảnh đặc trưng của nông dân Nam Bộ qua nhiều thăng trầm của thời gian đến nay vẫn còn được duy trì, phát huy và đã có những cách tân đáng kể Môi trường sinh thái ở đây là sông nước vì vậy kênh rạch, sông ngòi cũng chính là đường giao thông, là đầu mối giao lưu và thuyền bè chính là phương tiện đi lại, chuyên chở chính yếu, bởi thế từ lâu dân gian Nam Bộ đã có câu “sắm xuồng để làm chân” Ngoài ra, nói tới sắc thái văn hóa Nam Bộ, chúng ta không thể không nói tới ngôn ngữ - tiếng Nam Bộ Đó chính là phương ngữ Việt, được hình thành trong quá trình người Việt đến khai thác đồng bằng Nam Bộ Nó thu hút vào mình ngôn ngữ của những con người từ muôn nơi lưu lạc đến, nhưng đồng thời cũng sản sinh và phản ánh thế giới tự nhiên và con người nơi vùng đất mới với bao màu sắc mới mẻ và đa dạng Người Nam Bộ cũng để lại sắc thái rất riêng biệt trong cách diễn xướng dân gian theo kiểu nói như nói vè, nói thơ, nói tuồng,… Họ còn được biết đến là những con người yêu thích âm nhạc và ca hát Âm nhạc Nam Bộ thể hiện rõ trong dân ca Nam Bộ với các làn điệu lý, hát ru, hò,…và đặc biệt là sân khấu cải lương, hát bội, đờn ca tài tử
Nói tới sắc thái văn hóa Nam Bộ người ta thường không quên nhắc tới một đặc điểm đó
là tính cách Nam Bộ Tính cách là một khía cạnh văn hóa ứng xử và để lại dấu ấn rõ rệt trong mọi mặt đời sống văn hóa Tính cách Nam Bộ đã từng được người xưa lưu ý tới, Trịnh Hoài Đức cho rằng người Nam Bộ là người “trọng nghĩa khinh tài”, Lê Quý Đôn thì xem dân Nam Bộ là dân “dám làm ăn lớn”,… Những người đầu tiên đặt chân đến vùng đất này có gốc gác từ dân tội đồ, lưu tán, dám bỏ quê hương tới khai thác vùng đất mới với bao thách thức và hiểm nghèo, đã tôi luyện cho họ “tính mạo hiểm”, một cuộc đời phiêu bạt nay đây mai đó, nhưng mặt khác trong tâm thức họ vẫn có nỗi khát khao hướng về nguồn cội, giữ gìn đạo đức cổ truyền Vì vậy, ở những nơi họ đặt chân đến đã mọc lên các đền miếu thờ vọng về cố hương Tính cách con người và văn hóa vùng đất Nam Bộ được hình thành trong sự tác động qua lại giữa thiên nhiên, xã hội, con người trên nền tảng tính cách dân tộc Việt Nam Trong nền nông nghiệp cổ truyền Việt Nam, phong cách của nông dân Nam Bộ làm ăn, kinh doanh khai thác trên các vùng đất mặn, đất phèn, đất giồng, đất phù sa đều có những điểm khác nhau Trong ngôn ngữ Việt Nam, phương ngữ Nam Bộ có nét đặc thù Cư dân vùng này yêu nước, đoàn kết, kiên cường nhân hậu, giàu lòng nhân ái
Trang 131.2 Ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Hồ Biểu Chánh
Dù nói về quá khứ hay hiện tại, viết về con người hay cảnh sắc thiên nhiên, về nông thôn hay đô thị, Hồ Biểu Chánh cũng chú ý đi sâu vào tâm hồn tính cách con người Việt Nam, quê hương Việt Nam và điểm chú ý của ông chính là vùng đất và con người Nam Bộ nơi ông sinh ra và lớn lên Sự nghiệp của Hồ Biểu Chánh mở ra một hướng đi lớn đầy hứa hẹn trong sự vận động và phát triển của văn học hiện đại Việt Nam ở khu vực phía Nam Ông là một nhà văn tiên phong của miền Nam và là một trong những tiểu thuyết gia đầu tiên ở Nam Bộ mở màn cho thể loại tiểu thuyết hiện đại Nội dung tiểu thuyết của ông, dù là tác phẩm nào, cũng đều xoay quanh vùng đồng bằng sông Cửu Long, đô thị Sài Gòn và đất Nam Bộ Sống ở đô thị hơn nửa cuộc đời, lại là người có vốn hiểu biết sâu rộng nhưng chất nông dân của miền đồng bằng sông nước vẫn in đậm trong tâm trí và cả những sáng tác của Hồ Biểu Chánh
Có thể nói ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh sống ở Nam Bộ đến Hồ Biểu Chánh được thể hiện khá rõ nét qua tìm hiểu sự nghiệp của nhà văn này Hồ Biểu Chánh xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, Hồ Biểu Chánh thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ Ông làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi Trong cuộc đời làm quan của mình quan của mình Hồ Biểu Chánh có điều kiện đi nhiều nơi, có điều kiện tiếp xúc với nhiều hạng người khác nhau trong xã hội: từ giới quan chức, trí thức, những kẻ giàu có phong lưu đến những hạng người bình dân khốn khổ Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, bản thân đã trải qua cảnh hàn vi, lại từng bôn ba chốn thị thành nên Hồ Biểu Chánh có dịp chứng kiến sự tấn công ồ ạt của lối sống tư sản vào xã hội Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX Vốn sống phong phú đã giúp ông thành công trong miêu tả hiện thực xã hội một cách chân thực, sinh động, đa dạng, cụ thể Đọc tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chúng ta như đang được trở về với những gì đã hiện hữu ở Nam bộ thời bấy giờ, để chứng kiến cuộc sống cực khổ của nhân dân ta, để ngậm ngùi đau xót trước những vết thương lở loét của xã hội Miền Nam thời thuộc địa
Trang 14Ngoài ra, vì quê ông là miền đất Tiền Giang nên ngay từ khi còn nhỏ, ông đã được tiếp xúc với cảnh sắc, con người nơi đây Nơi quê cha đất mẹ với những con người chân chất thật thà đã hun đúc nên một Hồ Biểu Chánh mang đậm dấu ấn Nam Bộ Từng trải qua quãng thời gian làm thầy thông ngôn, thầy kí, hơn ai hết, Hồ Biểu Chánh hiểu rõ cuộc sống, công việc của lớp viên chức này Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh khác hẳn những thầy thông ngôn đương thời Ông ghét thói hách dịch, kiêu căng, nịnh bợ Dưới ngòi bút của ông, chúng ta nhận ra tất cả tính chất nhố nhăng, rởm đời của hạng người này, tuy nhiên, cũng có những thầy thông ngôn tốt tính
CHƯƠNG 2: DẤU ẤN VĂN HÓA NAM BỘ THÔNG QUA CHÂN DUNG CUỘC SỐNG NAM BỘ
2.1 Cảnh quê Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
2.1.1 Thiên nhiên gần gũi, thơ mộng
Thiên nhiên Nam Bộ hiện ra trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh có địa chỉ định danh cụ thể Đó là quang cảnh miền Nam từ thành thị đến nông thôn, từ những giồng trảng ở các tỉnh miền Đông đến những kinh rạch ở các tỉnh miền Tây tất cả hiện ra dày đặc trên những trang sách của ông Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh chủ yếu đưa người đọc quay về vùng nông thôn sông nước để người đọc có thể quan sát, ngắm nhìn đồng ruộng, dòng sông, con đò, lũy tre… nơi thôn dã Được trời đất ưu ái ban tặng, cảnh sắc trời Nam cũng đẹp không thua kém gì mọi vùng miền khác Sự gần gũi, thơ mộng thể hiện rõ nét thông qua những ngôn từ giản dị, mộc mạc nhưng gợi hình, gợi sắc Hồ Biểu Chánh phần nhiều tập trung miêu tả cảnh núi non sông nước, kênh rạch – chắc có lẽ vì đặc trưng văn hóa, đời sống của người dân Nam Bộ đều dựa vào sông nước mà nên Cảnh sông nước bình thường đã đẹp, trong những ngày đặc biệt như ngày rằm, trăng tròn vành vạnh tỏa bóng xuống vùng nước
khiến cảnh sắc càng huyền ảo, lung linh: "Ðêm rằm tháng giêng, bóng trăng tỏ chói trời Nam vằng vặc, dòng nước xanh tràn sông Trước minh mông Từ vàm Kỳ Hôn xuồng tới mỏm Tam Lạch, trời trời nước nước ê hề trăng giọi, gió đùa, mặt nước lao xao mà lại rạng ngời coi như thể vàng trôi bạc chảy Cách một khoảng xa xa mới có một chiếc thuyền buồm
Trang 15trương, chèo xếp, thả giữa dòng để cho nước xuôi gió thuận đưa đi Hai bên sông cây cỏ im lìm, một giây lâu mới nghe tiếng trống trở canh văng vẳng." (Cay đắng mùi đời)
Cảnh sắc cũng phần nào thể hiện nỗi niềm, tâm tình của nhân vật Khi nhân vật vui, cảnh sắc cũng tươi vui theo, nhưng khi trong lòng nhân vật chất chứa sầu thảm, cảnh sắc
cũng vì thế mà nhạt nhòa Anh Sửu (Cha con nghĩa nặng) sau khi lỡ tay đẩy vợ té chết, anh
đã bỏ trốn ra bờ sông "Gió thổi lao rao, đưa sóng đánh vào mé đất lạch xạch, nhánh bần lúc lắc, lá xuôi một phía khua tiếng lào xào" hệt như tâm trạng rối bời của anh vậy Dường như,
nó đã mất đi vẻ bình yên vốn có mà đang có sự biến động, thay đổi theo suy nghĩ của anh Không chỉ thế, cảnh quan thiên nhiên còn trở thành một liều thuốc chữa trị cho tâm hồn anh
Sửu Ngồi thêm một ngày và gần nửa đêm, "trăng chói nước lòa lòa, nước in trăng dợn dợn Trần Văn Sửu ngó trăng ngó nước rồi bát ngát trong lòng" Cũng vì thế mà anh Sửu cảm
thấy tỉnh táo hơn, suy tính kĩ lưỡng hơn và như được tiếp thêm dũng cảm, anh lên kế hoạch
cho sự đào thoát của mình đặng "cho thiên hạ quên hết chuyện của mình, rồi lần lần lập thế
về thăm con, đặng cắt nghĩa việc mình làm cho con hiểu, kẻo chúng nó tưởng mình hung dữ, không có chuyện gì mà giết chết mẹ chúng nó"
Quang cảnh thiên nhiên trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh tuy xuất hiện không nhiều nhưng nó phần nào giúp người đọc hình dung, lí giải nét văn hóa truyền thống sông nước của người dân Nam Bộ Chỉ bằng vài dòng văn miêu ta không hề bóng bẩy, cầu kỳ, vẻ đẹp của cảnh quan nơi đây hiện lên mộc mạc, chân chất, hệt như con người của vùng đất Nam Bộ
2.1.2 Đời sống của người dân Nam Bộ
Với đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc và thông qua câu chuyện của các nhân vật, đời sống của người dân Nam Bộ dần hiện lên trước mắt người đọc Cảnh sống lam lũ, cực nhọc của người dân nghèo Từ cách ăn mặc của người nông dân "một cái áo đen nhùn nhục, một cái quần vắn lại đứt tả tơi, đầu bịt trùm một cái khăn rằn", cho đến căn nhà lá trống hoác, không
có gì "Nhà lá ba căn xịch xạc, phía ngoài mà chính giữa có dọn một bàn thờ, trước bàn thờ
có lót một bộ ván dầu, lại có một cái ghế nghi bên tay mặt thấy có một cái cối xay lúa, còn dựa vách thì dựng nào là giằng xay nào là chuôi cày, nào là cần câu, nào là cuốc, phảng
Trang 16bên tay trái thấy có một cái chõng tre nhỏ, còn trên vách thì móc nào là thúng rổ, nào là giỏ, nào là vòng hái", bữa cơm cũng chỉ là "một chén cơm, chan ít muỗng nước cá vô" (Cha con nghĩa nặng) ta đã phần nào cảm nhận được sự nghèo đói, cơ cực của người dân nghèo Đặc
biệt là cách thức miêu tả cuộc sống, sinh hoạt của họ Anh Sửu sau khi cày cuốc về phải tắm cho đàn con, thổi lửa nấu cơm, trông con Chỉ thế thôi đã hết cả một ngày Sau những mùa vụ, gặt xong đồng mình, anh còn kiếm thêm bằng cách đi gặt thuê cho người ta nhưng công xá nhận được cũng chả là bao Không chỉ tập trung vào lớp dân nghèo, Hồ Biểu Chánh còn dùng khéo léo dùng ngòi bút của mình để đề cập đến cuộc sống của những tầng lớp thống trị, những kẻ tham lam, độc ác, luôn tìm mọi cách để ức hiếp, bóc lột dân nghèo Đó là những con người tiêu xài xa hoa, trên người lúc nào cũng lụa là gấm vóc, có kẻ hầu người hạ nhưng lại có mất đạo đức, bán rẻ lương tâm Không thiếu những cảnh vụng trộm giữa ông địa chủ với vợ nhà người ta, cha mẹ vì sang giàu mà ép gả con cái, bán con vì đồng tiền
(Tiền bạc bạc tiền, Cha con nghĩa nặng, Ai làm được, ) Dường như, sự suy đồi đạo đức,
bại hoại gia phong ngay trong chính lối sống của những kẻ ấy đã khiến Hồ Biểu Chánh phải lên tiếng Hồ Biểu Chánh đã không ngần ngại đưa những con người ấy vào trang viết của mình
Tóm lại, đề tài chính trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh chính là xã hội, cuộc sống và con người Nam Bộ từ thành thị đến nông thôn Ông chủ yếu tập trung vào hai chủ đề lớn là đạo đức truyền thống và mối quan hệ gia đình Cảm hứng xuyên suốt trong sáng tác của ông
là thiên về đạo lý và bảo vệ đạo lý Hồ Biểu Chánh chủ trương duy trì, bồi đắp và phát huy những mặt tích cực trong nền luân lý đạo đức cổ truyền của dân tộc đồng thời cũng tiếp nhận những mặt tiến bộ của lối sống tự do, song song đó, ông lên án, phê phán những thói
hư tật xấu, suy đồi về đạo đức, văn hóa trong xã hội đương thời
2.2 Tính cách của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
2.2.1 Nét cần cù, chất phác
Cần cù, chất phác là một trong những nét tiêu biểu trong tính cách người Việt Nam nói chung cũng như con người Nam Bộ nói riêng Ta dễ dàng nhận thấy, các nhân vật trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh – dù là ngành nghề nào, họ cũng đều mang trong mình phẩm chất