THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 1.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA NHẬT BẢN Nhật Bản là quốc gia nằm trong khu vực Đông Á, Nhật Bản là một quầ
Trang 1NHÓM 5 THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG CỦA NHẬT BẢN VÀ HÀN QUỐC VÀ
BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
1 THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
1.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA NHẬT BẢN
Nhật Bản là quốc gia nằm trong khu vực Đông Á, Nhật Bản là một quần đảo của 6.852 hòn đảo, dù một phần lớn diện tích đất của nó chủ yếu ở 4 hòn đảo lớn nhất Mặc dù là một quốc gia tương đối nhỏ, thủ phủ của Nhật Bản, Tokyo, là nơi
có 36 triệu công dân làm việc chăm chỉ, làm cho nó trở thành khu vực đô thị lớn nhất trên toàn cầu Ngoài ra, mặc dù Nhật Bản đông dân cư, người Nhật vẫn là nơi
có các tiêu chuẩn cao nhất của cuộc sống, trong khi tuổi thọ cũng cao nhất thế giới Nhật Bản cũng là một trong những nước tiên tiến và công nghệ thân thiện nhất trên thế giới Ngoài ra, Nhật Bản có nghĩa là mặt trời, và rằng Nhật Bản thường được gọi là "vùng đất của mặt trời mọc"
Nhật Bản: Sự kiện, con số, và đặc điểm
- Hàng xóm: Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc
- Dân số: 126.659.683
- Thủ đô: Tokyo (dân số 13.189.000)
- Đứng đầu Nhà nước: Hoàng đế Akihito
- Đứng đầu Chính phủ: Thủ tướng Yoshihiko Noda
- Tiền tệ: Yên Nhật (JPY)
- Nhập khẩu chính: dầu mỏ, khí thiên nhiên lỏng, quần áo, chất bán dẫn, than,
âm thanh và thiết bị nghe nhìn
- Xuất khẩu chính: Xe ô tô, chất bán dẫn, sản phẩm sắt thép, phụ tùng ô tô, Suzuki Ichiro, Sony PlayStation, kiếm Samurai
Trang 2- Nhập khẩu Đối tác: Trung Quốc 21,3%, Mỹ 8,8%, Úc 6,4%, Saudi Arabia 6,2%, UAE 5%, Hàn Quốc 4,6%, Qatar 4%
- Xuất khẩu Đối tác: Trung Quốc 18,1%, Mỹ 17,8%, Hàn Quốc 7,7%, Thái Lan 5,5%, Hồng Kông 5,1%
Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973) làm thế giới phải kinh ngạc Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản" Từ 1974 đến nay tốc
độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc) Trước đây Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế nhưng đã bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2010 Tổng sản phẩm nội địa tính đến năm 2016 là 4.730.300 tỷ Yên, GDP trên đầu người là 40,090 USD (2017), đứng thứ 3 thế giới và đứng thứ hai châu Á (sau Trung Quốc) Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới
1.2 HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TIỀN LƯƠNG Ở NHẬT BẢN
Ở Nhật Bản, mức tiền lương được sắp xếp khác nhau phụ thuộc vào mỗi một loại hợp đồng lao động được ký kết Điều đó để nói lên rằng, có sự khác biệt lớn giữa những người làm công cả ngày và những người làm công nửa ngày
Tiền lương của những người làm công cả ngày gồm 4 phần: lương cơ bản; tiền thưởng, tiền trợ cấp cho thôi việc (tiền lương hưu) và các khoản trợ cấp khác Lương cơ bản bao gồm: lương theo độ tuổi, được tính toán dựa theo tuổi tác, nền tảng giáo dục đào tạo và số năm làm việc liên tục; lương theo công việc, được tính dựa vào hoạt động của công việc; lương theo khả năng, được tính dựa vào khả năng hoàn thành công việc Lương cơ bản theo thống kê sẽ được tăng hàng năm và
do đó mức lương cũng sẽ được tăng lên Tiền lương tăng được bao nhiêu phụ thuộc vào hợp đồng lao động của với liên đoàn lao động
Trong các công ty không có liên đoàn lao động, người làm công sẽ quyết định
tỉ lệ mức tăng lương dựa trên cơ sở mức lương trung bình trong khu vực Tiền
Trang 3lương thông thường được tăng ở mức trung bình theo các hợp đồng tập thể (năm
2003, mức tăng lương trung bình là 1,54%) Vì thế, mỗi một người làm công không biết mức lương của anh ta được tăng bao nhiêu Mức tăng tiền lương được qui định dựa trên sự đánh giá của phòng nhân sự và tỉ lệ tăng lương dựa vào năng lực của người làm công Do sự đánh giá khác nhau, cho nên mức tăng lương cũng khác nhau Nếu một người nào đó nhận được sự đánh giá tốt của phòng nhân sự, tiền lương của anh ta sẽ được tăng lên rất nhiều và ai đó nhận được sự đánh giá kém mức lương của anh ta sẽ nhận được rất ít Đối với các nhân viên của chính phủ, sự đánh giá của phòng nhân sự được xem xét kỹ càng nhưng nó không được ứng dụng triệt để Trên thực tế, nếu những người làm công ở cùng một độ tuổi và
có cùng số năm làm việc liên tục như nhau, thì họ đều được hưởng tỉ lệ tăng tiền lương như nhau Các doanh nghiệp tư nhân cũng áp dụng việc đánh giá hiệu quả công việc như vậy, vì thế trong các doanh nghiệp tư nhân cũng có mức tăng tiền lương khác nhau Đây được xem như là một động lực để thúc đẩy tính cạnh tranh
và sự cố gắng làm việc
Trong các công ty có liên đoàn lao động, tiêu chuẩn đánh giá được quy định dựa trên cuộc đàm phán tập thể Tuy nhiên, ông chủ sẽ đưa ra sự phán quyết cuối cùng Trước đó, người làm công có thể sẽ tự đánh giá hiệu quả công việc của mình, dựa vào đó ông chủ tham khảo thêm và đưa ra kết quả cuối cùng Những người làm công có nhận xét xấu sẽ được thông báo cho biết những điểm yếu kém của mình cần phải sửa chữa Ông chủ cũng sẽ tiến hành một cuộc phỏng vấn với những người làm công để có được sự đánh giá đúng Hiện nay, việc hoàn thành công việc được coi như là một tiêu chuẩn để đánh giá Trong những công ty không có lien đoàn lao động, người làm công sẽ tiến hành việc đánh giá dựa trên một số những tiêu chí đã được đề cập ở trên Tuy nhiên cũng có một số công ty có sự đánh giá không công bằng Nếu như những công ty này không thay đổi cách đánh giá, thì những lao động giỏi sẽ bỏ đi nơi khác và đây chính là sự thiệt thòi cho công ty
1.3 THỰC TRẠNG LƯƠNG TỐI THIỂU Ở NHẬT BẢN
Sau khi chính phủ Nhật Bản ra quyết định tăng mức lương tối thiểu cho người lao động từ 789 lên thành 823 yên/h tức là tăng thêm 25 yên/giờ cho người lao động bắt đầu từ ngày 01/01/2017
Đây là Bảng mức Lương tối thiểu vùng của Nhật Bản áp dụng cho tất cả mọi người người lao động trên toàn lãnh thổ Nhật Bản trong đó có cả những người xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, tu nghiệp sinh và thực tập sinh Nhật Bản
Trang 4Thành phố
Mức lương 2016
Mức lương 2017
Có hiệu lực từ ngày
Fukushima 734 759 1/1/2017
Yamanashi 764 789 1/1/2017
Trang 5Thành phố
Mức lương 2016
Mức lương 2017
Có hiệu lực từ ngày
Hiroshima 798 823 1/1/2017 Yamaguchi 769 794 1/1/2017 Tokushima 735 760 1/1/2017
Trang 6Thành phố
Mức lương 2016
Mức lương 2017
Có hiệu lực từ ngày
Kagoshima 735 760 1/1/2017
Đây chỉ là mức lương áp dụng cho 8 giờ làm việc/ngày Từ thứ 2 đến thứ 6 theo quy định của chính phủ Nhật Bản
Luật lao động Nhật Bản đã nêu rõ về những quy tắc trả lương cho người lao động mà doanh nghiệp phải áp dụng
- Nguyên tắc trả bằng tiền mặt: Lao động sẽ nhân trực tiếp bằng tiền mặt, tiền
sử dụng là đồng Yên Nhật
- Nguyên tắc trả trực tiếp: Tiền lương sẽ phải trả trực tiếp cho người lao động, không thông qua bất kỳ bên thứ 3 nào
- Nguyên tắc trả toàn bộ: Tiền lương phải trả toàn bộ cho người lao động, doanh nghiệp không được phép chia nhỏ trả nhiều lần
- Nguyên tắc trả hàng tháng: Hàng tháng, tiền lương phải được trả từ 1 lần trở lên
- Nguyên tắc trả vào 1 ngày cố định: Tiền lương sẽ đượ doanh nghiệp quy định trả vào một ngày cố định trong tháng
Những khoản bị khấu trừ vào tiền lương Trong hợp đồng lao động cũng sẽ có mục quy định rõ các khoản khấu trừ vào tiền lương hàng tháng, chúng tôi xin liệt
kê lại những khoản dưới đây:
Trang 7- Thuế thu nhập, thuế cư trú, các loại bảo hiểm xã hội, bảo hiểm lao động.
- Tiền nhà ở và tiền điện, nước, ga, v.v
- Các khoản này đã được nêu rõ trong hợp đồng mà lao động ký kết với doanh nghiệp
1.4 ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG CỦA NHẬT BẢN
Ưu điểm:
- Nhà nước đã ban hành Nghị định quy định cụ thể về chính sách tiền lương trong khu vực công bằng hệ thống thang bảng lương để các tổ chức áp dụng thông qua đó Nhà đã quản lý và điều chỉnh phù hợp với từng loại hình đơn vị, cân đối được thu, chi ngân sách, bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hệ số lương và mức lương tối thiểu là cơ sở để đơn vị sử dụng lao động làm cơ sở đóng và thụ hưởng chế độ Bảo hiểm và các chế độ khác theo quy định
Nhược điểm:
Thứ nhất, khi tiền lương thấp, công chức sẽ không chỉ sống bằng lương mà chủ yếu từ thu nhập ngoài lương (vậy khi đó tiền lương không phải là thu nhập chính, không tính được thuế thu nhập chính xác) Các khoản thu nhập ngoài lương
có thể khác nhau giữa các cơ quan nhà nước và giữa các vị trí công chức, nhưng nhìn chung Nhà nước chưa quản lý được Điều này dẫn đến hiện tượng không công bằng trong chính sách tiền lương và thu nhập của công chức, đồng thời nảy sinh tâm lý sẵn sàng "chạy chọt" để vào được những cơ quan hay những vị trí có thể mang lại càng nhiều thu nhập ngoài lương càng tốt Nhược điểm này không những
là nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước mà còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tiêu cực, tham nhũng (cả về vật chất và thời gian), hối lộ, biến chất của một bộ phận công chức
Thứ hai, khi tiền lương không còn là thu nhập chính của công chức, thì sẽ mất dần tác dụng là động lực thúc đẩy công chức thực thi công vụ tốt, khiến không ít công chức làm việc chiếu lệ chỉ để giữ chỗ trong cơ quan nhà nướ , dành sức để làm ngoài hoặc lợi dụng vị trí mà mình đang đảm đương trong cơ quan nhà nước làm chỗ dựa để làm ngoài Trong nhiều trường hợp, công chức bỏ hẳn cơ quan nhà nước ra làm cho các tổ chức ngoài khu vực nhà nước với mức lương hấp dẫn hơn Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng "chảy máu chất xám"
Trang 8Thứ ba, cơ chế "bình quân chủ nghĩa", "đến hẹn lại lên" trong cách trả lương
và tăng lương cho công chức cũng là một điểm yếu trong chính sách tiền lương hiện nay Nhiều người có tuổi nhưng thiếu năng lực vẫn nghiễm nhiên được hưởng mức lương cao gấp hai, gấp ba những công chức trẻ có năng lực thật sự Không có
sự khác nhau rõ ràng trong cơ chế trả lương cho những công chức làm việc với chất lượng và hiệu quả khác nhau Dù làm nhiều hay ít, hiệu quả hay không, miễn
là không bị kỷ luật, công chức vẫn sẽ được trả lương theo ngạch, bậc hay bằng cấp
và thâm niên Thực tế đầy mâu thuẫn này vô hình chung làm triệt tiêu động lực phát triển của công chức
1.5 BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trong các thời kỳ phát triển đất nước, Việt Nam đã nhiều lần cải cách chính sách tiền lương để phù hợp với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của Công đoàn viên chức Việt Nam, mức lương cứng của cán bộ công chức viên chức hiện nay vẫn khá thấp, phần lớn là hưởng lương ở mức cán sự và chuyên viên, chiếm khoảng 73% (cán sự chiếm 32% và chuyên viên 41%), còn ở mức chuyên viên chính là 24% và chuyên viên cao cấp là 3% Mức lương tối thiểu của công chức tuy đã được nâng lên 1.150.000 đồng song vẫn là mức thấp Chính điều này đã tạo “đất sống” cho tham nhũng, tiêu cực ngày càng nhức nhối… Từ kinh nghiệm của những nước trong cải cách tiền lương cho công chức, bài viết khái quát một số gợi ý cho Việt Nam như sau:
Thứ nhất, dựa trên sự đổi mới trong đánh giá công chức để giải quyết những bất cập trong xây dựng và thực thi chính sách tạo chuyển biến về chất trong cải cách hành chính ở nước ta
Thứ hai, cần thực hiện việc trả lương theo hiệu quả công việc chứ không phải theo ngạch, bậc đơn thuần Tiền lương phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động Muốn vậy, tiền lương tối thiểu phải tương ứng chỉ số giá sinh hoạt từng thời kỳ và phải tính đến sự phù hợp với từng ngành, nghề cũng như đặc thù riêng của từng khu vực Đồng thời, phải có sự so sánh với mức lương tối thiểu trong khu vực doanh nghiệp
Thứ ba, cần thay đổi cơ bản kết cấu tiền lương công chức, trong đó bao gồm phần lương “cứng” theo thang, bậc lương quy định chung và bằng với mức lương tối thiểu mà từng người đang được hưởng; và phần lương “mềm” thưởng theo năng suất, hiệu quả công việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, được chi trả từ nguồn kinh phí tăng lương do Chính phủ phân bổ cho mỗi đơn vị
Trang 9Thứ tư, cải cách tiền lương cần làm rõ mối quan hệ giữa chính sách tiền lương với các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục và phần tiền nhà ở, điện, nước, phương tiện đi lại, trang bị đồ dùng cho chuyên gia cao cấp và cán bộ lãnh đạo trong cơ cấu tiền lương
Tóm lại, thực hiện cải cách tiền lương công chức, đặc biệt áp dụng hệ thống trả lương dựa trên năng lực và hiệu quả công việc là một việc khó và chưa có tiền
lệ ở Việt Nam, tuy nhiên cần thiết phải được thực hiện để tạo nên thay đổi căn bản
và đột phá về chính sách tiền lương
2 THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG KHU VỰC CÔNG CỦA HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA HÀN QUỐC
Thể chế nhà nước: Hàn Quốc được coi là quốc gia theo chính thể cộng hoà hỗn hợp, tức là có sự chọn lọc và kết hợp các đặc điểm của cộng hoà đại nghị với cộng hoà tổng thốngbao gồm 16 đơn vị hành chính
Người đứng đầu nhà nước ở Hàn Quốc là Tổng thống, được nhân dân trực tiếp bầu (trước năm 1987 là bầu gián tiếp) với 1 nhiệm kỳ 5 năm và không được tái ứng cử Thủ tướng do Tổng thống chỉ định và lãnh đạo chính phủ Chính phủ có tối thiểu 15 và tối đa là 30 thành viên Thành viên chính phủ do thủ tướng chỉ định Chức vụ thủ tướng cũng như bộ trưởng phải được sự thông qua của quốc hội
Hàn Quốc thực hiện chế độ đa đảng Hiện tại Hàn Quốc có 5 đảng Hiện thời, Đảng cầm quyền hiện nay ở Hàn Quốc là Đảng URI (thường gọi là Đảng Đại hàn dân quốc) Đảng này là đại diện cho tầng lớp trung lưu Gọi là Đảng cầm quyền, nhưng trên thực tế, có lúc lại yếu hơn Đảng đối lập Đảng đối lập là Đảng Đại quốc dân (GNT) Hai Đảng có lúc đấu tranh gay gắt trong việc lựa chọn những nhân tài quản lý đất nước Tại Hàn Quốc, chính sách và những vấn đề trọng đại của đất nước, không phải Đảng cầm quyền quyết định, mà do Tổng thống quyết định Công chức Hàn Quốc được chia thành 9 cấp bậc Bậc cao nhất là trợ lý Bộ trưởng và bậc thấp nhất, bậc 9 là công chức mới làm việc Chính phủ Hàn Quốc bảo đảm cho công chức mức lương bằng khoảng 90% mức trung bình của doanh nghiệp
2.2 HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TIỀN LƯƠNG Ở NHẬT BẢN
Từ trước tới nay, trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực, phần lớn các doanh nghiệp Hàn Quốc áp dụng chế độ tuyển dụng trọn đời khi tìm kiếm nhân lực mới
Trang 10Do vậy, cấu trúc hệ thống lương của các công ty Hàn Quốc rất khác so với cấu trúc
hệ thống lương của các công ty phương tây Các doanh nghiệp phương tây thường hoạt động dựa trên hệ thống trả lương cho vai trò công việc, theo đó, tiền lương của nhân viên gắn với vai trò duy nhất của công việc Một kế toán, một kỹ sư, một nhân viên tiếp thị, một quản trị viên, một luật sư.… nhận được mức lương khác nhau tùy theo kinh nghiệm làm việc và lĩnh vực Tuy nhiên, ở Hàn Quốc, đa số các công ty không áp dụng hệ thống tiền lương theo vai trò công việc Thay vào đó, phần lớn các doanh nghiệp, bao gồm các tập đoàn kinh tế lớn, sử dụng mô hình tiền lương theo thời gian làm việc Mức tiền lương căn bản dựa trên vị trí của bạn trong doanh nghiệp, liên quan đến tuổi và thời gian bạn gia nhập công ty hay ngành, lĩnh vực nhất định
Điều đặc biệt của hệ thống lương Hàn Quốc là sự đồng nhất đáng kinh ngạc giữa nhiều công ty, ngành nghề và nghề nghiệp ở Hàn Quốc Trong cùng một doanh nghiệp, mặc dù có sự khác biệt giữa vai trò công việc, nhưng một kỹ sư mới tốt nghiệp sẽ chỉ nhận được mức lương giống như một sinh viên mới tốt nghiệp vừa được tuyển dụng
2.3 THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG TỐI THIỂU HÀN QUỐC
Tại Hàn Quốc, tiền lương tối thiểu được xác định và điều chỉnh định kỳ bởi
Uỷ ban tiền lương tối thiểu (MWC), một cơ quan tư vấn do Bộ Lao động thành lập Tiền lương trả cho công chức Hàn Quốc gồm lương cơ bản, trợ cấp và các khoản phúc lợi
Riêng ở Hàn Quốc, việc vi phạm lương tối thiểu có thể bị phạt tù
2.4 THỰC TRẠNG THANG BẢNG LƯƠNG HÀN QUỐC