Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh; Chi cục Thủy lợi Bắc Ninh; các hai Công ty TNHH MTV quản lý khai thác hệ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ MAI ANH
QUẢN LÝ KHAI THÁC HỆ THỐNG THỦY LỢI TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Tiệp
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Anh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên và giúp đỡ rất lớn của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Công Tiệp, Khoa Kế toán và
Quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh đã tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các phòng ban thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Ninh; Chi cục Thủy lợi Bắc Ninh; các hai Công ty TNHH MTV quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Bắc Đuống và Nam Đuống, các Phòng Kinh tế và Xí nghiệp Thủy nông tại Thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong và huyện Lương Tài, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè đã động viên giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này./
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Anh
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắT vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình và sơ đồ ix
Trích yếu luận văn x
Theis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Không gian và thời gian nghiên cứu 2
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm cơ bản 4
2.1.2 Các loại hình quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 6
2.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 11
2.1.4 Nội dung quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 12
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi ở Việt Nam 18
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tại một số địa phương trong nước 23
Trang 52.2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 26
Phần 3: đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.1 Vị trí địa lý 27
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội 31
3.1.4 Hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh 32
3.2 Phương pháp nghiên cứu 34
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 34
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 35
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 36
3.2.4 Phương pháp phân tích 36
3.2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu 37
Phần 4 Kết quả nghiên cứu 39
4.1 Thực trạng quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh bắc ninh 39
4.1.1 Thực trạng quản lý khai thác hệ thống thủy lợi cấp tỉnh 39
4.1.2 Thực trạng quản lý khai thác hệ thống thủy lợi cấp địa phương tại Thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong và huyện Lương Tài 50
4.1.3 Ý kiến đánh giá tình hình quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tại địa phương 62
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 66
4.2.1 Yêu tố khách quan 66
4.2.2 Yếu tố chủ quan 67
4.2.3 Phân tích mô hình SWOT 69
4.2.4 Đánh giá quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 73
4.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh bắc ninh 77
4.3.1 Hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh 77
4.3.2 Nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân trong vùng hệ thống thủy lợi Bắc Ninh 78
Trang 64.3.3 Tăng cường đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất kỹ thuật trong hệ thống thống thủy
lợi 79
4.3.4 Tăng cường áp dụng khoa học công nghệ 79
4.3.5 Tăng cường công tác thông tin, truyền thông 80
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 82
5.1 Kết luận 82
5.2 Kiến nghị 83
5.2.1 Đối với tỉnh (UBND tỉnh, Sở NN&PTNT và Chi cục Thủy lợi) 83
5.2.2 Đối với hai Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bắc Đuống và Nam Đuống 84
5.2.3 Đối với các địa phương 84
Tài liệu tham khảo 85
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CTTL Công trình thủy lợi
Công ty TNHH MTV Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
HTXNN Hợp tác xã nông nghiệp
KTCTTL Khai thác công trình thủy lợi
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 8vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân cấp Công trình Thủy lợi 5
Bảng 2.2 Số lượng tổ chức khai thác hệ thống thủy lợi trên phạm vi cả nước 6
Bảng 2.3 Loại hình tổ chức hợp tác dùng nước theo các vùng, miền 11
Bảng 3.1 Nhiệu độ, độ ẩm bình quân các tháng nhiều năm 30
Bảng 3.2 Lương mưa trung bình các tháng 3 năm: 2013, 2014, 2015 30
Bảng 3.3 Chiều dài các loại kênh trên địa bàn tỉnh năm 2015 32
Bảng 3.4 Số km kênh các cấp được kiên cố hóa tính đến năm 2015 33
Bảng 3.5 Số lượng các cống đầu kênh cấp I, cấp II do hai công ty Bắc Đuống và Nam Đuống quản lý khai thác 33
Bảng 3.6 Số trạm bơm tại các địa phương trên toàn tỉnh năm 2015 34
Bảng 4.1 Hệ thống thủy lợi do hai công ty Bắc Đuống và Nam Đuống quản lý khai thác 41
Bảng 4.2 Diện tích tưới tiêu của các công trình tại tỉnh Bắc Ninh 44
Bảng 4.3 Kế hoạch và thực hiện kiên cố hóa kênh, xây mới và duy tu bảo dưỡng cống, trạm bơm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 45
Bảng 4.4 Kết quả kiểm tra chất lượng công trình đầu mối hai công ty Bắc Đuống và Nam Đuống quản lý khai thác trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 47
Bảng 4.5 Tình hình sử dụng kinh phí cấp bù của hai công ty Bắc Đuống và Nam Đuống 49
Bảng 4.6 Hiệu suất tưới tiêu tại Thị xã Từ Sơn năm 2015 50
Bảng 4.7 Tình hình thực hiện kế hoạch kiên cố hóa, nạo vét kênh và nâng cấp sửa chữa hệ thống thủy lợi tại thị xã Từ Sơn 51
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí tại Thị xã Từ Sơn 53
Bảng 4.9 Kết quả kiểm tra công trình của các hợp tác xã dịch vụ tại Thị xã Từ Sơn 53
Bảng 4.10 Hiệu suất tưới tiêu tại huyện Yên Phong năm 2015 54
Bảng 4.11 Tình hình thực hiện kế hoạch kiên cố hóa, nạo vét kênh và nâng cấp sửa chữa hệ thống thủy lợi tại huyện Yên Phong 56
Bảng 4.12 Tình hình sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí tại huyện Yên Phong 57
Trang 9viii
Bảng 4.13 Kết quả kiểm tra công trình của các hợp tác xã dịch vụ tại huyện
Yên Phong 57 Bảng 4.14 Hiệu suất tưới tiêu tại huyện Lương Tài năm 2015 58 Bảng 4.15 Tình hình thực hiện kế hoạch kiên cố hóa, nạo vét kênh và nâng cấp
sửa chữa hệ thống thủy lợi tại huyện Lương Tài 60 Bảng 4.16 Tình hình sử dụng kinh phí cấp bù thủy lợi phí tại huyện Lương Tài 61 Bảng 4.17 Kết quả kiểm tra công trình của các hợp tác xã dịch vụ tại huyện
Lương Tài 61 Bảng 4.18 Ý kiến đánh giá của công nhân vận hành thuộc Xí nghiệp Thủy nông
Từ Sơn 62 Bảng 4.19 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước tại Thị Xã Từ Sơn 63 Bảng 4.20 Ý kiến đánh giá của công nhân vận hành thuộc Xí nghiệp Thủy nông
Yên Phong 63 Bảng 4.21 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước tại huyện Yên Phong 64 Bảng 4.22 Ý kiến đánh giá của công nhân vận hành thuộc Xí nghiệp Thủy nông
Lương Tài 65 Bảng 4.23 Ý kiến đánh giá của người dân dùng nước tại huyện Lương Tài 65
Trang 10DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty Khai thác công trình thủy lợi 8
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh 27
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi 20
Sơ đồ 2.2 Mô hình tổ chức quản lý khai thác hệ thống thủy lợi 22
Sơ đồ 3.2 Tổ chức quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh 39
Sơ đồ 4.1 Bộ máy tổ chức của hai Công ty Bắc Đuống và Nam Đuống 42
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh
Tên luận văn: “Quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”
hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2 Phương pháp nghiên cứu
- Chọn điểm nghiên cứu
Phiếu điều tra được lập 4 mẫu để điều tra tại Chi cục Thủy Lợi, hai Công ty KTCTTL Bắc và Nam Đuống, công nhân vận hành và người dân dùng nước tại 3 huyện thị xã Từ Sơn, Yên Phong và Lương Tài:
-Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: các thông tin được thu thập từ các tài liệu có sẵn như: quy hoạch thủy lợi tỉnh Bắc Ninh, các báo cáo thống kê của Chi cục thủy lợi Bắc Ninh về kênh mương, cống, trạm bơm… trang web của cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh, tổng cục thống kê; các tài liệu báo cáo tốt nghiệp tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam,
và trường Đại học Thủy Lợi, các sách, báo, tạp chí, bài nghiên cứu liên quan đến quản
lý khai thác hệ thống thủy lợi
Số liệu sơ cấp: phương pháp này chủ yếu thu thập số liệu từ phỏng vấn thông qua một bảng câu hỏi được xây dựng trước Sau đó, thực hiện phỏng vấn trực tiếp với cán bộ quản lý, công nhân vận hành và người dân hưởng lợi từ hệ thống thủy lợi
- Phương pháp xử lý số liệu: Làm sạch số liệu điều tra, đưa số liệu vào phần mềm exel phân loại, tổng hợp số liệu điều tra
Phương pháp phân tích SWOT: nhằm hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ
Trang 12+ Kiểm tra giám sát
Cấp địa phương do các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp quản lý khai thác Đề tài chọn 3 địa phương nghiên cứu: Thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong, huyện Lương Tài
- Luận văn đã phân tích những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới quản
lý khai thác HTTL như khí hậu thời tiết, phát triển kinh tế - xã hội, vốn đầu tư, trình độ quản lý, dân trí, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ
- Nhằm hoàn thiện quản lý khai thác HTTL trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các giải pháp đã được đưa ra như: hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho quản lý khai thác HTTL; nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân hưởng lợi từ hệ thống thủy lợi; tăng cường đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất kỹ thuật; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ; tăng cường công tác thông tin, truyền thông trong hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Ninh
4 Kết luận
Công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đang từng bước đi vào nền nếp và có hệ thống nên cơ bản đảm bảo phục vụ tưới, tiêu nước cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh Tuy nhiên, công tác quản lý khai thác HTTL trên địa bàn tỉnh Bắc Nình vẫn còn nhiều tồn tại Hiệu quả hệ thống thủy lợi không phát huy hết được khả năng Hệ thống công trình xuống cấp, chưa đồng bộ từ đầu mối xuống mặt ruộng, chủ yếu tập trung xây dựng phần đầu mối, chưa chú trọng đầu tư hoàn chỉnh, khép kín Tình trạng lãng phí nước và hiện tượng rò rỉ, thất thoát nước xảy ra thường xuyên làm giảm hiệu quả tưới tiêu Tình trạng vi phạm hành lang bảo vệ HTTL diễn ra phức tạp.Trình độ của công nhân vận hành hệ thống thủy lợi vẫn dựa nhiều theo kinh nghiệm chưa được học hỏi những kiến thức khoa học mới
Nhằm hoàn thiện quản lý khai thác HTTL trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các giải pháp đã được đưa ra như: hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho quản lý khai thác HTTL; nâng cao trình độ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và công nhân vận hành, người dân hưởng lợi từ hệ thống thủy lợi; tăng cường đầu tư xây dựng, cơ sở vật chất kỹ thuật; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ; tăng cường công tác thông tin, truyền thông trong hệ HTTL tỉnh Bắc Ninh
Trang 13xii
THEIS ABSTRACT
The writer: Nguyen Thi Mai Anh
The master thesis: Exploitation management of irrigation systems in Bac Ninh province
Major in: Business management Code: 60.34.01.02
Training facility: Vietnam University of Agriculture
- Data collection
Secondary data: information is gathered from available documents such as the irrigation plan of Bac Ninh province, the statistical report of the Sub-department of Bac Ninh irrigation canals, sluices, pumping stations website electronic portal of Bac Ninh province, the general statistics Office; reporting documents graduated at the Academy of Agriculture of Vietnam, and the WRU, books, newspapers, magazines, research papers related to management and exploitation of irrigation systems
Primary data: collect data from the interviews through a questionnaire built in advance Then, perform direct interviews with managers, irrigate workers and benefitcial people from irrigation systems
- Data Processing Method: Clean the survey data, put data into excel classification software , aggregate survey data
Trang 14xiii
not Implementation results between years does not fluctuate Compare the assessment
of operational workers and residents of the state mining management HTTL
SWOT analysis method : in order to understand the strengths , weaknesses , opportunities and challenges in the exploitation management of irrigation systems in the province
+ Plan and the implementation
+ Check and oversee
Local level by the service cooperative agricultural management and exploitation
3 local selected topics of research: Tu Son Town, Yen Phong District, Luong Tai district
- Thesis analyzed the objective and subjective factors affecting the management and exploitation HTTL weather and climate, economic development - social, capital, management skills, intellectual, organizational management and policy mechanisms, infrastructure and science and technology
- To complete the management and exploitation HTTL Bac Ninh province, the solution has been offered as: to improve policies, the legal basis for the management and exploitation HTTL; improve level leaders, managers and operators, the people benefit from the irrigation system; strengthening the construction, material and technical basis; enhance the application of science and technology; strengthen information and communication in the irrigation system in Bac Ninh province
4 Conclusions:
The exploitation management of irrigation system in Bac Ninh province has gradually come into order and basic system should ensure for irrigation and drainage for agricultural production and livelihoods However, the management of irrigation systems
to exploit the province of Bac Ninh still exist Efficient irrigation systems do not promote all abilities Degraded system works, no clue to sync from the field, mainly construction of clues, not focused on complete, self-contained Water wastage and leakage, water loss occurs frequently reduced irrigation efficiency Abuses protected
Trang 16PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thủy lợi giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển nông nghiệp nói riêng và đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước Hệ thống thủy lợi tốt tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu suất sử dụng đất, phân bố lại nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, cải tạo môi trường theo chiều hướng có lợi cho sản xuất, tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi như lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, cao su và cà phê ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, chè ở trung du và miền núi phía bắc Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng phát triển đa dạng, phong phú theo hướng hiệu quả kinh tế cao Ngoài ra, hằng năm hệ thống thủy lợi trong cả nước cung cấp gần 6 tỷ m3 nước cho các ngành sản xuất công nghiệp và sinh hoạt; cải tạo môi trường sinh thái, tạo nên những cảnh quan đẹp phục vụ du lịch Một số hệ thống thủy lợi được đầu tư, khai thác hiệu quả
đã làm cho các vùng đất khô cằn trở thành những vùng đất trù phú, có điều kiện
để người dân sinh hoạt, định canh, định cư
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm, tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh Với khoảng 55% dân số làm nghề nông nên công tác thuỷ lợi chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp ổn định và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Từ ngày tái lập tỉnh đến nay, Bắc Ninh đã được Nhà nước quan tâm đầu tư rất nhiều các công trình trong hệ thống thủy lợi Đến nay hệ thống thủy lợi có thể đảm bảo tưới tiêu cho hơn 40.000ha canh tác, nhưng diện tích tưới, tiêu chưa chủ động còn chiếm tỷ lệ khá lớn, các công trình xây dựng đã lâu hiện tại đã và đang xuống cấp nên không phát huy được hết năng lực Hơn nữa, trong những năm gần đây tình hình diễn biến thời tiết rất phức tạp cũng như tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh có những biến động mạnh như: Quá trình đô thị hoá tăng nhanh, dân số tăng, nhiều khu công nghiệp mới được xây dựng Sử dụng diện tích nông nghiệp có nhiều thay đổi, diện tích trồng lúa giảm, diện tích đồng trũng
đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản Mức đảm bảo tiêu cho khu công
Trang 17nghiệp và đô thị cần phải cao hơn phục vụ sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên, công tác quản lý khai thác hệ thống thủy lợi làm chưa tốt như: nhiều công trình bị hư hỏng, tu bổ sửa chữa không kịp thời; trình độ của cán bộ quản lý và vận hành hệ thống còn hạn chế; nhiều công trình được xây dựng đầu
tư mới nhưng chậm tiến độ và không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật như thiết kế;
kỹ thuật tưới và chế độ tưới khoa học chưa được áp dựng rộng rãi,… Do đó chưa kịp thời phát huy tác dụng của hệ thống để mở rộng diện tích tưới, tiêu và nâng cao chất lượng tưới nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tỉnh
Bắc Ninh tôi đã chọn đề tài “Quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý khai thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nội dung liên quan tới quản lý khai
thác hệ thống thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
1.3.2 Không gian và thời gian nghiên cứu
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Trong đó tập trung nghiên cứu tại hai công ty TNHH
Trang 18MTV Bắc Đuống và Nam Đuống, các Xí nghiệp Thủy nông và người dân tại 03 địa phương là Thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong và huyện Lương Tài
- Phạm vi về thời gian nghiên cứu:
+ Những thông tin, số liệu trong đề tài được thu thập từ năm 2013 đến năm 2015
+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 05/2015 đến tháng 05/2016
Trang 19PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
Công trình thủy lợi: là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác
mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống
dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại
Hệ thống thủy lợi: bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp
với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu vực nhất định
Quản lý khai thác công trình thủy lợi: là công tác quản lý CTTL theo thẩm
quyền được giao theo quy định (phạm vi đất công trình, duy trì, bảo quản, duy tu
và bảo dưỡng khi cần thiết) Đặc biệt ngăn chặn các hành vi xâm chiếm, phá hoại công trình, đồng thời khai thác, sử dụng tiềm năng, năng lực thiết kế của HTTL
để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
(Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi số 32, 2001)
Kênh dẫn: là công trình làm nhiệm vụ dẫn nước tưới, tiêu, tưới tiêu kết
hợp từ công trình đầu mối (hoặc từ kênh cấp trên) đến hệ thống kênh cấp dưới (hoặc mặt ruộng) để tưới, tiêu hoặc tưới tiêu kết hợp cho một lưu vực nhất định
Cống đầu kênh: là công trình dẫn nước hoặc tiêu nước cho một diện tích
hưởng lợi nhất định thuộc trách nhiệm quản lý của người hưởng lợi
Tổ chức hợp tác dùng nước (còn gọi là Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp):
là hình thức hợp tác của những người cùng hưởng lợi từ công trình thủy lợi, làm nhiệm vụ khai thác và bảo vệ công trình, phục vụ sản xuất, dân sinh
Công trình trên kênh: là công trình nằm trên kênh làm nhiệm vụ dẫn, điều
tiết nước của kênh đó
Công trình đầu mối: là hạng mục công trình thuỷ lợi ở vị trí khởi đầu của
hệ thống dẫn, thoát nước; làm chức năng cấp hoặc thoát nước, điều tiết, khống chế và phân phối nước
(Quy định phân cấp quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, 2014)
Trang 20Phân cấp công trình thủy lợi:
Cấp công trình là căn cứ để xác định các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải tuân thủ theo các mức khác nhau phù hợp với quy mô và tầm quan trọng của công trình Cấp thiết kế công trình là cấp công trình
Bảng 2.1 Phân cấp Công trình Thủy lợi
Loại công trình và năng lực
phục vụ
Loại nền
Cấp công trình
1 Diện tích được tưới hoặc diện
tích tự nhiên khu tiêu, (103) - >50 >10 ÷ 50 >2 ÷10 ≤ 2
2 Hồ chứa nước có dung tích ứng
- Nhóm B: nền là đất cát, đất hòn thô, đất sét ở trạng thái cứng và nửa cứng;
- Nhóm C: nền là đất sét bão hòa nước ở trạng thái dẻo;
2 Chiều cao công trình được tính như sau:
- Với đập vật liệu đất, đất – đá: chiều cao tính từmặt nền thấp nhất sau khi dọn móng (không kể phần
chiều cao chân khay) đến đỉnh đập;
- Với đập bê tông các loại và các công trình xây đúc chịu áp khác: chiều cao tính từ đáy chân
khay thấp nhất đến đỉnh công trình
CTTL được phân thành 5 cấp (cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV) tùy thuộc vào quy mô công trình hoặc tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng v.v Công trình ở các cấp
Trang 21khác nhau sẽ có yêu cầu kỹ thuật khác nhau Công trình cấp đặc biệt có yêu cầu
kỹ thuật cao nhất và giảm dần ở các cấp thấp hơn
(Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia công trình thủy lợi - Các quy định chủ yếu
về thiết kế 04-05, 2012)
2.1.2 Các loại hình quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
Các loại hình tổ chức quản lý khai thác hệ thống thủy lợi đang tồn tại ở nước ta hiện nay rất phong phú từ tên gọi tới phạm vi ngành nghề Tuy nhiên, có thể quy thành 4 loại hình chính như sau:
- Doanh nghiệp;
- Tổ chức hợp tác dùng nước;
- Đơn vị sự nghiệp;
- Cá nhân
(Nguyễn Thị Thu Hoa, 2014)
2.1.2.1 Doanh nghiệp khai thác hệ thống thuỷ lợi
Việc quản lý khai thác các hệ thống thủy lợi được xây dựng từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chủ yếu do các Doanh nghiệp làm nhiệm vụ KTCTTL (Công ty TNHH MTV KTCTTL)
Bảng 2.2 Số lượng tổ chức khai thác hệ thống thủy lợi trên phạm vi cả nước
Tỉnh chưa thành lập công ty
Số lượng công ty, đơn vị sự nghiệp
QLKTHTTL Tỉnh/liên
tỉnh
Huyện, liên huyện
Đơn vị sự nghiệp
Trang 22Đến nay, cả nước có khoảng trên 100 Công ty TNHH MTV KTCTTL, trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT nông thôn, còn lại là công ty trực thuộc các tỉnh, thành phố Hiện có 13 tỉnh chưa thành lập công ty KTCTTL gồm: Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bến Tre, Hậu Giang, Cần
Thơ, Cà Mau
Bảng tổng hợp này không bao gồm các Chi cục thuỷ lợi vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa tham gia quản lý khai thác như Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Cà Mau, Bà Rịa Vũng Tàu
Trong số các doanh nghiệp này, Bộ NN&PTNT thành lập 03 doanh nghiệp trực thuộc để tham gia quản lý khai thác HTTL liên tỉnh
- Công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Nam Hà chủ yếu quản lý các CTTL
là hệ thống các công trình trạm bơm điện đầu mối lớn, đập điều tiết, kênh trục chính liên tỉnh, phục vụ tưới, tiêu hoặc cấp nước (hệ thống công trình động lực)
- Hệ thống thủy lợi mà Công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Hưng Hải quản lý chủ yếu là các cống đầu mối, âu thuyền phục vụ liên tỉnh, 01 trạm bơm tiêu, hệ thống kênh trục chính phục vụ tưới, tiêu liên tỉnh (hệ thống chủ yếu là công trình trọng lực)
- Công ty TNHH MTV Khai thác thuỷ lợi Dầu Tiếng - Phước Hoà quản lý
hệ thống công trình đầu mối hồ Dầu Tiếng, đập Phước Hoà và hệ thống kênh trục chính phục vụ tưới, tiêu liên tỉnh (hệ thống công trình trọng lực)
Ngoài 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ NN&PTNT nêu trên, các doanh nghiệp khác hiện nay chủ yếu quản lý HTTL trong phạm vi tỉnh (tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và miền Nam), hoặc phạm vi huyện (tập trung chủ yếu
ở các tỉnh miền Bắc) Tuy nhiên, còn có một số ít doanh nghiệp trực thuộc tỉnh cũng tham gia quản lý HTTL liên tỉnh: Công ty TNHH MTV khai thác dịch vụ thuỷ lợi Sông Nhuệ quản lý HTTL phục vụ các tỉnh, thành phố Hà Nam, Hà Nội; công ty An Hải quản lý hệ thống công trình phục vụ Hải Phòng, Hải Dương; công ty Sông Chu phục vụ các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh; công ty TNHH MTV KTCTTL Bắc Đuống quản lý hệ thống công trình phục vụ Bắc Ninh, Bắc Giang…(Nguyễn Thị Thu Hoa, 2014)
Ở một số tỉnh, thành phố còn có các doanh nghiệp nhà nước khác cùng tham gia hoạt động trong lĩnh vực quản lý khai thác HTTL: tỉnh Hải Dương có
Trang 23Xí nghiệp KTCTTL Thành phố Hải Dương trực thuộc Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hải Dương, Cổ phần Vinaconex 27 ở Đồng Tháp …
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý Công ty Khai thác công trình thủy lợi
Nguồn: Tổng cục Thủy Lợi Ngoài nhiệm vụ công ích, các công ty, xí nghiệp KTCTTL được thành lập các bộ phận tổ chức khác phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định hiện hành gồm: Ban quản lý dự án đầu tư và xây dựng, bộ phận tư vấn, khảo sát thiết kế, bộ phận xây lắp hoặc sửa chữa
Hiện nay, tổ chức của các công ty KTCTTL ở một số địa phương đang dần đi vào ổn định
Bắt đầu bằng việc thực hiện quyết định số 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ (nay được thay thế bằng Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ “Về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhà nước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc tổng công ty nhà nước”), các tỉnh đã tiến hành đổi mới sắp xếp, củng
SỞ NN&PTNT Công ty KTCTTL
Ban Giám đốc
Phòng Tổ chức
- Hành chính Phòng Quản lý Khai thác Phòng Kinh tế hoạch kỹ thuật Phòng Kế
Dịch vụ công ích Kinh doanh TH
KSTK, xây lắp
Trang 24cố lại doanh nghiệp bằng hình thức sáp nhập các công ty huyện thành công ty tỉnh hoặc ngược lại (Thanh Hoá, Hải Dương, Quảng Trị, Phú Thọ, Thừa Thiên Huế, Tây Ninh)
Tiếp theo, thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005, đến nay toàn bộ các tỉnh, thành phố đã xây dựng đề án và thực hiện xong việc chuyển đổi các công ty KTCTTL thành công ty TNHH MTV Phương thức hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay được thực hiện theo quy định của Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và theo quy định khác của pháp luật hướng dẫn phương thức này Tuy nhiên
ở một vài nơi có hình thức công ty cổ phần tham gia/được giao nhiệm vụ quản lý KTCTTL như: Công ty Cổ phần KTCTTL Sơn La; Công ty Cổ phần Khai thác thuỷ lợi Kon Tum; Công ty Cổ phần dịch vụ Thuỷ lợi Vĩnh Long (hiện đã không còn tham gia quản lý thuỷ nông); Công ty Cổ phần Thuỷ lợi Sóc Trăng Tuy nhiên việc thực hiện cổ phần ở các công ty này chưa đúng bản chất của vấn đề cổ phần hoá nên các công ty này hoạt động còn nhiều khó khăn Tỉnh Sơn La sẽ chuyển đổi công ty này sang loại hình Công ty TNHH MTV, 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước và thực hiện từ năm 2013
Bộ máy tổ chức của doanh nghiệp thường được bố trí như sau:
- Chủ tịch Hội đồng thành viên;
- Tổng Giám đốc (hoặc do Chủ tịch HĐTV kiêm nhiệm);
- Các Phó Tổng Giám đốc;
- Kiểm soát viên;
- Các Phòng chức năng: Tổ chức – Hành chính, Quản lý khai thác công trình, Kế hoạch – Kỹ thuật, Tài vụ;
- Các Xí nghiệp hoặc Chi nhánh trực tiếp quản lý khai thác công trình
Như vậy, về mô hình tổ chức khai thác CTTL hiện nay tuỳ thuộc vào quan điểm của từng địa phương dẫn đến việc thành lập đa dạng các tổ chức KTCTTL khác nhau, nhưng đang dần ổn định (Nguyễn Thị Thu Hoa, 2014)
2.1.2.2 Tổ chức hợp tác dùng nước
Tham gia quản lý khai thác HTTL còn có các tổ chức hợp tác dùng nước
Tổ chức hợp tác dùng nước là các tổ chức thuỷ nông cơ sở gồm nhiều loại hình khác nhau bao gồm các hợp tác xã nông nghiệp làm dịch vụ tổng hợp, hợp tác xã
Trang 2510
dùng nước, hội dùng nước, tổ đội thuỷ nông, ban quản lý thuỷ nông, cá nhân Các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý các CTTL có quy mô vừa và nhỏ hoặc kênh mương nội đồng trong các hệ thống lớn Theo báo cáo tổng hợp, cả nước có khoảng 15.000 tổ chức hợp tác dùng nước làm dịch vụ thuỷ nông (Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi số 32, 2001)
Theo tài liệu điều tra thì hiện nay có 91% số công trình do Doanh nghiệp Nhà nước quản lý, phục vụ tưới cho 80% tổng diện tích được tưới, 9% số công trình do dân quản lý phục vụ tưới cho 20% diện tích được tưới Riêng các hệ thống thuỷ lợi lớn thì phần công trình kênh mương mặt ruộng phạm vi xã, thôn chủ yếu do dân quản lý Thực tế đã khẳng định hiệu quả phục vụ của công trình không chỉ công trình đầu mối, kênh trục chính mà phải có công trình mặt ruộng
và không thể thiếu vai trò của dân trong quản lý vận hành (Báo cáo đánh giá hai năm thực hiện chiến lược khung chiến lược phát triển PIM ở Việt Nam, 2007)
Đã có nhiều báo cáo tổng kết, đánh giá hiệu quả của các loại hình tổ chức hợp tác dùng nước với các quy mô khác nhau thuộc các dự án đầu tư, dự án trợ giúp kỹ thuật do các tổ chức quản lý dự án, ngành ở cả địa phương và Trung ương thực hiện gồm các loại hình tiêu biểu có qui mô và tên gọi khác nhau:
Mô hình liên xã (từ 2 xã trở lên): Quản lý tuyến kênh thuộc các hệ thống thuỷ lợi loại vừa và lớn, phục vụ tưới cho 200 - 500 ha ở các tỉnh như Thanh hoá, Nghệ An, Thái Bình dưới các hình thức: Hợp tác xã Nông nghiệp (HTXNN), Hợp tác xã dùng nước, Hội dùng nước Loại hình này thực hiện việc quản lý công trình (chủ yếu là kênh) không theo địa giới hành chính, công khai tài chính, hoạt động khá hiệu quả
Một số mô hình quản lý kênh, công trình phục vụ tưới cho dưới 200 ha thuộc các tỉnh Tuyên quang, Thái Bình dưới hình thức Ban quản lý, Hợp tác xã Tính chất hoạt động của loại hình “Ban” không phù hợp với tên gọi làm dịch vụ tương tự tổ, đội thuỷ nông trong HTXNN, nhưng độc lập hơn vì có tài khoản riêng ở kho bạc
Mô hình 1 xã hoặc nhiều thôn trong 1 xã: Quản lý tuyến kênh, hoặc một phần tuyến kênh, trạm bơm phục vụ trong phạm vi xã thuộc các hệ thống thuỷ lợi vừa và lớn, hoặc hệ thống CTTL nhỏ Loại hình này có ở hầu hết các vùng với các tên gọi khác nhau, nhưng phổ biến vẫn là loại hình HTXNN, HTX Thuỷ nông (Vùng đồng bằng sông Hồng có 96,7%, vùng Đông Nam bộ có 58,5 %,
Trang 2611
ĐBSCL 72,99 %, Tây nguyên 62,8 % HTXNN) Số còn lại hoạt động dưới hình thức Hội dùng nước, Tổ hợp tác, Đội thuỷ nông, Ban quản lý
Phần lớn các HTX làm dịch vụ tưới, hoặc HTX làm dịch vụ tổng hợp trong đó dịch vụ tưới được hạch toán riêng, hoặc Tổ Hợp tác chuyên khâu thì thuỷ lợi phí được chi đúng, đủ cho vận hành và bảo dưỡng, đảm bảo tài chính công khai và trong điều kiện thời tiết bình thường hoạt động đều có lãi (HTX Phú
An - An Giang, HTX Thuận Hoà - Tân Phú, Đồng Tháp) Loại hình hạch toán riêng tập trung và phát triển mạnh ở Vùng Duyên hải miền trung (67,7%), ĐBSCL (60,7%), Tây nguyên (71,9 %), riêng Tiền Giang 82,6% (Nguyễn Xuân Tiệp, 2007)
Bảng 2.3 Loại hình tổ chức hợp tác dùng nước theo các vùng, miền
7 Đồng bằng Sông Cửu Long 72,99 27,01
Nguồn: Tổng cục Thuỷ lợi
2.1.2.3 Đơn vị sự nghiệp quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
Đơn vị sự nghiệp quản lý khai thác hệ thống thủy lợi được thành lập theo quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp để quản lý hệ thống công trình phục
vụ từ hai huyện trở lên không phức tạp trong quản lý vận hành Bộ NN&PTNT quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp quản lý khai thác HTTL phục vụ từ hai tỉnh trở lên UBND cấp tỉnh quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp quản lý khai thác HTTL trong phạm vi tỉnh (Nguyễn Thị Thu Hoa, 2014)
2.1.2.4 Cá nhân quản lý khai thác công trình thủy lợi
Người có đủ điều kiện, năng lực theo quy định của pháp luật, có thể được giao quản lý khai thác và bảo vệ CTTL do nhà nước đầu tư xây dựng CTTL do
cá nhân đầu tư xây dựng, phải được tổ chức quản lý khai thác theo quy định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Nguyễn Thị Thu Hoa, 2014)
2.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
Việc quản lý khai thác hệ thống thủy lợi có vai trò quan trọng giúp vận
Trang 2712
hành hệ thống thủy lợi một cách trơn tru, an toàn và hiệu quả để cung cấp nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và góp phần phát triển kinh tế xã hội Đồng thời, quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tốt sẽ giúp phát huy hiệu quả mọi nguồn lực Nhà nước giao
Nhiệm vụ của công tác quản lý khai thác hệ thống thủy lợi:
- Điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống công trình thuỷ lợi, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác
- Kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các sự cố trong hệ thống công trình thuỷ lợi, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và
- Thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích tưới tiêu, cấp nước phục
vụ sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác trên cơ sở hợp đồng đặt hàng với cơ quan có thẩm quyền hoặc kế hoạch được giao
- Bảo vệ chất lượng nước; phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; phòng, chống lũ, lụt, xâm nhập mặn và các tác hại khác do nước gây ra
- Tổ chức để nhân dân tham gia xây dựng kế hoạch khai thác và phương án bảo vệ công trình (Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi số 32, 2001)
2.1.4 Nội dung quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
Công tác quản lý khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi bao gồm các nội dung chính sau:
Quản lý công trình thủy lợi: Các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi phải có trách nhiệm quản lý, kiểm tra, theo dõi, phát hiện và xử lý kịp thời các
Trang 2813
sự cố trong hệ thống công trình, đồng thời thực hiện tốt việc duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp công trình, máy móc, thiết bị; bảo vệ và vận hành công trình theo đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, để phục vụ cho nhiệm vụ tưới tiêu đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp, đảm bảo công trình vận hành an toàn, hiệu quả và sử dụng lâu dài
Quản lý việc tưới, tiêu: đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đời sống dân sinh, môi trường và các ngành kinh tế quốc dân khác của từng địa phương, từng mùa vụ thì các cấp quản lý, các đơn vị quản lý khai thác công trình thủy lợi cần phối hợp và lập kế hoạch để thực hiện việc điều hoà phân phối nước, tiêu nước công bằng, hợp lý trong hệ thống công trình thuỷ lợi
Tổ chức và quản lý tài chính: để quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
và các khoản chi trong hoạt động quản lý khai thác chúng ta cần xây dựng mô hình tổ chức khoa học,hợp lý nhằm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ khai thác, bảo vệ công trình thuỷ lợi, kinh doanh tổng hợp theo qui định của pháp luật (Nguyễn Duy Chỉnh, 2013)
Các nội dung cụ thể trong quản lý khai thác hệ thống công trình thủy lợi của các công ty TNHH MTV khai thác công trình thủy lợi và tổ chức hợp tác dung nước:
* Lập kế hoạch:
Xây dựng các kế hoạch về khai thác và bảo vệ hệ thống thủy lợi
Dựa vào tình hình và đặc điểm công trình, điều kiện dự báo khí tượng thủy văn và nhu cầu nước trong hệ thống bộ phận quản lý phải xây dựng kế hoạch tưới tiêu hàng năm So sánh diện tích tưới tiêu thực tế và diện tích tưới tiêu thiết kế của hệ thống thủy lợi có khả năng phục vụ, từ đó xây dựng các giải pháp phù hợp để đảm bảo tưới tiêu cho toàn hệ thống
Kế hoạch chống úng và kế hoạch chống hạn được xây dựng hàng năm vào trước vụ Mùa và trước vụ Xuân Hàng năm cán bộ quản lý xây dựng kế hoạch nạo vét, đầu tư sửa chữa, nâng cấp hệ thống thủy lợi Các cán bộ quản lý công trình thủy lợi thường xuyên rà soát các công trình trong hệ thống thủy lợi cần được đầu tư nạo vét, sửa chữa, nâng cấp hoặc xây mới sau đó lập kế hoạch đưa ra số lượng các công trình cần nạo vét, nâng cấp, sửa chữa và xây mới
* Tổ chức thực hiện:
Các cán bộ của các công ty khai thác công trình thủy lợi tổ chức quan trắc,
Trang 29Sau khi lập kế hoạch các công trình cần nạo vét, sửa chữa, nâng cấp, xây mới các công ty khai thác công trình thủy lợi sẽ trình lên Chi cục Thủy lợi và Sở Nông nghiệp và PTNT để phê duyệt kế hoạch Sau đó, Sở Nông nghiệp và PTNTsẽ trình lên UBND tỉnh ra quyết định và cấp vốn đầu tư cho các hạng mục công trình cần nạo vét, sửa chữa, xây mới
Sau khi có quyết định cấp vốn các công ty khai thác công trình thủy lợi làm chủ đầu tư các dự án nạo vét sửa chữa, bổ sung hoàn thiện hệ thống thủy lợi
do công ty đang quản lý khai thác Các công ty tổ chức đấu thầu các dự án chọn
ra nhà thầu có đủ năng lực và trách nhiệm để thực hiện dự án Quy trình thực hiện đấu thầu tuân theo quy định của pháp luật Thời gian thực hiện dự án phải đảm bảo tiến độ và yêu cầu kỹ thuật
Thực hiện phương án bảo vệ hệ thống thủy lợi; thực hiện biện pháp xử lý trong trường hợp hệ thống thủy lợi có nguy cơ xảy ra sự cố; chỉ đạo việc điều hòa, phân phối nước của hệ thống thủy lợi trong trường hợp xảy ra hạn hán, ưu tiên nước cho sinh hoạt
Tổ chức việc nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào việc khai thác và bảo vệ hệ thống thủy lợi; tổ chức bộ máy tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khai thác và bảo vệ hệ thống thủy lợi; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho người làm công tác quản lý khai thác và bảo vệ hệ thống thủy lợi
Tổ chức thực hiện việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ
hệ thống thủy lợi
* Kiểm tra, giám sát:
Kiểm tra, theo dõi, phát hiện kịp thời nguy cơ xảy ra sự cố; khi thấy công trình có nguy cơ bị mất an toàn phải xử lý ngay, đồng thời báo cáo uỷ ban nhân dân địa phương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giải quyết Thường xuyên kiểm tra chất lượng của công trình thủy lợi đầu mối
Kiểm tra, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khai thác và bảo vệ hệ thống thủy lợi
Trang 30* Khí hậu thời tiết:
Diễn biến thời tiết khí tượng thủy văn có xu hướng ngày càng bất lợi, thiên tai xảy ra ngày càng khắc nghiệt, dẫn đến việc phá huỷ hệ thống, thay đổi yêu cầu phục vụ tưới tiêu của các công trình thuỷ lợi
Do điều kiện tự nhiên mỗi vùng khác nhau nên mỗi công trình thủy lợi xây dựng đều có đặc điểm riêng Nếu khi thiết kế xây dựng tài liệu về thủy văn không đầy đủ hoặc không chính xác có thể gây ảnh hưởng tới chất lượng công trình như khả năng tháo lũ không đủ, gây nguy hiểm khi lũ lớn, hoặc không chạy
đủ công suất
* Kinh tế -Xã hội:
Sự phát triển kinh tế xã hội nhanh nhưng không bền vững đã làm cho các
hệ thống thủy lợi bị xâm hại, vùng tưới bị xâm chiếm, nhiều hệ thống thuỷ lợi bị thay đổi mục tiêu nhiệm vụ và giảm sự chi phối Đồng thời, quá trình phát triển kinh tế xã hội cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường, nguồn nước trong các hệ thống công trình thuỷ lợi
Ngoài ra yếu tố xã hội bao gồm các đặc điểm liên quan đến người sử dụng như tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác của nông dân cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý hệ thống thủy lợi
* Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư có ảnh hưởng lớn tới tiến độ hoàn thiện hệ thống thủy lợi Việc tu bổ, sửa chữa, nạo vét công trình thủy lợi hàng năm đều cần tới nguồn vốn
hỗ trợ đầu tư Công tác sử dụng nguồn vốn hiệu quả, tiết kiệm và đúng mục đích
sẽ giúp cho công trình thủy lợi hoàn thành kịp tiến độ và đảm bảo chất lượng như thiết kế đề ra (Nguyễn Duy Chỉnh, 2013)
2.1.5.2 Các yếu tố chủ quan
* Trình độ nhận thức:
Trình độ quản lý, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ và trình độ nhận thức của người dân là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc quản lý khai
Trang 3116
thác và bảo vệ hệ thống thủy lợi
Hiện nay người quản lý thì chủ yếu quan tâm về xây dựng, ít quan tâm về công tác quản lý, đồng thời có xu hướng nặng về bao cấp, coi nhẹ sự tham gia của người dân Bên cạnh đó đa phần người dân địa phương chưa nhận thức đúng, đầy đủ về tầm quan trọng của công tác thuỷ lợi dẫn đến việc tự ý xả rác, nước thải, chất thải rắn từ các khu công nghiệp, khu hành chính, khu chăn nuôi trực tiếp vào hệ thống làm ô nhiễm nguồn nước Việc sử dụng nước tiết kiệm chưa được quan tâm đúng mức trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi
* Cơ chế chính sách:
Cơ chế chính sách cũng có những ảnh hưởng trực tiếp tới quản lý khai thác hệ thống thủy lợi Các chính sách hợp lý sẽ tạo động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, tu bổ chống xâm hại công trình thuỷ lợi Ngược lại nếu chính sách đưa ra không hợp lý sẽ làm triệt tiêu động lực phát triển, tinh thần ỷ lại thiếu trách nhiệm làm giảm hiệu quả quản lý khai thác cụ thể như:
- Thiếu chính sách tạo động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ, tu bổ chống xâm hại công trình thuỷ lợi, vai trò của người dân trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và bảo vệ nguồn nước chưa được quan tâm đúng mức
- Một số cơ chế chính sách về tài chính trong quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi còn mang tính xin cho Quyền và trách nhiệm của các tổ chức quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi đối với đất đai thuộc phạm vi công trình thuỷ lợi do
tổ chức đó quản lý chưa được quy định rõ ràng
- Tình trạng lấn chiếm xâm hại các công trình thủy lợi ngày càng có chiều hướng gia tăng do không đủ cơ sở pháp lý trong công tác quản lý
Trách nhiệm và sự phối hợp giữa người dân và cơ quan khai thác, vận hành hệ thống trong việc điều hành, phân phối nguồn nước phục vụ đa ngành để làm tốt các nhiệm vụ theo quy định (Nguyễn Văn Hoàn, 2014)
* Tổ chức quản lý:
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện chức năng, nhiệm
vụ quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh
Sở Nông nghiệp và PTNT lại giao Chi Cục Thủy lợi hoặc một số đơn vị trực thuộc khác giúp Sở trực tiếp thực hiện, chức năng nhiệm vụ này Ở cấp huyện,
Trang 3217
UBND huyện giao cho một phòng chuyên môn làm chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy lợi trên địa bàn huyện và ở cấp xã, UBND xã giao cho cán bộ giao thông thủy lợi quản lý (Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi, 2001)
Bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi đã không ngừng tăng cường, củng cố và phát triển qua các thời kỳ, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong chỉ đạo xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi… Các hệ thống công trình vận hành an toàn, phòng chống và hạn chế các rủi ro do thiên tai lũ lụt và hạn hán, phục vụ tốt sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế xã hội trước mọi diễn biến phức tạp của khí hậu thời tiết
Tuy vậy, bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi tại một số nơi đang bộc lộ những bất cập như:
- Bộ máy quản lý Nhà nước về quản lý khai thác công trình thủy lợi còn thiếu tính thống nhất, chức năng nhiệm vụ không nhất quán nên khó khăn cho việc chỉ đạo
- Còn lẫn lộn giữa chức năng quản lý Nhà nước và quản lý sản xuất Một
số Chi cục vừa làm cả chức năng quản lý Nhà nước lại thực hiện cả chức năng quản lý vận hành công trình ví dụ như ở Long An, Cà Mau, Kiên Giang
- Phân cấp quản lý chưa rõ ràng dẫn đến khó khăn trong điều hành chỉ đạo quản lý
* Cơ sở hạ tầng thủy lợi:
Chất lượng, quy mô của các công trình cơ sở hạ tầng thủy lợi có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý khai thác công trình Nếu khả năng cấp nước từ đầu mối tốt, hệ thống kênh mương không còn xuống cấp, hệ thống công trình được hoàn chỉnh từ đầu mối tới mặt ruộng thì đồng nghĩa việc nâng cao được hiệu quả quản lý và khai thác triệt để công suất các công trình
* Khoa học công nghệ: Bao gồm việc nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý, vận hành công trình thuỷ lợi chưa được quan tâm đúng mức, đầu tư trang thiết bị khoa học công nghệ trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi còn thấp, và hầu như không đáng kể Nhiều hệ thống đóng
mở, vận hành cống còn chủ yếu bằng thủ công
Việc tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến bảo vệ công trình thủy lợi và nguồn nước ở các địa bàn nhìn chung còn nhiều hạn chế, nhiều người dân,
Trang 3318
thậm chí cả cán bộ các cấp nhận thức chưa đúng về vai trò của công trình thủy lợi và nguồn nước, gây khó khăn và ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi (Nguyễn Văn Hoàn, 2014)
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi ở Việt Nam
Sau khi thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn trong phạm vi cả nước Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V
đã nhấn mạnh “Tập trung phát triển nông nghiệp, nông thôn và đưa nông nghiệp nông thôn một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” Trong nghị quyết của Đảng từ đại hội VI đến Đại hội IX, vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn đều được khẳng định là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Trong các kỳ đại hội đã được nhấn mạnh để nông nghiệp phát triển bền vững, Đảng và Nhà nước luôn luôn chú trọng đầu tư để phát triển thủy lợi Chính vì vậy trên cả nước đã có nhiều công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng, sự kết hợp giữa thủy điện và thủy lợi, phát triển nuôi trồng thủy sản, du lịch đã tạo ra sự chuyển đổi quan trọng trong việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở nhiều địa phương và thực sự cho phép khai thác triệt để nguồn tiềm năng để phát triển kinh tế cũng như bảo vệ môi trường sinh thái Điển hình như các công trình thủy lợi hồ Kẻ Gỗ tại Hà Tĩnh, đập dâng nước Nam Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị Công tác quản lý trong giai đoạn này cũng được sắp xếp lại theo hướng thành lập các Công ty khai thác công trình thủy lợi Các tỉnh trao quyền tự chủ hoạt động cho các công ty khai thác công trình thủy lợi Nhiều công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng và đã có tác dụng đảm bảo nước tưới, hạn chế lũ lụt, khắc phục tình trạng ngăn mặn, chu phèn cho nhiều vùng Các công trình thủy lợi còn giải quyết vấn đề nước sinh hoạt cho hàng triệu hộ dân, cải tạo môi trường sinh thái theo hướng phát triển bền vững, phát triển thủy du lịch, đồng thời tạo ra những điều kiện quan trọng cho quá trình thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và mùa vụ của từng vùng lãnh thổ và trên cả nước
Hiện nay tổng số cán bộ quản lý các HTTL đang công tác tại các Chi cục Thuỷ lợi trên phạm vi toàn quốc là 1.981 người Về trình độ năng lực cán bộ tại
Trang 3419
Chi cục, số lượng cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 64,9%, số lượng cán bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp 18,2%; còn lại là nhân viên có trình
độ sơ cấp và cán bộ giúp việc cho chi cục (văn thư, lái xe)
Ở cấp huyện, đa số các địa phương thành lập mô hình Phòng NN&PTNT hoặc Phòng Kinh tế, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuỷ lợi Tuy nhiên, nhân lực cho công tác thuỷ lợi ở phòng cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu Ở cấp xã,
Uỷ ban nhân dân mỗi xã cử 01 cán bộ bán chuyên trách phụ trách công tác thuỷ lợi Nhìn chung, lực lượng cán bộ thuỷ lợi còn mỏng, nhất là ở cấp huyện, cấp xã
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thuỷ lợi hiện nay cả nước có hơn 100 doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số
tổ chức sự nghiệp và hàng vạn tổ chức hợp tác dùng nước Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp KTCTTL trong tỉnh như Hà Nội sau khi sáp nhập còn 4 doanh nghiệp KTCTTL liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ và Quản lý; tỉnh Hải Dương sát nhập các công ty KTCTTL huyện thành công ty KTCTTL tỉnh Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc tách, nhập
là do ý chí chủ quan, tuỳ tiện thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn
Hiện nay có những hệ thống thuỷ nông chỉ phục vụ tưới tiêu trong phạm
vi một tỉnh cũng phân ra nhiều chủ thể quản lý, nên việc phối hợp trong quản lý, điều tiết phân phối kết hợp trong quản lý toàn hệ thống rất phức tạp Vì vậy, gây
ra tình trạng “cha chung không ai khóc” công trình không ai duy tu bảo dưỡng
nên xuống cấp nghiêm trọng
Việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi hình thức hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn chưa thống nhất giữa các địa phương, còn lúng túng trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để chuyển đổi cho phù hợp Các tổ chức quản lý KTCTTL của Nhà nước đang tồn tại, về bản chất hoạt động cơ bản là như nhau, song được mang nhiều tên gọi khác nhau như: Công ty KTCTTL, Trung tâm khai thác thuỷ lợi, Ban quản lý CTTL, Công ty cổ phần Sự khác biệt về tên gọi không có ý nghĩa nhiều về thực thi chủ trương đa dạng hoá quản lý CTTL Nhìn chung tiến độ đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL còn chậm Theo báo cáo của Tổng Cục thuỷ lợi, hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị quản lý KTCTTL chưa thực hiện đổi mới tổ chức và giảm bớt được số lượng công nhân quản lý thuỷ nông
Trang 3520
Nhiều địa phương chưa thành lập các tổ chức hợp tác dùng nước để quản
lý các CTTL nhỏ và CTTL nội đồng ở những hệ thống thủy lợi vừa và lớn (Bắc Cạn, Lai Châu, Hà Giang, Cà Mau, Hà Tĩnh ) Ở một số địa phương, UBND xã hoặc thôn quản lý các CTTL nhỏ và CTTL nội đồng trong bàn xã, trong khi UBND xã và thôn không phải là các tổ chức hợp tác dùng nước Nhiều địa phương ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, các tổ thuỷ nông quản lý CTTL nội đồng trong bản, xã Các tổ thuỷ nông này chưa phải là các tổ chức hợp tác dùng nước hoàn chỉnh Việc thực hiện Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí còn gặp nhiều vướng mắc ở các địa phương
2.2.1.1 Các mô hình tổ chức quản lý thủy nông chủ yếu cấp Tỉnh ở nước ta
Để quản lý, vận hành tốt các hệ thống CTTL hiện có phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế xã hội, trên phạm vi cả nước đã có một hệ thống tổ chức quản lý thuỷ lợi khép kín từ Trung ương đến địa phương (thực hiện chức năng quản lý Nhà nước) và từ đầu mối đến mặt ruộng (thực hiện nhiệm vụ quản
lý công trình) Hiện chỉ có 3 công ty liên tỉnh với diện tích phục vụ lớn do Trung ương quản lý, còn lại do cấp Tỉnh quản lý
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thủy lợi
Nguồn: Tổng cục Thủy lợi
Trang 3621
Tuy các hình thức tổ chức quản lý KTCTTL ở các tỉnh trong cả nước chưa thống nhất, nhưng tựu trung lại có 3 mô hình tổ chức quản lý KTCTTL chủ yếu sau đây
- Mô hình 1 (Mô hình Doanh nghiệp) Mô hình này thường áp dụng để
quản lý các hệ thống thủy lợi vừa và lớn Nhà nước thành lập Công ty TNHH MTV KTCCTL và giao nhiệm vụ quản lý CTTL từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng Thông thường mỗi tỉnh thành lập 1 công ty (31/50 tỉnh, chiếm 62%); 5 tỉnh thành lập 2 công ty (2/50 chiếm 4%), 17 tỉnh còn lại có số công ty khá nhiều, nhiều nhất là các tỉnh Nghệ An và Nam Định có 7 công ty (14/89, chiếm
16 % cả nước), sau đến là Bắc Giang và Hải Phòng mỗi tỉnh có 5 công ty Đối với các tỉnh chỉ thành lập một công ty thì ở các huyện có các đơn vị trực thuộc như Xí nghiệp, Chi nhánh, Cụm, Trạm Từ sau cống đầu kênh nội đồng do các
tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông
- Mô hình 2 (Chi cục Thủy lợi) Ở một số tỉnh ĐBSCL thường không thành
lập các doanh nghiệp mà giao luôn cho Chi cục Thủy lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi
và Phòng chống lụt bão) quản lý Theo mô hình này, ở các huyện thường thành lập các trạm trực thuộc Chi cục Thủy lợi làm nhiệm vụ quản lý KTCTTL Thông thường Chi cục Thủy lợi quản lý nhân sự, nhưng giao về các Phòng Nông nghiệp huyện cùng hoạt động Kinh phí trả lương cho số cán bộ này được tính riêng thành một khoản trong nguồn kinh phí cấp về cho Chi cục Thủy lợi Phần CTTL nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông
- Mô hình 3 (Trung tâm hoặc Ban) Ở một số tỉnh không thành lập các
doanh nghiệp (hoạt động theo Luật doanh nghiệp) mà thành lập Trung tâm Quản
lý KTCTTL hoặc Ban Quản lý KTCTTL (hoạt động theo đơn vị sự nghiệp) Tương tự như mô hình doanh nghiệp, các đơn vị quản lý công trình từ đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng Ở các huyện có các đơn vị trực thuộc như Cụm, Trạm Từ sau cống đầu kênh nội đồng do các tổ chức hợp tác dùng nước quản lý như Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, Ban quản lý, Ban nông nghiệp xã, Tổ hợp tác, Tổ đội thủy nông
Trong số các doanh nghiệp thuộc 49 tỉnh thành phố trong cả nước, loại hình công ty TNHH 1 thành viên KTCTTL là chủ yếu chiếm 96%, loại hình Công ty
Trang 3722
cổ phần chiếm 2%, loại hình Công ty mẹ con chiếm 1% và loại hình Công ty TNHH 1 thành viên trực thuộc Công ty cổ phần chiếm 1% như ở Bình Dương, Bắc Cạn
Hiện vẫn còn 4 tỉnh không thành lập tổ chức quản lý KTCTTL ở cấp tỉnh (Lào Cai, Hà Giang, Vĩnh Long và Đồng Tháp)
Mỗi một mô hình áp dụng chỉ phù hợp với các điều kiện cụ thể của từng vùng, không có một đáp án chung cho tất cả các hệ thống trên phạm vi toàn quốc
Sơ đồ 2.2 Mô hình tổ chức quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
Nguồn: Tổng cục Thủy Lợi
2.2.1.2 Một số quy định liên quan tới công tác quản lý khai thác hệ thống
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Văn bản số 248/BNN-TL ngày 31/01/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Chương trình hành động
Trang 3823
đổi mới nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi;
- Chỉ thị số 1268/CT-BNN-TL ngày 12/5/2009 của Bộ Nông Nghiệp về việc Tăng cường công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi;
- Pháp lệnh số 32/2011/PL-UBTVQH10 ngày 04 tháng 4 năm 2001 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
- Nghi định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
- Nghi định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 của Chính phủ sửa đổi
bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi
- Thông tư số 41/2013/TT-BTC ngày 11/04/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Nghi định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 sửa đổ, bổ sung một số điều của - Nghi định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật của pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi;
- Thông tư số 65/2009/TT-BNNPTNT ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động và phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tại một số địa
phương trong nước
2.2.2.1 Kinh nghiệm quản lý khai thác HTTL tại một số tỉnh Tây Nguyên
Từ sau ngày miền Nam giải phóng hoàn toàn, Nhà nước đã chú trọng phát triển thủy lợi cho vùng Tây Nguyên Cùng với sự đầu tư của các địa phương, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã xây dựng được các hệ thống thủy lợi, với tổng số công trình xây dựng cơ bản là 156 và 842 công trình tiểu thủy nông, năng lực thiết kế tưới cho 70382 ha
Tỉnh Kon Tum đã xây dựng được 21 công trình xây dựng cơ bản, trong đó
có 6 hồ chứa, 15 đập dâng, 110 công trình tạm, thời vụ Năng lực tưới thiết kế là
8282 ha, năng lực tưới thực tế là 8300 ha
Tỉnh Đắc Lắc đã xây dựng được 58 công trình xây dựng cơ bản, trong
Trang 3924
đó có 14 hồ chứa, 21 đập dâng, 9 trạm bơm và 337 công trình thủy nông, bán kiên cố được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn do các hộ và các ngành khác đầu tư Năng lực thiết kế là 32700 ha, năng lực tưới thực tế là 34525 ha
2.2.2.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc, giáp với tỉnh Bắc Ninh tổng diện tích tự nhiên: 3.822km2 (trong đó diện tích canh tác là : 81.308 ha, diện tích trồng lúa, màu: 73.756 ha), nằm trong lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, chịu ảnh hưởng chi phối về phòng chống bão lụt, cung cấp nước tưới tiêu, giao thông thuỷ và môi trường sinh thái của 03 con sông đó là: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam
Với đặc điểm tự nhiên như vậy, kinh tế của tỉnh Bắc Giang tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm gần 50% giá trị tổng sản phẩm Vì vậy công tác thuỷ lợi đóng một vai trò quan trọng Thực tế nhiều năm qua cũng như năm 2006, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, thuỷ lợi đã phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, tiêu thoát nước cho khu công nghiệp, thành phố và cấp nước sinh hoạt phục vụ đời sống người dân trên địa bàn, đặc biệt là đối với người dân miền núi, góp phần đáng kể vào việc tăng giá trị sản phẩm và cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Hệ thống thuỷ lợi được chia theo 5 vùng là Sông Cầu, Cầu Sơn-Cấm Sơn, Nam Yên Dũng, Sông Sỏi và Sông Lục Nam Toàn tỉnh có 461 hồ chứa, 147 đập dâng, 674 trạm bơm, 5.530 km kênh mương tưới, tiêu các cấp Hệ thống thủy lợi Bắc Giang chủ động tưới được 53% diện tích canh tác và khắc phục kiên cố hóa kênh mương bằng nguồn vốn của dân Một số công trình thuỷ lợi
hồ, đập, trạm bơm, kênh mương đang bị xuống cấp, có tuyến đê còn sung yếu
do cao trình mặt đê thấp, mặt cắt ngang nhỏ, khả năng chống lũ kém
Tỉnh Bắc Giang đã xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho hệ thống thủy lợi Công trình thủy lợi được tỉnh chú trọng xây dựng và cải tạo để tăng khả năng điều tiết nguồn nước và diện tích tưới, tiêu Thúc đẩy chương trình kiên cố hoá kênh mương với nguồn kinh phí đóng góp theo hướng Nhà nước và nhân dân cùng tham gia Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật các khu, cụm công nghiệp và các công trình ngoài hàng rào tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư
Bắc Giang đã và đang điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch Thủy lợi đến năm
Trang 4025
2020 Sửa chữa nâng cấp đảm bảo an toàn hệ thống hồ chứa nước: Hố Cao, Cầu
Rễ, Tân Gia, Làng Thum, Khe Đặng, Khe Áng, Bầu Lầy, Đồng Man, Chùa Sừng
Xử lý chống sạt lở kè Đại Mão từ K9+270 - K10+200 đê Tả Cầu, huyện Hiệp Hoà, hệ thống đê cấp III trên địa bàn huyện Tân Yên từ K6+00 - K14+700 đê Hữu Thương Cải tạo nâng cấp Trạm bơm Trúc Tay phục vụ tiêu thoát nước KCN; trạm bơm và hệ thống kênh tưới tiêu khu vực huyện Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hòa thuộc hệ thống thủy lợi Sông Cầu (Báo cáo của tỉnh Bắc Giang tại hội nghị tổng kết, 2006)
2.2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý khai thác hệ thống thủy lợi
tỉnh Bắc Ninh
Từ kinh nghiệm quản lý khai thác hệ thống thủy lợi tại một số địa phương trên cả nước, tỉnh Bắc Ninh rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác quản
lý khai thác hệ thống thủy lợi như sau:
Thứ nhất, tỉnh Bắc Ninh cũng phân các khu vực tưới tiêu cho từng vùng
cụ thể: vùng tưới tiêu Bắc Đuống và vùng tưới tiêu Nam Đuống Hàng năm các công ty KTCTTL xây dựng các phương án chống hạn, chống úng, xác định vùng
có diện tích khó tưới và vùng có diện tích dễ bị úng ngập để có phương án chỉ đạo khắc phục
Thứ hai, công tác kiến cố hóa kênh mương tại tỉnh Bắc Ninh cần được chú trọng đầu tư hơn Nguồn kinh phí Nhà nước hạn hẹp có thể huy động sự đóng góp của nhân dân để chung tay xây dựng hệ thống thủy lợi kiên cố, hiệu quả cao hơn
Thứ ba, công tác nạo vét, duy tu bảo dưỡng và nâng cấp hệ thống thủy lợi
là hết sức cần thiết Nhiều công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh xây dựng từ lâu hiện nay đã bị xuống cấp nghiêm trọng, nhiều tuyến kênh bị bồi lắng Kinh phí
để nâng cấp sửa chữa với tất cả các công trình là rất lớn do vậy cần xây dựng lộ trình từng bước hoàn thiện Hàng năm tỉnh Bắc Ninh xây dựng kế hoạch đầu tư nạo vét các tuyến kênh, sửa chữa nâng cấp trạm bơm và cống đầu kênh giúp khơi thông dòng chảy và công suất tưới tiêu được cải thiện
Cuối cùng, Quy hoạch thủy lợi 2010-2020 được UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt từ năm 2010, đến nay hệ thống thủy lợi có nhiều biến động Do vậy, tỉnh Bắc Ninh cần điều chỉnh Quy hoạch thủy lợi đến năm 2020 để phù hợp hơn với tình hình thực tế hiện nay