1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường

101 482 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo hai phương pháp: i các số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính trong giai đoạn từ 2012 – 2015; ii Số liệu sơ cấp được thu thập th

Trang 1

CAO TRƯỜNG GIANG

QUẢN LÝ KINH PHÍ SỰ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG TẠI TRUNG TÂM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tác giả Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Cao Trường Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam và trong thời gian nghiên cứu viết Luận văn, bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy, các cô; các đơn vị có liên quan; gia đình và bạn bè đồng nghiệp

Trước hết cho phép bản thân tôi được cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy tiến sĩ Đỗ Quang Giám đã giúp tôi hoàn thành Luận văn của mình Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của Ban Lãnh đạo, các anh chị, các bạn đồng nghiệp công tác tại Trung tâm Quan trắc môi trường - Tổng cục Môi trường, Văn phòng Trung tâm, Các Phòng chức năng thuộc Trung tâm; các anh, chị công tác tại các Vụ chức năng của Tổng cục Môi trường đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập thông tin

Cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Cao Trường Giang

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục sơ đồ vii

Danh mục biểu đồ viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Ngân sách nhà nước 4

2.1.2 Đơn vị sự nghiệp 7

2.1.3 Kinh phí sự nghiệp môi trường 12

2.1.4 Quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường 15

2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường 24

2.2 Cơ sở thực tiễn 26

Phần 3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu 30

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30

3.1.1 Khái quát về Trung tâm Quan trắc môi trường 30

3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Quan trắc môi trường 31

3.1.3 Tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ 33

Trang 6

3.1.4 Kết quả hoạt động của Trung tâm 34

3.2 Phương pháp nghiên cỨu 40

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 40

3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 41

3.2.3 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 43

3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 43

3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45

4.1 Tổng quan về công tác quản lý kinh phí snmt tại tổng cục môi trường 45

4.2 ThỰc trẠng công tác quẢn lý kinh phí SNMT tẠi Trung tâm QTMT 54

4.2.1 Vai trò của các cơ quan có liên quan trong lập và thẩm định dự toán 54

4.2.2 Quy trình thực hiện lập dự toán và các định mức 55

4.2.3 Thực trạng sử dụng kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT 58

4.2.4 Phân bổ kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT 62

4.2.5 Thực trạng công tác thanh quyết toán 64

4.3 Đánh giá công tác quẢn lý kinh phí SNMT 70

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 82

5.1 Kết luận 82

5.2 Kiến nghị 83

5.2.1 Đối với các Bộ, Ngành có liên quan 83

5.2.2 Đối với Tổng cục Môi trường 83

5.2.3 Đối với lãnh đạo Trung tâm Quan trắc Môi trường 84

Tài liệu tham khảo 85

Phụ lục 87

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BTN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Phân bổ kinh phí SNMT tại TCMT giai đoạn 2012-2014 48

Bảng 4.2 Chi tiết các nguồn KPSN từ NSNN tại TTQTMT từ năm 2012-2014 53

Bảng 4.3 Nội dung chi kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT 59

Bảng 4.4 Cơ cấu chi kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT theo nhóm nhiệm vụ 61

Bảng 4.5 Phân bổ kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT cho các đơn vị trực thuộc 63

Bảng 4.6 Kết quả thanh quyết toán kinh phí SNMT theo các nhóm nhiệm vụ giai đoạn 2012-2014 68

Bảng 4.7 Kết quả thanh quyết toán kinh phí SNMT theo các đơn vị trực thuộc giai đoạn 2012-2014 69

Bảng 4.8 Đánh giá về quy định, khung pháp lý và công tác thực hiện 70

Bảng 4.9 Đánh giá về công tác lập, phân bổ dự toán và các định mức chi 71

Bảng 4.10 Đánh giá về công tác thanh quyết toán 72

Bảng 4.11 Đánh giá về năng lực cán bộ và trang thiết bị phục vụ công tác kê toán, tài chính 73

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ kinh tế - môi trường 13

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Quan trắc môi trường 33

Sơ đồ 4.1 Mô hình quản lý tại các đơn vị thuộc Bộ TN&MT 46

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1 Nguồn KPSN được sử dụng tại TTQTMT 50

Biểu đồ 4.2 Cơ cấu nguồn KPSN tại TTQTMT năm 2014 51

Biểu đồ 4.3 Cơ cấu KPSN được sử dụng tại TTQTMT từ năm 2012-2014 52

Biểu đồ 4.4 Tỉ lệ kinh phí SNMT được quyết toán giai đoạn 2012-2014 66

Biểu đồ 4.5 Đánh giá về việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 74

Biểu đồ 4.6 Đánh giá về công tác thanh tra, kiểm tra 75

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Luận văn này tập trung phân tích và đánh giá tình hình sử dụng các nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của Trung tâm Quan trắc môi trường – Tổng cục Môi trường Trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp cải tiến và đổi mới hoạt động quản lý nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường trong tương lai Các dữ liệu nghiên cứu được thu thập theo hai phương pháp: (i) các số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính trong giai đoạn từ 2012 – 2015; (ii) Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu với tổng số 34 nhà quản lý và nhân viên những người trực tiếp hoặc có môi liên hệ mật thiết đến hoạt động quản lý, sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của Trung tâm Quan trắc Môi trường – Tổng cục Môi trường Các kết quả nghiên cứu dựa trên việc phân tích dữ liệu từ các báo cáo tài chính chỉ ra rằng hoạt động quản lý nguồn kinh phí chung và nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường nói riêng của Trung tâm được thực hiện tương đối tốt Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như: (i) Một số đánh giá các nhiệm vụ chưa sát với thực tế; (ii) một số báo cáo tài chính không được thực hiện theo đúng các yêu cầu đề ra; (iii) Việc quản lý kiểm kê hóa chất sử dụng chưa được thực hiện; (iv) sự phối hợp với các cơ quan liên quan tới quản lý tài chính chưa thực sự tốt

Từ khóa: Quản lý tài chính; kinh phí sự nghiệp; kinh phí sự nghiệp môi trường; Trung tâm Quan trắc môi trường

Trang 12

THESIS ABSTRACT

This research aims to analyze, evaluate current situations of managing, using the environmental non-business expenditure source of Centre for Environmental Monitoring, from which proposes some solutions for completing, innovating the management of environmental non-business expenditure at Center in the future The datas are collected via two methods: (i) secondary data are collected from financial reports in period of 2012 to 2015; (ii) primary data are collected via questionnaire survey and deep interview with 34 managers, staffs who directly managed, used or closely related to the environmental non-business expenditure source of Centre for Environmental Monitoring The research results indicate that the management of financial in general and environmental non-business expenditure in particular at Center were implemented pretty well, based on the analysis of financial reports and data survey However, there are some limitations such as: (i) the estimation of some tasks are not close to reality; (ii) the quality of some of the financial statements do not meet the requirements; (iii) chemical inventory materials management are not impemented; (iv) the coordination with related agencies involved in financial management was not good Keywords: Finacial management, non-business expenditure, environmental non- business expenditure, Centre for Environmental Monitoring

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (2004) về “Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” là một chủ trương đúng đắn, đã tạo bước chuyển biến mới trong hoạt động bảo vệ môi trường của đất nước

Hiện nay ở nước ta, công tác Bảo vệ môi trường nói chung và công tác quan trắc môi trường nói riêng đang từng bước phát triển mạnh Song song với việc xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp lý quy định và hướng dẫn về công tác bảo vệ môi trường cũng như công tác quan trắc môi trường là việc đầu tư cơ

sở hạ tầng đồng bộ, trang thiết bị, nguồn lực phục vụ công tác bảo vệ môi trường

và công tác quan trắc môi trường

Với vai trò, chức năng nhiệm vụ của mình trong việc giúp Tổng cục Môi trường (TCMT) thiết kế và thực hiện 12 chương trình quan trắc tổng thể các vùng miền trên cả nước, Trung tâm Quan trắc Môi trường(TTQTMT) đang từng bước khẳng định sự phát triển và thể hiện được vai trò là Trung tâm đầu mạng trong mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia Hàng năm để thực hiện được các chương trình quan trắc Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường căn

cứ vào nguồn kinh phí Ngân sách nhà nước (NSNN) phân bổ cho hoạt động bảo

vệ môi trường tiến hành giao kinh phí sự nghiệp môi trường (kinh phí SNMT) cho Trung tâm để thực hiện các nhiệm vụ về quan trắc môi trường

Vấn đề đặt ra là việc sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường hàng năm tại Trung tâm trong việc thực hiện các nhiệm vụ về quan trắc môi trường theo chức năng, nhiệm vụ được giao đã thực sự hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm hay chưa? Kết quả quan trắc môi trường có phát huy được hiệu quả trong việc cung cấp thông tin, cảnh báo kịp thời cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường hay không? Xuất phát từ những vấn đề trên, là một cán bộ quản lý trong công tác kế toán tài chính công tác tại Trung tâm tôi chọn đề tài: “Quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường” làm luận văn tốt nghiệp, nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học;

Trang 14

đồng thời góp phần thiết thực vào công tác quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường cho các nhiệm vụ quan trắc môi trường tại Trung tâm

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý kinh phí chi SNMT;

- Đánh giá thực trạng quản lý kinh phí chi SNMT tại Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý kinh phí chi SNMT tại Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường trong những năm tiếp theo

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề cơ chế, chính sách, luật pháp có liên quan đến quản lý chi kinh phí SNMT tại Trung tâm Quan trắc môi trường, được cụ thể hóa

ở các đối tượng sau:

- Nguồn NSNN cho SNMT tại Trung tâm Quan trắc môi trường

- Quản lý sử dụng kinh phí SNMT tại TTQTMT, Tổng cục Môi trường;

Bộ Tài nguyên và Môi trường;

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Phạm vi về nội dung

Nghiên cứu công tác quản lý sử dụng kinh phí SNMT, trong đó tập trung nghiên cứu về quản lý chi kinh phí SNMT đối với nguồn NSNN cấp cho Trung tâm Quan trắc môi trường do nguồn thu ngoài ngân sách rất nhỏ

Trang 15

1.3.2.2 Phạm vi không gian

Nghiên cứu tại Trung tâm Quan trắc môi trường, một số nội dung chuyên sâu sẽ khảo sát tại một số đơn vị thuộc Tổng cục Môi trường

1.3.2.3 Phạm vi về thời gian

Nghiên cứu quản lý kinh phí SNMT tại Trung tâm Quan trắc môi trường

từ năm 2012 -2014 (thuộc giai đoạn ổn định ngân sách 2011-2015); các giải pháp

đề xuất hoàn thiện quản lý chi kinh phí SNMT trong những năm tiếp theo (giai đoạn ổn định ngân sách 2016- 2020)

Trang 16

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Ngân sách nhà nước

2.1.1.1 Khái niệm NSNN

Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế - lịch sử, gắn liền với sự ra đời của nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành nên NSNN, bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước

Từ “ngân sách” được lấy ra từ thuật ngữ “Budget” một từ tiếng Anh thời trung cổ, dùng để mô tả chiếc túi của nhà vua trong đó có chứa những khoản tiền cần thiết cho những khoản chi tiêu công cộng Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của nhà vua cho những mục đích công cộng như: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đường xá và chi tiêu cho bản thân hoàng gia không có sự tách biệt nhau Khi giai cấp tư sản lớn mạnh từng bước khống chế nghị viện và đòi hỏi tách bạch hai khoản chi tiêu này, từ đó nảy sinh khái niệm NSNN

Trong thực tiễn, khái niệm ngân sách thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định Một bảng tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là NSNN (Giáo trình Quản lý tài chính công, Học viện tài chính chủ biên PGS.TS Dương Đăng Chinh, TS Phạm Văn Khoan, xuất bản 2009)

Tại điều 1 Luật NSNN được Quốc hội (2002) khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ hai, cũng khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Với khái niệm trên, khi nói đến NSNN, người ta thường đề cập tới 3 đặc tính cơ bản:

- Tính pháp lý: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện

- Tính kinh tế: Phản ảnh các khoản thu và các khoản chi

- Tính niên độ: Thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định

Trang 17

NSNN Việt Nam gồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

2.1.1.2 Các khoản thu, chi NSNN

Theo nghị định số 60/2003/NĐ-CP năm 2003 của Chính phủ về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước:

Các khoản thu NSNN

Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta gồm:

- Thuế, phí, lệ phí do tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp luật (tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho

vay; thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế…)

- Thu từ hoạt động sự nghiệp; tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích; Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; thu từ bán hoặc cho thuê tài sản

thuộc sở hữu nhà nước

- Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các cá nhân

- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức,

cá nhân ở ngoài nước

- Thu từ Quỹ đất dự trữ tài chính; thu kết dư ngân sách

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản chi NSNN

- Chi đầu tư phát triển:

+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không

có khả năng thu hồi vốn;

+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; + Chi bổ sung dự trữ nhà nước;

+ Chi đầu tư phát triển thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;

+ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

Chi thường xuyên:

+ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, môi trường, xã hội, văn hóa thông

Trang 18

tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác;

+ Các hoạt dộng sự nghiệp kinh tế,

+ Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;

+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước;

+ Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;

+ Hoạt động của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hợp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam;

+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;

+ Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước;

+ Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội;

+ Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;

+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

+ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay

- Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức

ngoài nước

- Chi cho vay của ngân sách trung ương

- Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng

theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách Nhà nước

- Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị

định này

- Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới

- Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau

2.1.1.3 Chi ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường

Ngân sách nhà nước cho bảo vệ môi trường (BVMT) được sử dụng vào

Trang 19

các mục đích: Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường công cộng; Chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường (SNMT) Chi NSNN cho BVMT được đầu tư từ các nguồn kinh phí sau đây:

(i) Chi sự nghiệp môi trường: Được bố trí thành một khoản riêng trong NSNN từ năm 2006; các dự án, nhiệm vụ được bố trí theo nhiệm vụ chi quy định tại Thông tư liên tịch (TTLT) 114/2006/TTLT-BTC-BTNMT ngày 29/12/2006

và đã được thay thế bằng TTLT 45/2010/TTLT-BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường

(ii) Chi sự nghiệp khoa học: Được bố trí để triển khai thực hiện các đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất các công nghệ xử lý môi trường (MT) của Việt Nam, công nghệ thân thiện môi trường, nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn phục

vụ cho công việc xây dựng cơ chế, chính sách BVMT

(iii) Chi sự nghiệp kinh tế: Được bố trí để thực hiện các dự án, nhiệm

vụ có nội dung, tính chất điều tra cơ bản về MT

(iv) Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Được bố trí để đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải công ích (hệ thống xử lý chất thải bệnh viện, nước thải sinh hoạt tập trung, lò đốt chất thải bệnh viện,…), hệ thống quan trắc và phân tích môi trường (thiết bị và trạm quan trắc) Tuy nhiên, đầu tư từ nguồn này còn rất hạn chế và chưa được tách thành một nguồn riêng tương tự như chi SNMT (v) Chi từ vốn viện trợ quốc tế: Nguồn hỗ trợ quốc tế đã đóng góp một phần cho đầu tư các công trình xử lý MT tập trung ở các địa phương (bãi chôn lấp chất thải rắn tập trung, trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, lò đốt chất thải y tế,…); hỗ trợ kỹ thuật nhằm tăng cường năng lực quản lý môi trường (QLMT) các cấp, nâng cao nhận thức cộng đồng về BVMT, bảo tồn đa dạng sinh học

2.1.2 Đơn vị sự nghiệp

2.1.2.1 Khái niệm hoạt động sự nghiệp

Trong xã hội, con người tạo ra và tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau như sản xuất ra của cải để nuôi sống mình, tự nhận thức thế giới và giáo dục cho thế hệ sau những tri thức và kỹ năng mình đã tích lũy được, nghiên cứu và tìm cách chữa bệnh cho mình, rèn luyện thể lực và giải trí…Các Mác, và sau này là các học trò và người kế tục Người, đã quan niệm xã hội gồm nhiều tầng cấu trúc,

Trang 20

trong đó quá trình tạo ra của cải vật chất là cơ sở hạ tầng, bên trên nó là kiến trúc thượng tầng chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học, tinh thần…Khi xây dựng

mô hình xã hội chủ nghĩa hiện thực, các lý luận gia của các nước xã hội chủ nghĩa đã coi các hoạt động sản xuất là hoạt động kinh tế, các hoạt động của bộ máy nhà nước là hành chính và các hoạt động giáo dục, nghiên cứu, y tế, văn hóa, nghệ thuật là hoạt động sự nghiệp Hơn nữa, trong mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa thời bao cấp, ngoài các cơ sở sản xuất và thương mại quốc doanh bao trùm quá trình tái sản xuất xã hội, Nhà nước còn thành lập các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế, nghiên cứu…Để phân biệt chức năng và cơ chế hoạt động của các loại hình đơn vị cơ sở như thế, Nhà nước gọi các hoạt động sản xuất và thương mại là hoạt động kinh tế, các hoạt động nghiên cứu, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, nghệ thuật… là các hoạt động sự nghiệp Từ đó cho đến nay thuật ngữ hoạt động sự nghiệp được sử dụng thường xuyên trong các văn bản pháp lý

về quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, về mặt lý luận, chưa có công trình nào đưa

ra định nghĩa về hoạt động sự nghiệp

Theo tác giả nhận định, hoạt động sự nghiệp là những hoạt động do Nhà nước thực hiện nhằm cung cấp những dịch vụ có lợi ích chung và lâu dài cho cộng đồng xã hội Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tham gia vào quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất, nhưng nó tác động đến lực lượng sản xuất và xã hội thông qua việc nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng lao động cho nhân dân, cải thiện chất lượng sống của con người, duy trì, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tinh thần của dân tộc, phát triển khoa học… Kết quả hoạt động

sự nghiệp ảnh hưởng đến không chỉ phát triển kinh tế mà còn đến sự phát triển xã hội và đất nước

2.1.2.2 Khái niệm đơn vị sự nghiệp

Trong nền kinh tế-xã hội, để thực hiện các hoạt động sự nghiệp cần có các

tổ chức tiến hành các hoạt động đó, các tổ chức này được gọi là đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) Tuy nhiên, theo ngôn ngữ quen dùng ở Việt Nam, ĐVSN thường phải

là các cơ quan của Nhà nước “Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005”, ban hành theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TT ngày 15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ (2004) đã xác định: ĐVSN là một loại hình đơn vị được Nhà nước ra quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao trên lĩnh vực quản lý,

Trang 21

thực hiện các hoạt động sự nghiệp Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, nghiên cứu khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh

ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vị này, theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nước, mất đi, không thu hồi lại được vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN được Nhà nước trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu từ ngân sách nhà nước hoặc được bổ sung từ các nguồn khác

Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục vụ lợi ích cộng đồng, xã hội, đất nước Trong quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSN được phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải các khoản chi tiêu Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của Nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các ĐVSN, Nhà nước áp dụng cơ chế tài chính thích hợp để các ĐVSN thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Phù hợp với xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập, Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSN theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội

ĐVSN có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước Dịch vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước (chứ không có một tổ chức tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với

tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhà nước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp Người sử dụng dịch vụ có thể

Trang 22

trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng Chính vì vậy cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoán chi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu Dịch vụ và nguồn thu là cố định theo luật.Trong khi đó, dịch vụ của ĐVSN cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm khác biệt này cho phép ĐVSN có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính

ĐVSN có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường ĐVSN không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình

Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục

vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí Với chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều mang trong

nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nước và từ chi trả của người hưởng thụ

Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằng tiền, mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì thế, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSN thường khó khăn

2.1.2.3 Các loại hình đơn vị sự nghiệp

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại ĐVSN, căn cứ vào vị trí, ĐVSN được phân loại thành:

+ ĐVSN ở Trung ương là những ĐVSN trực thuộc Chính phủ như TTXVN, Đài Phát thanh Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học, các nhà xuất bản quốc gia…

+ ĐVSN ở địa phương như đài phát thanh truyền hình ở địa phương, các

bệnh viện, trường học, do địa phương quản lý,

Trang 23

- Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSN bao gồm: + ĐVSN giáo dục, đào tạo

+ ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)

+ ĐVSN văn hóa, thông tin

+ ĐVSN phát thanh, truyền hình

+ ĐVSN dân số-trẻ em, kế hoạch hóa gia đình

+ ĐVSN thể dục, thể thao

+ ĐVSN khoa học công nghệ, môi trường

+ ĐVSN kinh tế (Duy tu, sửa chữa đê điều, trạm trại, )

+ Đơn vị sự nghiệp khác (Đối với đơn vị sự nghiệp môi trường do có quy

mô nhỏ nên được xếp vào loại này)

- Căn cứ vào nguồn thu thì ĐVSN được chia thành hai loại:

Đơn vị sự nghiệp không có thu: Là đơn vị được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí để đảm bảo hoạt động của đơn vị và kinh phí được cấp theo nguyên tắc

không hoàn lại trực tiếp

ĐVSN có thu gồm hai loại:

+ ĐVSN có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp ổn định, bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên cho đơn vị

+ ĐVSN có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên: Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị

2.1.2.4 Khái niệm đơn vị sự nghiệp môi trường

Theo khoản 2 Điều 111 Luật Bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2005), đơn vị

sự nghiệp môi trường là các đơn vị sự nghiệp thực hiện các hoạt động liên quan đến lĩnh vực môi trường, cụ thể là các hoạt động sau: Quản lý hệ thống quan trắc

và phân tích MT; xây dựng năng lực cảnh báo, dự báo thiên tai và phòng ngừa, ứng phó sự cố MT; Điều tra cơ bản về MT; thực hiện các chương trình quan trắc hiện trạng MT, các tác động đối với MT; Điều tra, thống kê chất thải, đánh giá

Trang 24

tình hình ô nhiễm, suy thoái và sự cố MT; xây dựng năng lực tái chế chất thải, xử

lý chất thải nguy hại, hỗ trợ hoạt động tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải; Hỗ trợ

xử lý các cơ sở gây ô nhiễm MT nghiêm trọng; Quản lý các công trình vệ sinh công cộng; trang bị thiết bị, phương tiện thu gom rác thải sinh hoạt, vệ sinh MT ở khu dân cư, nơi công cộng; Kiện toàn và nâng cao năng lực của hệ thống QLNN

về BVMT; Xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức sự nghiệp BVMT; Điều tra, nghiên cứu, xây dựng, thử nghiệm, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ về BVMT; Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách, tiêu chuẩn, định mức kỹ thuật, mô hình quản lý về BVMT; Phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT; Quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu

về MT; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về MT; đào tạo, tập huấn chuyên môn, quản lý về BVMT; Tặng giải thưởng, khen thưởng về BVMT; Quản lý ngân hàng gen quốc gia, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân giống các loài động vật quý hiếm bị đe doạ tuyệt chủng; Quản lý các khu bảo tồn thiên

nhiên và các hoạt động sự nghiệp môi trường khác

2.1.3 Kinh phí sự nghiệp môi trường

2.1.3.1 Khái niệm kinh phí sự nghiệp

Nguồn kinh phí sự nghiệp là khoản kinh phí do Ngân sách Nhà nước hoặc cấp trên cấp cho đơn vị, hoặc được Chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong nước

và nước ngoài viện trợ, tài trợ trực tiếp thực hiện các chương trình mục tiêu, dự

án đã được phê duyệt, để thực hiện những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội do Nhà nước hoặc cấp trên giao không vì mục đích lợi nhuận

- Việc sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án phải theo đúng

dự toán được duyệt và phải quyết toán với cơ quan cấp kinh phí

- Nguồn kinh phí sự nghiệp cũng có thể được hình thành từ các khoản thu

sự nghiệp phát sinh tại đơn vị

2.1.3.2 Khái niệm kinh phí sự nghiệp môi trường

Khái niệm KPSNMT không phải là thông dụng trong lĩnh vực quản lý tài chính công trên thế giới Ở nước ta, kinh phí SNMT được thống nhất quy định là kinh phí cho "thực hiện các nhiệm vụ BVMT do ngân sách nhà nước (NSNN) bảo đảm" (theo Thông tư liên tịch Bộ Tài chính - Bộ TN&MT (2010) số 45/2010/TTLT-BTC- BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn thực hiện việc quản lý KPSNMT) Như vậy, KPSNMT là một nguồn lực tài chính cho BVMT và theo

Trang 25

Luật Ngân sách nhà nước (Quốc hội, 2002), KPSNMT thuộc mục nhiệm vụ chi thường xuyên

2.1.3.3 Sự cần thiết của nguồn kinh phí SNMT

BVMT là một nội dung của quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường, bởi lẽ sự tăng trưởng kinh tế phải dựa vào khai thác môi trường (nguyên vật liệu, năng lượng, …) cũng như thải các chất thải thải vào môi trường (chất thải rắn, nước thải, khí thải) Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường được khái quát ở hình 1

Sơ đồ 2.1 Mối quan hệ kinh tế - môi trường

Sơ đồ 2.1 về mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường cho thấy tính tất yếu

phải quản lý mối quan hệ này, ít ra bởi 2 lý do: một là, nếu không được quản lý

thì môi trường sẽ bị cạn kiệt về tài nguyên do bị khai thác quá mức và bị suy thoái, suy giảm chất lượng môi trường do bị ô nhiễm bởi chất thải thải ra vượt

quá khả năng hấp thụ hay năng lực tải của môi trường; hai là, sự tăng trưởng

kinh tế sẽ suy giảm, trở nên không bền vững bởi giá cả tài nguyên và năng lượng

sẽ gia tăng do khan hiếm, thậm chí còn bị triệt tiêu (mất đi) kéo theo nhiều hệ lụy về xã hội, chính trị Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều minh chứng cho mối quan hệ này một khi nó không được quản lý tốt

Trong quản lý nhà nước đối với phát triển, BVMT (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên) thuộc loại hoạt động công cộng cần Nhà nước quan tâm đầu tư tài chính, bởi cả lý do vai trò quan trọng của môi trường như là 1 trong 3 trụ cột của PTBV và bởi cả lý do bảo vệ môi trường chưa phải là lĩnh vực đem lại mức lợi nhuận đủ sức hấp dẫn đầu tư tư nhân Nhà nước cần đầu

Nguyên liệu Năng lượng

Trang 26

tư tài chính cho lĩnh vực BVMT và quy mô, phạm vi của đầu tư này phụ thuộc vào quy mô, phạm vi của nhu cầu, yêu cầu BVMT và sự tham gia của khu vực tư nhân, của các cộng đồng khác trong xã hội Điều này có nghĩa rằng, khi sự tham gia của khu vực tư nhân, của các cộng đồng khác trong xã hội cho BVMT càng lớn thì đầu tư của Nhà nước sẽ càng ít; và ngược lại, Nhà nước sẽ phải đầu tư cho BVMT nhiều hơn khi khu vực tư nhân và các cộng đồng khác ít quan tâm đầu tư

Về nguyên lý và tất yếu, phần đầu tư của Nhà nước cho BVMT cần phải ít hơn phần đầu tư của khu vực tư nhân và cộng đồng trong xã hội bởi nguyên tắc quản

lý trong BVMT là người khai thác, sử dụng, gây ô nhiễm hay hưởng thụ từ môi trường đều phải trả tiền (nguyên tắc PPP) Về xu hướng, phần đầu tư của Nhà nước cho BVMT luôn giảm đi và phần đầu tư của khu vực tư nhân và cộng đồng trong xã hội cho BVMT luôn tăng lên

Trong thực tế, mọi quốc gia đều phải dành một phần NSNN nhất định cho công tác quản lý môi trường, tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của đất nước

2.1.3.4 Vai trò của nguồn kinh phí SNMT

Trước năm 2006, chi NSNN cho hoạt động BVMT ở nước ta không có khoản mục riêng, mà được lấy từ khoản mục Chi sự nghiệp kinh tế theo Điều 21

và 24, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP của Chính phủ (2003) và được thực hiện theo các quy định tại Thông tư Liên tịch số 15/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 22/2/2005 của Liên Bộ Tài chính – Bộ TN&MT (2005) hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế thực hiện nhiệm vụ BVMT Nghị quyết Số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (2004) yêu cầu "NSNN cần có mục chi riêng cho hoạt động sự nghiệp môi trường và tăng chi để bảo đảm đến năm 2006 đạt mức chi không dưới 1% tổng chi NSNN và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế" Thực hiện yêu cầu này, bắt đầu từ năm 2006, NSNN đã dành 1% tổng chi ngân sách hàng năm cho khoản mục chi sự nghiệp môi trường Việc quản lý KPSNMT được thực hiện theo các quy định tại Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT- BTC-BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn thực hiện việc quản lý KPSNMT (Bộ Tài chính và Bộ TNMT, 2006), trước đó là Thông tư liên tịch số 114/2006 /TTLT-BTC-TNMT

Với việc hình thành mục chi riêng NSNN về SNMT đã tạo chuyển biến to lớn về đầu tư từ NSNN cho hoạt động BVMT Mặc dù đây chỉ là nguồn chi ngân sách thường xuyên, nhưng thực tế đã cho thấy nguồn chi này đã hỗ trợ, thúc đẩy

Trang 27

mạnh mẽ công tác BVMT (nhất là hoạt động quản lý môi trường) ở các Bộ, ngành và địa phương trong thời gian qua Nhiều điểm nóng, bức xúc về MT, nhiều cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đã xử lý xong hoặc đang được

xử lý

Như vậy kinh phí SNMT là một nguồn lực tài chính quan trọng cho BVMT ở nước ta Cùng với các nguồn lực khác, nguồn tài chính này đóng góp tích cực và mang lại những thành quả không chỉ trong công tác quản lý, BVMT

mà còn giúp cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu hướng tới PTBV

Do nguồn lực khan hiếm và có hạn nên nhu cầu đầu tư luôn luôn cao hơn khả năng đầu tư của nền kinh tế Điều này lý giải nguồn kinh phí phải được sử dụng có hiệu quả trong thời gian nhất định với một lượng kinh phí có hạn nhưng lại có thể thỏa mãn tốt nhu cầu đầu tư nhằm góp phần thỏa mãn tối đa nhu cầu xã hội

Như vậy, hiệu quả sử dụng KPSNMT là một phạm trù kinh tế khách quan

Nó tồn tại là do sự có hạn của các nguồn lực Yêu cầu sử dụng hiệu quả các nguồn lực nói chung, sử dụng hiệu quả nguồn KPSNMT nói riêng càng trở nên cấp thiết đối với nền kinh tế

2.1.4 Quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường

Quản lý kinh phí SNMT là quản lý thực hiện các nhiệm vụ BVMT do NSNN bảo đảm, cụ thể như sau: Phân cấp nhiệm vụ chi SNMT; Mức chi kinh phí SNMT; Lập, chấp hành và quyết toán NSNN kinh phí sự nghiệp môi trường

2.1.4.1 Phân cấp nhiệm vụ chi sự nghiệp môi trường

Nhiệm vụ bảo vệ môi trường do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương (sau đây gọi tắt là các Bộ, cơ quan trung ương) thực hiện do ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí Nhiệm vụ bảo

vệ môi trường do các cơ quan, đơn vị ở địa phương thực hiện do ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí

Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường không thấp hơn 1% tổng chi cân đối của ngân sách nhà nước trong dự toán ngân sách hàng năm

Trang 28

Đối với các đề án, dự án về bảo vệ môi trường phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt mới đủ điều kiện để bố trí kinh phí và triển khai thực hiện

* Nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương, gồm:

- Đảm bảo hoạt động của hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia theo Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ (2007) về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên

và môi trường quốc gia đến năm 2020 do các cơ quan, đơn vị trung ương quản lý (bao gồm cả mạng lưới trạm quan trắc và phân tích môi trường); thực hiện các chương trình quan trắc hiện trạng môi trường, các tác động đối với môi trường

- Hỗ trợ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm các nội dung: xây dựng dự án, điều tra khảo sát, phân tích đánh giá tình hình ô nhiễm, thực hiện xử lý ô nhiễm môi trường, mua bản quyền công nghệ xử lý chất thải (nếu có), kiểm tra, nghiệm thu dự án:

+ Dự án xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích do trung ương quản lý (đối với dự án có tính chất chi sự nghiệp bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường), thuộc danh mục dự án theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ (2003) về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ (2008) về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách nhà nước nhằm

xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích

+ Thu gom, vận chuyển, xử lý giảm thiểu, tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải tồn lưu, kiểm soát các nguồn thải và các điểm ô nhiễm môi trường tồn lưu do trung ương quản lý

+ Dự án xử lý chất thải cho một số bệnh viện, cơ sở y tế, trường học, các

cơ sở giam giữ của nhà nước do trung ương quản lý không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp

+ Các dự án, đề án về bảo vệ môi trường bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

- Thực hiện phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường quốc gia; bao gồm hỗ trợ trang thiết bị và hoạt động về ứng cứu các sự cố môi trường; xử lý ô nhiễm môi trường do thiên tai

Trang 29

- Quản lý khu bảo tồn thiên nhiên của Nhà nước; quản lý cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân giống một số loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

do trung ương quản lý

- Xây dựng và duy trì hoạt động hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường quốc gia (bao gồm thu thập, xử lý và trao đổi thông tin); hệ thống thông tin cảnh báo môi trường cộng đồng

- Báo cáo môi trường định kỳ và đột xuất; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược

- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật, quy trình

kỹ thuật về bảo vệ môi trường; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo

- Chi giải thưởng, khen thưởng cấp quốc gia về bảo vệ môi trường cho các

tổ chức, cá nhân có thành tích đóng góp trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền quyết định;

- Hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban điều hành, Văn phòng thường trực về bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền quyết định; vốn đối ứng các dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường (nếu có)

- Hỗ trợ Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

- Hỗ trợ cho các địa phương theo các dự án được cấp có thẩm quyền quyết định

- Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, sẽ bố trí chi từ nguồn thu phí được để lại để thực hiện)

Các hoạt động khác có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường

* Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương

- Đảm bảo hoạt động của hệ thống quan trắc và phân tích môi trường theo Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và

Trang 30

môi trường quốc gia đến năm 2020 do các cơ quan, đơn vị địa phương quản lý (bao gồm cả mạng lưới trạm quan trắc và phân tích môi trường); thực hiện các chương trình quan trắc hiện trạng môi trường, các tác động đối với môi trường của địa phương

- Hỗ trợ các nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm các nội dung: xây dựng dự án, điều tra khảo sát, đánh giá tình hình ô nhiễm, thực hiện xử lý ô nhiễm môi trường, mua bản quyền công nghệ xử lý chất thải (nếu có), kiểm tra, nghiệm thu dự án:

+ Dự án xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích do địa phương quản lý (đối với dự án có tính chất chi sự nghiệp bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường) thuộc danh mục dự án theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ (2003) về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ (2008) về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách nhà nước nhằm

xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích

+ Thu gom, vận chuyển, xử lý giảm thiểu, tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải

ở địa bàn địa phương quản lý Vận hành hoạt động các bãi chôn lấp chất thải hợp

vệ sinh

+ Dự án xử lý chất thải cho một số bệnh viện, cơ sở y tế, trường học, các

cơ sở giam giữ của nhà nước do địa phương quản lý không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp

+ Các dự án, đề án về bảo vệ môi trường bố trí từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường theo quyết định của cấp có thẩm quyền

- Quản lý các công trình vệ sinh công cộng; hỗ trợ trang bị thiết bị, phương tiện thu gom rác thải sinh hoạt, vệ sinh môi trường ở khu dân cư, nơi công cộng

- Thực hiện phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường địa phương; bao gồm

hỗ trợ trang thiết bị và hoạt động về ứng cứu các sự cố môi trường; hỗ trợ xử lý môi trường sau sự cố môi trường

- Quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên của Nhà nước; quản lý cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân giống một số loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt

Trang 31

chủng do địa phương quản lý

- Xây dựng và duy trì hoạt động hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về môi trường địa phương (bao gồm thu thập, xử lý và trao đổi thông tin); hệ thống thông tin cảnh báo môi trường cộng đồng

- Báo cáo môi trường định kỳ và đột xuất; thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của địa phương

- Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế

kỹ thuật, quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường ở địa phương; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường

- Hoạt động nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo

vệ môi trường tại địa phương

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ môi trường

- Chi giải thưởng, khen thưởng về bảo vệ môi trường cho các tổ chức, cá nhân có thành tích đóng góp trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền quyết định

- Hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban điều hành, Văn phòng thường trực về bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền quyết định; vốn đối ứng các dự án hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường (nếu có)

- Hỗ trợ Quỹ Bảo vệ môi trường của địa phương (nếu có)

- Xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường

- Các hoạt động khác có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Việc phân định cụ thể các nhiệm vụ chi về bảo vệ môi trường nêu trên của ngân sách địa phương cho các cấp ngân sách ở địa phương do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định

2.1.4.2 Nội dung quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường

* Định mức chi:

Chi công tác phí, hội nghị, tập huấn theo quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các cuộc hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập

Chi xây dựng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định tại Thông tư số

Trang 32

137/2007/TT-BTC ngày 28/11/2007 của Bộ Tài chính (2007) hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử; Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BTC-BTTTT ngày 26/5/2008 của Bộ Tài chính - Bộ Thông tin và Truyền thông (2008) hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí chi ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Thông tư số 18/2013/TT-BTNMT ngày 18/7/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013) ban hành Định mức kinh tế -

kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

Chi phân tích mẫu quan trắc môi trường được thực hiện theo các quyết định của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành các định mức kinh tế kỹ thuật quan trắc, phân tích môi trường: Quyết định số 10/2007/QĐ-BTNMT ngày 05/7/2007 ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc và phân tích môi trường không khí xung quanh và nước mặt lục địa; Quyết định số 02/2008/QĐ-BTNMT ngày 16/4/2008 ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường đất, nước dưới đất và nước mưa axit; Quyết định số 03/2008/QĐ-BTNMT ngày 18/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường nước biển, khí thải công nghiệp và phóng xạ; Thông tư số 18/2014/TT-BTNMT ngày 22 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường không khí xung quanh, nước mặt lục địa, đất, nước mưa axit, nước biển, khí thải công nghiệp và phóng xạ;

Mức hỗ trợ xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích thực hiện theo Quyết định số 58/2008/QĐ-TTg ngày 29/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ (2008) về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách nhà nước nhằm xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường cho một số đối tượng thuộc khu vực công ích

* Xây dựng dự toán:

Căn cứ lập dự toán:

Căn cứ nhiệm vụ bảo vệ môi trường đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường được lập theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BTNMT-BTC ngày 29/4/2008 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Tài chính (2008) hướng dẫn lập dự toán công tác bảo vệ môi trường thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường

Trang 33

Quy trình lập, phân bổ dự toán:

Hàng năm căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau, Thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách năm sau của Bộ Tài chính; Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn về chuyên môn, nhiệm vụ trọng tâm hoạt động bảo vệ môi trường cho các Bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, làm căn cứ xây dựng dự toán chi sự nghiệp môi trường

Đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp dự toán chi sự nghiệp môi trường của các đơn vị trực thuộc gửi Bộ Tài chính trước ngày 20 tháng 8 năm trước năm kế hoạch để tổng hợp vào phương án phân bổ ngân sách trung ương báo cáo Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định

Các cơ quan, đơn vị ở địa phương lập dự toán chi sự nghiệp môi trường gửi cơ quan tài nguyên và môi trường, đồng thời tổng hợp vào dự toán năm sau

để gửi cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư cùng cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước

Cơ quan tài nguyên và môi trường địa phương tổng hợp dự toán chi sự nghiệp môi trường của các cơ quan, đơn vị gửi cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, tổng hợp chung vào dự toán chi ngân sách cùng cấp để báo cáo Uỷ ban nhân

Trang 34

dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Sở Tài chính báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xác định tổng mức chi sự nghiệp bảo vệ môi trường của ngân sách địa phương đảm bảo không thấp hơn chỉ tiêu hướng dẫn chi sự nghiệp môi trường do Bộ Tài chính thông báo

Về hạch toán kế toán: Kinh phí chi sự nghiệp môi trường theo quy định được phản ánh và quyết toán vào Loại 280 “Hoạt động bảo vệ môi trường" với các Khoản tương ứng, theo Chương tương ứng của các Bộ, ngành, địa phương và chi tiết theo Mục lục ngân sách Nhà nước

* Chấp hành dự toán:

+ Chấp hành ngân sách nhà nước được coi là khân có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của mỗi chu trình quản lý ngân sách nhà nước Tại đây, những mong muốn, những dự đoán việc sử dụng kinh phí chi SNMT có trở thành hiện thực hay không là tùy thuộc vào khả năng điều hành và quản lý tài chính của đơn vị

Trong quá trình chi tiêu, các đơn vị sự nghiệp phải tổ chức quản lý chặt chẽ, tôn trọng dự toán được duyệt, các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu do nhà nước quy định về vật tư, lao động, tiền vốn Sử dụng có hiệu quả, thực hiện đúng tiến độ công việc theo kế hoạch

+ Về căn cứ chấp hành dự toán: Tất cả các khoản thu của đơn vị phải dựa :

trên dự toán đã được phê duyệt phù hợp với định mức do cơ quan quản lý cấp trên và nhà nước quy định

+ Về công tác kiểm soát thu, chi đối với nguồn kinh phí chi SNMT: Căn

cứ quyết định giao chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch năm của đơn vị dự toán cấp I, cấp

II các đơn vị dự toán cấp III trực thuộc lập dự toán chi nguồn SNMT trình đơn vị cấp trên thẩm tra, phê duyệt Trên cơ sở dự toán đã được duyệt và nhiệm vụ phải thực hiện, các đơn vị sự nghiệp lập kế hoạch sử dụng kinh phí chi tiết theo các mục chi của mục lục ngân sách gửi Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản để được cấp phát và sử dụng kinh phí Sau khi kết thúc quý, đơn vị phải làm giấy đề nghị thanh toán tạm ứng gửi KBNN để được Kho bạc quyết toán phần kinh phí

đã tạm ứng và tiếp tục cấp phát kinh phí cho quý tiếp theo

+ Về điều chỉnh dự toán: Trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh dự toán thu, chi hoạt động sự nghiệp môi trường, kinh phí thường xuyên

Trang 35

đã được giao cho phù hợp với tình hình thực tế gửi cơ quan chủ quản và kho bạc nhà nước để theo dõi, quản lý

Cuối năm ngân sách, các khoản kinh phí chưa sử dụng hết đơn vị báo cáo

cơ quan quản lý cấp trên đề nghị được chuyển sang năm sau để sử dụng

* Quyết toán:

Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng của chu trình quản lý kinh phí trong mỗi đơn vị sự nghiệp nhằm kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại toàn bộ số liệu đã được kế toán đơn vị phản ánh sau một kỳ hoạt động cho chính xác

Đồng thời tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của quá trình chấp hành ngân sách để phục vụ cho việc thuyết minh quyết toán Các đơn vị sự nghiệp phải tổ chức công tác kế toán, thống kê và báo cáo tài chính theo các quy định của pháp luật về chế độ kế toán thống kê áp dụng cho các đơn vị hành chính

sự nghiệp

Hệ thống chỉ tiêu báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải phù hợp, thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính và Mục lục ngân sách nhà nước, đảm bảo có thể so sánh được giữa số thực hiện với số dự toán và giữa các

kỳ kế toán với nhau

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của nhà nước

Báo cáo tình hình sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường trong kỳ kế toán, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị, là căn cứ quan trọng giúp cơ quan nhà nước, lãnh đạo đơn

vị kiểm tra, giám sát điều hành hoạt động của đơn vị

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách phải lập đúng, phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu theo mẫu, phải lập đúng kỳ hạn, nộp đúng thời hạn tới cơ quan tài chính và cơ quan thống kê , Kho bạc nhà nước nơi giao dịch để phối hợp kiểm tra, đối chiếu, điều chỉnh số liệu kế toán liên quan đến thu, chi ngân sách nhà nước và hoạt động nghiệp vụ chuyên môn của đơn vị

Kết thúc quá trình thẩm định quyết toán năm, cơ quan Tài chính ra thông báo thẩm định quyết toán kèm nhận xét, kiến nghị gửi đơn vị dự toán cấp I theo quy định Trường hợp phát hiện sai phạm, thực hiện xử lý hoặc đề nghị cơ quan

có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật

Sau khi thẩm định xong, cơ quan tài chính được ủy quyền của Chính phủ

Trang 36

hoặc UBND tỉnh trình Quốc hội hoặc HĐND tỉnh phê duyệt quyết toán từng năm Rõ ràng, chất lượng phê chuẩn quyết toán phụ thuộc nhiều vào khâu thẩm định quyết toán Chất lượng thẩm định lại phụ thuộc vào cán bộ thẩm định, vào phương pháp thẩm định, vào công nghệ kế toán, kiểm toán

Và, cho dù dựa vào những yếu tố nào chăng nữa thì hiện nay, việc thẩm định và phê duyệt quyết toán cũng chỉ “làm” trên những số liệu tài chính mà không nêu bật những số liệu phản ánh kết quả sử dụng kinh phí NSNN cấp Công nghệ chưa quan tâm đến kết quả thực đạt được ở khâu cuối cùng (quyết toán ngân sách) đó cũng cần được đổi mới

2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường

* Nhân tố khách quan:

Kinh phí SNMT là kinh phí cho thực hiện các nhiệm vụ BVMT do NSNN bảo đảm, do vậy nó luôn chịu sự tác động của các chính sách kinh tế - xã hội và

cơ chế quản lý tương ứng, cụ thể:

- Về kinh tế: Như đã biết, kinh tế quyết định các nguồn lực tài chính và

ngược lại các nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh mẽ đối với quá trình đầu

tư phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong quá trình hiện đại hóa nền

kinh tế

Kinh tế ổn định, tăng trưởng và phát triển bền vững là cơ sở đảm bảo vững chắc của nền tài chính Kinh tế càng phát triển nền tài chính càng ổn định

và phát triển, thì nguồn kinh phí SNMT càng ngày càng được ổn định, nâng cao

- Về mặt xã hội: Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định Sự ổn định

về chính trị - xã hội là cơ sở để động viên mọi nguồn lực và nguồn tài nguyên quốc gia cho sự phát triển Mặt khác, chính trị - xã hội cũng hình thành nên môi trường và điều kiện để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế; thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế cũng như tăng cường các nguồn lực tài chính nói chung và nguồn kinh phí SNMT nói riêng

- Về tình hình biến đổi khí hậu toàn cầu: hạn hán, lũ lụt, nước biển dâng,

hiệu ứng nhà kính ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đang là vấn đề cấp bách đòi hỏi thế giới phải chung tay để có những biện pháp làm giảm thiểu tác động, cải thiện môi trường

Nhân tố chủ quan:

(i) Cơ chế quản lý kinh phí SNMT:

Trang 37

Từ năm 2006 chi sự nghiệp môi trường được bố trí thành một khoản riêng trong NSNN, các dự án, nhiệm vụ được bố trí theo nhiệm vụ chi quy định tại TTLT 114/2006/TTLT - BTC - BTNMT ngày 29/12/2006 và đã được thay thế bằng TTLT 45/2010/TTLT - BTC - BTNMT ngày 30/3/2010 của Bộ Tài chính -

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010) hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường

Trong những năm qua nhờ có các cơ chế, chính sách tích cực của Đảng và Nhà nước, nguồn kinh phí SNMT không ngừng được đổi mới, hoàn thiện và hiệu quả cả về công tác quản lý và sử dụng Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh phí SNMT mà trọng tâm là hoàn thiện: Phân cấp nhiệm vụ chi SNMT; Mức chi kinh phí SNMT; Lập, chấp hành và quyết toán NSNN kinh phí sự nghiệp môi trường (ii) Vai trò và sự chỉ đạo chuyên môn của cơ quan quản lý nguồn kinh phí SNMT:

Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về TN&MT tại địa phương trong việc quản lý và sử dụng nguồn kinh phí SNMT có hiệu quả là rất quan trọng, thể hiện xây dựng dự toán, phân bổ và triển khai thực hiện kinh phí SNMT; sự phối hợp giữa

cơ quan Tài chính và cơ quan TN&MT trong việc xây dựng kế hoạch, tổng hợp và phân bổ nguồn chi, lộ trình chủ yếu để tập trung giải quyết cho các nhiệm vụ trọng tâm, các vấn đề trọng điểm và bức xúc về môi trường của địa phương

(iii) Chất lượng cán bộ:

Cũng như tất cả các công tác khác, chất lượng cán bộ là nhân tố quan trọng tác động tới chất lượng mọi hoạt động quản lý kinh phí SNMT Các cán bộ ngành TN&MT cần đáp ứng được yêu cầu về nghiệp vụ chuyên môn trong quá trình tham mưu phân bổ và quản lý kinh phí SNMT: Tài chính, kế toán, xây dựng dự án, quản

lý dự án,…; có phẩm chất đạo đức tốt; có bản lĩnh chính trị vững vàng

(iv) Công tác kiểm tra, kiểm soát:

Công tác kiểm tra, kiểm soát không những giúp cơ quan quản lý nguồn kinh phí SNMT đánh giá được những mặt còn tồn tại, hạn chế của sử dụng kinh phí SNMT, từ đó có những biện pháp khắc phục kịp thời, đảm bảo sử dụng kinh phí SNMT có hiệu quả Các cơ quan chủ quản ở trung ương và địa phương có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tài chính, cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp kiểm tra định kỳ, đột xuất các đơn vị trực thuộc về tình hình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, việc quản lý sử dụng, thanh quyết toán kinh phí

Trang 38

SNMT, nhằm bảo đảm sử dụng kinh phí đúng mục đích, có hiệu quả Sau khi kiểm tra, việc xử lý sai phạm nếu có như: sử dụng nguồn chi SNMT sai mục đích,… cũng ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng kinh phí SNMT

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Kinh nghiệm về chi NSNN cho BVMT trên thế giới

Các số liệu và các dẫn giải quốc tế dưới đây được tóm lược từ một nghiên cứu tổng quan: Chi ngân sách cho môi trường tại một số nước trên thế giới và định hướng cho Việt Nam của Đỗ Nam Thắng (2011), Tạp chí Môi trường, số 04-2011

Trong các tài liệu quốc tế thường sử dụng khái niệm phần chi cho môi trường trong chi NSNN, bao gồm tất cả các khoản chi cho môi trường từ NSNN (gọi chung là chi tiêu công cho môi trường - public environmental expenditure)

Do vậy, các số liệu sau đây là nói về phần chi cho môi trường trong chi NSNN:

(i) Về mức chi cho môi trường:

Tổng chi cho môi trường của các nước thuộc khối liên minh châu Âu (EU)

là 1,77% GDP Có xu hướng chuyển dịch chi BVMT từ nhà nước sang ngành công nghiệp dịch vụ môi trường Ví dụ, khu vực Nhà nước giảm từ 0,7% xuống còn 0,44% năm 2006, trong khi công nghiệp dịch vụ môi trường tăng từ 0,8% lên 0,86% GDP năm 2006 Nguyên nhân của sự chuyển dịch này là sự tăng cường tham gia của doanh nghiệp và ngành công nghiệp môi trường

Sự tập hợp các khoản chi môi trường tương đương của Việt Nam để so sánh quốc tế của nghiên cứu này cho thấy: nếu so sánh theo mức chi trên bình quân đầu người thì mức chi này của 27 nước được so sánh trung bình là 111 USD/ người, cao nhất là Hà Lan (597 USD/người), thấp nhất là Lào (0,3 USD/người) So với một số nước trong khu vực, mức chi của Việt Nam (4,5 USD/người, năm 2010) chỉ cao hơn mức chi của Lào, thấp hơn mức chi của Nhật Bản (168 USD/người, năm 2008), Hàn Quốc (68 USD/người, năm 2008), Trung Quốc (50 USD/người, năm 2008), Thái Lan (8 USD/người, năm 2009) Mức chi này của Việt Nam chỉ bằng 4% của mức trung bình nêu trên (4,5/111 USD/ người) Còn nếu tính chi cho môi trường theo tỷ lệ % GDP thì mức của Việt Nam (0,386%, năm 2010) thấp hơn mức chi trung bình của 39 nước so sánh là 0,55% (bằng 69% mức chi trung bình này)

Trang 39

(ii) Về phương thức chi:

Ngân sách cho môi trường được chi theo các vấn đề môi trường ưu tiên của từng quốc gia Trong các nước thuộc khối EU, NSNN chủ yếu dành cho xử

lý chất thải rắn và nước thải Một điểm đáng lưu ý là gần đây, các nước có xu hướng tăng quyền kiểm soát và điều phối chi ngân sách cho môi trường cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp Trung ương Ví dụ, ở Hàn Quốc, tỷ lệ chi ngân sách do Bộ Môi trường đảm nhận tăng từ 40% năm 2003 lên 80% năm

2005 và 98% năm 2007 Ở Estonia, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính những năm 2007 - 2008, tỷ lệ chi ngân sách cho môi trường ở cấp TƯ vẫn được ưu tiên tăng 30% Một điểm đáng lưu ý khác là xu hướng tập trung hóa trách nhiệm và quyền hạn quản lý nhà nước về môi trường cho Bộ Môi trường không chỉ diễn ra trong lĩnh vực chi ngân sách mà còn ở các lĩnh vực quản lý nhà nước khác ở một

số nước như Hàn Quốc và Nhật Bản

(iii) Về đánh giá hiệu quả chi cho môi trường:

Việc đánh giá này được các chính phủ rất quan tâm EU đã xây dựng hướng dẫn về cách thống kê chi cho môi trường trong ngân sách nhà nước, khối công nghiệp dịch vụ môi trường và các doanh nghiệp Thông tin về chi môi trường rất hữu ích cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư cho môi trường cũng như xác định các định hướng chiến lược cho công tác BVMT

Nghiên cứu này nêu ra 2 nhận xét như là gợi ý cho Việt Nam như sau:

(i) Tỷ lệ chi cho môi trường có xu hướng chuyển từ ngân sách nhà nước sang khối doanh nghiệp, dịch vụ môi trường Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải chi trả" và "người hưởng lợi phải chi trả"

(ii) Khi phát triển ở mức nhất định, tỷ lệ chi môi trường theo GDP sẽ giảm Xu hướng này cũng phù hợp với học thuyết Kuznets, theo đó khi đạt đến trình độ phát triển nhất định, các vấn đề ô nhiễm và suy thoái môi trường sẽ giảm Theo số liệu thống kê của 39 nước có số liệu thống kê, mức chi ngân sách cho môi trường tính trên GDP sẽ có xu hướng giảm khi GDP bình quân đầu người đạt mức khoảng 2.500 USD Tuy vậy, tỷ lệ chi môi trường theo đầu người vẫn có xu hướng tăng cùng với mức tăng của GDP

2.2.2 Kinh nghiệm về chi kinh phí SNMT tại Việt Nam

Các số liệu và các dẫn giải ở đây được tóm lược lại từ một nghiên cứu: Kinh phí sự nghiệp môi trường ở Việt Nam - Thực trạng, vấn đề và kiến nghị

Trang 40

(trong khuôn khổ Dự án Quản lý Nhà nước về Môi trường Cấp tỉnh ở Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi trường) - Nguyễn Danh Sơn (2012)

(i) Về mức chi cho môi trường:

Trong giai đoạn 2003-2007, ngành tài nguyên và môi trường chưa được xác lập trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân, chưa có ngân sách riêng, vì vậy việc theo dõi, tổng hợp thu chi ngân sách nhà nước cho toàn ngành chưa thực hiện được Tổng dự toán chi vốn đầu tư phát triển lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2003-2007 là 5.150 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước là 2.726 tỷ đồng, vốn nước ngoài là 2.524 tỷ đồng

Giai đoạn từ 2008-2010, tổng số chi cho lĩnh vực tài nguyên và môi trường là 21.617,8 tỷ đồng (trong đó, vốn đầu tư phát triển là 6.354,8 tỷ chiếm 30%, vốn sự nghiệp chiếm 70%), chiếm trên 1% tổng chi ngân sách nhà nước

Về đầu tư cho lĩnh vực tài nguyên và môi trường từ nguồn vốn ngoài nước, trong giai đoạn 2000-2009, tổng giá trị hiệp định về ODA trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã được ký kết có giá trị 3.213,94 triệu USD (bao gồm cả lâm nghiệp, cấp thoát nước, xử lý nước thải và vệ sinh môi trường), trong đó vốn vay đạt khoảng 2.425,71 triệu USD, viện trợ không hoàn lại đạt khoảng 788,23 triệu USD Số liệu tổng hợp mới nhất (tháng 4/2012) của Bộ Tài nguyên và Môi trường báo cáo Quốc Hội về nguồn lực tài chính quốc tế cho BVMT giai đoạn

2008 - 2011 có tổng số là 87.650.240 USD (quy ra tiền đồng là 1.860,864 tỷ đồng), trong đó vốn đối ứng của Việt Nam là 138,205 tỷ đồng

Chi sự nghiệp môi trường năm 2010 là 6.230 tỷ đồng, trong đó 5.250 tỷ đồng chi cho địa phương và 980 tỷ đồng chi cho các bộ, ngành ở trung ương

(ii) Về phương thức chi:

Chi ngân sách nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường trong giai đoạn này nhằm thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường, Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010, Kế hoạch Quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010, các hoạt động bảo

vệ môi trường như: điều tra khảo sát, báo cáo, lập dự án, đề án về môi trường; xây dựng năng lực cảnh báo, dự báo thiên tai và phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường; hỗ trợ quản lý, phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại; hỗ trợ xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường

Ngày đăng: 21/04/2017, 00:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), “Báo cáo Công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2005 - 2010 và phương hướng giai đoạn 2011- 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2005 - 2010 và phương hướng giai đoạn 2011- 2015
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2010
1. Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Thông tư liên tịch số 15/2005/TTLT - BTC - BTNMT ngày 22/02/2005 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường Khác
2. Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT - BTNMT - BTC ngày 29/4/2008 hướng dẫn lập dự toán công tác bảo vệ môi trường thuộc nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường Khác
3. Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), Thông tư liên tịch số 114/2006/TTLT - BTC - BTNMT ngày 29/12/2006 hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường Khác
4. Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Thông tư liên tịch số 45/2010/TTLT - BTC - BTNMT ngày 30/3/2010 hướng dẫn việc quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường Khác
5. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 194/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 hướng dẫn mức chi tạo lập thông tin điện tử nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước Khác
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Quyết định số 784/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2012 về ban hành quy định về tiêu chuẩn, mức chi thanh toán công tác phí và hội nghị phí sử dụng ngân sách nhà nước trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc bộ Tài nguyên và Môi trường Khác
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Quyết đinh số 2090/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2014 về việc ban hành đơn giá chi tiết sản phẩm quan trắc và phân tích môi trường nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch sử dụng nguồn vốn Trung ương năm 2014 Khác
9. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2014), Quyết định số 2075/QĐ-BTC ngày 25 tháng 8 năm 2014về mức tối đa đơn giá sản phẩm quan trắc và phân tích môi trường Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch sử dụng nguồn ngân sách Trung ương năm 2014 Khác
10. Chính phủ (2003), Nghị định số 60/2003/NĐ - CP ngày 10/6/2003 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật ngân sách nhà nước Khác
11. Chính phủ (2013), Nghị quyết số 35/2013/NQ-CP ngày 18/3/2013 về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Khác
12. Dương Đăng Chinh, TS. Phạm Văn Khoan (2009), Giáo trình Quản lý tài chính công, Học viện tài chính, NXB Tài chính Khác
14. PGS. TS. Nguyễn Danh Sơn (2012), Báo cáo nghiên cứu: Kinh phí sự nghiệp môi trường ở Việt Nam - Thực trạng, vấn đề và kiến nghị (trong khuôn khổ Dự án Quản lý Nhà nước về Môi trường Cấp tỉnh ở Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi trường), Hà Nội Khác
15. PGS.TS. Nguyễn Danh Sơn (2012), Một số ý kiến về kinh phí sự nghiệp môi trường trong bảo vệ môi trường ở nước ta, Tạp chí Môi trường, Tổng cục Môi trường, số 7 - 2012, Hà Nội Khác
17. Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (2013), Quyết định số 118/QĐ-TCMT ngày 8/3/2013 về việc Về việc ban hành quy chế quản lý các dự án, nhiệm vụ thuộc nguồn vốn sự nghiệp môi trường và sự nghiệp kinh tế của Tổng cục Môi trường Khác
18. Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (2014), Quyết định số 68/QĐ-TCMT ngày 10/02/2014 về việc giao kế hoạch và dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2014 Khác
19. Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (2014), Quyết định số 722/QĐ-TCMT ngày 01/7/2014 về việc phê duyệt lựa chọn giá dịch vụ quan trắc tại hiện trường và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm phục vụ hoạt động quan trắc môi trường, thanh tra, kiểm tra, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường năm 2014 (thuê ngoài) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Mối quan hệ kinh tế - môi trường - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Sơ đồ 2.1. Mối quan hệ kinh tế - môi trường (Trang 25)
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Quan trắc môi trường - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Quan trắc môi trường (Trang 45)
Sơ đồ 4.1. Mô hình quản lý tại các đơn vị thuộc Bộ TN&MT - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Sơ đồ 4.1. Mô hình quản lý tại các đơn vị thuộc Bộ TN&MT (Trang 58)
Bảng 4.1. Phân bổ kinh phí SNMT tại TCMT giai đoạn 2012-2014 - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.1. Phân bổ kinh phí SNMT tại TCMT giai đoạn 2012-2014 (Trang 60)
Bảng 4.3. Nội dung chi kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.3. Nội dung chi kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT (Trang 71)
Bảng 4.4. Cơ cấu chi kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT theo nhóm - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.4. Cơ cấu chi kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT theo nhóm (Trang 73)
Bảng 4.5. Phân bổ kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.5. Phân bổ kinh phí SNMT tại Trung tâm QTMT (Trang 75)
Bảng 4.6. Kết quả thanh quyết toán kinh phí SNMT theo các nhóm nhiệm vụ giai đoạn 2012-2014 - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.6. Kết quả thanh quyết toán kinh phí SNMT theo các nhóm nhiệm vụ giai đoạn 2012-2014 (Trang 80)
Bảng 4.7. Kết quả thanh quyết toán kinh phí SNMT theo các đơn vị trực thuộc giai đoạn 2012-2014 - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.7. Kết quả thanh quyết toán kinh phí SNMT theo các đơn vị trực thuộc giai đoạn 2012-2014 (Trang 81)
Bảng 4.8. Đánh giá về quy định, khung pháp lý và công tác thực hiện - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.8. Đánh giá về quy định, khung pháp lý và công tác thực hiện (Trang 82)
Bảng 4.9. Đánh giá về công tác lập, phân bổ dự toán và các định mức chi - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.9. Đánh giá về công tác lập, phân bổ dự toán và các định mức chi (Trang 83)
Bảng 4.10. Đánh giá về công tác thanh quyết toán - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.10. Đánh giá về công tác thanh quyết toán (Trang 84)
Bảng 4.11. Đánh giá về năng lực cán bộ và trang thiết bị phục vụ - quản lý kinh phí sự nghiệp môi trường tại trung tâm quan trắc môi trường, tổng cục môi trường
Bảng 4.11. Đánh giá về năng lực cán bộ và trang thiết bị phục vụ (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w