Đối với chương trình hoạt động âm nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, tôi thấy rằng để công tác giáo dục mầm non được tốt hơn, đặc biệt để quá trình giáo dục âm nhạc, giáo dục nghệ thuật thự
Trang 1Lêi c¶m ¬n
Em xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt 4 năm học vừa qua
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS Nguyễn Anh Việt vì thầy
đã luôn quan tâm và tận tình giúp đỡ hướng dẫn em trong suốt thời gian em thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường mầm non Họa Mi, trường mầm non Đống Đa cùng các cô, các cháu lớp A11 đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh động viên, khích lệ, là chỗ dựa tinh thần vững chắc giúp em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tuy nhiên cũng không tránh được những sai sót, em mong rằng quý thầy cô và các bạn sẽ có những ý kiến đóng góp để khóa luận của
em hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Phùng Thị Hậu
Trang 2DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
VĐTN : Vận động theo nhạcGDÂN : Giáo dục âm nhạcGVMN : Giáo viên mầm non
MN : Mầm nonMGL : Mẫu giáo lớn
GV : Giáo viên
GD : Giáo dục
TN : Thực nghiệm
ĐC : Đối chứngTC1 : Tiêu chí 1TC2 : Tiêu chí 2TC3 : Tiêu chí 3B1 : Bài 1B2 : Bài 2B3 : Bài 3
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ so sánh mức độ hứng thú VĐTN của trẻ mẫu giáo5-6 tuổi của 2 nhóm (TN và ĐC) trước TN 61 Biểu đồ 4.2: Biểu đồ so sánh mức độ hứng thú VĐTN của trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi của 2 nhóm (TN và ĐC) sau TN 62 Biểu đồ 4.3: Biểu đồ thể hiện sự chênh lệch điểm TB của 2 nhóm (ĐC và TN)
trước và sau TN 63
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do lựa chọn đề tài.
Trong thời kỳ khoa học công nghệ hiện đại, trẻ em chính là chìa khóa
mở cánh cửa tương lai của đất nước Việc trang bị cho trẻ những tri thức khoa học và nhân cách toàn diện để theo kịp thời đại là việc vô cùng quan trọng, trong đó giáo dục âm nhạc là phương tiện có ý nghĩa đặc biệt giúp trẻ phát triển một cách toàn diện về nhân cách ấy
Như chúng ta đã thấy âm nhạc là loại hình nghệ thuật âm thanh phản ánh cuộc sống xung quanh chúng ta một cách chân thực mà đẹp đẽ Âm nhạc tạo khả năng đồng cảm, thống nhất con người trong cùng nỗi xúc động
và trở thành phương tiện giao tiếp hết sức nhạy cảm, cũng chính nhờ thứ ngôn ngữ biểu cảm đặc biệt này mà con người ở khắp mọi nơi trên Trái đất không cùng ngôn ngữ, phong tục tập quán, chế độ xã hội …ở chừng mực nào đó vẫn có hiểu biết nhất định về nhau
Âm nhạc đối với trẻ em là một thế giới đầy cảm xúc Âm nhạc cuốn hút trẻ thơ bằng sự hấp dẫn của chính bản thân nó bởi vậy âm nhạc đã giúp trẻ đến với thế giới xung quanh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
Ở lứa tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi rất yêu thích hoạt động, thích khám phá cái mới và muốn thể hiện bản thân mình Trẻ tiếp nhận thế giới xung quanh bằng trực quan cảm tính nên thế giới tinh thần của trẻ được biểu hiện chủ yếu là tình cảm Vì thế âm nhạc gắn vận động là rất cần thiết đối với trẻ Khi nghe hát hay nghe nhạc, những bài hát, những bản nhạc đem đến cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ kết hợp với đặc điểm thích hoạt động nên trẻ ngẫu hứng vỗ tay, nghiêng người hoặc nhảy múa (vận động theo nhạc) điều này làm cho âm nhạc và vận động có mối quan hệ khăng khít, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thì âm nhạc và vận động theo nhạc có sức hút mạnh mẽ và sâu sắc Với biện pháp thay đổi nhịp độ của các bản nhạc thiếu nhi cùng kết hợp với hình thức vận động
Trang 7đơn giản sẽ làm tăng thêm khả năng cảm thụ nghệ thuật, cũng như tạo ra hứng thú vận động ở trẻ Từ đây, trẻ sẽ bộc lộ những xúc cảm, tình cảm của mình – là niềm vui, niềm hạnh phúc, sự tự tin để thể hiện cá tính.
Qua quá trình kiến tập, thực tập tại các trường mầm non, tôi nhận thấy rằng hoạt động âm nhạc (nội dung chính là vận động theo nhạc) với cách khai thác các bản nhạc thiếu nhi còn hạn chế, kém hấp dẫn, các bài vận động chưa phù hợp với khả năng của trẻ điều này đã phần nào làm hạn chế kĩ năng vận động, khả năng cảm thụ âm nhạc, cũng như hứng thú, tính tích cực của trẻ trong hoạt động âm nhạc Trong khi đó những bản nhạc thiếu nhi sẽ giúp trẻ cảm nhận trực tiếp về âm nhạc, khi thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi kết hợp với các tổ hợp vận động đơn giản phù hợp với bản nhạc sẽ tạo cho trẻ hứng thú vô cùng đặc biệt Nếu bỏ qua điều này sẽ làm kìm hãm kĩ năng vận động, khả năng cảm thụ âm nhạc cũng như hứng thú của trẻ trong hoạt động
âm nhạc Đối với chương trình hoạt động âm nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, tôi thấy rằng để công tác giáo dục mầm non được tốt hơn, đặc biệt để quá trình giáo dục âm nhạc, giáo dục nghệ thuật thực sự có ý nghĩa góp phần phát triển toàn diện ở trẻ thì trên các hoạt động âm nhạc cần tìm hiểu thêm về thực trạng
và đưa ra một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ Bản thân tôi trong quá trình học tập tại trường đại học đã có những trang bị cơ sở lí luận, phương pháp tổ chức…cũng như được tiếp cận với nghệ thuật (âm nhạc, múa…) Chính vì những lí do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp cử nhân khoa học của tôi là
:“ Thực trạng và một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”.
2 Mục đích nghiên cứu.
Thực trạng và một số biện pháp thay đổi nhịp độ của các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhằm
phát triển kỹ năng vận động theo nhạc, khả năng cảm thụ âm nhạc trong
hoạt động âm nhạc tại trường mầm non
Trang 83 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Nghiên cứu quá trình tổ chức các hoạt động có sử dụng tác phẩm âm nhạc trong giáo dục VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng và một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
4 Giả thuyết khoa học.
Tôi tin rằng: “ Nếu nghiên cứu nội dung, nhịp độ, tiết tấu các bản nhạc thiếu nhi; đặc điểm tâm – sinh lí và sự cảm thụ của trẻ khi sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ trong các hoạt động tại trường mầm non thì sẽ hình thành hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi”
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về âm nhạc và giáo dục âm nhạc cho trẻ mầm non
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi
nhịp độ để tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động ở trường mầm non
- Đề xuất một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động ở trường mầm non
- Thực nghiệm một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động giáo dục âm nhạc ở trường mầm non
6 Phạm vi nghiên cứu.
- Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng, đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động tại trường mầm non
- Địa bàn: Trường mầm non Họa Mi, trường mầm non Đống Đa
Trang 97 Phương pháp nghiên cứu.
7.1.Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lí luận liên quan đến
đề tài nghiên cứu
7.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp quan sát tự nhiên: Quan sát GV và trẻ trong các hoạt động tại trường có sử dụng hoạt động VĐTN
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện với GV và trẻ để thu thập những thông tin có liên quan đến việc sử dụng hoạt động VĐTN trong các hoạt động ở trường mầm non
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket): Sử dụng phiếu trưng
cầu ý kiến GV để tìm hiểu thực trạng sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ để tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động ở trường mầm non
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: TN kiểm định và TN tác động (TN sư phạm các biện pháp đã đề xuất để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của biện pháp đó
7.3.Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học.
Chúng tôi sử dụng phần mềm EPI6.EXE để kiểm định T sau quá trình TN
8 Kế hoạch nghiên cứu.
-Từ tháng 9/2015 đến 10/10/2015: Đọc, phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài và xây dựng đề cương cho đề tài nghiên cứu
- Tháng 11/2015: Đọc, phân tích, hệ thống hóa các hóa các vấn đề lí luận
có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
- Tháng 12/2015 đến hết tháng 1/2016: Tìm hiểu thực trạng ứng dụng việc thay đổi tốc độ của một số bản nhạc thiếu nhi không lời giúp trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hứng thú vận động
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới.
Âm nhạc là tiếng nói tình cảm sâu sắc, trực tiếp, nó đi thẳng vào trái
tim con người và nó khó có thể diễn tả bằng lời nói: “Nơi nào mà lời nói bất
lực, thì ở đó sẵn sàng xuất hiện một thứ tiếng nói hùng hồn hơn…Đó là âm nhạc” (T.Trai-kôp-ski).
Chính vì vậy trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến tầm quan trọng của âm nhạc đối với trẻ
Đại văn hào M.Gorki nhận xét: “Âm nhạc có tác động kì diệu tới tận
đáy lòng, nó khám phá ra các phẩm chất cao quý của con người Chính vì vậy, người lớn cần đặc biệt quan tâm tới việc giáo dục âm nhạc cho trẻ cáng sớm càng tốt”
Nhà chỉ huy dàn nhạc nổi tiếng Lô-tô-kôp-xki viết : “Cả người lớn,
cả trẻ em, thông thường khi nghe nhạc đều có ý muốn cử động theo nhịp, tiết tấu Tay họ đung đưa, chân gõ nhịp, đầu lắc lư Đó là hình thức múa tự phát Nhiều khi các em nhỏ vừa nghe nhạc, vừa tự ngẫu hứng điệu múa có tiết tấu độc đáo của mình” [1]
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng âm nhạc giúp trẻ thoải mái học tập và hoạt động tốt, trí nhớ phát triển, trí tưởng tượng ngày càng phong phú Vì vậy âm nhạc giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ…hình thành nhân cách ở trẻ
Nhiều nhà hoạt động xã hội cũng đánh giá cao vai trò ca hát với đời sống trẻ em, nó tác động đến tâm - sinh lí góp phần quan trọng vào sự phát triển của trẻ:
Về tâm lí: Ca hát, VĐTN tạo ra cảm xúc, là sự tác động qua lại giữa
âm điệu với thính giác tư duy Trẻ em có khả năng ghi nhớ giai điệu và thể
Trang 12hiện lại theo hứng thú Chúng ta thường thấy những đứa trẻ vừa đi vừa hát rất tự nhiên, hay ngồi hát vu vơ và đưa tay đưa chân ngẫu hứng theo lời bài hát đó.
Về sinh lí: Ca hát, VĐTN giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, phát triển khả
năng âm nhạc và phát triển cảm giác nhịp điệu, nhịp độ Sự hứng thú vận động thoe nhịp độ sẽ góp phần tích cực vào việc phát triển thể chất, phát triển trí tuệ của trẻ
Khi nghiên cứu về VĐTN, nhiều nhà khoa học cho rằng: VĐTN rất gần gũi và quen thuộc đối với con người Có nhiều công trình nghiên cứu về
âm nhạc, VĐTN cũng như mối quan hệ của chúng với con người mà đối tượng chủ yếu là người lớn Trẻ em là một thế giới thu nhỏ Trẻ sẽ trở nên sâu sắc và hoàn thiện hơn khi tiếp xúc với nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, đặc biệt là tiếp xúc với nghệ thuật Giáo dục nghệ thuật nói chung và giáo dục âm nhạc cũng như VĐTN nói riêng là một lĩnh vực tác động rất lớn đối với sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ Với nhịp độ âm nhạc sẽ giúp tác động trực tiếp đến thính giác người nghe nhất là đối với trẻ, khi thay đổi nhịp độ bản nhạc sẽ tạo ra hứng thú mạnh cho trẻ vận động theo nhạc, chính vì vậy đây là một nghiên cứu cần thiết
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng vận động cũng như
tâm vận động theo giai điệu, tiết tấu của trẻ “Vận động theo nhạc” được
đưa đến với trẻ từ rất sớm và nó được coi là cơ sở khởi đầu của việc hình thành thị hiếu nghệ thuật Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về con người đã khẳng định rằng, từ lúc sơ sinh đến 10 tuổi là thời kì tốt nhất cho
sự phát triển năng khiếu nghệ thuật Những ấn tượng để lại trong thời kì này
sẽ theo trẻ trong suốt cuộc đời mà âm nhạc là một nghệ thuật lôi cuốn mạnh
mẽ nhất Viện thông tấn Viện hàn lâm các khoa học sư phạm Liên xô, anh
hùng xã hội chủ nghĩa Xu-khôm-lin-ski đã tổng kết: “ Tuổi thơ ấu không thể
thiếu âm nhạc, cũng như không thể thiếu trò chơi và truyện cổ tích Thiếu những cái đó, trẻ em chỉ còn là những bông hoa khô héo…”[4].
Trang 131.1.2 Ở Việt Nam.
Một số công trình nghiên cứu về GDÂN cho trẻ mầm non mà tôi được biết đến như sau:
- Khóa luận tốt nghiệp Đại học của Hoàng Kim Anh : “Thiết kế và sử
dụng một số dụng cụ âm thanh tự tạo trong quá trình dạy trẻ mẫu giáo lớn học hát- vận động”, tác giả đã đề cập cách sử dụng một số đạo cụ để gõ theo
nhịp điệu, tiết tấu chứ chưa đề xuất cách làm các đạo cụ đó từ các nguyên vật liệu sẵn có
- Luận văn tốt nghiệp Đại học của Dương Thị Phương : “Bước đầu
dạy một số bài dân ca cho trẻ 5-6 tuổi” ngoài, dạy hát tác giả cũng sử dụng
dạy trẻ một số biện phát dạy trẻ vận động dựa vào chất liệu âm nhạc dân gian
- Luận văn tốt nghiệp Đại học của Nguyễn Thị Vân : “Một số biện
pháp nhằm nâng cao tính tích cực của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động múa thông qua âm nhạc dân gian”, tác giả cũng đã xây dựng một số biện pháp
giúp trẻ tích cực thực hiện một số động tác múa với âm nhạc dân gian
- Phạm Thị Hòa- Ngô Thị Nam, Giáo dục âm nhạc tập 1, hai tác giả
đã đề cập về kiến thức nhạc lí cơ bản và xướng âm Cuốn sách trang bị cho giáo viên những kiến thức cơ bản ban đầu trong quá trình học tập, rèn luyện
và nghiên cứu âm nhạc
- Phạm Thị Hòa, Giáo dục âm nhạc tập 2 (Phương pháp giáo dục âm
nhạc trong trường mầm non) Tác giả đã đề cập vai trò của GDÂN nói
chung và VĐTN nói riêng từ đó đưa ra phương pháp dạy các hoạt động ca hát, VĐTN, nghe hát, trò chơi âm nhạc ở trường mầm non Ngoài ra tác giả còn đề cập đến đặc điểm tâm-sinh lí liên quan đến hoạt động âm nhạc, các hình thức tổ chức và những điểm mới hiện nay trong GDÂN
Các công trình nghiên cứu về vận động theo nhạc như:
Trang 14- Bùi Thị Hằng với khóa luận tốt nghiệp Đại học : “Một số biện pháp
tăng cường khả năng thể hiện các bài hát mang tính chất vui nhộn nhảy múa cho trẻ mầu giáo 5-6 tuổi”.
- Luận văn tốt nghiệp của Đặng Thị Lê Na : “Một số biện pháp tổ
chức vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non”.
- Lê Tuấn Đức với khóa luận tốt nghiệp Đại học : “ Một số biện pháp
hướng dẫn trẻ Mẫu giáo lớn 5-6 tuổi thể hiện tác phẩm âm nhạc mang tính hành khúc”.
- Ngô Hải Yến với khóa luận tốt nghiệp Đại học : “Bước đầu áp dụng
hình thức vận động theo nhạc mới cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” Tác giả mới
chỉ tìm hiểu các hình thức VĐTN chứ chưa đi sâu vào việc tổ chức VĐTN cho trẻ 5-6 tuổi và cũng chưa đề xuất được các biện pháp tổ chức VĐTN cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động GDÂN trên hoạt động học
Mỗi đề tài nghiên cứu trên tập trung vào một khía cạnh của việc tổ chức VĐTN cho trẻ mẫu giáo nhằm nâng cao chất lượng GDMN nói chung
và chất lượng hoạt động âm nhạc của trẻ nói riêng nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động GDÂN Chúng tôi hi vọng, với công trình của mình việc thay đổi nhịp
độ các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi sẽ được quan tâm và đầu tư một các thích đáng hơn, để GDÂN thực
sự hấp dẫn trẻ và đạt hiệu quả giáo dục cao Đây chính là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài của mình
Trang 15Về sinh lí : “Vận động là sự chuyển động của cơ thể con người trong
đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh”.
Trong cuốn từ “Từ điển tâm lí học”, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có đua
ra khía niệm về Tâm vận động như sau: “Thần kinh phát triển đến đâu thì
vận động phát triển theo và kết hợp với sự luyện tập, với kinh nghiệm chịu
sự chi phối của tình cảm, vận động dần phù hợp với ý đồ, mục tiêu.Trong thời thơ ấu, phát triển vận động và trí khôn gắn liền với nhau.”
VĐTN có thể có quy luật định nhất định do đã tích lũy khinh nghiệm,
hoặc không có luật động, tự tùy hứng Sốt-xta-cô-vich viết : “Khi nghe nhạc
người ta đều cảm thấy muốn được chuyển động theo nhịp điệu của nó, ta bắt đầu làm các động tác tay, đập 2 chân, lúc lắc đầu Đó là điệu vô thức”
[9]
Ở mức độ đơn giản ,VĐTN thường là một số động tác đơn lẻ như đung đưa, vỗ tay, dậm chân,…biểu hiện tính chất, nhịp độ theo một nét nhạc, một tiết tấu nhất định của bài hát, bản nhạc Ví dụ các động tác đung đưa, nhún lên,
nhún xuống hoặc các động tác đưa nôi, đưa võng theo bài “Ru con mùa đông” của nhạc sĩ Đặng Hữu Phước …Tuy nhiên, các động tác đó ngoài sự trong âm
nhạc còn được tạo dáng ở một tư thế nào đó Các động tác này đơn giản nhưng bước đầu giúp trẻ làm quen với nghệ thuật múa Những động tác này phù hợp với trẻ, nó vừa sức và tạo sự hấp dẫn đối với trẻ
1.2.2 Khái niệm về nhịp độ, nhịp điệu.
* Nhịp độ là tốc độ chuyển động.[2]
Trang 16Trong âm nhạc, nhịp độ là một trong những phương tiện diễn cảm, phụ thuộc vào nội dung tác phẩm âm nhạc Các danh từ chỉ nhịp độ chủ yếu dùng tiếng Italia được chia thành ba nhóm cơ bản: Chậm, vừa, nhanh.
Rộng rãiChậm rãiChậm thong thảChậm nặng nề
Thanh thản không vội vàngNhannh hơn andante
Vừa phảiSôi động
Nhanh Allegro
Vivace
Presto
Alei-grôVi-va-x’
Prex-tô
NhanhRất nhanhNhanh hối hả
Để tăng cường tính diễn cảm khi biểu diễn tác phẩm âm nhạc, hay một bài hát nào đó, người ta thường dùng hình thức tăng nhanh hoặc ghìm lại tốc độ chuyển động chung
Rit.(ritenuto): ghìm lại
Rall.(rallentando): chậm lại
Animado: hào hứng
Stretto: cô đọng,dồn lại
Để trở lại nhịp độ ban đầu người ta dùng:
A tempo: vào nhịp.[2]
* Nhịp điệu: Nhịp điệu còn được gọi là tiết tấu Nhịp phách là một
thuộc tính của nhịp điệu Như vậy: Theo cách hiểu như trên thì tiết tấu hay nhịp điệu cũng chỉ là một – Theo PGS-TS Tú Ngọc.
- Nhịp điệu được hiểu theo nghĩa rộng là: nhịp điệu là sự tổ chức thời gian theo yêu cầu vận động của một sự vật cụ thể
Trang 17- Nhịp điệu được hiểu theo nghĩa hẹp là: nhịp điệu âm nhạc là sự tổ chức thời gian trong âm nhạc theo yêu cầu của nghệ thuật.
1.2.3 Khái niệm về nhạc thiếu nhi.
* Nhạc
Nhạc là chính là âm nhạc [15], âm nhạc là nghệ thuật dùng âm thanh
làm phương tiện để diễn đạt tư tưởng và tình cảm được viết trên bản nhạc (bản nhạc là bản ghi bài hát hay bài đàn bằng kí hiệu âm nhạc)
* Thiếu nhi
Thiếu nhi là trẻ em ở lứa tuổi nhi đồng ( trẻ em khoảng dưới 7 tuổi), lứa tuổi thiếu niên ( trẻ em khoảng từ 10-15,16 tuổi) [15]
* Nhạc thiếu nhi
Nhạc thiếu nhi là những bài hát, bài ca được viết dành riêng cho các
em ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng nhằm diễn đạt tư tưởng, tình cảm qua đó hình thành thị hiếu âm nhạc cho các em
Thông thường những bài hát, bài ca dành cho thiếu nhi là những bài
có sắc thái vui tươi- dí dỏm như: “Trời nắng, trời mưa” nhạc và lời Đặng
Nhất Mai, “Nắng sớm” nhạc và lời Hàn Ngọc Bích, “Em yêu cây xanh”
nhạc và lời Hoàng Văn Yến… hay những bài hát tình cảm- nhẹ nhàng như:
“Con cò” nhạc và lời Xuân Giao, “Ru con mùa đông” nhạc và lời Đặng Hữu Phúc, “Cho con” nhạc Phạm Trọng Cầu, lời Tuấn Dũng…
Kho nhạc thiếu nhi Việt Nam vô cùng phong phú sẽ giúp thế giới tâm hồn của trẻ thơ tràn đầy những cung bậc tình cảm, những xúc cảm âm nhạc
Và đây cũng là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài này, kho nhạc thiếu nhi chính là nguồn để chúng tôi có thể lựa chọn được các bài, hát bản nhạc phù hợp phục vụ cho để tài
1.2.4 Khái niệm về hứng thú.
* Hứng thú
Có rất nhiều khuynh hướng nghiên cứu khác nhau về hứng thú
PGS.TS Trần Trọng Thuỷ khẳng định: “Hứng thú là sự thể hiện xúc cảm
Trang 18của những nhu cầu nhận thức của con người” Cùng với Phạm Minh Hạc,
Lê Khanh, các tác giả này cho rằng, khi ta có hứng thú về một cái gì đó thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, hiểu ý nghĩa của nó đối với ta; mặt khác ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt với nó, hứng thú sẽ lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó
Dựa trên một số quan niệm của các nhà nghiên cứu và các tác giả về hứng thú, chúng tôi sử dụng định nghĩa của nhóm tác giả Nguyễn Quang
Uẩn, Nguyễn Văn Luỹ, Đinh Văn Vang về hứng thú như sau: “Hứng thú là
thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động”
Như vậy, với cách định nghĩa này, ta có thể nhận thấy, muốn hình thành và phát triển hứng thú thì phải tạo cơ hội cho trẻ tự mình hoạt động, nâng cao nhận thức về đối tượng và thoả mãn các nhu cầu của cá nhân; tổ chức các hoạt động phù hợp với cá nhân; kích thích xúc cảm tích cực ở trẻ trong hoạt động
*Ý nghĩa của hứng thú đối với con người
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng được hoạt động Đồng thời, nó là động lực thúc đẩy con người say mê hoạt động, hoạt động một cách sáng tạo, làm tăng sức lực làm việc và hiệu quả của hoạt động Usinxki đã nói:
“Một sự học tập nào mà chẳng có hứng thú gì cả và chỉ tiến hành bằng sức mạnh cưỡng bức thì sẽ giết chết lòng ham muốn học tập của người học Nó
sẽ làm cho óc sáng tạo của người học thêm mai một, nó sẽ làm cho người ta thờ ơ với hoạt động này”.
Như vậy, hứng thú là động lực thúc đầy mạnh mẽ con người tự giác hành động, học tập và làm việc một cách hiệu quả Cũng nhờ đó mà tri thức
có được một cách dễ dàng, dễ nhớ và dễ tái hiện; chất lượng công việc được
Trang 19đảm bảo; mang lại niềm vui, sự thoải mái tinh thần cần thiết cho cuộc sống con người.
Ngoài ra, hứng thú còn giúp cho việc tự giáo dục trở nên dễ dàng và đạt hiệu quả hơn Đặc biệt đối với trẻ mầm non, thông qua việc hình thành
và phát triển hứng thú cho trẻ, trẻ sẽ được tự mình trải nghiệm, thực hành, khám phá thế giới đồ vật xung quanh Qua đó, nhân cách trẻ dần dần được hình thành, làm nền tảng cho sự phát triển toàn diện của trẻ
*Phân loại hứng thú
Có rất nhiều cách phân loại hứng thú theo các chiều hướng khác nhau:
- Trong từ điển tâm lý, phân chia hứng thú thành 2 loại:
+ Hứng thú trực tiếp – hứng thú do tính chất lôi cuốn của đối tượng tạo nên
+ Hứng thú gián tiếp đối với đối tượng và công cụ để đạt được mục đích hoạt động
- Theo nội dung của hứng thú, có 5 loại:
+ Hứng thú vật chất: biểu hiện thành nguyện vọng được thoả mãn các nhu cầu vật chất như ăn ngon, mặc đẹp…
+ Hứng thú nhận thức: biểu hiện là ở tính tích cực tìm hiểu sâu sắc về các tri thức
+ Hứng thú lao động nghề nghiệp: là hứng thú với một ngành nghề
cụ thể
+ Hứng thú xã hội – chính trị: là hứng thú với hoạt động chính trị, xã hội.+ Hứng thú nghệ thuật: là hứng thú với một loại hình nghệ thuật
*Phân loại theo các mức độ của hứng thú:
- Theo bề rộng của hứng thú, có 2 loại: hứng thú rộng và hứng thú hẹp.
- Theo độ sâu của hứng thú, có 2 loại: hứng thú sâu và hứng thú nông
- Theo độ bền vững, có 2 loại: hứng thú bền vững và hứng thú không
bền vững
Trang 20- Theo mức độ hiệu lực, có 2 loại: hứng thú tích cực – là hứng thú gây
ra một phản ứng tích cực nào đó dẫn đến hành động chiếm lĩnh đối tượng; hứng thú thụ động – là hứng thú có tính chiêm ngưỡng, dừng lại ở hứng thú ngắm nhìn (thể thao, âm nhạc…)
*Hứng thú vận động theo nhạc
Hứng thú vận động theo nhạc là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với hoạt động vận động theo nhạc, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình vận động theo nhạc
Trong hoạt động GDÂN hứng thú vận động theo nhạc giữ một vai trò
vô cùng quan trọng, hứng thú vận động là động lực thúc đẩy mạnh mẽ trẻ tự giác hoạt động có hiệu quả Từ đó mà trẻ dễ dàng, dễ nhớ các kĩ năng vận động theo nhạc cũng như phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc, bên cạnh đó chất lượng hoạt động vận động theo nhạc được đảm bảo; mang lại niềm vui,
sự thoải mái tinh thần cần thiết cho hoạt động GDÂN nói riêng và cho cuộc sống con người nói chung
1.3.Mối quan hệ giữa âm nhạc với vận động.
1.3.1 Âm nhạc và vận động theo nhạc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Âm nhạc và vận động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trẻ lứa tuổi mầm non rất hồn nhiên, ham hoạt động nên khi ca hát thường kèm theo VĐTN Chính điều này đã làm cho mối quan hệ giữa âm nhạc và vận động được hình thành dễ dàng, nhạy bén Các bài hát mang đến cho trẻ những cảm xúc mạnh mẽ và dưới ảnh hưởng của cảm xúc đó, trẻ vận động phù hợp với đặc tính của âm nhạc nhất là theo nhịp độ của bản nhạc
Giữa âm nhạc và vận động có mối liên hệ trực tiếp xuất pháp từ cơ sở sinh lí, đó là cơ quan thính giác và cơ quan cảm giác về chuyển động và
thăng bằng Nhà tâm lí học B.N Chep-lô-va cho rằng : “ Việc tri giác âm
nhạc xảy ra cùng lúc hoàn toàn trực tiếp với những phản ứng vận động âm nhạc theo diễn biến thời gian”
Trang 21Âm nhạc với hình tượng âm nhạc, sự tương phản hay đồng nhất và những đặc thù của tiết tấu, trọng âm, nhịp độ, tính chất âm nhạc…đều có thể được phản ánh trong vận động.
Hình tượng âm nhạc được phát triển, biến đổi trong thời gian được trình bày trong sự tương hỗ của các phương tiện diễn tả âm nhạc như: giai điệu, tiết tấu, âm sắc, hòa âm, nhịp độ… thì vận động cũng diễn tả trong thời gian bởi tính chất, hướng chuyển động thay đổi hay sự phát triển của các động tác (cá nhân hay tập thể) nối tiếp nhau
Những tiết tấu đơn giản, trọng âm trong nhịp nhạc được nhấn mạnh bởi các động tác vỗ tay, dậm chân, gõ nhịp…trong vận động
Cường độ, nhịp điệu âm nhạc cũng được diễn tả bằng sự thay đổi mức độ khống chế, tốc độ, biên độ hướng chuyển động trong vận động
Các yếu tố diễn tả ngôn ngữ âm nhạc giữ vai trò chủ đạo, làm cho các động tác vận động có những thay đổi tương ứng
Ngay cái tên “vận động theo nhạc” chúng ta cũng thấy được phần nào
mối quan hệ khăng khít giữa hai lĩnh vực này
1.3 2 Vận động theo nhịp độ nhạc giúp cho sự cảm thụ tác phẩm
Vận động theo nhạc giúp cho sự cảm thụ âm nhạc được đầy đủ hơn Quả đúng như vậy, âm nhạc luôn chiếm vị trí hàng đầu, đóng vai trò quyết định còn vận động trở thành phương tiện chuyển tải diễn tả hình tượng âm nhạc
Những vận động theo nhạc giúp cụ thể hóa, hình ảnh hóa những đường nét giai điệu, tiết tấu, nhịp độ… trừu tượng bằng những bước nhảy,
Trang 22những chuyển động nhẹ nhàng, bay bổng, nét đưa tay uyển chuyển, sự dồn nén xúc động mãnh liệt trong những vòng quay…
Tư tưởng sử dụng động tác như phương tiện hình thành khiếu âm nhạc do nhạc sĩ – bác học Thụy Điển- Dalkroz nêu lên rằng : Nhịp điệu âm nhạc và tính tạo hình liên kết với nhau thành động tác, ở đây trẻ sẽ phát triển trí tưởng tượng và hình thành dần dần khiếu âm nhạc, thẩm mĩ âm nhạc
1.4 Vai trò giáo dục của âm nhạc trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
Ở trường Mầm non, đặc biệt đối với lứa tuổi mẫu giáo, âm nhạc là một trong những loại hình nghệ thuật phát triển năng lực cảm xúc, tưởng tượng, sáng tạo, sự tập trung chú ý, khả năng diễn tả hứng thú của trẻ
Khác với các loại hình nghệ thuật khác như hội họa, văn học điện ảnh…, âm nhạc không hoàn toàn xác định hình ảnh cụ thể Âm nhạc bằng giai điệu, âm sắc, cường độ, nhịp độ, hòa âm, tiết tấu…cùng với thời gian đã thu hút, hấp dẫn, làm thỏa mãn nhu cầu tình cảm của trẻ
Âm nhạc là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh, phát triển lời nói, quan hệ giao tiếp, trao đổi tình cảm…Đối với trẻ, âm nhạc là thế giới kì diệu đầy cảm xúc Trẻ có thể tiếp nhận âm nhạc ngay từ khi còn nằm trong nôi Trẻ mầm non dễ xúc cảm, vốn ngây thơ, trong sáng, nên tiếp xúc với âm nhạc là nhu cầu không thể thiếu Thế giới âm thanh muôn màu không ngừng chuyển động tạo điều kiện cho trẻ phát triển các chức năng tâm lí, năng lực hoạt động và sự hiểu biết của trẻ
Trang 231.4.1 Âm nhạc là phương tiện giáo dục thẩm mỹ.
Âm nhạc là một trong các bộ môn nghệ thuật giáo dục cái đẹp cho trẻ Lời ca, giai điệu của các bài hát, bản nhạc đã giúp trẻ tưởng tượng, hoặc nói lên xúc cảm của mình, trẻ thấy được âm nhạc giúp mình có thể diễn tả những ý nghĩ, những ước mơ, những cảm xúc mạnh mẽ
Trong giáo dục âm nhạc, điều quan trọng không phải là dạy trẻ hát chuẩn xác, rõ ràng một bài hát mà trẻ phải được tham gia các hoạt động âm nhạc như nghe nhạc, vận động theo nhạc, múa, trò chơi âm nhạc Được tiếp xúc với âm nhạc ở một chừng mực nào đó trẻ sẽ biết nhận xét, trao đổi…sự cảm nhận về ý nghĩa lời ca, âm điệu, tiết tấu…Đó chính là ý nghĩa của giáo dục thẩm mỹ Tiếp xúc với âm nhạc có quá trình sẽ tạo cho trẻ những ham thích, bắt đầu có sự lựa chọn sở thích khác nhau Đây là cơ sở hình thành thị hiếu, thẩm mỹ âm nhạc Bài hát là phương tiện để giáo dục trẻ nhiều mặt, vì vậy các bài hát giản dị, có tính nghệ thuật, phù hợp với lứa tuổi sẽ hình thành thị hiếu âm nhạc trong sáng, lành mạnh, cũng như tình cảm, thẩm mĩ, đạo đức tốt đẹp
Âm nhạc có sức lay động tâm hồn mạnh mẽ, không có gì có thể đánh thức tâm hồn con người bằng âm nhạc Âm nhạc có giá trị nghệ thuật cảm hóa mọi người cùng hướng tới cái đẹp Những giai điệu, lời ca nói lên cái đẹp được thể hiện rõ trong các bài hát, điều này đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn trẻ giúp trẻ nhận thức được cái hay, cái đẹp Từ nhận thức cái đẹp một cách khách quan đi và chiều sâu thế giới chủ quan của trẻ
Âm nhạc giáo dục tình cảm thẩm mĩ cho trẻ, trong đó có cái đẹp về cách ứng xử, giao tiếp với ông bà, cha mẹ, cô giáo, bạn bè và những người trong cộng đồng
Vì vậy, giáo dục tình cảm thẩm mĩ cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc trong trường mầm non làm phong phú thêm đời sống tinh thần của trẻ, giúp trẻ cảm thụ cái đẹp, tạo niềm tin cho trẻ
Trang 241.4.2 Âm nhạc là phương tiện giáo dục đạo đức.
“ Để sử dụng âm nhạc như một phương tiện giáo dục đạo đức: khi tác động đến con người, nó thức tỉnh một cách đặc biệt mạnh mẽ trong người ấy tất cả những gì tốt đẹp, tìm được sự hưởng ứng trong những khía cạnh ưu tú nhất của tâm hồn người ấy Chính khả năng ấy của âm nhạc làm cho tính tình dịu hơn và tốt hơn, làm cho con người cao đẹp hơn, trong sạch hơn và nhân hậu hơn”- A.Xôkhor Đại văn hào M Go-rơ-ki thì nhận xét: “
Âm nhạc tác động một cách kì diệu đến tận đáy lòng Nó khám phá ra cái phẩm chất cao quý nhất ở con người”
Lời ca của âm nhạc giàu tính biểu hiện và chất chữ tình
Nội dung lời ca phong phú trong các bài hát giúp trẻ nhận thức, phát hiện vẻ đẹp trong thiên nhiên, sự ngộ nghĩnh đáng yêu của các con vật quen thuộc, về tình cảm gia đình,bạn bè, lòng yêu nước…từ đó gợi mở cho trẻ về cách ứng, hay nói cách khác là giáo dục trẻ đạo đức làm người
Những bài dân ca, bài đồng dao các vùng miền của các dân tộc Việt Nam rất phong phú về âm điệu, tiết tấu, phương thức diễn xướng, sẽ cho trẻ hiểu biết phần nào về phong tục tập quán bản sắc âm nhạc dân tộc Việt Nam Trẻ sẽ thấy tự hào về văn hóa dân tộc mình
Đặc điểm của các hoạt động diễn xuất của trẻ được diễn ra trong tập thể Trẻ cùng nhau múa hát, chơi trò chơi âm nhạc đã giúp trẻ vui tươi hồn nhiên hơn, ngay cả những trẻ nhút nhát cũng cảm thấy thoải mái, tự tin hơn Việc diễn xướng tập thể, các bài hát có mức độ phức tạp khác nhau sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của từng trẻ
Các hoạt động âm nhạc có ảnh hưởng tốt đến hành vi văn hóa của trẻ bởi cách diễn xuất các tác phẩm có tâm trạng khác nhau, sự thay đổi các dạng hoạt động và thay đổi các bài tập
Khi tham gia các hoạt động âm nhạc, mỗi trẻ đều phải chấp hành tính
tổ chức, sự chú ý, phản ứng nhanh, biết kiềm chế, điều khiển vận động phù hợp với âm nhạc, biết nhường nhịn, giúp đỡ nhau Âm nhạc giáo dục cho trẻ
Trang 25văn hóa giao tiếp, văn hóa hành vi và tính tập thể, tạo điều kiện hình thành những phẩm chất đạo đức cho trẻ.
1.4.3 Âm nhạc là phương tiện thúc đẩy sự phát triển trí tuệ.
Âm nhạc không chỉ đơn thuần là để vui chơi, giải trí mà còn thúc đẩy
sự phát triển trí tuệ của trẻ
Tiến sĩ Hovard Gardner, giáo sư trường đại học Harvard nghiên cứu lí thuyết về các trí thông minh đa diện cho rằng, thông minh âm nhạc là một trong bảy thông minh ban đầu của con người (trong số thông minh ngôn ngữ, logic toán, thông minh hình tượng…)
Ở trẻ mẫu giáo, các hình thức tư duy trực quan hành động, trực quan hình tượng và tư duy trừu tượng được biểu hiện trong bất kì hoạt động nào, trong đó có âm nhạc Tiếp xúc với âm nhạc, trẻ tăng dần khả năng tổng hợp
và tư duy logic
Âm nhạc giúp trẻ phát triển trí nhớ Trí nhớ âm nhạc và trí nhớ vận động là khả năng thu nhận và ghi nhớ lại Đặc điểm của trẻ mẫu giáo là khả năng ghi nhớ âm nhạc bằng tai nghe dựa vào nhạc cảm, khả năng ghi nhớ các vận động theo bài hát bằng sự kết hợp giữa tai nghe nhạc và vận động tay chân Trong quá trình hoạt động học tập, trí nhớ không thể nhắc lại toàn
bộ ngay mà phải qua quá trình rèn luyện thường xuyên
Tính tích cực và sự tập trung chú ý trong hoạt động âm nhạc giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố và phát triển trí nhớ Trẻ vận động theo nhạc là cùng lúc trẻ tự ghi nhớ lời ca, giai điệu, nhịp độ cũng như hình thức vận động theo bản nhạc Trẻ càng yêu thích hoạt động âm nhạc trẻ càng nhanh thuộc, nhớ chính xác và nhớ lâu hơn Điều này có tác dụng rèn luyện đôi tai nhạy bén, các vận động linh hoạt, đồng thời tăng cường sự nhận thức của trẻ với thế giới xunh quanh
Âm thanh là yếu tố xây dựng hình tượng âm nhạc Hình tượng âm nhạc là loại hình tượng biểu hiện mang tính khái quát và ước lệ cao Chính
vì điều này mà hình tượng âm nhạc không mang tính xác định cụ thể nhưng
Trang 26làm thức dậy ở trẻ mơ ước và tưởng tượng Ví dụ: Người lớn khyến khích trẻ làm động tác vận động minh họa bài hát, bản nhạc nào đó trẻ sẽ suy nghĩ, tổng hợp những chi tiết quen thuộc và chi tiết mới trong động tác Mặt khác trong mọi hoạt động âm nhạc, trẻ phải quan sát, tập trung chú ý, biết tổng hợp, so sánh…Vì vậy trí tuệ phải hoạt động tích cực hơn.
Như vậy, giáo dục âm nhạc thực hiện nhiều nhiệm vụ hơn trong đó có
sự thúc đẩy tích cực hoạt động trí tuệ cho trẻ
1.4.4 Âm nhạc tác động đến sự phát triển sinh lí của trẻ.
Từ cuối thế kỉ XIX, hai nhà sinh lí học Nga I.M Do-ghen và I.R Tackhnốp đã nghiên cứu thí nghiệm xác định điều mà trong thực hành hàng
ngày mà mọi người đều biết : “ Âm nhạc rõ ràng ảnh hưởng đến hô hấp,
đến tuần hoàn của máu và các quá trình sinh lí khác”.
Nghe, vận động theo nhạc giúp trẻ tập phối hợp các động tác đi, chạy, nhảy chính xác, tác phong nhanh nhẹn Vận động toàn thân khi có nhạc kèm theo tạo cho trẻ sự mềm dẻo nhịp nhàng, tác động tốt đến tim mạch và sự phát triển cơ của trẻ Nếu nghe nhạc đúng mức và phù hợp sẽ giúp trẻ thư giãn thần kinh, kích thích óc sáng tạo của trẻ
Như vậy, phản ứng của cơ thể trẻ đối với âm nhạc chịu sự chi phối tác động cảm xúc tâm lí ở mức độ cao hơn nhiều so với tác động sinh lí trực tiếp (phản xạ)
Có thể nói, giáo dục âm nhạc là một trong những con đường hoàn thiện đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể lực Nhà sư phạm V.Xu-khôm-lin-xki
đã đánh giá rất cao hiệu quả giáo dục âm nhạc toàn diện của âm nhạc : “
Chất lượng công việc giáo dục trong một nhà trường được xác định phần lớn bởi mức độ hoạt động âm nhạc trong hoạt động của trường đó”.
Nhận thức đúng đắn và sâu sắc tác động giáo dục toàn diện của âm nhạc đối với trẻ mẫu giáo là điều quan trọng hàng đầu để tiến hành tốt việc giáo dục âm nhạc cho trẻ Bước đầu cho trẻ làm quen, tiếp xúc với âm nhạc trẻ sẽ bộc lộ rõ năng khiếu, khả năng âm nhạc của mình Đây cũng là thời
Trang 27điểm phát hiện, bồi dưỡng những trẻ có năng khiếu để khi có điều kiện trẻ
có thể theo học các cơ sở chuyên nghiệp.[3]
1.5 Khả năng vận động theo nhạc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
1.5.1 Đặc điểm tâm- sinh lý của trẻ mẫu giáo có liên quan đến khả năng vận động theo nhạc.
1.5.1.1 Đặc điểm tâm lý của trẻ liên quan đến vận động theo nhạc.
Trẻ em có một tâm hồn rất nhạy cảm, dễ xúc cảm đối với cảnh vật và con người xung quanh Để từ đó trẻ cảm thụ vẻ đẹp một cách say mê, ao ước tạo ra nhiều cái đẹp, muốn mình cũng trở nên đẹp hơn Chính vì vậy, trẻ lứa tuổi mầm non đến với cái đẹp, đến với nghệ thuật, và vận động theo nhạc một cách tự nhiên, dễ dàng và sâu sắc
Ngoài ra so với các lứa tuổi trước, trẻ từ 5-6 tuổi có khả năng tập trung chú ý lâu hơn, trẻ có khả năng tri giác toàn vẹn hình tượng âm nhạc cùng với những kinh nghiệm được tích lũy khi nghe hát cùng nhạc đệm, xem động tác, điệu bộ và cảm nhận được tính chất chung của tác phẩm
Đối với trẻ 5-6 tuổi đây là giai đoạn hoàn thiện cấu trúc tâm lí người
về nhận thức, tình cảm, ý chí…Chính vì vậy khả năng trẻ tiếp nhận mức độ phức tạp của vận động theo nhạc trở nên dễ dàng hơn, khả năng cảm nhận
về nhịp điệu, nhịp độ, tiết tấu trong âm nhạc cũng trở nên thành thục hơn
1.5.1.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ liên quan đến vận động theo nhạc.
Vận động theo nhạc là một hoạt động âm nhạc hấp dẫn trẻ Tuy nhiên tùy vào sự phát triển của mỗi lứa tuổi mà có những vận động phù hợp Theo
tài liệu về “Tâm vận động” của Viện nghiên cứu trẻ em thuộc Viện khoa học
giáo dục thì trẻ 3 tuổi có thể làm một số động tác toàn thân, các động tác mang tính đối xứng Trẻ từ 4-5 tuổi biết giữ thăng bằng và biết phối hợp động tác với bạn Còn trẻ 5-6 tuổi làm được nhiều động tác chi tiết, các vận động cơ bản đã hoàn thiện hơn, khả năng vận động của các cơ bắp đã phát triển Trẻ biết phối hợp các động tác tốt, đặc biệt giữa bàn tay và đôi mắt để
Trang 28thực hiện vận động tối ưu Hơn nữa trẻ 5-6 tuổi đã biết khống chế vận động khi nghe nhạc.
Trẻ lứa tuổi mầm non tiếp nhận thế giới xunh quanh bằng trực quan cảm tính, do đó hoạt động ca hát, vui chơi, đặc biệt là vận động có âm nhạc tạo điều kiện cho trẻ bộc lộ cảm xúc, nhu cầu giao tiếp với xung quanh và để giải tỏa năng lượng cơ thể Vận động kết hợp sự thay đổi nhịp độ của các bản nhạc nhịp nhàng, hài hòa sẽ tạo sự phát triển cân bằng các giác quan làm cho trẻ vui tươi, hồn nhiên, hứng thú, nhanh nhạy hơn, đặc biệt giúp trẻ
mở rộng thu hẹp vòng tròn, vận động hàng ngang Thực hiện đúng, đẹp, diễn cảm các động tác quy định, bước đầu nghĩ được các động tác riêng, phối hợp nhịp nhàng toàn thân với các động tác tay chân
Có thể nói trẻ 5-6 tuổi đã có khả năng thực hiện và thực hiện hiệu quả các bài tập vận động theo nhạc trong chương trình giáo dục âm nhạc mầm non
Cụ thể khi thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi:
- Nhịp độ vừa : trẻ thực hiện các động tác với tốc độ bình thường
- Nhịp độ nhanh: Trẻ thực hiện các vận động linh hoạt hơn
- Nhịp độ chậm: Trẻ tự thả lỏng, thực hiện các vận động chậm đúng với nhịp độ nhạc
Trang 291.5.3 Phương pháp hướng dẫn trẻ vận động theo nhạc.
Phương pháp và biện pháp hướng dẫn trẻ học hát và vận động ở chừng mực nào đó có diểm giống nhau, có liên quan mật thiết đến nhau Đó
là các phương pháp:
Phương pháp trực quan thính giác (chỉ ra những âm hình tiết tấu, những trò chơi, các động tác riêng lẻ, bài múa); phương pháp dùng lời (giảng giải theo tiến trình thực hiện động tác, ghi nhớ các biện pháp); phương pháp thực hành nghệ thuật là phương pháp ôn luyện nhiều lần để trẻ nắm vững kĩ năng nhịp điệu âm nhạc, tự hoạt động độc lập và thực hiện diễn cảm, sáng tạo
• Làm mẫu:
Làm mẫu là biện pháp quan trọng, nhằm mục đích cho trẻ tri giác chọn vẹn (Tri giác âm nhạc và vận động trong một khối thống nhất) Nếu là hát kết hợp vận động vỗ tay, gõ… theo âm hình tiết tấu, giáo viên thể hiện đồng thời một cách dễ dàng Khi tổ chức có nhiều người tham gia vận động,
di chuyển đội hình múa, động tác trẻ trai khác trẻ gái…muốn thể hiện toàn vẹn trong sự kết hợp với âm thanh âm nhạc cùng một lúc là không thể được
Vì vậy để giữ được tính trọn vẹn của tri giác, giáo viên cần phải sử dụng biện pháp trình bày kết hợp dùng lời giải thích động tác của cháu trai trước, cháu gái sau Có thể giải thích dưới hình thức dựng hình ảnh, hoặc chỉ dẫn ngắn gọn, dễ hiểu Với các vận động, trò chơi không có nội dung nhưng rõ ràng về động tác, phải trình bày tác phẩm toàn vẹn, nêu ngắn gọn về trò chơi, âm nhạc vang lên một lần nữa, sau đó trẻ mới bắt đầu vận động, lời của bài hát nhắc trước động tác tương ứng
Do trẻ học thông qua việc bắt chước, giáo viên phải làm mẫu nhiều lần Những động tác múa cần rõ ràng, đúng tính chất âm nhạc, có đường nét
có diễn cảm Trẻ bắt chước có thể không hoàn thiện như giáo viên, nhưng những gì nghe nhìn thấy qua làm mẫu giúp trẻ khắc sâu ấn tượng, nhận biết một cách xúc cảm các động tác, bài múa
Trang 30• Dùng lời
Dùng lời là biện pháp cần thiết để giải thích chi tiết, đặc điểm động tác, đồng thời kích thích trẻ hoạt động độc lập Trước khi làm mẫu, giáo viên dẫn dắt, giới thiệu, hướng dẫn trẻ dõi theo tác phẩm Sau khi nghe tác phẩm lần đầu tiên, giáo viên gợi ý cho trẻ kể lại nội dung hình ảnh của tác phẩm nói lên ý kiến giả định về những động tác nào đó có thể thực hiện theo âm nhạc vừa nghe
Đàm thoại về âm nhạc là một trong những biện pháp quan trọng cho trẻ làm quen với tác phẩm âm nhạc Khi nói với trẻ về dân ca, về nhạc sĩ nào
đó, về nội dung âm nhạc… phải chuẩn bị trước nên nói như thế nào, tránh nói tùy tiện hay những lời thừa không cần thiết Tiếng nói của giáo viên phải chuẩn, có văn vẻ, truyền cảm, đúng ngữ điệu và không vội vàng với mục đích để hướng trẻ tập trung chú ý
Xu-khôm-lin-xki viết: “Tôi đạt được điều là để cho lời nói đối với trẻ
không chỉ đơn thuần là biểu thị của sự vật, đối tượng và hiện tượng, mà còn mang sắc thái cảm xúc,sự tươi mát và những sắc thái tinh tế”.
Biện pháp dùng lời còn dùng để động viên, khuyến khích trẻ, giúp trẻ tưởng tượng khi làm động tác Ví dụ: Giáo viên muốn trẻ vẫy hai cánh tay mềm mại có thể nói: “ Nào, chúng ta hãy cùng nhau làm cánh chim bay…”; hoặc muốn cho trẻ đi nhanh- chậm theo tốc độ âm nhạc, cô giáo nói:
- Chúng ta hãy làm đoàn tàu rời bến (Trẻ đi chậm theo nhạc)
- Đoàn tàu bon nhanh (trẻ đi nhanh dần)
- Tàu vào ga (trẻ đi chậm dần)
- Tàu đến ga- nhạc dừng (trẻ đứng lại)
Sự so sánh như vậy giúp trẻ biểu hiện tốt hơn yêu cầu đặt ra, gợi lên thái độ cảm xúc đối với bài tập, ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện bài tập một cách có hiệu quả
• Phương pháp học thuộc
Trang 31Cũng giống như học hát, trẻ phải bắt chước và tập luyện nhiều lần các động tác mới một cách chính xác và chi tiết Giáo viên cần sử dụng các biện pháp sau:
- Làm mẫu lại các động tác có sự kết hợp của âm nhạc với mục đích khôi phục lại trí nhớ, tri giác thính giác và trình tự các động tác
- Chỉ dẫn trẻ thực hiện động tác cùng với âm nhạc
- Giảng giải, chỉ dẫn trong quá trình học thuộc, biểu diễn bài hát động tác cùng trẻ
- Sửa chữa dần những chi tiết không chính xác (tách ra để tập riêng)
- Tổ chức đa dạng cách học thuộc động tác, nhịp điệu âm nhạc (phân nhóm, cá nhân) để tạo khả năng theo dõi, phân tích làm chính xác lại
- Củng cố và hoàn thiện kĩ năng là bước tiếp theo giúp trẻ thể hiện độc lập, sáng tạo, truyền cảm, đồng cảm với hình tượng nghệ thuật Giáo viên có thể yêu cầu trẻ nhớ lại trình tự các động tác, biết phối hợp với các bạn và sẵn sàng thực hiện bài tập VĐTN
• Phương pháp cho trẻ nghe, cảm nhận các bản nhạc thay đổi nhịp độ
và tạo cơ hội cho trẻ thể hiện hứng thú vận động theo nhạc thông qua các động tác vận động đơn giản.
Phương pháp nay nhằm khơi dậy ở trẻ những cảm xúc âm nhạc đa dạng, giúp trẻ cảm nhận và thể hiện những cảm xúc phù hợp với nhịp điệu, nhịp độ âm nhạc thông qua các động tác vận động đơn giản
Giáo viên có thể cho trẻ nghe băng nhạc các bài hát có giai điệu khác nhau: Vui tươi - rộn ràng, tốc độ nhanh; Nhẹ nhàng - mềm mại, tốc độ vừa phải hoặc tình cảm - tha thiết, tốc độ chậm…
Giáo viên trò chuyện với trẻ sự cảm nhận về giai điệu, nhịp điệu cũng như nhịp độ của bài hát bản nhạc được thể hiện trong bản nhạc như thế nào? Trẻ có thể phân biệt sự khác nhau về giai điệu, nhịp điệu, nhịp độ của các bài hát các bản nhạc này Từ đó trẻ phản ứng và vận động phù hợp với nhịp điệu, nhịp độ (tốc độ) của bản nhạc tương ứng
Trang 32Ví dụ: Khi nghe bài hát “Chiếc đèn ông sao” của nhạc sĩ Phạm Tuyên
với tốc độ nhanh, vui, rộn ràng, trẻ vận động với các động tác rước đèn, nhảy chân sáo, nhí nhảnh vui nhộn theo nhịp điệu, nhịp độ của bài hát
Còn khi nghe giai điệu bài “Con cò” Nhạc và lời: Xuân Giao; giai
điệu nhẹ nhàng, mềm mại, người nghiêng trái, nghiêng phải theo nhịp điệu của bài hát
Như vậy, sự hình thành kĩ năng vận động nhịp điệu đúng trong qua trình dạy học diễn ra theo giai đoạn trong điều kiện sử dụng các phương pháp và biện pháp đa dạng Vì vậy giáo viên phải sử dụng một cách linh hoạt sáng tạo
Trang 33do theo cảm nhận âm nhạc của riêng mình Trẻ được vận động minh họa và múa.
Trẻ đã biết vận động nhịp nhàng theo tính chất âm nhạc, thay đổi bược chuyển động theo điệu nhạc; Từ nhịp độ vừa phải có thể chuyển sang tốc độ nhanh hoặc chậm, thực hiện được các động tác nhảy múa chuyển động từng đôi, thú tự từng bước chân nhảy lên phía trước, nhảy gập đầu gối;
đi nhịp nhàng, chạy nhẹ nhàng nhún mềm tại chỗ Trẻ được tham gia vào các trò chơi âm nhạc, thể hiện các bài hát và các trò chơi dân gian Trẻ vận động từ hàng ngang, thực hiện đúng, đẹp, biểu cảm các động tác quy định, bước đầu tự sáng tạo được các động tác riêng, phối hợp nhịp nhàng toàn thân với động tác tay chân
Như vậy, VĐTN rất phù hợp và cần thiết đối với trẻ thơ, cũng như việc thay đổi nhịp đổi các bản nhạc thiếu nhi sẽ giúp trẻ hứng thú vận động theo nhạc, tạo điều kiện phát triển chung cho nhân cách toàn diện của trẻ
Việc sử dụng một số biện pháp thay đổi các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú VĐTN cho trẻ là rất quan trọng, nó sẽ góp phần thực hiện mục tiêu
và nội dung của việc giáo dục âm nhạc đã đề ra Đây chính là vấn đề chúng tôi quan tâm và là cơ sở quan trọng để đề xuất một số biện pháp thay đổi các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động giáo dục âm nhạc tại trường mầm non
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC BẢN NHẠC THIẾU NHI ĐÃ THAY ĐỔI NHỊP ĐỘ ĐỂ TẠO HỨNG THÚ VẬN ĐỘNG THEO NHẠC CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRÊN CÁC HOẠT ĐỘNG
Ở TRƯỜNG MẦM NON
2.1.Mục đích khảo sát thực trạng
Chúng tôi tiến hành điều tra việc sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã
thay đổi nhịp độ cho trẻ 5-6 tuổi trên các hoạt động ở trường mầm non nhằm
mục đích tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các bản nhạc thiếu nhi khi thay đổi nhịp độ đã tạo hứng thú VĐTN cho trẻ 5-6 tuổi trên các hoạt động này như thế nào Từ đó, làm cở sở thực tiễn cho việc đề xuất một số biện pháp thay đổi các bản nhạc thiếu nhi tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động ở trường mầm non
2.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng
Điều tra thực trạng về việc sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên các hoạt động tại trường mầm non
- Nhận thức của giáo viên mầm non về:
+ Sự cần thiết của việc tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.+ Nhiệm vụ của việc tạo hứng thú VĐTN khi thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên các hoạt động tại trường mầm non
- Thực trạng việc sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên các hoạt động tại trường mầm non
+ Mức độ giáo viên đưa các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ vào các hoạt động tại trường mầm non
+ Nguồn của các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ
Trang 35+ Hiệu quả đạt được khi đưa vào các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên các hoạt động tại trường mầm non.
+ Những biểu hiện hứng thú được trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi thể hiện khi vận động trên các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ
+ Hình thức tổ chức và mức độ hoạt động này tại trường mầm non+ Những khó khăn trong việc tạo hứng thú vận động theo nhạc bằng các bản nhạc thiếu nhi thay đổi nhịp độ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non
2.3 Đối tượng khảo sát thực trạng
- 56 GVMN ở 2 trường MN trên địa bàn Hà Nội, đó là : Trường MN Họa Mi và trường MN Đống Đa
- 40 trẻ MGL ở trường MN Họa Mi
2.4 Thời gian khảo sát thưc trạng
Từ ngày 15/2/2016 – 25/3/2016
2.5 Phương pháp khảo sát thực trạng
2.5.1 Phương pháp khảo sát bằng phiếu Ankét
Để tìm hiểu nhận thức của GVMN và thực trạng việc sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ tạo hứng thú VĐTN cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên các hoạt động tại trường mầm non, chúng tôi sử dụng phiếu điều tra như sau:
Bước 1: Thiết kế phiếu điều tra ( phụ lục 1).
Bước 2: Tiến hành điều tra
Bước 3: Tổng hợp kết quả điều tra
Bước 4: Phân tích kết quả điều tra
2.5.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Dự các giờ có sử dụng hoạt động vận động theo nhạc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, quan sát phương pháp và biện pháp, hình thức tổ chức của giáo viên, quan sát bầu không khí lớp học Quan sát thái độ, sự tiếp thu, mức độ
Trang 36thực hiện và nhất là hứng thú VĐTN của trẻ trong hoạt động này để thu nhận những thông tin và những kết quả cần thiết.
2.5.3 Phương pháp đàm thoại
- Đàm thoại với GV về các vướng mắc, khó khăn trong việc tổ chức những hoạt động có sử dụng các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi để tạo hứng thú VĐTN tại trường mầm non
- Đàm thoại với trẻ để nắm bắt khả năng VĐTN, thái độ của trẻ trong các hoạt động
2.5.4 Phương pháp thống kê toán học.
Chúng tôi sử dụng phần mềm EPI6.EXE để kiểm định T sau quá trình TN
2.6 Các tiêu chí và thang đánh giá
2.6.1 Các tiêu chí
Để đánh giá chính xác mức độ hứng thú VĐTN của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi khi vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ, chúng tôi dựa trên các tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: Sự tập trung chú ý vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ.
Mức độ 1: Hời hợt, không tập trung chú ý vận động theo các bản nhạc
thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ (1 điểm)
Mức độ 2: Có chú ý, nhưng chưa tập trung liên tục hay bị chi phối bởi
ngoại cảnh (2 điểm)
Mức độ 3: Tập trung chú ý có chủ định vận động theo các bản nhạc
thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ một cách say sưa liên tục (3 điểm)
Tiêu chí 2: Xúc cảm, tình cảm thể hiện khi vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ.
Mức độ 1: Thờ ơ, không hào hứng vận động theo các bản nhạc thiếu
nhi đã thay đổi nhịp độ ( 1 điểm)
Mức độ 2: Có hào hứng nhưng không bền, nhanh chóng nản (2 diểm)
Trang 37Mức độ 3: Phấn trấn, hào hứng, thích thú vận động theo các bản nhạc
thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ đến hết ( 3 điểm)
Tiêu chí 3: Sự tích cực vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ.
Mức độ 1: ( 1 điểm)
- Trẻ chỉ vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ một các bắt chước, gượng ép Cô đứng bên cạnh động viên, gợi ý thêm nhiều
- Kết quả vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ không cao, bị sai nhiều, trẻ VĐTN chậm chạp, không khéo léo
- Chưa biết nhận xét bạn và bản thân
Trang 38- Đạt kết quả cao trong quá trình vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ (tập đúng, nhanh, đẹp, biết phối hợp tay chân một cách nhịp nhàng, khéo léo) Thực hiện xong hứng thú và thích được làm nhiều lần nữa.
- Biết nhận xét, đánh giá bạn và bản thân sau khi vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ
2.6.2 Thang đánh giá
Mức độ hứng thú của trẻ được đánh giá theo 4 loại sau:
- Loại 1: Rất hứng thú: Thuộc loại này là những trẻ đạt được số
điểm từ 9-10 điểm và có biểu hiện tập trung chú ý, say sưa liên tục trong suốt quá trình vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ Trạng thái xúc cảm, tình cảm thể hiện hào hứng, phấn trấn, thích thú muốn VĐTN và thực hiện một cách tích cực chủ động, đạt kết quả cao (tập đúng, nhanh, đẹp, biết phối hợp tay chân một cách nhịp nhàng, khéo léo) Thực hiện xong thích được làm nữa Biết nhận xét, đánh giá bạn và bản thân sau khi VĐTN
- Loại 2: Hứng thú: Thuộc loại này là những trẻ đạt điểm số từ 7- 8,9
điểm và có biểu hiện có sự tập trung chú ý, có hào hứng, thích thú, hoạt động tích cực nhưng chưa chủ động, còn phụ thuộc vào sự gợi ý của giáo viên trong quá trình thực hiện bài tập nên kết quả vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ đạt ở mức độ khá (trẻ hoàn thiện bài tập nhưng chưa khéo léo, nhịp nhàng…) Có sự tập trung chú ý quan sát cô và
các bạn Tuy nhiên còn chưa mạnh dạn khi nhận xét bạn.
- Loại 3: Ít hứng thú: Thuộc loại này là những trẻ đạt điểm số từ
5-6,9 điểm, có biểu hiện chú ý nhưng chưa thực hiện liên tục, hào hứng nhưng rất nhanh chán, còn bị lơ đãng, không tập trung vào quả trình vận động theo các bản nhạc thiếu nhi đã thay đổi nhịp độ, có hoạt động nhưng chưa chủ động tích cực, kết quả VĐTN đtạ được ở mức độ trung bình Thực hiện bài
Trang 39tập còn quên Thực hiện xong bài tập thì có xu hướng không muốn tham gia thực hiên thêm một lần nữa.
- Loại 4: Không hứng thú: Thuộc loại này là những trẻ đạt dưới 5
điểm trở xuống, trẻ có biểu hiện hời hợt, không tập trung chú ý quan sát, trạng thái xúc cảm thờ ơ, không hào hứng vận động cùng, khi tham gia thực hiện VĐTN thì miễn cưỡng, gượng ép khi giáo viên yêu cầu trẻ thực hiện Thực hiện bài tập chậm chạp, bị sai nhiều, không khéo léo Không biết nhận xét bạn
Từ các mức độ đã được xác định ở trên, tôi tiến hành TN để thấy được mức độ ảnh hưởng của một số biện pháp thay đổi nhịp độ các bản nhạc thiếu nhi tới hứng thú vận động theo nhạc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Trình độ chuyên môn của GV:
Bảng 2.1: Trình độ chuyên môn của giáo viên mầm non
Số lượng
Trang 40Thâm niên công tác trong ngành:
Bảng 2.2:Thâm niên công tác trong ngành của giáo viên mầm non
Thâm niên Dưới 5 năm 5-10 năm 10-15 năm Trên 15 năm
Số lượng
Số năm dạy trẻ 5-6 tuổi:
Bảng 2.3: Số năm dạy trẻ 5-6 tuổi của giáo viên mầm non
Số năm Dưới 5 năm 5-10 năm 10-15 năm Trên 15 năm
Số lượng
Kết quả điều tra cụ thể như sau:
- Nhận thức của GVMN về vai trò quan trọng khi tạo được hứng thú vận động theo nhạc cho trẻ.
Bảng 2.4: Ý kiến của GV về vai trò quan trọng khi tạo được hứng thú VĐTN đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non
Hầu hết GV đều thừa nhận việc tạo hứng thú VĐTN đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trên các hoạt động tại trường mầm non là rất quan trọng 62,50% ý kiến cho rằng rất quan trọng còn lại 37,50% cho là quan trọng Đặc biệt không có ý kiến nào phủ nhận sự quan trọng khi tạo được hứng thú VĐTN đối với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại trường mầm non Như vậy, GV đã