1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội

184 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Nếu tổ chức dạy học NPT theo tiếp cận SPTT ở các trung tâm GDKTTH cảithiện được yếu tố người dạy, người học, môi trường học tập và các yếu tố kỹ thuật củaquá trình dạ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI TRUNG TÂM GDKTTH SỐ 5

BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC

Đề tài:

D¹Y HäC NGHÒ PHæ TH¤NG THEO TIÕP CËN S¦ PH¹M T¦¥NG T¸C ë C¸C TRUNG T¢M GDKTTH

TR£N §ÞA BµN THµNH PHè Hµ NéI

Mã số: 01X-12/06-2015-2

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

NỘI DUNG BỔ SUNG BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIỆM THU CẤP CƠ SỞ

1 Cấu trúc của SPTT và mối quan hệ của các yếu tố 21

2 Đặc trưng của dạy học NPT theo tiếp cận SPTT 23

7 Phần khảo nghiệm đánh giá đối với giáo viên 107, 118, 124

8 Các tiêu chí đánh giá tính tích cực của HS 101, 104, 112, 115, 121

9

Bổ sung nội dung, cách thực hiện, điều kiện thực

hiện ở các biện pháp:

1/ Biện pháp chuẩn bị những phương tiện và các

yếu tố cần thiết cho việc triển khai dạy học NPT

theo tiếp cận SPTT ở trung tâm GDKTTH.

2/ Biện pháp xây dựng kế hoạch dạy học NPT theo

tiếp cận sư phạm tương tác ở trung tâm GDKTTH

3/ Biện pháp xây dựng môi trường học tập NPT

theo tiếp cận SPTT ở trung tâm GDKTTH

4/ Biện pháp tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học

tập NPT theo tiếp cận SPTT ở trung tâm GDKTTH

57, 59,62

63, 64, 65, 72

72, 77, 78, 82, 83, 85

85, 87, 88

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước hiện nay đang đặt ranhững yêu cầu mới cho giáo dục là đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng cao thíchứng với nền kinh tế thị trường, có năng lực hành nghề, năng lực sáng tạo để đáp ứngđược nhu cầu xã hội và việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông Nghị quyết

số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhấn mạnh: “ Phát

triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội ” Sự

đổi mới rõ nhất được khẳng định là chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang pháttriển toàn diện năng lực và phẩm chất ở người học

Nghị quyết 29-NQ/TW cũng đã xác định “mục tiêu giáo dục phổ thông tập

trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện

và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Như vậy, mục

tiêu giáo dục phổ thông là phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ở người học gắnvới bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Điều này khẳng địnhmục tiêu định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông Hơn nữa, chất lượng giáo

dục toàn diện được nhấn mạnh đặc biệt vào giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức,

lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Định hướng trên đã chỉ rõ những yêu cầu về giáo dục lý tưởng, đạo đức,

truyền thống và năng lực, kỹ năng thực hành vận dụng kiến thức vào thực tiễn Việcđổi mới ở mục tiêu sẽ đặt ra những sự chuyển đổi mạnh mẽ không chỉ đối với chươngtrình giáo dục phổ thông nói chung, mà cả tổ chức nhà trường và cách thức dạy học

Luật giáo dục năm 2005 (Điều 27, chương III) phần đề cập đến mục tiêu củagiáo dục THPT đã xác định: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và pháttriển những kết quả của trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có nhữnghiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cánhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghềhoặc đi vào cuộc sống lao động” Điều đó cho thấy dạy học nghề phổ thông và hướngnghiệp là một trong những nhiệm vụ của giáo dục phổ thông

Chương trình dạy học nghề phổ thông (NPT) giữ một vị trí quan trọng trongcông tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông (HSPT), nhằm giúp HS củng cố, vậndụng những kiến thức được học vào thực tiễn, hình thành những kỹ năng lao động

Trang 6

thiết yếu, kỹ năng nghề nghiệp Từ đó, tạo cơ hội cho HS có điều kiện lựa chọn nghềnghiệp phù hợp với sở thích, năng lực cá nhân và có định hướng học tập phù hợp

Hiện nay ở Hà Nội có 15 trung tâm GDKTTH và đang thực hiện nhiệm vụ dạyhọc nghề phổ thông (NPT) trong chương trình học của HS Tuy nhiên, việc dạy họchiện nay ở các trung tâm GDKTTH Hà Nội chủ yếu tổ chức dạy những nghề trung tâmđang có, chưa dạy những nghề mà HS có nhu cầu học GV dạy nghề NPT mới chỉ tậptrung vào phương pháp cũ để truyền đạt nội dung môn học hơn là vào việc dạy cho HScách học để hình thành kỹ năng thực hành và phát triển năng lực của HS Trong dạyhọc NPT, GV ít quan tâm đến đặc điểm và nhu cầu của HS; chưa nhận thức được tầmquan trọng của việc tạo ra môi trường học tập tích cực cho HS, dạy học còn theo lốitruyền nghề, đa số các tiết học đều dạy theo phương pháp diễn giảng truyền thống GVmột số trung tâm GDKTTH đã sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại nhưng mớidừng lại ở chỗ bớt đi thao tác viết bảng, chưa khai thác các kênh thông tin truyềnthông để đưa vào bài giảng,…Với cách dạy học như vậy, HS tiếp thu kiến thức mộtcách thụ động, chưa tích cực, chưa sáng tạo và không đáp ứng yêu cầu của hoạt độngdạy học NPT Từ đó, chưa rèn luyện tư duy kỹ thuật, kỹ năng thao tác thực hành, laođộng nghề nghiệp cho HS Để HS được thực hành, lao động sản xuất làm ra sản phẩmtrên cơ sở có các phương tiện thiết bị dạy học hỗ trợ và điều quan trọng là phát huy sựsáng tạo trong lao động nghề nghiệp đòi hỏi GV phải vận dụng tổ hợp nhiều phươngpháp dạy học khác nhau và biến đổi các phương pháp dạy học ấy tùy theo nội dungcủa từng bài học để tích cực hóa hoạt động học tập của HS

Việc tổ chức hoạt động dạy học NPT ở các trung tâm GDKTTH-Hà Nội hiệnnay chủ yếu để 100% HS có thể tham gia và có được điểm khuyến khích khi thi tuyểnsinh (xét tuyển) vào lớp 10 hoặc thi tốt nghiệp THPT mà một số các nhà giáo dục gọi

đó là cái phao cho HS trung bình, yếu trong các kỳ thi nêu trên Vì vậy, phải dạy họcNPT như thế nào để nâng cao tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, nâng cao chấtlượng dạy học NPT đang là điều trăn trở cho các nhà quản lý giáo dục và các GV bộmôn ở các trung tâm GDKTTH

Quan điểm đổi mới trong tư duy và thực tiễn giáo dục của chúng ta trong suốtvài thập kỷ qua là hướng vào người học, phát huy tính chủ động, tích cực của ngườihọc Những đổi mới về chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục trong các nhàtrường đã có những dấu hiệu tích cực nhưng trong dạy học NPT còn nhiều hạn chế vàchưa đáp ứng được những yêu cầu về chất lượng, học sinh chưa hứng thú và chưa thực

sự nhận thấy giá trị của nó

Sư phạm tương tác là một hướng tiếp cận dạy học hiện đại, cơ bản, năng động,mang tính hệ thống và khoa học dựa trên sự tương tác qua lại giữa 3 yếu tố cơ bản làngười dạy, người học và môi trường Trong đó, yếu tố người học luôn được đề cao vai trò

tự giác, tích cực, tự mình chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình dưới vai trò

tổ chức, định hướng của người dạy; yếu tố môi trường là một yếu tố động, nó không chỉ

Trang 7

làm ảnh hưởng đến người dạy, người học, điều quan trọng nó làm thay đổi người học,người dạy nhằm đảm bảo sự thích nghi của người dạy, người học với môi trường, vàngược lại chính người dạy, người học cũng làm thay đổi môi trường Với hướng tiếp cậnnày, hy vọng sẽ tìm ra những biện pháp tổ chức dạy học NPT có hiệu quả.

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Dạy học

nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương tác ở các trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu

quả dạy học nghề phổ thông

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất biện pháp dạy học NPT theotiếp cận SPTT ở các trung tâm GDKTTH Hà Nội nhằm góp phần nâng cao chất lượngdạy học NPT, chất lượng định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy học NPT ở các trung tâm GDKTTH

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp dạy học NPT theo tiếp cận SPTT ở các trung

tâm GDKTTH

4 Giả thuyết khoa học

Nếu tổ chức dạy học NPT theo tiếp cận SPTT ở các trung tâm GDKTTH cảithiện được yếu tố người dạy, người học, môi trường học tập và các yếu tố kỹ thuật củaquá trình dạy học NPT theo bản chất của quan điểm SPTT thì có thể nâng cao kết quảhọc tập nghề của HS, nâng cao chất lượng dạy học môn học, chất lượng định hướngnghề nghiệp cho học sinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cở sở lý luận về dạy học NPT theo tiếp cận sư phạm tương tác ở các

6.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu: tập trung nghiên cứu về dạy học nghề phổ thông

theo tiếp cận SPTT cho HS phổ thông (THPT và THCS)

6.2 Phạm vi khảo sát thực nghiệm: chọn một số trung tâm GDKTTH Hà Nội để khảo

sát thực trạng dạy học nghề phổ thông và chọn trung tâm GDKTTH số 3, số 4, số 5 vàtrung tâm GDKTTH Thường Tín làm cơ sở thực nghiệm

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các hướng tiếp cận chủ yếu trong đề tài

+ Tiếp cận hệ thống: Quá trình dạy học nghề phổ thông là một hệ thống toàn

vẹn bao gồm các thành tố có quan hệ mật thiết với nhau như: mục tiêu, nội dung,

Trang 8

phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, lực lượng dạy học (người dạy và ngườihọc), môi trường và kết quả dạy học Các thành tố của quá trình dạy học không tồn tạiđộc lập mà tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Sự vận động, phát triển của thành

tố này là cơ sở cho sự vận động và phát triển của các thành tố khác và ngược lại Mặtkhác, quá trình dạy học là một hệ thống con trong hệ thống KT-XH, sự vận động vàphát triển của quá trình dạy học chịu tác động môi trường KT-XH bên ngoài

Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp là một bộ phận trong hệ thống GDQD và

hệ thống KT-XH, có quan hệ mật thiết với giáo dục phổ thông, trung cấp chuyênnghiệp, dạy nghề, giáo dục đại học và với hệ thống sản xuất - dịch vụ của đất nướctrong quá trình CNH, HĐH Mặt khác, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp lại là một

hệ thống con, gồm các thành tố là các tổ, phòng, ban cho đến các cá thể Chất lượngdạy học của trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp phụ thuộc vào chất lượng của từngthành tố trong quá trình dạy học, trong nhà trường, đồng thời chịu ảnh hưởng của cácthành tố khác bên ngoài nhà trường

+Tiếp cận lịch sử - lôgíc: Đổi mới, đặc biệt đổi mới dạy học là một sự kế thừa.

Đổi mới dạy học ở các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp nhằm đáp ứng yêu cầu vềnguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong bốicảnh mới của đất nước Tuy nhiên, để đổi mới cần kế thừa những truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc về giáo dục và phát triển những thành tựu của giáo dục nghề nghiệp đã đạtđược trong quá khứ

Bên cạnh đó, mọi công việc đổi mới cần có điểm xuất phát Để đổi mới cầnđánh giá rõ được hiện trạng, xác định được những mặt mạnh để kế thừa, những mặtyếu để khắc phục, nắm bắt được thời cơ để tranh thủ và biết được các nguy cơ có thểxẩy ra để có giải pháp khắc phục

Đổi mới cũng cần căn cứ vào những xu thế tương lai của giáo dục nói chung vàGDNN nói riêng, đặc biệt là đổi mới về dạy học trong cơ chế thị trường

+ Tiếp cận hoạt động: Theo lý thuyết hoạt động: bằng hoạt động và thông qua

hoạt động con người tồn tại và phát triển Vận dụng vào dạy học, hoạt động là bản chấtcủa dạy học bao gồm hoạt động học và hoạt động dạy Hai hoạt động này phải thốngnhất với nhau và đều thực hiện một mục đích là phát triển năng lực và nhân cách chohọc sinh

Trong quá trình dạy học, học sinh vận dụng những tiềm năng, nội lực và nhữngkinh nghiệm của mình để chiếm lĩnh tri thức mới, phát triển năng lực và hoàn thiệnnhân cách bản thân Hoạt động học tập của HS không thể tồn tại một cách riêng lẻhoặc mang tính thời điểm mà được tiến hành trong suốt quá trình dạy học và phù hợpvới từng nội dung của bài học dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của GV Kết quảcủa việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của học sinh

Qua việc trực tiếp tham gia vào hoạt động học nghề phổ thông, HS có cơ hội làmquen, thử sức mình và rèn luyện những kỹ năng thiết yếu trong môi trường lao động nghề

Trang 9

nghiệp thực tế Nhờ đó, các em hiểu rõ hơn về sở thích nghề nghiệp, khả năng của bảnthân, nắm được những thông tin đa chiều, nhiều chiều về nghề nghiệp mà các em thích đểcuối cùng đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp.

+Tiếp cận dạy học tích hợp: Dạy học tích hợp là một xu thế dạy học cần thiết

và được nhiều nước trên thế giới thực hiện, là kết hợp giữa lý thuyết và thực hành đểngười học xong có năng lực thực hiện được công việc cụ thể của nghề nghiệp và làmcho người học hưng phấn Dạy học tích hợp hướng đến hình thành năng lực nghềnghiệp, đặc biệt năng lực hoạt động nghề, khuyến khích người học học một cách toàndiện không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn rèn luyện năng lực từ cách ứng dụngcác kiến thức đó

Tiếp cận thị trường trong nghiên cứu dạy học nghề phổ thông phải dựa trên cơ sởnhu cầu của người học và yêu cầu của hệ thống GDNN đối với tiêu chuẩn năng lực thựchiện của người học để tổ chức đào tạo, kiểm tra - đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ

Nghiên cứu và vận dụng các quy luật quy luật cung - cầu, quy luật giá trị vàquy luật cạnh tranh vào dạy học trong bối cảnh nền kinh tế thị trường

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các phương pháp phân

tích, tổng hợp, so sánh các văn kiện, tài liệu khoa học, Nghị quyết của Đảng, Nhànước, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở

lý luận cho đề tài nghiên cứu

+ Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Bằng các phương pháp quan sát,

điều tra, trò chuyện, nghiên cứu sản phẩm, tổng kết kinh nghiệm, chuyên gia, thựcnghiệm sự phạm; các phương pháp này được sử dụng với mục đích đánh giá thựctrạng về dạy học nghề phổ thông ở các trung tâm GDKTTH trên địa thành phố Hà Nội

và minh chứng cho mức độ cần thiết, khả thi của quy trình dạy học nghề phổ thôngtheo tiếp cận sư phạm tương tác

+ Các phương pháp hỗ trợ khác: Bằng việc sử dụng một số thuật toán của

toán học thống kê, một số phần mềm tin học Các phương pháp này được sử dụngvới mục đích xử lý và trình bày các số liệu và để kiểm chứng độ tin cậy của cáckết quả nghiên cứu

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN SƯ

PHẠM TƯƠNG TÁC Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP

1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới bước vào nền kinh tế hậu công nghiệp, cạnh tranh bằng tri thức,

và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực chất lượng cao

là nguồn lực quan trọng nhất của một đất nước Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thànhnhững công dân có đạo đức, có tri thức, và nghề nghiệp; hình thành nhân cách, phẩmchất và năng lực của công dân, là những yêu cầu cấp thiết và đáp ứng được nhu cầucủa xã hội hiện đại

Cuối thế kỷ XIX, Kerschensteiner (1854-1932) giáo sư người Đức đã đề xướngloại hình “nền GD công dân” và “nhà trường lao động” Ông cho rằng “Nhà trường laođộng” trang bị cho trẻ một lượng tối đa về kỷ năng, tăng cường tri thức nghề nghiệpngay ở tuổi học trò với mục đích tạo nên lớp người lao động lành nghề sau này

Công trình nghiên cứu của các tác giả V.A.Bôrôdin, Z.I.Prôcôpieva,R.N.Cơnhiađêva đã khẳng định hoạt động dạy học nghề nghiệp là một bộ phận cấuthành của Giáo dục trung học phổ thông, bởi vì phát triển ở học sinh sự hứng thú, năngkhiếu tư duy sáng tạo, sự ham hiểu biết, hình thành xu hướng nghề nghiệp và tạo điềukiện cho học sinh trưởng thành trong cuộc sống lao động xã hội

Theo tác giả Jacques Delors, chủ tịch Ủy ban quốc tế độc lập về giáo dục chothế kỷ XXI của Unesco khi phân tích những trụ cột của giáo dục: “ Học để biết, học đểlàm, học để cùng chung sống với nhau, học để làm người ” cho rằng trụ cột thứ hai làcăn bản không thể thiếu được Song song với việc học phải tham gia các hoạt động laođộng nghề nghiệp để có cơ hội phát triển năng lực, có khả năng đối mặt được nhiềutình huống và biết làm việc với đồng đội

Trên thế giới đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục

kỹ thật tổng hợp-hướng nghiệp như Ðức, Hà Lan, Mỹ, Liên Xô, Hàn Quốc, Ấn Ðộ,Anh và hiện nay cũng đã có nhiều nước chú trọng việc giáo dục kỹ năng nghềnghiệp dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau như: “kỹ năng cốt lõi” ở Anh, “kỹnăng thiết yếu” ở Neuzeland và “các năng lực chủ yếu” ở Úc, “bí quyết” ở Mỹ Nhữngnăm cuối thế kỷ XX, các nước châu Âu như Pháp, Đức, Hà Lan, châu Á như NhậtBản, Ôxtrâylia và đặc biệt là Liên bang Nga rất chú trọng về dạy kỹ thuật, Công nghệ,giáo dục nghề cho HS Giáo dục nghề nghiệp trong nhà trường phổ thông ở các nướcđược thực hiện dưới nhiều hình thức và đây cũng là xu thế chung của tất cả các trườngphổ thông có nền giáo dục phát triển cao trên thế giới

Quá trình dạy học là một hệ thống cấu trúc bao gồm nhiều thành tố, các thành

tố này uật vừa tồn tại độc lập vừa vận động và phát triển trong sự tác động lẫn nhau

Trang 11

theo quy luật và cuối cùng cho một kết quả nhất định Sự tương tác của các nhân tốtrong quá trình dạy học được các nhà giáo dục nghiên cứu từ rất sớm.

Mối quan hệ thầy - trò trong dạy học đã được các nhà giáo dục trên thế giớiquan tâm nghiên cứu từ rất lâu như nhà giáo dục Nga N.V.Savin, T.A.Ilina,B.P.Eexipốp, M.a.Danhilop, N.G.Kazanxki, Iu.Kbabanxki, với hệ thống lý thuyết dạyhọc đã xác định tính chất nhiều nhân tố của hoạt động dạy học và mối quan hệ qua lạigiữa các nhân tố, đặc biệt nổi lên mối quan hệ của nhân tố người dạy và người học,tam giác sư phạm: người dạy-người học-nội dung

Đến những năm 70 của thế kỷ XX, nhóm tác giả Guy Brouseau, ClaudeComiti…tại viện đào tạo giáo viên (IUFM) ở Gremnoble (Pháp) đưa ra thêm yếu tốmôi trường trong cấu trúc hoạt động dạy học và bao gồm 4 nhân tố: người học-ngườidạy-nội dung-môi trường Yếu tố môi trường là những tình huống dạy học do ngườidạy tạo ra cho người học chiếm lĩnh nội dung dạy học,

Nhóm tác giả Jean-Mare Denomme và Madelein Royvới với tác phẩm “Tiến tớimột phương pháp sư phạm tương tác” đã đề cập tới trường phái sư phạm tương táccùng với nền tảng lý luận của nó Trong nghiên cứu, nhóm tác giả nói rõ vị trí vai tròcủa người học-người dạy-môi trường và nhấn mạnh yếu tố môi trường trong mối quan

hệ tương tác với người dạy, người học Môi trường ở đây được tác giả xem xét rất toàndiện, kỹ lưỡng và đề cao sự ảnh hưởng của môi trường sẽ tạo cơ hội để người dạy-người học tự biến đổi, điều chỉnh, thích nghi

Theo “Phương pháp luận dạy học tương tác” của tác giả David McQuoid –Mason cho rằng: một bài giảng có hiệu quả cần nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ làdiễn giảng mà bao gồm cả phương pháp dạy học (PPDH) tương tác và để sử dụngPPDH tương tác cần phải biết dùng những chiến lược tương tác, chẳng hạn: GVphải nắm được những kỹ năng và kỹ thuật trình bày, kỹ thuật đặt câu hỏi, đặt ra cácmục tiêu và mục đích rèn luyện, phát triển nội dung rèn luyện theo cấu trúc và cótrình tự,…

Trong tác phẩm “Học tập tương tác và sự cạnh tranh của học sinh trong dạyhọc văn” của hai tác giả Sasa knezevic, Branka Kovocevic người Nga đã nhấn mạnhtầm quan trọng của học tập tương tác trong dạy học văn Học tập tương tác trong dạyhọc sẽ đi nhiều hướng khác nhau từ việc tổ chức học tập cho mọi người Bất kể tronglĩnh vực nào thì học tập tương tác trong lớp học cũng có nhiều lợi ích so với phươngpháp học tập truyền thống, tác động học tập này đáp ứng nhu cầu thế hệ mới, nhu cầu

hệ thống giáo dục năng lực và phẩm chất của học sinh được hình thành và toàn diệnhơn phương pháp truyền thống

Các công trình nghiên cứu dạy và học trong mấy chục năm qua đã thay đổi mộtcách cơ bản các khái niệm về dạy và học Học tập thông qua thể nghiệm hoặc học tậpthông qua tự suy ngẫm ngày nay được thừa nhận bởi học sinh phổ thông và sinh viênđại học Tư liệu “dạy học tương tác có suy ngẫm sẽ thúc đẩy việc dạy, việc học, việc

Trang 12

nghiên cứu trong nhà trường” của các tác giả: Asiyath Mohamed Didi, Jerencef.Sullivan anh Takeyuki Yeyama ở hội nghị quốc tế về dạy và học đại học cho rằng:học tập tự suy ngẫm có nhiều ưu điểm vì: 1) Cho người học cơ hội để hình dung raviệc học tập của mình sao cho giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộcsống 2) Kết quả học sinh học theo chiều sâu chủ đề mình nghiên cứu 3) Thử tháchnhững nguyện vọng, những lòng tin, những giá trị đã ăn sâu vào người học.

Những công trình nghiên cứu trên không chỉ phân tích sâu sắc yếu tố ngườidạy, người học trong môi trường dạy học và việc hướng đến mục tiêu của họ mà cònchỉ ra cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố trong cấu trúc của hoạt động dạy học.Điều ấy đã đặt cơ sở cho những hoạt động sư phạm và thúc đẩy hoạt động của ngườihọc lên mức độ cao nhất, tức là người học là người chịu trách nhiệm chính trong việchọc của mình Tuy nhiên, họ cũng không hề làm lu mờ, hạ thấp vai trò của người dạyvới tư cách “là người khởi xướng và cũng là người kết thúc” một tình huống dạy học

Như vậy, về thực chất các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập tới hoạtđộng dạy học và mối quan hệ tương tác của các nhân tố trong dạy học Tuy nhiên cáccông trình nghiên cứu khoa học trên thế giới còn chưa chú ý đến việc tổ chức dạy họcnghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương tác cho học sinh phổ thông

Ở Việt Nam, bước vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, cơ cấu nền kinh tế

Việt Nam đã có những thay đổi, giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp-dạy nghềmới được bắt đầu đưa vào chương trình dạy học

Vào những năm 70, một nhóm nghiên cứu do giáo sư tiến sĩ Phạm Tất Dongcùng các cộng sự của ông đã chính thức nghiên cứu vấn đề về hứng thú và khuynhhướng nghề nghiệp của học sinh (HS) phổ thông để đưa ra chương trình hướng nghiệpdạy nghề chính khóa cho các trường phổ thông Bên cạnh đó, vấn đề về động cơ chọnnghề, hứng thú nghề và khả năng thích ứng nghề của HS học nghề cũng được Phó giáo

sư tiến sĩ Đặng Danh Ánh cùng các cộng sự đưa ra nghiên cứu theo một hướng xâydựng phòng truyền thống trong các cơ sở dạy nghề, đồng thời soạn thảo tài liệu hướngnghiệp cho trường phổ thông Trong giai đoạn này có các công trình nghiên cứu vềhướng nghiệp dạy nghề và công tác quản lý của các tác giả như: Phạm Tất Dong,Phạm Huy Thụ, Đặng Danh Ánh, Đoàn Chi, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quan Uẩn, HàThế Tuyền, Lưu Xuân Mới, Nguyễn Viết Sự, đã tạo nền tảng cho hoạt động dạynghề phổ thông

Tác giả Đặng Danh Ánh đã phân tích sự cần thiết phải đổi mới về cấu trúc, nộidung, phương pháp trong chương trình giáo dục hướng nghiệp hiện nay, bắt đầu từnhững nội dung có tính tổng quát rồi mới đến các chuẩn kiến thức kỹ năng và thái độcủa môn học mà HS cần phải đạt được trong quá trình học tập nhằm đảm bảo tính liênthông và đồng bộ các kiến thức trong chương trình, tránh được tình trạng cái cần giảngdạy thì không có, còn cái có rồi thì lặp lại

Trong công trình khoa học: “Hoàn thiện giáo dục lao động – kỹ thuật và nghề

Trang 13

nghiệp ở nhà trường phổ thông Việt Nam” của tác giả Đức Xước (Chủ nhiệm đề tài)

đã đề cập đến một số khía cạnh như: “Giải quyết các điều kiện dạy kỹ thuật phổ thông,dạy kỹ thuật ứng dụng ở các cấp học của bậc trung học phổ thông

Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã nghiên cứu một cách có hệ thống phương phápgiảng dạy kỹ thuật trong nhà trường phổ thông với quan điểm giáo dục kỹ thuật tổnghợp Tác giả đã xác định: “Phương pháp giảng dạy lao động là cách thức tác động từthầy đến trò cũng như mối quan hệ giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động họccủa học sinh mà nhờ nó (mối quan hệ này) giáo viên hoặc thợ hướng dẫn sẽ thông báocho học sinh những kiến thức kỹ thuật và công nghệ, hình thành ở học sinh những kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo lao động trong quá trình lao động mang tính chất học tập, giúpcho hoạt động tư duy của học sinh được phát triển, giáo dục học sinh thói quen và thái

độ lao động của con người mới Phương pháp giảng dạy lao động bao gồm nhiều thànhphần riêng lẻ (được coi là các biện pháp)”

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Hải Châu, Lê Trần Tuấn, Trần Trọng Hà,

La Thế Thượng cho chúng tôi những khái niệm, những kinh nghiệm giảng dạy nghềcho HS Các tác giả đã đề cập đến khía cạnh đổi mới PPDH và kiểm tra đánh giá bộmôn hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Để nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng và mở rộng dạy học nghề phổ thôngcho HSPT, tác giả Nguyễn Toàn đã đưa ra một số giải pháp dạy học nghề Điện dân dụng

ở trung tâm GDKTTH theo hướng liên thông với dạy học môn Công nghệ 8 và 9

Cùng với các tác giả nước ngoài, mối quan hệ tương tác của các thành tố trongdạy học được các nhà giáo dục trong nước nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Đặcbiệt là mối quan hệ thầy - trò luôn được các nhà giáo dục quan tâm Trong nhiều nămqua, các nhà sư phạm Việt Nam đã có không ít những nghiên cứu đóng góp trong lýluận dạy học hiện đại đặc biệt là lĩnh vực phương pháp dạy học như: Đặng Vũ Hoạt,Nguyễn Ngọc Quang, Thái Duy Tuyên, Phạm Viết Vượng, Lê Khánh Bằng, ĐặngThành Hưng, Trần Thị Tuyết Oanh và nhiều nhà nghiên cứu khác Các nghiên cứu củacác tác giả đã góp phần phát triển lý luận dạy học Việt Nam bắt nhịp với xu hướngphát triển các lý thuyết dạy học thế giới, đặc biệt tìm ra những ứng dụng các lý thuyếtdạy học mới vào thực tiễn dạy học nhà trường, nâng cao chất lượng đào tạo, góp phầnthúc đẩy công cuộc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay

Sự xuất hiện tác phẩm “Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” của hainhà sư phạm Canada: Jean – Marc Denomme và Madeleni Roy ở Việt Nam đượcnhiều nhà giáo dục quan tâm và ứng dụng rộng rãi Đã có nhiều cơ sở giáo dục trêntoàn quốc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn GV dạy học theo tiếp cận SPTT như: Đại họcquốc gia Hà Nội, ĐHSP Hà Nội, Cao đẳng sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Quanđiểm SPTT bước đầu mang lại kết quả nhất định, đóng góp cho sự đổi mới của giáodục Việt Nam

Trang 14

Trong các công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, các tác giả đã xácđịnh các thành tố cơ bản của hoạt động dạy học và sự tác động qua lại lẫn nhaugiữa chúng theo những quy luật và nguyên tắc nhất định Tác giả Đặng ThànhHưng trong tác phẩm “Dạy học hiện đại, lý luận, biện pháp, kỹ thuật” đã tập trungphân tích các mối quan hệ phát triển theo xu hướng tăng cường sự tương tác, hợptác và cạnh tranh, tham gia và chia xẻ trong dạy học hiện đại thông qua các quan hệthầy-trò, trò-trò, cá nhân-nhóm, nhóm-cả lớp và môi trường học tập (11) và tác giả

đã phân tích, khai thác những tính năng, đặc điểm kỹ thuật của các phương tiện dạyhọc thông dụng nhất trong nhà trường (ở mọi bậc học và mọi lứa tuổi người học)trong tài liệu “Tương tác hoạt động Thầy-Trò trên lớp học”

Trong cuốn “Phương pháp dạy và học đại học” tác giả Lê Khánh Bằng chỉ rarằng: “Tương tác không phải là một quá trình đơn giản mà là một hiện tượng đa diện

Do đó, có thể có rất nhiều hình thức hợp tác như học nhóm, nghiên cứu theo nhóm,thảo luận ở tổ, lớp, ở khối lớp,…, tương tác giữa người dạy và người học, tương táctrong nhóm cùng độ tuổi, trình độ

Gần đây nhất, một số nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Thị Bích Hạnh,Nguyễn Thành Vinh, Vũ Lệ Hoa, Nguyễn Thị Thanh Hằng, trong luận án tiến sỹ đãxây dựng mô hình dạy học tương tác cho những đối tượng người học khác nhau Cáctác giả đã phân tích sâu sắc vai trò của người học, người dạy và môi trường trong cácmối quan hệ tương tác giữa chúng Mô hình này bước đầu đặt cơ sở lý luận và thựctiễn cho việc nghiên cứu và vận dụng quan điểm SPTT trong các trường học Việt Nam(phụ lục)

Tại Hà Nội, năm 2012- 2013, đề tài khoa học cấp ngành “Quy trình tổ chức dạyhọc thực hành nghề theo quan điểm sư phạm tương tác ở các trung tâm Giáo dục kỹthuật tổng hợp” đã tập trung đánh giá thực trạng, nguyên nhân thực trạng theo góc độ

sư phạm tương tác ở các trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH) trên địabàn thành phố Hà Nội

Nhin chung các công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho

HS phổ thông theo cách tiếp cận SPTT còn mới mẻ, và đặc biệt về tổ chức dạy họcnghề phổ thông theo tiếp cận SPTT thì chưa có công trình nào Chính vì vậy, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Dạy học nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương

tác ở các trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm

góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn học ở các trung tâm GDKTTHtrên địa bàn thành phố Hà Nội

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

Trang 15

Sư phạm tương tác là chiến lược dạy học hướng vào người học, đề cao tính năngđộng, tự chủ, sáng tạo của người học Kết quả học tập của người học phụ thuộc vàoviệc xây dựng kiến thức kinh nghiệm cho bản thân một cách độc lập hoặc thông qua sựtương tác với mọi người xung quanh Đây là một biểu hiện sinh động của việc ứngdụng thuyết nhận thức và thuyết kiến tạo trong học tập.

Sư phạm tương tác yêu cầu phải có môi trường tâm lý - xã hội tích cực với cácđiều kiện vật lý - vật chất cần thiết đảm bảo cho việc học tập có hiệu quả

1.2.2 Nghề phổ thông

Theo tác giả E.A Klimốp thì : "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức mạnhvật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sựphân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho mỗi con người khả năng sử dụng laođộng của mình để thu lấy những phương tiện cho việc tồn tại và phát triển"

Theo từ điển tiếng Việt, nghề là "công việc chuyên làm theo sự phân công laođộng của xã hội"

Từ một số quan niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu: nghề là một lĩnh vực hoạtđộng lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những

kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được nhữngnhu cầu của xã hội Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứngnhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêuvong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệđiện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nềncông nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và cácthiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu,công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời…

Nghề phổ thông là nghề phổ biến, thông dụng (đang cần phát triển ở địa

phương) Những nghề này có kĩ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề khôngđòi hỏi thiết bị phức tạp, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với điều kiện kinh tế, khảnăng đầu tư của địa phương, thời gian học nghề ngắn

1.2.3 Dạy học nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương tác

* Dạy học nghề phổ thông

Con người sinh ra, muốn trở thành người, muốn có nhân cách là phải học “Học

ăn, học nói, học gói, học mở”; “Học dăm ba chữ để làm người” như ông cha ta thườngnói Từ xưa đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về dạy và học Vậy, thế nào làhọc? Thế nào là dạy?

Học là quá trình nỗ lực bản thân và tự biến đổi mình để chiếm lĩnh những giá trịmới lấy từ môi trường xung quanh của chủ thể

Dạy là giúp đỡ người học tự khám phá, tự điều chỉnh mình nhằm chiếm lĩnhnhững kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ tạo ra

sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của người học

Trang 16

Từ khái niệm dạy và học, có rất nhiều quan niệm khác nhau về dạy học: Theo

Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt “Quá trình dạy học là một quá trình trong đó dưới tácđộng chủ đạo tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của thầy, HS tự giác, tích cực tự tổ chức, tựđiều khiển hoạt động nhận thức, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học” (34)

Hoạt động giáo dục nghề phổ thông là một hình thức, là con đường chủ yếu củacông tác hướng nghiệp, được thực hiện dưới hình thức như một môn học nằm trong kếhoạch dạy học, có chương trình dạy nghề và danh mục nghề (do Bộ GD&ĐT quyđịnh) cho học sinh phổ thông bậc trung học Chính vì vậy quá trình dạy học NPT phảiphù hợp với các nguyên tắc dạy học và giáo dục nói chung và nguyên tắc dạy học NPTnói riêng Các nguyên tắc này chỉ đạo toàn bộ hoạt động dạy học NPT, như thiết kế nộidung chương trình, phương pháp dạy học

Như vậy, dạy học nghề phổ thông là quá trình dạy học dưới sự tổ chức, hướng

dẫn, giúp đỡ của người giáo viên, người học vận dụng, kiểm nghiệm các kiến thức củacác môn học khác như môn Công nghệ, Tin học, Sinh học… trong hoạt động nghề cụthể để rèn luyện các kĩ năng lao động cần thiết, các kĩ năng thiết yếu cho bản thân,chiếm lĩnh kiến thức mới

* Dạy học nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm tương tác

SPTT là quan điểm dạy học “lấy người học làm trung tâm” đòi hỏi phải xây dựnglại các hình thức tổ chức dạy học và các phương pháp dạy học phù hợp Tư tưởng chủ đạocủa quan điểm này là tổ chức cho HS hoạt động tích cực, sáng tạo, lấy tự học làm chính;lấy tập thể để bổ trợ cho cá nhân; lấy máy móc thiết bị, tài liệu, sách giáo khoa, bănghình, làm phương tiện và tự đánh giá kết quả học tập Lối học này hình thành ở HS sựmạnh dạn, có tính cách, tự tin, biết cách học, biết cách làm, biết cách giao tiếp xã hội, biếtcách khẳng định chân lí, tạo nên con người rất thực tế, thích hoạt động, dẫn đến sự năngđộng và sáng tạo trong tư duy, trong hoạt động cuộc sống Vậy có thể hiểu:

Dạy học nghề phổ thông theo tiếp cận sư phạm trương tác là quá trình dạy học

nghề được tiến hành trong một môi trường vật lý- vật chất và tâm lý – xã hội tích cực,thuận lợi Trong đó người học được coi là là nhân vật trung tâm, là chủ thể của hoạtđộng học tập, thực hành, họ được tương tác với thầy với bạn, với các đối tượng nhậnthức, với các tài liệu học tập, các phương tiện nghe nhìn, được sử dụng các thiết bị kỹthuật, được trực tiếp làm thí nghiệm nghiên cứu, thực hành, được trải nghiệm trongthực tế nghề nghiệp qua đó đạt được các mục tiêu học tập nghề phổ thông

Trong môi trường sư phạm tương tác giáo viên là người đồng hành định hướng,hướng dẫn người học hợp tác, chia sẻ với các bạn; người học được trải nghiệm thực tếqua đó tính tích cực được phát huy cao độ

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC

1.3.1 Cơ sở khoa học của dạy học theo tiếp cận sư phạm tương tác

1.3.1.1 Cơ sở sinh lý học

* Bộ máy học

Sự phát triển của ngành sinh học nói chung và khoa học thần kinh nói riêng,ngày càng khẳng định hệ thống thần kinh là nơi ưu tiên phát triển tri thức Các kết quả

Trang 17

nghiên cứu của ngành khoa học này đã chỉ ra ảnh hưởng lớn lao đến khoa học giáodục Khoa học thần kinh cho chúng ta một cách nhìn toàn diện, một cách hiểu đầy đủtrí não của con người trong quá trình nhận thức Đó là cơ chế vận hành hệ thống thầnkinh mà sư phạm tương tác gọi là bộ máy học Từ đó chúng ta biết được cơ chế củangười học và cách dạy thích ứng với sự vận hành tự nhiên của hệ thống thần kinh ởngười học.

Bộ máy học là hệ thống thần kinh chuyên biệt để tiếp nhận, xử lý thông tin vàđưa ra các phản ứng thích hợp Nó là cơ sở của việc học ở mỗi con người Bộ máy họcbao gồm 2 phần lớn: hệ thống thần kinh ngoại biên (năm giác quan và nơron) và hệthống thần kinh trung ương trải qua quá trình tiến hóa của các thời kỳ khác nhau từ bòsát thời kỳ động vật có vú đến não người Bộ máy học được sơ đồ hóa như sau:

Hệ thống thần kinh ngoại biên là nơi thiết lập mối liên hệ giữa thế giới bêntrong và thế giới bên ngoài, có nhiệm vụ đón nhận thông tin qua các giác quan và cácthông tin được dẫn truyền qua các nơron về trung tâm dưới hình thức các luồng thầnkinh (dưới hình thức năng lượng) Như vậy, hệ thống thần kinh ngoại biên có vai tròhướng dẫn ban đầu quá trình nhận thức, là bộ phận vận chuyển thông tin

Các thông tin trong quá trình học của người học được 5 giác quan của bộ máyhọc tiếp nhận, các thông tin này được các nơron lượng hóa Nơron dẫn năng lượngtheo hai hướng: từ ngoại vi vào trong não và từ não ra ngoại vi Những thông tin nhậnđược, nhờ truyền vào sẽ được phân tích các thành phần khác nhau của cảm giác và củacác sợi nhánh của nơron (hiện tượng dị biệt) Nơ ron thần kinh thông qua các khớp nốicác sợi nhánh của hai nơron gặp nhau, không để cho mọi thông tin đều đi qua Nó lựachọn, sàng lọc và chỉ cho những thông tin (dưới dạng năng lượng) xác đáng vào não

Nơron: tế bào, sợi trục, sợi nhánh, sináp

Não nguyên thủy: chức năng tồn tại Não cổ: khứu não

Bán cầu đại não: Bán cầu não phải, bán cầu não trái (não người)

Trang 18

(hiện tượng tương đồng) Như vậy, thông qua các chức năng mang đến và mang đi, dịbiệt và tương đồng các nơ ron thần kinh đã giúp cá thể làm chủ các kích thích và cóđược những phản ứng với những kích thích cần phản ứng.

Hệ thống thần kinh trung ương – bộ não người – đảm nhiệm chức năng cảmxúc, thu lượm, ghi và khai thác tri thức: thông tin các giác quan thu được truyền thẳngđến vùng limbic (rào cản thứ nhất) Vùng limbic là trung tâm của sự hứng thú, có khảnăng điều khiển về tình cảm Chính tính cảm xúc này sẽ thúc đẩy tiếp nhận hay từ chốithông tin tùy theo lợi ích hay hứng thú Nếu vùng này đánh giá là thực sự có lợi ích thì

sẽ phát triển mong muốn mà sau đó mong muốn này sẽ là nguồn hứng thú để chuyểnsang hành động Khi vượt được rào cản thứ nhất, thông tin được truyền tiếp đến báncầu não phải - nơi tiếp nhận và chứa đựng những thông tin hỗn hợp gồm thông tinnhận được từ bên ngoài (cảm giác về những kích thích bên ngoài) và thông tin đã đượclưu trữ (những trải nghiệm, kinh nghiệm - cái mà người học đã có) Thông tin từ báncầu não phải để tới được bán cầu não trái (quá trình chuyển từ cái không đồng nhấtsang cái đồng nhất), chúng phải vượt qua rào cản thứ hai đó là trạng thái “T” Trạngthái “T” đạt được khi người học tìm được mối quan hệ giữa thông tin nhận được vớinhững gì đã biết Cuối cùng khi đã vượt qua được trạng thái “T”, thông tin sẽ được báncầu não trái xử lý (đưa ra kiến thức mới, hình thành khái niệm)

Đây là cơ chế học của bộ máy học ở tất cả những người học bởi việc học củacon người có bản chất tự nhiên là dựa vào hệ thống thần kinh của người học Tìmhiểu bộ máy học và hoạt động của nó cho chúng ta thấy bộ máy học không đơnthuần là cấu trúc bao gồm: giác quan, nơron, não nguyên thủy, não cổ và bán cầunão mà các yếu tố đó luôn có mối liên hệ thường xuyên, liên tục, hướng tới việc thulượm và sử dụng tri thức

* Vận dụng vào quá trình dạy học

Bộ máy học không đơn thuần là cấu trúc bao gồm các yếu tố: giác quan, nơron,não nguyên thủy, não nguyên thủy, não cổ và bán cầu não mà các yếu tố đó luôn cómối liên hệ thường xuyên, liên tục, hướng tới việc thu lượm và sử dụng tri thức Vậndụng vào trong quá trình dạy học đối với cả người dạy và người học để có cách xử lýphù hợp với hoạt động của hệ thần kinh sẽ đem lại hiệu quả cao

Các giác quan trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Các giác quan là cổng thông tin đầu tiên cho tiếp nhận thông tin và học tập hiệuquả Để tiếp thu kiến thức ta phải sử dụng các cơ quan cảm giác Các giác quan cầnđược kích hoạt cả từ người học và người dạy để chúng hoạt động tốt nhất cho mụcđích học tập

Với người học cần bắt đầu việc học bằng các giác quan để thu nhận kiến thức

mới Việc tăng cường sử dụng nhiều giác quan sẽ giúp người học càng học dễ dàng vàhiệu quả Bởi mỗi một giác quan đều tạo ra các hình ảnh khác nhau và các hình ảnhnày sẽ trở thành các trải nghiệm cá nhân Sự học bắt đầu từ quá trình hòa trộn các cảm

Trang 19

nhận giác quan mới với những cảm nhận đã có trong ký ức và sự hòa trộn này chỉ diễn

ra khi có sự huy động, cặp nhật tiềm năng của bán cầu não Sự hòa trộn từ cảm nhậnmới thành cũ là nguồn thỏa mãn trí tuệ Vì vậy sử dụng liên tục các giác quan, ngườihọc có điều kiện tích lũy những trải nghiệm cảm giác, diều đó tạo điều kiện thuận lợicho họ khi học những kiến thức trừu tượng Việc sử dụng thường xuyên các giác quangiúp người học sử dụng tốt hơn những tiềm năng đã được tích trữ

Với người dạy, sử dụng phương pháp sư phạm phải luôn tính đến đặc điểm

tâm lý của người học Người dạy cần điều chỉnh cách dạy để phù hợp với con đườnglĩnh hội mà người học thực hiện trong quá trình học tập bằng cách kích thích các giácquan, hướng dẫn và giúp đỡ người học huy động các giác quan của mình, khơi dậy ởngười học những kinh nghiệm đã có để hòa nhập, khắc sâu vào những khái niệm mớicần học

Như vậy, hoạt động học tập của người học bằng các giác quan, người dạy đánhthức của người học thông qua những sự vật hiện tượng diễn ra trong đời sống hàngngày chính là mối quan hệ tương tác đa chiều trong môi trường sư phạm

Môi trường đóng vai trò hàng đầu cho sự phát triển các giác quan, cung cấp cáckích thích cho giác quan, giúp người học phát triển trí nhớ, khả năng tư duy trong quátrình suốt quá trình học tập

Vùng limbic (não cổ) trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Vùng limbic là trung tâm của động cơ, nó phải được kích thích ngay khi họcnhằm có được sự mong muốn học Người học chỉ có hứng thú học tập khi sự họcmang đến lợi ích thực tế cho cá nhân Khi người học đã hứng thú, đã tự nhận thứcđược nhiệm vụ học tập, họ đặt mình trong tư thế chủ động sãn sàng trong quá trình họctập Khi có hứng thú người học dễ dàng say mê môn học đó, tự tin, chủ động chiếmlĩnh kiến thức mới, tích cực, sáng tạo khi giải quyết các nhiệm vụ học tập Để làmđược điều đó cần có sự tương tác giữa người học và người dạy Người dạy tổ chức chongười học tự phát hiện ra cái mới, tạo ra mâu thuẫn giữa nhu cầu nhận thức của ngườihọc (tri thức mới) với trình độ hiện có của người học (tri thức cũ) để tự người học giảiquyết mâu thuẫn

Não người trong việc lĩnh hội tri thức

Quá trình học được hoàn thành trong bộ não nơi mà bán cầu phải và bán cầutrái vừa thực hiện vai trò chức năng độc lập lại vừa bổ sung cho nhau Bán cầu phải làtrung tâm giác quan, không đồng nhất và dị biệt, ở đó tất cả các thu lượm của ngườihọc luôn ở trạng thái một tiềm năng sẵn sàng phục vụ Tính không đồng nhất của báncầu phải khi được thực hiện hóa, có xu thế hướng về một đồng nhất mới, một sự tươngđồng được sản sinh trong bán cầu trái Tuy nhiên, việc chuyển từ cái đã biết sang cáimới biết không thể thực hiện được khi bán cầu phải không đạt tới ngưỡng dữ liệu đầy

đủ để tạo nên một trật tự mới, đó là trạng thái “T”, ở đó thông tin không chỉ còn là cái

đã biết và cái chưa biết, mà còn phải biểu đạt tri thức cũ (cái đã biết) làm cơ sở, nền

Trang 20

tảng và liên quan đến tri thức mới (cái chưa biết) Chỉ có như thế, mâu thuẫn cơ bảnnày mới trở thành động lực học tập cho người học - chức năng thứ ba của não bộ

Trong quá trình học tập, người học nhận được các ký hiệu báo trước của trạngthái thứ ba khi nhận thấy rằng đã tìm ra giải pháp vấn đề Chính lúc này, bán cầu tráiđược thực hiện hóa và nhận ra tri thức mới Vào thời điểm “T” này, người học cảm

thấy hứng thú học tập và khám phá Người học là người thầy duy nhất của bộ não của

mình, do đó người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trongquá trình học Người học cần được hiểu bộ máy học của mình để có ý thức về đường

đi trong việc học tập và có điều chỉnh phù hợp bằng cách kích thích các giác quan vàtrí nhớ từ những cái đã biết và tiếp tục tìm kiếm đếu khi tìm được giải đáp

Như vậy, người dạy phải đồng hành, hướng dẫn người học trong quá trình họccủa họ bằng cách tôn trọng các chức năng của bộ não của người học, cùng với ngườihọc chia sẻ những cách rất cụ thể, những bí quyết làm sao để có thể khai thác được bộnão của mình, tận dụng được những tiềm năng mà bộ não vốn có Người dạy giữ nhịp

độ tương tác liên tục với người học đến trạng thái “T” và tự người học sẽ nhận ra kháiniệm mới hoặc giải quyết được một vấn đề trong học tập

1.3.1.2 Cơ sở tâm lý học

Cơ sở tâm lý học của SPTT dựa trên cấu trúc nhân cách của người học và quanđiểm này dựa trên những nghiên cứu của Eric Berce và Carl Roger Tác giả khẳngđịnh rằng ở mỗi con người dù ở tuổi tác nào cũng tồn tại ba hệ thống: bố mẹ (hệ thốngP), trẻ con (hệ thống E), người lớn (hệ thống A) Ba hệ thống này không ám chỉ cácmối quan hệ là con, là bố hay là mẹ mà ba đặc tính được thể hiện trong hành vi củamỗi cá nhân

Bố mẹ (hệ thống P)

Hệ thống này chỉ ra sự tồn tại trong mỗi con người một phương diện chi phốicách xử sự theo các chuẩn mực Trong mối quan hệ cá nhân, hệ thống P là phươngdiện của sự trải nghiệm, của sự phân tích và đánh giá gắn liền với văn hóa, truyềnthống, chuẩn mực và các giá trị của môi trường thuộc về lịch sử mà hệ thống P đã trảiqua Hệ thống P ở mỗi cá nhân hay các cá thể là khác nhau, có thể tích cực hay tiêucực Tính tích cực (chuẩn mực và muốn cho) chỉ kết quả của một ảnh hưởng thuận lợicủa môi trường, trong khi đó tính tiêu cực (làm truy hại và cứu) có nguồn gốc từ môitrường đã làm bất lợi cho cá nhân

Bố mẹ chuẩn mực biết tìm được mặt tốt của các chuẩn mực và những quy tắc

xử sự mà người ta đã dạy cho hoặc đã thu lượm được bằng kinh nghiệm Bố mẹ sửdụng quy tắc quý báu đó để đảm bảo sự thành công của cuộc sống hoặc là thành côngcủa người khác bằng cách gợi lên sự hứng thú1

Trẻ em (hệ thống E)

Hệ thống được tìm thấy ở các lứa tuổi Nó chỉ ra sự phát triển của mỗi cá nhântheo những con đường do cá nhân lựa chọn, có thể đó sẽ là những con đường hoàn

Trang 21

toàn mới so với hệ thống bố mẹ Ở từng cá nhân, phương diện này đều có tính sángtạo Hệ thống E trong mỗi cá nhân dựa vào phản ứng của khứu não (hệ thống limbic),

hệ thống này được thấm đầy tình cảm, xúc động và trực giác biểu hiện qua ngôn ngữhoặc những hành động bắt chước Đó là hệ thống muốn học mà không cố gắng, thíchchơi hơn lao động, không để ý tới tương lai Hệ thống E thường đưa ra các hoạt độnggắn liền với vui chơi giải trí và rất thích những cuộc chơi hứng thú

Cũng giống như hệ thống bố mẹ, người ta nhận ra được những mặt tích cực vàtiêu cực bên trong của hệ thống trong hệ thống trẻ em Đứa trẻ đã lớn lên trong mộtmôi trường chứa đựng những thái độ tích cực và cởi mở: người dạy thể hiện như một

hệ thống E thích nghi và tự do Ngược lại, người mà được giáo dục dưới ảnh hưởngcủa hệ thống P chỉ trích hoặc đã trải qua các sự kiện rắc rối sẽ phát triển ở người đómột cách không có ý thức hệ thống E tiêu cực: người dạy thể hiện sự phục tùng vàocác sự kiện của cuộc sống, đó là đứa trẻ phục tùng hoặc bởi một sự nổi loạn có hệthống, đó là đứa trẻ nổi loạn

Hệ thống người lớn hoặc cái tôi (hệ thống A)

Hệ thống A ám chỉ khả năng phân biệt bắt buộc phải lựa chọn giữa các xuhướng Điều này khẳng định sự trưởng thành của cá nhân về ý chí, sự đấu tranh động

cơ và do đó tương ứng với cái tôi của mỗi người

Đối với mỗi cá nhân, hệ thống A là hạt nhân chính của nhân cách Nó thiết lập

sự cân bằng giữa hệ thống P và E như một trọng tài và phối hợp các hành động của cánhân theo quyết định của trọng tài Cái tôi tạo nên một sự khác nhau giữa từng người

và duy trì các mối quan hệ mang tính cách giữa các cá nhân

Theo quan điểm SPTT, ba hệ thống đó phải được đánh giá ngang nhau Mỗi hệthống biểu lộ trong những tình huống được ưu tiên và tạo ra những sắc thái đa dạngcủa nhân cách

Mối quan hệ giữa ba hệ thống

Theo Beme, ba hệ thống P, E, A trao đổi và tăng cường cho nhau Hệ thống Ptruy hại củng cố hệ thống E phục tùng hay hệ thống E nổi loạn cũng như hệ thống Pcứu rỗi; hệ thống P chuẩn mực và P thích cho tăng cường hệ thống E thích nghi và E

tự do Quan trọng là có ý thức về sự trao đổi giữa ba hệ thống can thiệp vào bên trọngtính cách của mỗi cá nhân và cho phép mỗi cá nhân cách điều chỉnh cần thiết Từ đómỗi cá nhân ngày càng có trách nhiệm về cái mà mình đã làm

1.3.1.3 Cơ sở giáo dục học

SPTT trong dạy học là quá trình tương tác nhiều mặt, không chỉ tương tác giữangười dạy với người học, mà còn có sự tương tác giữa người học với nhau trong hìnhthức học nhóm,nghiên cứu theo nhóm, thảo luận lớp, tổ… hay giữa học sinh với tàiliệu học tập, phương tiện dạy học… Dạy học theo tiếp cận SPTT nhất thiết phải bao

gồm sự hợp tác, sự trao đổi và biến đổi

Trang 22

Người dạy là người hướng dẫn, đồng hành và tạo môi trường học tập thuận lợicho người học thu nhận kiến thức trong quá trình học tập chứ không phải là ngườitruyền đạt kiến thức một chiều và đóng vai trò “trọng tài” phân định các giải phápđúng-sai của người học và quan trọng là giúp người học nắm được phương pháp giảiquyết vấn đề Vai trò của người dạy là giúp người học tìm ra phương pháp thu nhậnkiến thức tối ưu nhất, chứ không phải chỉ truyền đạt một cách dàn trải như trước đây.Nói người thầy phải biết 10 dạy 1 là như vậy

Trong hoạt động học, người học dựa vào tiềm năng của mỗi người để khám phá

và chiếm lĩnh tri thức Người học là chủ thể của hoạt động học nên ngay từ đầu cầnphải có động cơ, năng động và chịu trách nhiệm Vậy, để hoàn thành nhiệm vụ đặc thùcủa mình, người dạy cần phải xây dựng kế hoạch học tập, kế hoạch dạy học, sử dụngphương pháp sư phạm của mình để tác động hoạt động học, nhằm giúp người học tíchcực, chủ động lĩnh hội tri thức mới, thực hiện tốt mục tiêu học tập Trên cơ sở đó dạyhọc đem lại hiệu quả cao

1.3.2 Đặc trưng cơ bản của sư phạm tương tác

1.3.2.1 Sư phạm tương tác là cách tiếp cận dạy học cơ bản, năng động, hệ thống, khoa học

SPTT là cách tiếp cận cơ bản đối với hoạt động dạy và học Hoạt động dạy học diễn ra trên nền tảng cơ bản vững chắc là dựa trên bản chất tự nhiên của ba yếu tốngười học, người dạy và môi trường Hệ thống thần kinh giúp con người tư duy vàngười học sử dụng một cách thích đáng hệ thần kinh của mình để tiếp nhận kiến thức.Người học học theo cơ chế vận hành của bộ máy học của chính mình

-Trong vai trò của mình, người dạy truyền thụ kiến thức bằng việc giúp ngườihọc sử dụng tối đa hệ thần kinh của bản thân để chiếm lĩnh tri thức mới Người dạycần phải luôn tôn trọng hoạt động của bộ máy học ở người học và bằng cách đó ngườidạy mới mang lại thành công trong dạy học Yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng mộtcách trực tiếp hay gián tiếp đến người dạy và người học trong hoạt động của họ

- SPTT là cách tiếp cận mang tính năng động, sử dụng nhiều yếu tố năng độngcủa ba tác nhân Cách tiếp cận của hoạt động SPTT mang tính năng động vì nó dựatrên hoạt động của hệ thống thần kinh con người Đây là một hệ thống đang sống vàluôn hoạt động Vì vậy, khi người học học và cố gắng hiểu một điều gì đó có nghĩa là

cả hệ thống thần kinh của người học đang hoạt động, cơ thể đó hoàn toàn năng động.Người dạy cũng hoạt động năng động Người dạy phải sử dụng nhiều phương phápdạy học một cách linh hoạt giúp người học học tốt nhất Môi trường tác động tích cựchay tiêu cực đến hoạt động dạy học Những tác động đó có thể chủ động tạo ra nhữngyếu tố thuận lợi hay không thuận lợi trong hoạt động của người dạy và người học

- SPTT là cách tiếp cận mang tính hệ thống Các vấn đề được xem xét khôngtách biệt mà trong một tổng thể các bộ phận khác nhau có mối quan hệ phụ thuộctương hổ Tiếp cận có hệ thống thể hiện ở chỗ SPTT được xây dựng trên một nguyên

Trang 23

tắc và suy ra những hệ quả loogic Người học là tác nhân chính trong hoạt động họcnên phải có trách nhiệm về hoạt động của mình, kích hoạt hệ thống thần kinh và tìm rahứng thú để học Người dạy, môi trường với vai trò là các tác nhân giúp đỡ, tạo điềukiện cho người học hướng tới mục đích Mối quan hệ tương tác giữa người dạy, ngườihọc và môi trường góp phần tạo nên hiệu quả hoạt dộng sư phạm

- SPTT là cách tiếp cận khoa học vì nó dựa trên kết quả nghiên cứu của nhiềungành khoa học như: sinh lý học, tâm lý học, vật lý học, hóa học,…Đó là một tổng thểcác ngành khoa học khác nhau giúp chúng ta mô tả cơ chế vận hành của bộ não tronghoạt động học Bộ não con người chính là cơ sở vật chất của việc học Mối quan hệtương tác giữa con người với môi trường làm nảy sinh hoạt động học và hoạt động sưphạm chính là những tác nhân thúc đẩy hoạt động học đạt đến đích

1.3.2.2 Sư phạm tương tác lấy người học làm trung tâm

Việc dạy học phải xuất phát từ đầu vào của người học, tức là từ nhu cầu, động

cơ, đặc điểm và điều kiện của người học Người học là tác nhân chính của quá trình

học tập, quyết định thực hiện các mục tiêu học, quyết định sự phát triển nhân cách bảnthân, được người dạy giúp đỡ và bị môi trường chi phối

Người dạy là người hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện người học huy động cácgiác quan, chủ động trong lĩnh hội Do vậy, các phương pháp, các kỹ thuật dạy họckhác nhau, đánh giá quy trình, cung cấp thông tin, tổ chức giờ học trên lớp là nhữnghoạt động mà người dạy luôn điều chỉnh phù hợp với người học để họ tự giác tích cựctham gia hoạt động, tự khám phá chiếm lĩnh tri thức, không tiếp thu một cách thụ động

và có trách nhiệm trong quá trình học

Môi trường dạy học là nơi diễn ra hoạt động của người học, người dạy, có ảnhhưởng không nhỏ đến nhận thức, tình cảm và hành vi của người học Môi trường họctập tích cực sẽ khơi dậy, hình thành và phát triển mọi tiềm năng của người học Ngượclại, nếu môi trường là yếu tố cản trở thì người học phải tự điều chỉnh làm thế nào đểgiảm thiểu những tác động tiêu cực của môi trường

1.3.2.3 SPTT dựa trên tương tác giữa người học, người dạy và môi trường

Dạy học là quá trình tương tác qua lại giữa người học và người dạy trong mộtmôi trường nhất định (môi trường vật chất, môi trường tinh thần, môi trường bêntrong, môi trường bên ngoài), do đó không chỉ có sự tương tác giữa người học vàngười dạy mà bao gồm cả sự tương tác giữa người học và bạn học, giữa cá nhân vànhóm, giữa cá nhân với toàn lớp, … hay giữa người học với tài liệu học tập, phươngtiện dạy học,…

SPTT đặc biệt quan tâm chú ý các mối quan hệ tương hỗ giữa ba tác nhân:người học, người dạy và môi trường Ba tác nhân này luôn tác động qua lại lẫn nhau,xâm nhập vào nhau, mỗi tác nhân hoạt động và phản ứng dưới ảnh hưởng của hai tácnhân kia, có ảnh hưởng đến kết quả học tập Chính sự tương tác này làm tăng động lực

cả người học và người dạy, nó khắc phục tính chất thụ động, xuôi chiều, rập khuôn lâu

Trang 24

nay của dạy học Sự tương tác này phân định rõ hơn vai trò chức năng riêng biệt củangười học và người dạy, nhưng đều hướng tới sư phát triển ở người học và thực hiện

có hiệu quả mục tiêu dạy học ngày nay Muốn làm được điều này, người dạy khôngchỉ thực hiện nội dung công việc theo kế hoạch cố định mà điều cốt lõi tìm ra cáchthức, thủ thuật kích thích người học hưởng ứng, có nhu cầu, hứng thú và trách nhiệmcao trong học tập Người dạy với chức năng người hướng dẫn, giúp đỡ, tổ chức chongười học tương tác với nhau trong sự cạnh tranh, hợp tác thông qua nội dung học tậptheo hướng mở, linh động Đồng thời người dạy luôn chú ý tạo ra cho người học luônhướng đến kho tàng tri thức rộng mở, phong phú; phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng,năng lực của từng học sinh để thiết lập mối quan hệ tương tác thông qua các phươngtiện dạy học, tài liệu học tập,…

Như vậy trong dạy học, SPTT thể hiện những ưu điểm vượt trội với tác nhânđịnh hướng là người dạy và tác động của môi trường giúp người học không chỉ tìmkiếm được tri thức mới, mà còn tìm ra cách thức và con đường đi đến tri thức đó

1.3.3 Cấu trúc của sư phạm tương tác

Cấu trúc của SPTT là xem xét cơ chế tương tác trong mối quan hệ của 3 yếu tố:người học - người dạy - môi trường và các yếu tố này tương tác với nhau nhằm đạtmục đích học tập đề ra

1.3.3.1 Người học

Người học trong SPTT được hiểu là người đi học, không phải là người đượcdạy Với năng lực cá nhân, người học tham gia vào quá trình thu nhận kiến thức mớivới bộ máy thần kinh của mình Người học trước hết là người tìm cách học và cáchhiểu Từ “người học” được dùng trong SPTT bao hàm tất cả đối tượng đi học

Theo quan điểm hiện đại, người học tự hoạt động, tự khám phá, lĩnh hội tri thứctrên cơ sở những kinh nghiệm sống của bản thân và không lệ thuộc vào người dạy màchủ yếu quan hệ trực tiếp với kiến thức (nội dung tài liệu học tập), thầy cô, bạn bècùng học thông qua hoạt động của chính mình Người học thông qua hoạt động tựkhám phá, trong quá trình lĩnh hội người học luôn chủ động tiếp nhận tri thức có chọnlọc, không thụ động và máy móc Như vậy, khi tham gia vào dạy học, người học cầnphải có động cơ học tập, tham gia tích cực và trách nhiệm trong công việc của mình

- Sự hứng thú: Người học tự tạo hứng thú đối với lợi ích của tri thức phải thulượm trong cả hiện tại và tương lai Từ đó tạo ra tâm thế phấn khởi, tự tin vào năng lực

và khả năng thực hiện thành công phương pháp học, phương pháp làm việc của mình

- Sự tham gia: Người học có sự tham gia tích cực và bển vững trong suốt quátrinh học bằng tất cả khả năng, các kiến thức đã biết, cũng như các kinh nghiệm đã có

mà người học được trải nghiệm Quá trình học đòi hỏi người học sử dụng tất cả tiểmnăng sẵn có một cách liên tục và nhiều cố gắng nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết

- Sự trách nhiệm: Trong việc học, người học phải chứng tỏ khả năng chủđộng, tự chủ, tự nhận trách nhiệm và luôn luôn không được là cái romooc của

Trang 25

người dạy và cũng không dựa vào sự giúp đỡ của các học sinh khác Có tráchnhiệm được thể hiện bằng việc người học luôn có thái độ học tập bền bỉ và sẵn sàngtìm cách thức vượt qua khó khăn bằng cách sử dụng các kiến thức đã có cũng nhưcác kinh nghiệm đã trải qua.

1.3.3.2 Người dạy

Người dạy là người hướng dẫn, lập kế hoạch trong công việc Xây dựng kế

hoạch hoạt động là xác định phương hướng và mục đích quá trình dạy học, từ đó đềxuất nội dung và phương pháp sư phạm phù hợp

Lập kế hoạch dạy học phải tuân theo trình tự các bước sau:

- Phân tích môn học

- Tìm hiểu đặc trưng của người học

- Phân bố nội dung môn học một cách hài hòa

Người dạy là người đồng hành, giúp đỡ người học trong quá trình dạy học Với

mong muốn tạo ra không khí học tập tốt, người dạy phải dạy cái mà người học cần,nhu cầu xã hội đòi hỏi chứ không phải dạy theo cái người dạy có, mang đến kiến thức

và kinh nghiệm của mình cho người học, cùng hợp tác với người học khám phá trithức và chia sẻ khó khăn với người học trong quá trình dạy học Người dạy đặt mìnhvào vị trí người học, cảm thông các vấn đề người học vướng mắc và trợ giúp ngườihọc tìm ra phương án giải quyết vấn đề, đồng thời luôn tạo môi trường thân thiện tronghoạt động học của người học, sẵn sàng tư vấn trong học tập nhưng không thay thếngười học giải quyết vấn đề Bên cạnh đó, người dạy có trách nhiệm dự báo và pháthiện các khó khăn của người học và xây dựng chiến lược hỗ trợ cho người học hướngtới mục đích

Người dạy là người tạo điều kiện thuận lợi

Bên cạnh vai trò là người hướng dẫn, người dạy giúp người học kiên trì, bền bỉđường hướng học tập đúng đắn trong suốt quá trình học tập Thậm chí trong những lúccần thiết, người dạy luôn tìm cách trợ giúp người học định hướng lại khi cần thiết, làmcho việc học trở nên dễ dàng hơn

Trong vai trò người tạo điều kiện, người dạy sẽ tập trung vào tạo động cơ chongười học, làm cho người học hứng thú tham gia vào dạy học và tìm các chiến lượcthích hợp để tất cả các người học có thể thực hiện được mọi yêu cầu của việc học đãđược đề ra, đảm bảo sự thành công của người học Do đó người dạy sẽ lựa chọnphương pháp mà anh ta làm chủ được, phù hợp với khả năng từ sư phạm hứng thú và

sư phạm thành công

Trang 26

Người dạy là người hoạt náo trong hoạt động dạy học

Người dạy là trung tâm của lớp học, là người điều phối các hoạt động dạy học,điều hòa mối quan hệ giữa người dạy và người học Các thành viên trong lớp học cóđặc điểm tâm lý và nhân cách khác nhau, người dạy cần phải chú ý đến hành vi củamỗi người học để điều phối các phản ứng của nhóm và của từng thành viên, khơi dậy,kích thích người học huy động hệ thần kinh của mình trong quy trình học tập, tạo nên

sự tương tác hiệu quả giữa người dạy với người học

Người dạy là người giao tiếp

Bên cạnh vai trò hoạt náo viên, người dạy là người giao tiếp Vai trò của ngườihọc và người dạy trong SPTT được xác định rõ ràng, các thông điệp truyền đi và cácphản hồi đều nằm trong một định hướng đặc thù, phù hợp với chức năng của mỗingười Sự giao tiếp của người dạy và người học tạo nên mối quan hệ gần gũi, tăng độtin cậy từ hai phía, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học Nó có thể biểu đạtbằng ngôn hoặc phi ngôn ngữ

1.3.3.3 Môi trường

Yếu tố môi trường trong dạy học ngày nay cần được quan niệm lại Nó cầnđược nhìn nhận một cách đầy đủ và toàn diện hơn Môi trường dạy học không chỉ làcác yếu tố vật chất có tác động một cách vật lí lên người học và người dạy Mà nó baogồm tất cả các yếu tố bên trong (như kinh nghiệm, văn hóa, các yếu tố tâm lí… củachính chủ thể hoạt động dạy học) và các yếu tố bên ngoài (môi trường vật chất, trangthiết bị dạy học, …) Môi trường được xem là một trong ba yếu tố quan trọng (cùngvới người học và người dạy) cấu trúc nên hoạt động dạy học Sự tác động qua lại giữachúng tạo ra sự vận động, phát triển của hoạt động dạy học, từ đó tạo nên sự phát triểnkhông chỉ ở người học mà cả người dạy và môi trường

Hoạt động dạy học cũng giống như mọi hoạt động khác của con người Vấn đềcần được đặt ra là phải phát huy các yếu tố tích cực của môi trường đồng thời hạn chếxóa bỏ những yếu tố tiêu cực của nó, tạo ra một môi trường ngày càng trong sạch vàthân thiện Môi trường tốt là điều kiện thuận lợi cho người học hình thành và phát triểnnhân cách toàn diện và khuyến khích người dạy có những lao động sáng tạo trong quátrình dạy học và ngược lại người học-người dạy cũng có thể tác động trở lại môitrường nhằm tăng cường hay giảm nhẹ ảnh hưởng của nó

1.3.3.4 Cơ chế tương tác trong môi trường sư phạm

Sư phạm tương tác dựa trên sự tương hỗ tồn tại giữa ba tác nhân:người học người dạy - môi trường

-Người học

Người dạy Môi trường

Trang 27

- Tương tác người dạy – người học: Hoạt động dạy và hoạt động học diễn ra

đồng thời và song song Mối quan hệ tác động qua lại giữa người học và người dạy làtương tác thường xuyên trong lớp học: người dạy thiết kế, người học thi công Thôngqua các phương tiện thực hiện tương tác là ngôn ngữ và hành vi phi ngôn ngữ với cácvấn đề thuộc nhiệm vụ học tập của người học, người dạy không truyền thụ tri thức cósẵn cho người học mà dạy cho người học cách tìm ra tri thức đó bằng cách người dạyhướng dẫn, tổ chức các hoạt động để người học chủ động tham gia chiếm lĩnh tri thức,giải quyết vấn đề của bài học Như vậy, thông qua các hoạt động tương tác giúp ngườihọc nhanh chóng đạt mục tiêu học tập đã định đồng thời đem lại sự thỏa mãn nhu cầucủa người học và người dạy tạo nên hiệu quả dạy học

- Tương tác người học – môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình

phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách cho người học, là nơi người học bộc lộ vàtrải nghiệm khả năng của bản thân Môi trường tốt tạo điều kiện thuận lợi để ngườihọc phát triển nhân cách toàn diện Sự tương tác giữa người học và môi trường đượcbiểu hiện ở nhiều góc độ khác nhau, đó là sự tương tác giữa người học với môi trường

tự nhiên, môi trường thời gian, môi trường không gian và môi trường xã hội Vàngược lại người học tác động lại môi trường theo hướng có lợi cho cộng đồng xã hội

- Tương tác người dạy – người học – môi trường: Mối quan hệ người dạy và

người học luôn diễn ra trong một môi trường lớp học cụ thể, trong một không gian,thời gian xác định mà ở đó bao gồm yếu tố vật chất, yếu tố tinh thần, yếu tố bên trong,yếu tố bên ngoài tác động đến người học, người dạy thông qua sự tác động đếnphương pháp hoạt động của họ Ngược lại người dạy, người học cũng tác động trở lạimôi trường thông qua những tác động làm biến đổi các yếu tố (bên trong, bên ngoài)của môi trường làm cho môi trường biến đổi theo hướng tích cực và cùng thích ứng

1.4 DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN SPTT Ở CÁC TRUNG TÂM GDKTTH

1.4.1 Đặc trưng cơ bản của dạy học nghề phổ thông theo tiếp cận SPTT ở các Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật tổng hợp

Quan niệm phổ biến khi nói đến các nhân tố của quá trình dạy học NPT người tathường nói đến 3 thành tố cơ bản: Người dạy, Người học và Nội dung dạy học

Theo quan điểm sư phạm tương tác QTDH gồm 3 thành tố cơ bản: Người dạy,Người học và Môi trường Điều đó không có nghĩa là quan điểm sư phạm tương tác bỏqua thành tố nội dung dạy học mà ngược lại nó đề cao yếu tố nội dung như một tấtyếu của phương pháp dạy và học gắn chặt với người dạy và người học Điều này thểhiện rõ khi phân tích các liên đới giữa người dạy, người học và môi trường dạy học.Quá trình lao động kỹ thuật là những nội dung cơ bản của dạy học NPT ở Trungtâm GDKTTH Nội dung này là đối tượng hoạt động học của học sinh, nó quyết địnhlogic quá trình học về mặt khoa học

Trang 28

Đối với học sinh, muốn học NPT có chất lượng và hiệu quả, trước hết, họ phảihứng thú với hoạt động học của mình Sự hứng thú bắt đầu từ nhận thức hoặc cảmnhận trực quan của học sinh về lợi ích của nội dung hoạt động học đối với kết quả họctập của học sinh Như vậy, nội dung học NPT là nguồn gốc nẩy sinh hứng thú ở HS.

Và cùng với hứng thú, yếu tố tạo nên chất lượng và hiệu quả học tập của học sinh là

sự tin tưởng vào khả năng và phương pháp học tập của chính mình HS phải tin rằng

họ hoàn toàn có khả năng học được các kỹ năng và phương pháp học của họ là nhữngphương pháp có hiệu quả

Tham vọng vượt qua thành tích học tập của chính mình cũng có thể trở thànhmột hứng thú có giá trị đối với người học Thành tích học tập của học sinh được tăngdần cùng với sự phát triển lôgíc quá trình tổ chức hoạt động học nghề và được quyđịnh bởi cấu trúc quá trình dạy học nghề

Thành quả học nghề của HS phụ thuộc vào sự hứng thú, sự tin tưởng Tuy nhiên,nếu chỉ có thế thôi thì chưa đủ mà cùng với nó là tinh thần trách nhiệm và sự tham giacủa họ vào quá trình học Tinh thần trách nhiệm của HS thể hiện ở việc xác định mụctiêu học tập, ở việc cam kết thực hiện mục tiêu và tự chịu trách nhiệm về kết quả họctập Đồng thời, với tư cách là chủ thể quá trình học tập, HS phải tham gia vào mọikhâu của quá trình này Làm như vậy, HS đảm nhận việc làm hết mình để đúng với vaitrò người thợ chính trong tất cả các giai đoạn của quá trình học nghề Trong DH NPT,nội dung dạy học là yếu tố có ý nghĩa quyết định tạo nên tinh thần trách nhiệm và sựtham gia của học sinh

Hoạt động dạy của GV trong dạy học NPT có chức năng tổ chức, hướng dẫn vàđiều khiển hoạt động học nghề của HS Hoạt động này xuất phát từ nội dung dạy học

và gắn liền với thực tiễn GV là người lập kế hoạch hướng dẫn cho các giai đoạn tổchức hoạt động dạy học và hợp tác với HS Tất cả những hoạt động này đều xuất phát

từ nội dung dạy học và gắn kết với thực tiễn

Kế hoạch dạy học của giáo viên bao gồm kế hoạch dài hạn (vĩ mô) và ngắn hạn(vi mô)

Kế hoạch dài hạn là kế hoạch theo năm học hoặc học kỳ tương ứng với từng mônhọc mà giáo viên phụ trách Để xây dựng kế hoạch dạy học, gíao viên phải phân tíchnội dung của chương trình dạy học Mục đích của việc làm này là làm cho nội dungcủa chương trình dạy học phù hợp với khả năng và điều kiện của học sinh Vì lẽ đó,người dạy dự kiến sắp xếp các kiến thức có tính đến các yếu tố quan trọng, các yếu tốkhó và phân bố thời gian cho môn phải dạy

Kế hoạch ngắn hạn (giáo án) là kế hoạch chi tiết cho các tiết học trong đó xácđịnh mục tiêu phải đạt, các nội dung phải dạy – học, phương pháp và phương tiện sửdụng để đạt mục tiêu, thời gian tổng thể và thời gian từng phần cho giáo án Trong kếhoạch ngắn hạn, giáo viên xác định các kỹ năng mà học sinh cần đạt được (theo từngchương trình môn học), xác định các yêu cầu thực tiễn và tìm mối liên hệ với kiến thức

Trang 29

và kỹ năng mà người học đã có Đồng thời, phải xác định rõ mức độ kết quả mà ngườihọc đạt được sau khi họ kết thúc việc học Mục tiêu dạy học được xác định dựa trênchủ đề học tập và đặc điểm của người học Như vậy, nội dung dạy học gắn kết vớihoạt động hướng dẫn của GV và hoạt động học của HS

Phân tích trên cho thấy, quan điểm sư phạm tương tác không phủ nhận yếu tố nộidung dạy học trong quá trình dạy học Ngược lại, thông qua việc xác định các liên đới(nội dung cụ thể của các hoạt động) của GV và HS, quan điểm sư phạm tương tác đãgắn kết chặt chẽ phương pháp dạy và phương pháp học với nội dung dạy học, coi đónhư là yếu tố tất yếu (đương nhiên) trong hoạt động của hai nhân tố: GV và HS Đặcbiệt, tổ chức quá trình dạy học NPT theo quan điểm sư phạm tương tác phải chú ý đếnmột nhân tố thứ ba (thực ra nó vẫn tồn tại trong quá trình dạy học nhưng chưa đượcquan tâm một cách thoả đáng) của quá trình dạy học - yếu tố môi trường

Môi trường trong dạy học NPT theo quan điểm SPTT là môi trường trong đóngười học với tư cách là chủ thể nhận thức luôn được tương tác với thầy, với bạn,với các đối tượng nhận thức, được thực hành, được trải nghiệm thực tế qua đó màphát triển trưởng thành

Học sinh là chủ thể của quá trình nhận thức, để học tốt người học phải tự mìnhhọc tập một cách tích cực và sáng tạo, họ sẽ học tốt hơn nếu được hợp tác với bạn, vớithầy, được thầy chỉ bảo, hướng dẫn, khích lệ, được hoạt động trong môi trường có đủtài liệu giáo khoa, có đủ phương tiện thực hành

Trong môi trường học tập tương tác, giáo viên luôn coi học sinh là chủ thể nhậnthức, họ đóng vai trò là người đồng hành, người hỗ trợ, giúp đỡ học sinh tìm tòi, khámphá kiến thức và thực hành trải nghiệm HS được trực tiếp nghiên cứu các đối tượngnhận thức, được tra cứu tài liệu, sách giáo khoa, Internet, được sử dụng các phươngtiện nghe nhìn, được làm các thí nghiệm, thực hành, được trải nghiệm trong thực tiễn

từ đó chất lượng học tập sẽ được nâng lên

Môi trường trong dạy học NPT theo tiếp cận SPTT là môi trường dạy học đaphương tiện với các tình huống dạy học, hệ thống các câu hỏi, phương pháp dạy học,thiết bị kỹ thuật, công cụ lao động,… mang tính chất đặc thù riêng của từng NPT, đặcbiệt là những kiến thức nghề gắn liền với những sinh hoạt thường ngày, gắn liền vớiviệc làm nghề thực tế mà HS đang hoặc sẽ theo học để tạo hứng thú, kích thích ngườihọc tự chiếm lĩnh tri thức kỹ thuật, rèn luyện kỹ năng hoạt động kỹ thuật, hình thành

và phát triển năng lực tư duy qua các tác động qua lại, trao đổi, hợp tác giữa ngườihọc, người dạy và môi trường Trong môi trường học tập hiện đại, mọi giác quan củangười học được kích thích, người học sẽ nắm bắt được cấu trúc hoặc nội dung bài họcnhanh chóng Những hình ảnh, âm thanh, thiết bị thực hành, tài liệu, các công cụ trựcquan sinh động tác động trực tiếp vào các dây thần kinh trong bộ máy học của ngườihọc, làm cho người học dễ dàng nắm vững kiến thức, hăng say hoạt động học tập, tíchcực suy nghĩ và tham gia xây dựng bài

Trang 30

Bên cạnh bước đầu hình thành kỹ năng nghề nghiệp, môi trường dạy học NPT làmột trong những con đường thuận lợi, quan trọng để HS có cơ hội trải nghiệm và thựchành, hình thành và phát triển kỹ năng xã hội như: kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ nănglắng nghe, kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc nhóm,

Tóm lại: Tổ chức dạy học NPT theo tiếp cận SPTT là tổ chức các hoạt động học

nghề cho HS theo từng bộ môn Về bản chất, nó là quá trình thực hiện những cáchthức tác động đặc thù để tổ chức và vận hành mối quan hệ giữa 3 thành tố cơ bản củaquá trình dạy học: GV, HS và môi trường dạy học Từ đó, nó tạo ra những tính chấtmới cho những mối quan hệ này, và nhờ đó mà tạo ra được tính chất mới của quá trìnhdạy học Tính chất mới này cho phép quá trình học nghề đạt được hiệu quả tối ưu với

sự hao phí tối thiểu về thời gian, sức lực và phương tiện của cả GV và HS

Có thể mô tả quan niệm về tổ chức dạy học thực hành theo quan điểm sư phạm tương tác như hình sau:

Hình 1 Tổ chức dạy học thực hành theo quan điểm sư phạm tương tác

1.4.2 Khả năng vận dụng sư phạm tương tác trong dạy học nghề phổ thông ở các trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

SPTT phản ánh tính quy luật của dạy học: SPTT dựa trên sự tương tác giữa 3 yếu

tố cơ bản là người dạy, người học và môi trường liên quan đến việc dạy và học, trong đóyếu tố người học luôn được đề cao nhằm tạo ra sự tích cực chủ động, tích cực trong quátrình dạy học Dạy học NPT được thực hiện dưới hình thức như một môn học nằm trong

kế hoạch dạy học và chương trình hoạt động giáo dục NPT nhằm Vì vậy, GV phải luôntiếp cận với những tư tưởng, quan điểm dạy học mới để phát huy tính tích cực, chủ động,tìm tòi sáng tạo và khả năng tự học của HS Do đó, SPTT có phạm vi ứng dụng rộng rãi

và phù hợp với dạy học NPT ở các trung tâm GDKTTH Hà Nội

SPTT đáp ứng mục đích dạy học NPT ở các trung tâm GDKTTH: Ở trung tâm

GDKTTH, việc vận dụng SPTT trong quá trình giảng dạy các môn nghề sẽ có nhiềuthuận lợi Bởi vì nguyên tắc và mục tiêu của các môn nghề đều nhằm vào việc cungcấp cho HS những tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp; phát triển năng lực nhậnthức, tư duy kỹ thuật và hình thành cho người học có khả năng giải quyết vấn đề trong

Người học

Giáo viên Lập kế hoạch

Tổ chứcHợp tácẢnh hưởng

Thích nghi

Hứng thúTrách nhiệmTham gia

Môi trường

Trang 31

những tình huống nhất định cũng như có thái độ lao động đúng đắn đối với lao độngnghề nghiệp, tác phong lao động công nghiệp thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế-xãhội hiện tại Trên cơ sở, thấy được thấy được những đòi hỏi của nghề đối với người laođộng về phẩm chất và năng lực, HS có sự lựa chọn nghề và định hướng học tập chophù hợp Vì vậy, dạy học NPT chính là một trong những con đường để giáo dục hướngnghiệp cho HS phổ thông.

SPTT nhằm vào những mục tiêu cơ bản:

- Làm cho quá trình dạy và học có ý nghĩa và mang tính mục đích rõ ràng

- Dạy cách tìm tòi, khám phá sáng tạo và vận dụng kiến thức vào các tìnhhuống khác nhau

- Thiết lập các mối liên hệ giữa các tri thức, các kỹ năng, tạo động cơ, năng lựccho người học có nhiều điều kiện phát triển kỹ năng xã hội, tính chủ động, độc lập,sáng tạo

- Định hướng giá trị đúng đắn trong môi trường học tập đa tương tác tích cực.Như vậy, những mục tiêu của SPTT có khả năng đáp ứng những mục tiêu vàyêu cầu mà các môn học nghề phổ thông hướng tới

SPTT tập trung vào người học: Dạy nghề phổ thông là một trong những hoạt

động chủ lực của hoạt động giáo dục hướng nghiệp vì đã tạo ra được một môi trường

và điều kiện thuận lợi để HS tham gia tích cực, chủ động làm quen, thử sức mình tronghoạt động lao động nghề nghiệp phổ biến của xã hội và nghề truyền thống ở địaphương Nhờ đó, HS có điều kiện kiểm nghiệm thực tế sở thích nghề nghiệp, khả năngcủa bản thân mà các em đã xác định qua các giờ hoạt động giáo dục hướng nghiệp, đốichiếu được những yếu tố cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của bản thân với nộidung, yêu cầu của một nghề cụ thể trước khi đưa ra quyết định chọn nghề tương lai.Đồng thời giúp HS có điều kiện nhìn rõ hơn khoảng cách giữa lí thuyết và thực hành

do các em được vận dụng những kiến thức lí thuyết đã tiếp thu được qua lí thuyếtnghề, qua môn Công nghệ và các môn văn hóa khác vào hành động thực tiễn Khôngnhững vậy, nếu nhà trường biết tận dụng, liên kết với những cơ sở sản xuất, nhữngdoanh nghiệp đóng trên địa bàn của địa phương vào việc tổ chức dạy nghề cho HS thì

sẽ giúp cho HS có nhiều cơ hội để xây dựng kiến thức về nghề, về các cơ sở sản xuất

và doanh nghiệp, nhờ đó tăng thêm năng lực nhận thức thức nghề nghiệp Vì vậy, cóthể nói, tổ chức thực hiện nghề phổ thông là con đường rất tốt để thực hiện nguyên lígiáo dục:” Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kếthợp với giáo dục gia đình và xã hội”

Tham gia học nghề phổ thông không chỉ tạo môi trường rất tốt để HS hìnhthành và phát triển các kĩ năng thiết yếu của người lao động mới, đó là các kĩ năng cơbản, kĩ năng quản lí bản thân và kĩ năng làm việc nhóm, mà còn là môi trường tốt đểxây dựng tính cách của HS

Trang 32

Bản chất của SPTT là hướng vào người học, đề cao tính năng động của ngườihọc trong quá trình học tập Người học là chủ thể hoạt động học, tự chủ động tìmkiếm, khám phá tri thức dựa trên những kinh nghiệm của bản thân hoặc cùng hợp tácvới các thành viên khác trong tập thể, và quyết định sự phát triển nhân cách của bảnthân Dạy học theo tiếp cận SPTT cho rằng: người học phải có ý thức, trách nhiệmtrong suốt quá trình học tập Người học phải chứng tỏ khả năng chủ động, tự chủ chứkhông ỷ lại Chịu trách nhiệm cũng có nghĩa là đòi hỏi người học luôn có thái độ thamgia tập bền bỉ để tự khẳng định mình “dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm”.

Vận dụng SPTT trong các hoạt động thực tiễn của các môn học nghề như: lắpráp, thiết kế, sẽ giúp HS có nhiều cơ hội thể hiện, hoạt động, giao tiếp…phát huy tiềmnăng, sự sáng tạo của bản thân, thấy rõ được giá trị lao động của bản thân, khơi dậyviệc hình thành những phẩm chất đạo đức như tính tổ chức kỷ luật, thận trọng, bền bỉ,tinh thần trách nhiệm trước tập thể, mang lại hiệu quả học tập cao

SPTT chú trọng vào bộ máy học của người học: Học sinh ở các trung tâm

GDKTTH Hà Nội chủ yếu đến từ các trường phổ thông, nhiều vùng địa phương (Thuầnnông, nội thành, vùng giáp danh, thị trấn, miền núi,…) khác nhau Tùy thuộc vào quanniệm của từng Trung tâm KTTH-HN mà lấy tiêu chí (nghề phù hợp) làm phương tiện để

tổ chức tuyển sinh đầu vào Có khi ở cùng một trường phổ thông, người ta sử dụng từ 2

-3 nghề hay nhiều hơn nữa để tổ chức các lớp học nghề cho phù hợp với đặc thù địaphương và nguyện vọng của học sinh Sau đó, những học sinh này lại được học nghềphổ thông chung buổi, thậm chí chung một lớp nghề Tính đa dạng về trình độ, sở trườngcủa người học được tạo ra từ đây Mỗi người một thế mạnh, một ưu điểm và một sở thíchkhác nhau; dẫn đến phong cách học tập của họ cũng hết sức đa dạng, phong phú

Vì vậy, sự nhận thức, trình độ và các yếu tố tâm lý của HS trong việc học nghềphổ thông khác so với học văn hóa và thường có kiến thức và kỹ năng học tập khôngđồng đều nhau Theo quan điểm SPTT, mỗi người học đều có cấu tạo hệ thần kinhgiống nhau (: các giác quan, nơ ron thần kinh và não) nhưng hoạt động các cơ quancủa hệ thần kinh ở mỗi người khác nhau về cách tiếp nhận và xử lý thông tin

Như vậy, GV phải chú ý tìm hiểu các đặc tính cũng như nhu cầu của HS để

có thể lựa chọn ra các phương pháp dạy phù hợp hơn với khả năng của HS, tránhnhồi nhét những cái đã có, đã biết nhằm tạo ra hứng thú và sự tham gia tích cực vàoquá trình lĩnh hội tri thức cho HS, mang lại hiệu quả học tập cao đáp ứng mục tiêudạy học NPT hiện nay

Yếu tố môi trường dạy học được quan tâm: Đặc trưng cơ bản của quá trình

dạy học nghề phổ thông trong các trung tâm GDKTTH là song song với dạy lýthuyết, HS dùng phần lớn thời gian để thực hành (thời lượng thực hành chiếm70%) Do đặc điểm về dạy nghề quy định, đòi hỏi GV cần lựa chọn sử dụng PPDHthiên về trực quan, thao tác, thực hành thí nghiệm Vì thế quá trình dạy học đòi hỏi

sự đầu tư về các điều kiện vật chất-kỹ thuật, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động dạy

Trang 33

học nghề phổ thông và không chỉ xem xét việc dạy là truyền thụ hiểu biết và nănglực mà còn phải xem xét hoạt động tích cực, tự giác của học sinh học nghề phổthông trong mối quan hệ qua lại giữa sự chỉ đạo và sự tự lực, “Giáo viên phảithường xuyên suy nghĩ xem bằng biện pháp nào và bằng những phương tiện,phương pháp nào để kích thích học sinh học nghề hoạt động tự lực, tổ chức quátrình lao động một cách độc lập sáng tạo” (95, Truyền).

Với tiếp cận SPTT thì môi trường dạy học là nơi hoạt động dạy (người dạy) vàhoạt động học (người học) diễn ra trong một không gian và thời gian xác định cùngvới sự ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố bên ngoài và bên trong khác nhau Môitrường trong SPTT là một nhân tố do GV tạo ra, do đó khi thiết kế một hoạt động dạyhọc GV chú ý tìm hiểu môi trường để lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với từngđối tượng HS và trong quá trình tổ chức hoạt động GV luôn tạo ảnh hưởng thích nghinhằm nâng cao hiệu quả dạy học

SPTT góp phần thực hiện Nghị quyết số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay.: Nghị quyết TƯ 8 khóa XI đã chỉ rõ: “Tiếp tục

đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lốitruyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng,phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đadạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học (Nghị quyết Hội nghị TƯ

8 khóa XI, NQ số 29 – NQTƯ)

Với những định hướng cơ bản của SPTT được ứng dụng trong tổ chức dạy họcnghề phổ thông ở các trung tâm GDKTTH Hà Nội sẽ góp phần mang lại hiệu quả caohơn trong việc học nghề phổ thông của HS, nâng cao chất lượng dạy học môn học đápứng yêu cầu đổi mới dạy học hiện nay ở các trung tâm GDKTTH Hà Nội

1.4.3 Điều kiện để tổ chức dạy học nghề phổ thông theo tiếp cận SPTT ở các trung tâm GDKTTH Hà Nội

Đối với quản lý: Mục đích của cải tiến nội dung chương trình, phương pháp dạy

NPT là nhằm tạo ra sự phù hợp giữa nhu cầu người học với tình hình thực tiễn của đơn

vị, phù hợp với từng vùng miền và đối tượng học sinh, trên cơ sở chương trình khung quyđịnh của Bộ Thông qua đó phát huy tinh thần trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo chủđộng của giáo viên, đồng thời tạo sự hứng thú cho học sinh

Để thực hiện được việc cải tiến nội dung chương trình dạy học, người quản lýcần đứng trên quan điểm quản lý nội dung chương trình theo cách tiếp cận mụctiêu, đồng thời thường xuyên tạo điều kiện và động viên giáo viên cải tiến nội dungchương trình

Trang 34

Đối với người dạy: - Giáo viên giảng dạy môn nghề cần nắm vững bản chất và

những nguyên lý cốt lõi của chiến lược dạy học tương tác

- Giáo viên phải làm chủ kiến thức, kỹ năng chuyên môn theo từng môn nghềnhư kỹ năng thiết kế, lắp ráp, ….và một số kỹ năng, kỹ thuật dạy học tăng cườngtương tác, ví dụ: đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực của HS, cho

HS tự đánh giá,

- Giáo viên giảng dạy môn nghề phải quan tâm tới yếu tố môi trường dạy họcđảm bảo sự an toàn, thuận tiện, thoải mái, dễ chịu cho các chủ thể tham gia vào quátrình dạy-học môn nghề Ví dụ: chuẩn bị các điều kiện, phương tiện đồ dùng, tài liệuhọc tập môn nghề thật chu đáo; chuẩn bị sức khỏe, tâm lý sẵn sàng cho người dạy,người học khi tham giá quá trình dạy học,…

Đối với người học: - Người học phải có ý thức, động cơ, mong muốn tham gia

chủ động và tỏ rõ trách nhiệm bản thân trong suốt quá trình học tập Chẳng hạn: xácđịnh đúng đắn mục tiêu học nghề phổ thông

- Người học phải biết cách học, bản thân tự tổ chức để chiếm lĩnh tri thức, hìnhthành và phát triển các kỹ năng cần thiết Vì vậy, quá trình dạy học cần chú ý hỗ trợngười học phương pháp học tập hiệu quả

- Người học cần có ý chí để học tập kiên trì, bền bỉ theo đuổi mục tiêu học đến cùng

Đối với môi trường: Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học đa dạng, đảm bảo

các nguồn lực trong dạy học (tài liệu, chương trình, ), các mối quan hệ giữa ngườidạy-người học, người học-người học phải cởi mở và thân thiện

Kết luận chương 1

Dạy học NPT là hoạt động chủ đạo của các trung tâm GDKTTH Thông qua cáchoạt động của NPT sẽ giúp HS có điều kiện để rèn luyện các kỹ năng lao động cầnthiết, các kỹ năng thiết yếu cho bản thân Do đó nếu HS hứng thú, chuyên tâm họcNPT, HS sẽ có những kiến thức, kỹ năng nghề, kỹ năng sống cần thiết cho cuộc sốnghàng ngày và có hành trang cần thiết để bước vào cuộc sống lao động nghề nghiệp

Vì vậy, các trung tâm GDKTTH phải có nhiệm vụ xây dựng và áp dụng có hiệu quảviệc tổ chức dạy học NPT nhằm giúp HS đạt được các mục tiêu của quá trình học NPT.Quan điểm sư phạm tương tác là lý thuyết sư phạm linh hoạt, nó cho phép khaithác được nội lực của người học trong mối quan hệ với người dạy và môi trường dạyhọc Quan điểm này tập trung vào việc đề cao ba nhân tố cơ bản của quá trình dạy học

đó là: người dạy, người học và môi trường; trên cơ sở đó xác lập các tương tác, cácliên đới cơ bản tồn tại giữa các nhân tố đó Sự tham gia đa dạng của 3 tác nhân này lànguồn gốc của các mối quan hệ năng động giữa chúng Vì vậy, nó có khả năng manglại thành công lớn hơn trong việc học tập NPT

Sự quan tâm chính của nó là hiệu quả của mỗi người học Đặc biệt, nó làm tănggiá trị mối quan hệ tác động qua lại tồn tại giữa người dạy, người học và môi trường

Trang 35

Quan điểm này cũng xác định thành công hay thất bại của người học là do chất lượngcủa chiến lược dạy học và việc tôn trọng nhịp độ cá nhân của người học trong quátrình tổ chức dạy học dưới tác động của môi trường; đồng thời nó đánh giá người họcdựa trên chuẩn kiến thức và kỹ năng của nghề

Đối với hoạt động giáo dục NPT, quan điểm sư phạm tương tác nhằm vào cảhai mục tiêu là vừa hình thành kỹ năng nghề, hình thành kỹ năng mềm để góp phầnđịnh hướng nghề nghiệp cho HS Nhờ vào tính tích cực có được ở HS trong quá trìnhhọc nghề dưới sự hướng dẫn theo đường hướng tương tác mà hình thành các kỹ năngnghề của họ đồng thời hình thành ở HS kỹ năng mềm góp phần định hướng nghềnghiệp tương lai

Dạy học NPT theo tiếp cận sư phạm tương tác hướng vào tất cả mọi người họctrong mối tương tác với người học, người dạy và môi trường Tất cả các tác nhân, đặcbiệt là nhân tố Người học sẽ phát huy được nội lực, thực hiện tốt chức năng của mìnhtrong quan hệ tương tác với các tác nhân khác Và trong sự tương tác ấy, các tác nhâncủa quá trình dạy học luôn hỗ trợ, bổ xung cho nhau làm tăng giá trị và lợi ích củanhau trong hệ thống Chính vì vậy mà việc vận dụng quan điểm này sẽ cho phép chúng

ta khai thác được nội lực của người học trong mối quan hệ với người dạy và môitrường dạy học

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC

KỸ THUẬT TỔNG HỢP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 ĐẶC ĐIỂM TRUNG TÂM GDKTTH TÁC ĐỘNG ĐẾN DẠY HỌC NPT NHÌN THEO GÓC ĐỘ SPTT

2.1.1 Sự phát triển của các Trung tâm GDKTTH Hà Nội

Xuất phát từ nhu cầu tổ chức thực hiện giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp,hướng nghiệp nhằm trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng lao động nghề nghiệp chohọc sinh phổ thông, tạo điều kiện cho một bộ phận không nhỏ học sinh tốt nghiệp ratrường tham gia vào cuộc sống lao động những năm 80 của thế kỷ trước; trong điềukiện kinh tế xã hội nước ta lúc bấy giờ chưa thể đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạtđộng lao động - hướng nghiệp đến từng trường phổ thông, theo kế hoạch của Bộ Giáodục và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Hà Nội, Trung tâm giáo dục Kỹthuật tổng hợp ra đời

Năm học 1980 - 1981, UNICEF giúp ta trang bị cho 20 Trung tâm GDKTTH

Từ đó đến 2007, mô hình Trung tâm GDKTTH đã phát triển không ngừng về số lượngcũng như nội dung hết sức đa dạng Qua bảng thống kê dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ

sự phát triển đó

Bảng 1: Sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH-HN (thời kỳ 1981-2007)

(Nguồn: Trung tâm Lao động-Hướng nghiệp, Bộ GD&DDT- 2007)

Từ 20 trung tâm đầu tiên được thành lập vào năm 1981, đến năm 1996 trên cảnước đã có 320 trung tâm Từ năm 2013, một số tỉnh, thành phố thực hiện sáp nhập 3loại hình Trung tâm GDTX, Trung tâm GDKTTH và Trung tâm dạy nghề trên địabàn quận, huyện thành một Trung tâm làm nhiệm vụ giáo dục nghề nghiệp và mangtên Trung tâm Giáo dục-dạy nghề hoặc Trung tâm GDTX-HN-DN,…Vì vậy, sự pháttriển của hệ thống Trung tâm GDKTTH trên cả nước cũng dừng lại ở con số trên

Lúc đầu chỉ bó hẹp trong 6 nghề (cắt gọt kim loại, biến dạng kim loại, nguội,mộc tay, mộc máy, thêu đan) chủ yếu để thực hành kỹ thuật công nghiệp cho vài batrăm học sinh cấp 3 (THPT) vùng thành phố, sau đó hiều trung tâm đã tự mình mở tới

15 - 20 nghề nằm trong 6 nhóm nghề chính: Nông lâm ngư nghiệp, Tiểu thủ công dịch

vụ, Mộc, Xây dựng cơ bản, Cơ khí, Điện và Điện tử

Nói riêng về hệ thống Trung tâm KTTH-HN trên địa bàn thành phố Hà Nội:

Đến năm 2007, Hà nội phát triển thành 6 Trung tâm KTTH-HN ( gồm 5 Trung tâmnội thành: Trung tâm số 1,2,3,4,5) và 1 Trung tâm ngoại thành (Trung tâm số 6, ởHuyện Đông Anh)

Trang 37

Năm 2008 thực hiện việc sáp nhập Hà nội và Hà Tây, tại thời điểm này Thànhphố Hà Nội mở rộng có 15 Trung tâm KTTH-HN (Tỉnh Hà Tây cũ có 9 Trungtâm ).Trên phạm vi cả nước có 320 Trung tâm KTTH-HN, đây là thời điểm Đảng vàNhà nước quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH-HN

và đến năm học 2007-2008 việc dạy NPT được Bộ GD-ĐT quy định chính thức là mộthoạt động giáo dục bắt buộc, có đánh giá và ghi học bạ như một môn học văn hoá đốivới học sinh lớp 11 THPT (không chỉ là khuyến khích như trước đây)

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm GDKTTH

* Vị trí của Trung tâm GDKTTH

Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp là một trong những cơ sở giáo dục phổthông của hệ thống giáo dục quốc dân

* Nhiệm vụ của Trung tâm GDKTTH:

(1) Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp chohọc sinh học chương trình giáo dục phổ thông

(2) Bồi dưỡng giáo viên các trường trung học cơ sở (THCS), trung học phổthông (THPT) về giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp

(3) Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo,góp phần phân luồng học sinh sau THCS và THPT

(4) Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về giáo dục kỹ thuật tổng hợp,hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông, thử nghiệm ứng dụng và chuyển giaocông nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

(5) Mở lớp dạy nghề, liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục

để đào tạo và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, thanh thiếu niên và đối tượng kháckhi có nhu cầu

(6) Trung tâm GDKTTH được phép liên kết với Trung tâm giáo dục thườngxuyên, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các cơ sở giáo dục khác để thực hiệnnhiệm vụ giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề theo quy định

Trang 38

2.1.3 Đội ngũ CBQL,GV và HS của các Trung tâm GDKTTH Hà Nội

(1) Đội ngũ CBQL và GV

THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG, TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN

15 TRUNG TÂM KTTH-HN HÀ NỘI NĂM HỌC 2014-2015

Nguồn: 15 GĐ Trung tâm Hà Nội cung cấp ngày 15/10/2015

(2) Học sinh Trung tâm GDKTTH

Học sinh Trung tâm GDKTTH là người học đang theo học một hoặc nhiềuchương trình của Trung tâm GDKTTH

Học sinh ở các Trung tâm GDKTTH thì chủ yếu là học sinh đến từ các trường

Trang 39

phổ thông (THCS, THPT) Song ta không nên nhìn các em vẫn y nguyên như khi các

em học ở trường phổ thông, vì các em đến Trung tâm là để học nghề phổ thông nêntâm tư, nguyện vọng, các yếu tố tâm lý trong việc học nghề phổ thông có khác so vớiviệc học văn hóa Người cán bộ quản lý và giáo viên của Trung tâm muốn làm tốtcông tác quản lý của mình thì phải đi sâu tìm hiểu học sinh một cách đầy đủ, cặn kẽ vềnguyện vọng, sở trường và các đặc điểm tâm sinh lý

2.1.4 Chương trình hoạt động dạy học của Trung tâm GDKTTH

(1) Kế hoạch giáo dục của Trung tâm GDKTTH

Trung tâm GDKTTH thực hiện chương trình giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp

do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm học, Trung tâm xây dựng

kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học NPT

Nội dung giáo dục nghề phổ thông gồm các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp,thủ công, dịch vụ và tin học Những nghề phổ thông được lựa chọn là những nghề phổbiến, xã hội có nhu cầu phát triển, phù hợp với học sinh THPT Như vậy sẽ có nhiềuchương trình nghề phổ thông được áp dụng cho học sinh trên toàn quốc và phù hợpvới đặc thù các vùng miền khác nhau

Chương trình mỗi nghề phổ thông bao gồm các nội dung về nguyên vật liệu,công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và phần tìm hiểu nghề Để đảm bảo mục tiêuhình thành kỹ năng, trong mỗi chương trình phần lý thuyết không được quá 1/3 thờigian Các địa phương được phép lựa chọn những nghề phổ thông phù hợp với nhucầu học tập của học sinh, điều kiện phát triển kinh tế, giáo viên, cơ sở vật chất để tổchức thực hiện Nhưng số nội dung (chương trình) nghề phải phù hợp với sự đadạng của thực tiễn phát triển kinh tế ở địa phương và nguyện vọng cũng như nănglực của học sinh để đảm bảo cho mỗi học sinh được phát triển và phục vụ cho việcđịnh hướng nghề

Do sự đa dạng của các nghề, hiện nay Bộ Giáo dục - Đào tạo đã tổ chức xâydựng được 11 chương trình nghề đại diện các lĩnh vực nghề phổ biến, Bộ Giáodục&Đào tạo sẽ còn tổ chức xây dựng tiếp chương trình những nghề phổ biến khác

và hướng dẫn địa phương áp dụng chương trình những nghề có đặc thù riêng của địaphương (với điều kiện có tài liệu biên soạn được Sở Giáo dục&Đào tạo duyệt và Bộthẩm định cho phép thực hiện)

Đối với cấp THCS, nghề phổ thông là môn học tự chọn, học 2 tiết/tuần, cả năm

học 70 tiết Học sinh được đăng ký lựa chọn các nghề theo danh mục đã được BộGiáo dục và Đào tạo ban hành

(2) Cơ sở vật chất, nguồn tài chính của Trung tâm GDKTTH

Đó là những điều kiện vật chất - kỹ thuật không thể thiếu được đối với Trungtâm KTTH - HN dạy-học nghề phổ thông Các điều kiện vật chất, kỹ thuật này bao

Trang 40

gồm từ đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, các thiết bị dạy-họccần thiết cho giảng dạy, học tập, thực tập, cho đến phương tiện bảo hiểm lao động, cácphương tiện phòng cháy chữa cháy, các dụng cụ thuốc men, y tế cho việc cấp cứu, xử

lý những tai nạn không may xảy ra trong quá trình thực hành, lao động sản xuất

Do đặc điểm khác biệt về mục đích, nội dung, phương pháp dạy-học nghề phổthông với dạy-học các môn văn hóa phổ thông nên các điều kiện vật chất - kỹ thuậtcủa các Trung tâm GDKTTH đòi hỏi một sự đầu tư lớn hơn nhiều so với trường phổthông, đặc biệt là về các thiết bị dạy-học

2.1.5 Đặc điểm Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp tác động đến dạy học nghề phổ thông nhìn theo góc độ sư phạm tương tác

Những đặc điểm và thực tiễn hoạt động dạy học NPT ở các Trung tâmGDKTTH có nhiều điểm đặc thù nhìn theo góc độ SPTT Tính đặc thù không chỉ bộc

lộ ở môi trường dạy học mà cả ở bản thân người học, kéo theo đó tính đặc thù thể hiện

cả ở phía người dạy

(1) Tính đặc thù thể hiện ở môi trường dạy học

Trong đó, nội dung dạy học, chương trình đào tạo là yếu tố trung tâm, chi phốichủ yếu tính đặc thù của thành tố này Mục tiêu cơ bản của dạy NPT cho HSPT là

cung cấp cho các em về những ý niệm, những thông tin ban ban đầu về một số nghề hoặc một số nhóm nghề cụ thể gần gũi với các em và phù hợp với xu thế thế giới trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, giúp các em có thêm thông tin, tự mình định hướng việc chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình

và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH quê hương, đất nước.

Do đó, có thể nói chỉ riêng nội dung dạy học thuộc nhiều lĩnh vực nghề khácnhau cũng đã vô cùng đa dạng, phong phú Mặc dù kiến thức mỗi NPT là không sâu (sovới các môn văn hoá học ở trường phổ thông), song để hiểu rõ những thông tin và kỹnăng về một nghề, để có khả năng ứng dụng cho việc xem xét sự phù hợp với năng lực sởtrường của bản thân, cũng như để điều chỉnh động cơ học tập, định hướng nghề nghiệpsau này thì không thể học hời hợt được Từ đó, khi đề xuất biện pháp tổ chức và thực hiệndạy học NPT theo tiếp cận SPTT phải tính đến sự đa dạng của nội dung dạy học NPT;phải đáp ứng được nhiều kiểu bài, nhiều chủ đề khác nhau Quan trọng hơn, các cách thức

ấy phải hướng đến việc phát huy khả năng học tập độc lập ở người học Để họ không chỉnắm được kiến thức theo chiều rộng, mà có khả năng tự tìm hiểu, khai thác đủ sâu để cóthể hiểu thấu đáo chúng Chỉ khi nào người ta thực sự hiểu được tương đối cặn kẽ vấn đềhọc tập, thì lúc đó nó mới thực sự trở thành của riêng người ấy, tức là được lưu giữ mộtcách bền vững và vận dụng linh hoạt trong các tình huống cụ thể

(2) Tính đặc thù ở phía người học cũng hết sức phức tạp

Đó là những học sinh xuất thân từ nhiều trường phổ thông , nhiều vùng địaphương (Thuần nông, nội thành, vùng giáp danh, thị trấn, miền núi,…) khác nhau Tùy

Ngày đăng: 20/04/2017, 23:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tổ chức dạy học thực hành theo quan điểm sư phạm tương tác - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Hình 1. Tổ chức dạy học thực hành theo quan điểm sư phạm tương tác (Trang 30)
Bảng 2.15. Nhận thức của HS về mục đích học nghề xét theo tiêu thức trung tâm - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 2.15. Nhận thức của HS về mục đích học nghề xét theo tiêu thức trung tâm (Trang 54)
Bảng 2.17.  Biểu hiện của hoạt động học tập của HS trong giờ học nghề phổ thông - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 2.17. Biểu hiện của hoạt động học tập của HS trong giờ học nghề phổ thông (Trang 56)
Bảng 4.2. Kết quả đầu vào rèn luyện kỹ năng mềm của 2 nhóm TN và ĐC - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.2. Kết quả đầu vào rèn luyện kỹ năng mềm của 2 nhóm TN và ĐC (Trang 102)
Bảng 4.3. Kết quả kiểm tra nhận thức của 2 nhóm sau TN lần 1 - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.3. Kết quả kiểm tra nhận thức của 2 nhóm sau TN lần 1 (Trang 103)
Bảng 4.6. Kết quả kiểm tra nhận thức của 2 nhóm sau TN lần 1 - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.6. Kết quả kiểm tra nhận thức của 2 nhóm sau TN lần 1 (Trang 107)
Bảng 4.9. Kết quả quan sát dạy học - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.9. Kết quả quan sát dạy học (Trang 111)
Bảng 4.14. Kết quả kiểm tra nhận thức của 2 nhóm sau TN lần 2 - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.14. Kết quả kiểm tra nhận thức của 2 nhóm sau TN lần 2 (Trang 118)
Bảng 4.18. Kết quả quan sát tính tích cực học tập của HS - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.18. Kết quả quan sát tính tích cực học tập của HS (Trang 122)
Bảng 4.19. Bảng tổng hợp kết quả học tập của học sinh sau 3 lần kiểm tra - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.19. Bảng tổng hợp kết quả học tập của học sinh sau 3 lần kiểm tra (Trang 123)
Bảng 4.23. Kết quả rèn luyện kỹ năng trước và sau 2 lần thực nghiệm - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.23. Kết quả rèn luyện kỹ năng trước và sau 2 lần thực nghiệm (Trang 126)
Bảng 4.24. Kết quả rèn luyện kỹ năng trước và sau 2 lần thực nghiệm - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.24. Kết quả rèn luyện kỹ năng trước và sau 2 lần thực nghiệm (Trang 127)
Bảng 4.25. Kết quả quan sát giờ dạy của GV - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
Bảng 4.25. Kết quả quan sát giờ dạy của GV (Trang 128)
Hình ảnh rau, các sản phẩm sau khi chế biến như hộp rau muối chua, các hộp thuốc thành phần - DẠY học NGHỀ PHỔ THÔNG THEO TIẾP cận sư PHẠM TƯƠNG tác ở các TRUNG tâm GDKTTH TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ hà nội
nh ảnh rau, các sản phẩm sau khi chế biến như hộp rau muối chua, các hộp thuốc thành phần (Trang 152)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w