Nhằm chỉ rõ cho người học về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, chức năng nghiên cứu của kinh tế chính trị làm cơ sở cho việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – lênin và đường lối quan điểm của Đảng CSVN về phát triển kinh tế hiện nay; đồng thời chống lại các quan điểm phản động nhằm bảo vệ học thuyết Mác nói chung và học thuyết kinh tế chính trị học Mác nói riêng.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
SỰ HÌNH THÀNH VÀ ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ 1.Mục đích, yêu cầu:
Nhằm chỉ rõ cho người học về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, chức năng nghiên cứu của kinh tế chính trị làm cơ sở cho việc nghiên cứu kinh tế chính trị Mác – lênin và đường lối quan điểm của Đảng CSVN về phát triển kinh tế hiện nay; đồng thời chống lại các quan điểm phản động nhằm bảo
vệ học thuyết Mác nói chung và học thuyết kinh tế chính trị học Mác nói riêng Nắm chắc đối tượng, phương pháp, chức năng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lê nin làm cơ sở nghiên cứu từng bài của môn học
Trong quá trình nghiên cứu phải có tài liệu (yêu cầu bắt buộc), tập trung
cao độ, nghe kết hợp trao đổi và ghi những nội dung chính để làm cơ sở nghiên cứu
2.Thời gian: 2 tiết
3.Vật chất, tài liệu: Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin Nxb CTQG
dùng cho đối tượng không chuyên về kinh tế – quản trị kinh doanh Tập giáo trình tài liệu Khoa Lí luận Mác Lênin biên soạn
Tham khảo: Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin Nxb CTQG dùng cho chuyên về kinh tế – quản trị kinh doanh
4.Nội dung Phương pháp:
Nội dung: 2 phần lớn, trọng tâm phần II, trọng điểm phần 2 của phần II Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề, đàm thoại là chính
Phương pháp học: kết hợp nghe, ghi theo ý hiểu; giải quyết vấn đề giáo
viên đặt ra
I KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC Thời gian: 30 phút
Phương pháp: Thể hiện từng phần
1 Kinh tế chính trị, sự hình thành và phát triển của khoa học Kinh tế
Trang 2chính trị
Thời gian: 20 phút
Phương pháp: Nêu vấn đề đàm thoại kết hợp thuyết trình
a Kinh tế chính trị học
b Sự hình thành và phát triển của khoa học KTCT
Kinh tế chính trị học ra đời giai đoạn nào; đại biểu tiêu biểu và tư tưởngkinh tế của học thuyết?
Kinh tế chính trị học ra đồi từ rất sớm được đánh dấu từ học thuyết trọng thương (thế kỷ XV – XVI), Trọng nông ( giữa thế kỷ XVIII), Tư sản cổ điển (cuối thế kỷ XVIII)
- Học thuyết trọng thương
+ Thời gian và hoàn cảnh ra đời
Chủ nghĩa trọng thương ra đời từ thế kỷ XV, tồn tại đến thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện trong điều kiện, hoàn cảnh sau: Chủ nghĩa trong thương xuất hiện trong điều kiện kinh tế hàng hoá đã phát triển tương đối mạnh, gắn liền với quá trình chuyển hoá của các nước Tây Âu từ nền kinh tế phong kiến sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Lúc đó, thị trường trong nước ở khu vực này được mở rộng, tầng lớp thương nhân tăng cường thế lực kinh tế và dần dần trở thành bá chủ trong xã hội
Những phát kiến lớn về địa lý của thế kỷ XV – XVI như việc tìm ra châu
Mỹ, đi vòng qua châu Phi tới châu Á tạo ra khả năng mở rộng thị trường, xâm chiếm thuộc địa, khả năng làm giàu nhanh chóng cho các nước Tây Âu (tìm ra các mỏ vàng, bạc ở châu Mỹ, biến người bản xứ thành nô lệ, cướp bóc thuộc địa vv…) Thời kỳ này ưu thế thương nghiệp lớn hơn công nghiệp
Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nhiều khoa học tự nhiên (cơ học, thiên văn, địa lý …), gắn liền với tên tuổi của Cô-Péc-Níc; Ga-Li-Lê và xuất hiện phong trào phục hưng chống lại tư tưởng đen tối thời kỳ trung cổ, chủ nghĩa duy vật chống lại các thuyết duy tâm của nhà thờ
Trong điều kiện đó, chủ nghĩa trọng thương đã ra đời và phát triển mạnh mẽ
Trang 3cùng với sự lớn mạnh của giai cấp tư sản dần dần chiếm vị trí trung tâm của xã hội.
Họ cần có hệ tư tưởng, lý luận để bảo vệ lợi ích của mình Học thuyết trọng thương
ra đời trong điều kiện đó và được coi là tư tưởng kinh tế sơ khai của giai cấp tư sản
+ Tư tưởng kinh tế cơ bản và các đại biểu của chủ nghĩa trọng thương
Một số tư tưởng cơ bản:
Coi tiền là nội dung căn bản của mọi của cải, là tài sản thực sự của một quốc gia, là biểu hiện của sự giàu có Tiền có được là nhờ buôn bán, đặc biệt là ngoại thương; tiền là một vị thần có thể thay hình đổi dạng để biến thành bất cứ thứ gì
ta muốn Sự làm giàu cho mỗi quốc gia, chung quy là tích luỹ nhiều tiền (vàng, bạc) Mọi hoạt động kinh tế đều phải hướng vào việc thu hút nhiều vàng bạc, phải dùng nhiều biện pháp hữu hiệu để thu hút nhiều vàng bạc vào trong nước
Sử dụng quyền lực nhà nước để phát triển kinh tế, “điều hướng” và “gia tăng hiệu năng” nền kinh tế
Đa số các biện pháp chủ nghĩa trọng thương đề xướng đều dựa vào bạo lực
và cần có quyền lực của bộ máy nhà nước mới có thể thực hiện được việc điều tiết lưu thông tiền tệ, khống chế thị trường trong nước, khuyến khích và bảo trợ các công trường thủ công, phát triển hàng hải, thuỷ quân để cướp bóc thuộc địa, thực hành chiến tranh thương mại
Các đại biểu tiêu biểu:
Chủ nghĩa trong thương xuất hiện ở hầu hết các nước Tây Âu, nhưng phát triển mạnh nhất ở Anh, Pháp, Tây Ban Nha với các đại biểu như: A.Mông-Crê-Chiên (1575-1629), Côn-Be (1619-1683) (Pháp); Tô Mát Mun (1571-1641), Uy-li-am Sta-phot (1554-1612)…( Anh); Uxta -ni-xơ, Un loa …( Tây Ban Nha)
+ Những cống hiến và hạn chế
Những cống hiến:
Chủ nghĩa trọng thương lần đầu tiên trong lịch sử đã cố gắng nhận thức và giải thích các hiện tượng kinh tế bằng lý luận, biết sử dụng các phương pháp khoa học như: toán học, thống kê, lịch sử để nghiên cứu; mở ra kỷ nguyên mới cho việc nghiên cứu, nhận thức các vấn đề kinh tế
Trang 4Những hạn chế:
Các thành tựu lý luận thu được còn ít ỏi, việc giải thích các vấn đề kinh tế còn đơn giản
Chủ nghĩa trọng thương mới chỉ nêu ra những quy tắc, cương lĩnh dựa trên
sự mô tả bề ngoài, nhưng chưa tìm ra các quy luật phản ánh bản chất các hiện tượng kinh tế
Họ là người đầu tiên đưa ra định nghĩa tư bản là tiền đẻ ra tiền, nhưng chưa hiểu bản chất của tư bản và tiền tệ
Tầm nhìn của họ còn phiến diện, dừng lại ở lĩnh vực lưu thông, chưa nghiên cứu lĩnh vực sản xuất; tư duy kinh tế của họ còn in đậm dấu ấn của chủ nghĩa kinh nghiệm
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương trở lên lỗi thời Vì sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, cách thức chủ yếu để tăng thêm của cải không đơn thuần là tích luỹ tiền tệ mà là tái sản xuất mở rộng tư bản Trung tâm chú ý của các nhà kinh tế học ngày càng chuyển từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, do đó chủ nghĩa trọng thương phải nhường chỗ cho chủ nghĩa trọng nông
- Chủ nghĩa trọng nông
+ Thời gian và hoàn cảnh ra đời
Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện trong thời kỳ chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng ở giai đoạn kinh tế phát triển cao hơn, trưởng thành hơn, vào giữa thế kỷ XVIII Chủ nghĩa trọng nông ra đời trong điều kiện sau: Chủ nghĩa trọng nông phát triển chủ yếu ở Pháp vào nửa đầu thế kỷ XVIII, khi nền kinh tế khủng hoảng và suy thoái, công nghiệp không tăng, giao thông khó khăn, thương nghiệp trì trệ; nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng rơi vào tình trạng suy sụp Quý tộc, tăng lữ là các giai cấp ăn bám chiếm hầu hết ruộng đất Nông dân trực tiếp làm ra của cải vật chất bị bần cùng, khốn khổ với những lao động phục dịch và cống nạp nặng nề Trung tâm mâu thuẫn của nước Pháp ở giai đoạn này tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp
+ Tư tưởng kinh tế cơ bản và các đại biểu
Tư tưởng kinh tế cơ bản:
Trang 5Chủ nghĩa trọng nông coi một quốc gia cường thịnh phải là dân chúng có của cải dồi dào, trước hết là lương thực, thực phẩm để thoả mãn các nhu cầu của đời sống thường ngày Họ quan niệm rằng, chỉ có nông nghiệp mới tạo ra sản phẩm ròng Vì nông nghiệp là lĩnh vực được hưởng sự trợ giúp đắc lực của tự nhiên (mưa, nắng, thời tiết, khí hậu, độ màu mỡ đất đai…), trong thiên nhiên đã
có sự sắp xếp hoàn hảo như: (đêm, ngày, bốn mùa, đất đai, sông nước) P.Kênê
cho rằng: đất đai là mẹ, lao động là cha của mọi của cải vật chất
Họ ủng hộ sự thống trị của sở hữu tư nhân; đề nghị chỉ thu thuế từ sản phẩm ròng, phải khuyến khích, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp
Họ phân tích tư bản cố định và tư bản lưu động và đưa ra phạm trù tái sản xuất, sơ đồ tái sản xuất Sau này Mác kế thừa, phát triển phương pháp trừu tượng hoá trong biểu kinh tế của P.Kênê
Đại biểu của chủ nghĩa trọng nông: P.Kênê (1694 – 1774), Tuyếc gô (1727 – 1781)
là các nhà kinh tế học người Pháp
+ Những ưu điểm và hạn chế
Những ưu điểm:
Chủ nghĩa trọng nông đã đạt được những thành tựu trong lĩnh vực phát triển
tư tưởng kinh tế mang tính khoa học, cụ thể là:
Chuyển sự nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, tìm nguồn gốc của cải, nguồn gốc sự giàu có của xã hội là thu nhập trong lĩnh vực sản xuất vật chất
Phân tích một cách khoa học về tái sản xuất
Đã chứng minh lưu thông không tạo ra giá trị, hàng hoá có giá trị trước khi đem trao đổi, trao đổi chỉ làm thay đổi hình thái của giá trị
Những hạn chế:
Quan niệm về sản xuất còn hạn chế, chỉ coi nông nghiệp là ngành sản xuất duy nhất, không thấy vai trò quan trọng của công nghiệp
Chưa thấy vai trò của lưu thông trong một thể thống nhất với sản xuất, phủ nhận lợi nhuận thương nghiệp - coi lưu thông trái với quy luật trao đổi, không thấy được vai trò của ngoại thương đối với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản
Trang 6Tuy cố gắng nghiên cứu các mối liên hệ bên trong của các hiện tượng kinh tế trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng lại chưa phân tích được các khái niệm, phạm trù, cơ sở lý luận (hàng hoá, tiền tệ, giá trị, lợi nhuận…) C.Mác đánh giá học thuyết trọng nông: “ mưu toan xây dựng lâu đài khoa học của mình từ trên nóc”
- Kinh tế chính trị tư sản cổ điển
+ Hoàn cảnh ra đời
Kinh tế học chính trị tư sản cổ điển ra đời vào cuối thế kỷ XVIII ở Châu
Âu, trong thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành, nền kinh tế chịu sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp với sự xuất hiện của máy móc và kỹ thuật mới Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, sự cạnh tranh gay gắt trong sản xuất kinh doanh, sự mất cân đối trong quá trình tái sản xuất Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi giai cấp tư sản đang lên phải nhận thức và có giải pháp phát triển kinh tế phù hợp Vì vậy, kinh
tế chính trị tư sản cổ điển ra đời và phát triển
+ Tư tưởng kinh tế cơ bản và các đại biểu
Tư tưởng kinh tế cơ bản:
Quan niệm về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của của cải, sự giàu có của quốc gia và sự phân phối của cải giữa các tầng lớp xã hội
Khẳng định lao động sản xuất là nguồn gốc của giá trị hàng hoá, còn lợi nhuận, lợi tức, địa tô là những khoản khấu trừ vào sản phẩm của lao động hay vào giá trị của những sản phẩm đó
Đưa ra được hệ thống khái niệm, phạm trù, lý luận có giá trị khoa học về: tiền tệ; tư bản; thu nhập, tiền lương, lợi nhuận và địa tô; tái sản xuất; cơ chế kinh tế; lý thuyết về “lợi thế so sánh”; lý thuyết về thuế khoá…
Các đại biểu:
U.Pétty (1623 – 1687); Ađam Xmít (1723 – 1790); Đavit Ricácđô (1772-1823) U.Pétty được mệnh danh là người sáng lập ra kinh tế học tư sản cổ điển; Ađam Xmít là nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công; Đavit Ricácđô là
Trang 7nhà kinh tế của thời đại công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa tư bản, là đỉnh cao lý luận của kinh tế chính trị tư sản cổ điển
+ Đánh giá chung về khoa kinh tế chính trị học tư sản cổ điển
Theo C.Mác, tuy kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh còn có những hạn chế nhất định, song đây là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển các học thuyết kinh tế;
đã biết hướng sự nghiên cứu vào quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, bản chất của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và tìm các quy luật vận động của nền kinh tế tư bản
Lần đầu tiên trong lịch sử đã áp dụng phương pháp nghiên cứu mới – phương pháp trừu tượng hoá khoa học Bởi vậy, đã làm cho kinh tế chính trị thực sự trở thành môn khoa học và là tiền đề lý luận của học thuyết kinh tế chính trị của Mác Theo C.Mác, Đavit Ricácđô đã đạt tới đỉnh cao nhất của trường phái này, trong nhiều vấn đề ông đã tiến gần nhất tới chân lý
Tuy nhiên, do hạn chế bởi lập trường giai cấp nên các vấn đề lý luận kinh tế đề cập không được lý giải một cách triệt để và khoa học Họ đã đồng nhất sản xuất tư bản chủ nghĩa với sản xuất nói chung; coi chủ nghĩa tư bản là vĩnh cửu; coi các đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là thuộc tính chung của mọi giai đoạn phát triển của xã hôi loài người, các quy luật kinh tế trong chủ nghĩa tư bản là quy luật tuyệt đối vốn
có của xã hội
2 Kinh tế chính trị Mác – Ănghen và sự phát triển của Lênin
Thời gian: 10 phút
Phương pháp: Đàm thoại
a C.Mác –P Ănghen và cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị
- Hoàn cảnh ra đời:
Học thuyết kinh tế C.Mác ra đời vào giữa thế kỷ XIX Đây là thời kỳ giai cấp tư sản
đã giành được chính quyền, đang hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và củng cố thắng lợi của mình Trong xã hội tư bản đã bắt đầu bộc lộ những mâu thuẫn đối kháng, những cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, phong trào đấu tranh của giai
Trang 8cấp vô sản cũng phát triển cả về số lượng và chất lượng, từng bước hình thành ý thức hệ của mình và bắt đầu cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản
- Nội dung tư tưởng:
Học thuyết kinh tế chính trị của C.Mác đã kế thừa có phê phán các yếu tố khoa học trong kinh tế chính trị tư sản cổ điển, đấu tranh với các quan điểm sai trái của các trường phái kinh tế trước đó
Học thuyết kinh tế chính trị do C.Mác - P.Ănghen sáng lập có sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng, là cuộc cách mạng trong khoa học kinh tế chính trị vì nó dựa trên phương pháp biện chứng duy vật, công khai lập trường của giai cấp công nhân Lần đầu tiên trong lịch sử, C.Mác đã xây dựng thành công học thuyết giá trị thăng dư - hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế của C.Mác
C.Mác đã vận dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu lịch sử xã hội bắt đầu từ các phạm trù kinh tế, vạch ra sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở của sự phát triển xã hội; nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các quy luật kinh tế chi phối sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, chỉ ra quan hệ giữa người với người ẩn náu sau quan hệ giữa vật với vật trong quá trình sản xuất hàng hoá nói chung, sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa nói riêng; phân biệt rõ sức lao động với lao động, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá; hoàn thiện lý luận giá trị, làm rõ nguồn gốc và bản chất của tiền tệ, nội dung quy luật giá trị; phân tích bản chất, quy luật giá trị thặng dư, tích luỹ tư bản
C.Mác chỉ rõ những tiến bộ cũng như hạn chế của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, vạch rõ những mâu thuẫn, rút ra địa vị lịch sử và dự báo tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản Dự báo sự tất yếu ra đời một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn đó là phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
b Sự phát triển của V.I.Lênin
V.I.Lênin bảo vệ và phát triển Học thuyết kinh tế của C.Mác vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi tình hình cách mạng vô sản ở nước Nga đã chín muồi, các trào lưu cơ hội, xét lại đang phục hồi, đặc biệt là sự phân hoá của Quốc tế II
- Nội dung tư tưởng:
Trang 9V.I Lênin đấu tranh với phái Dân tuý Nga, các trào lưu cơ hội trong phong trào công nhân để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác và phát triển học thuyết kinh tế chính trị của C.Mác; xây dựng lý luận về chủ nghĩa đế quốc, chỉ
rõ sự phát triển không đều của của chủ nghĩa tư bản dẫn đến khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản cũng không đều nhau; vận dụng và phát triển lý luận của C.Mác về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là người đầu tiên đưa lý luận chủ nghĩa Mác vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Đặc biệt,
đã chỉ rõ nhiệm vụ của thời kỳ quá độ, đề ra chính sách kinh tế mới, phác hoạ những nét cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô Viết
II KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
Thời gian: 50 phút
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề đàm thoại là chính
1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Thời gian: 15 phút
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề là chính
Quan điểm của C.Mác về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị dựa trên quan điểm duy vật lịch sử Trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh
tế chính trị”, C.Mác chỉ ra rằng: đối tượng của bản nghiên cứu này là nghiên
cứa nền sản xuất vật chất, nhưng kinh tế chính trị học không phải là kỹ thuật học, cũng không phải là sản xuất của những cá nhân riêng lẻ, mà là nền sản xuất
có tính xã hội Đến bộ “Tư bản”, C.Mác nhấn mạnh đối tượng nghiên cứu của tôi là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao
đổi thích ứng với phương thức sản xuất ấy, mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại
Như vậy, đối tượng kinh nghiên cứu của kinh tế chính trị phải hiểu trên hai
nghĩa: rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, là nghiên cứu các phương thức sản xuất tìm ra quy luật kinh tế chi phối sự vận động của các chế độ kinh tế - xã hội trong lịch sử Theo nghĩa hẹp, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
là nghiên cứu một phương thức sản xuất nhất định, tìm ra quy luật kinh tế riêng
Trang 10có của phương thức sản xuất ấy Bởi vậy, không có cùng một môn kinh tế chính trị duy nhất cho mọi nước, mọi thời đại lịch sử
Với quan niệm như trên, chúng ta có thể hiểu đối tượng nhiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là nghiên cứu quan hệ sản xuất trong sự tác động qua lại với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng
Nghiên cứu quan hệ sản xuất trên cả ba mặt và bốn khâu của quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất mà kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu là các quan hệ sản xuất của đời sống hiện thực, mang tính hệ thống, toàn vẹn của một phương thức sản xuất nhất định chứ không phải là các quan hệ sản xuất hư vô, do tưởng tượng, thoát ly thực tiễn
Nghiên cứu quan hệ sản xuất trong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất Nghiên cứu lực lượng sản xuất để làm rõ tính quy luật của trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất quy định nội dung, hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất và sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất
Nghiên cứu quan hệ sản xuất trong mối quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầng Nghiên cứu kiến trúc thượng tầng ở những khía cạnh nhất định nhằm làm rõ sự tác động qua lại của kiến trúc thượng tầng với kinh tế Đặc biệt, làm rõ vai trò to lớn của nhà nước đối với việc bảo vệ và phát triển các quan hệ sản xuất nói riêng và phát triển kinh tế nói chung, nhất là vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Nghiên cứu quan hệ sản xuất nhưng không dừng lại ở việc mô tả hiện tượng bên ngoài, mà đi sâu nghiên cứu các quy luật kinh tế, các hiện tượng, các quá trình kinh tế trong một phương thức sản xuất nhất định thông qua hệ thống các khái niệm, phạm trù kinh tế
Mục đích của việc nghiên cứu là tìm ra bản chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế, phát hiện ra các phạm trù, quy luật kinh tế ở các giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người
Các phạm trù kinh tế là những khái niệm phản ánh bản chất của những hiện tượng kinh tế như hàng hoá, tiền tệ, giá trị, giá cả…