Giới thiệu cho người học nắm những vấn đề cơ bản về sản xuất hàng hóa và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa. Qua đó làm cơ sở để nghiên cứu sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và đồng thời rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong xem xét nền sản xuất hàng hóa ở nước ta trong thời kỳ quá độ hiện nay.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ
SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ CÁC QUY LUẬT KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT
HÀNG HÓA 1.Mục đích, yêu cầu:
- Mục đích:
Giới thiệu cho người học nắm những vấn đề cơ bản về sản xuất hàng hóa
và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa Qua đó làm cơ sở để nghiên cứu sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và đồng thời rút ra ý nghĩa phương pháp luận trong xem xét nền sản xuất hàng hóa ở nước ta trong thời kỳ quá độ hiện nay
- Yêu cầu:
Nắm chắc lý luận về sản xuất hàng hóa và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa làm cơ sở nghiên cứu từng bài học tiếp theo
Trong quá trình nghiên cứu phải có tài liệu, tập trung cao độ, tích cực chuẩn
bị bài trả lời những vấn đề giảng viên đưa ra;
Nghe kết hợp ghi những nội dung chính để làm cơ sở nghiên cứu vận dụng thực tiễn
2 Thời gian: 6 tiết
3 Vật chất, tài liệu:
+ Vật chất:Phấn, bảng, giáo án, máy chiếu…
+Tài liệu:
Tập giáo trình tài liệu Khoa Lí luận Mác Lênin biên soạn 2008 Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin Nxb CTQG năm 2008 dùng cho đối tượng không chuyên về kinh tế – quản trị kinh doanh;
Tham khảo thêm: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; Kết luận hội Nghị lần thứ 3 BCH TƯ Đảng Khóa XI, tài liệu học tập dùng cho cán bộ, đảng viên
ở cơ sở do Ban Tuyên giáo Trung ương Nxb CTQG – Sự thật năm 2011 Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin Nxb CTQG năm 2008 dùng cho chuyên về kinh tế – quản trị kinh doanh; Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin Nxb CTQG HCM năm
1999 phần TBCN
4 Nội dung Phương pháp:
Nội dung gồm: 5 phần lớn, trọng tâm, trọng điểm phần II
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nhóm và học nhóm là chính kết hợp
hướng dẫn nghiên cứu
Phương pháp học: tập trung cao độ chú ý lắng nghe và giải quyết vấn đề giáo viên đặt ra; ghi chép nội dung theo ý hiểu của mình
I- SẢN XUẤT HÀNG HÓA
Thời gian: 15 phút
Trang 2Phương pháp: Thuyết trình kết hợp Đàm thoại
1 Sản xuất hàng hóa và điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá
Thời gian: 10 phút
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề là chính
- Sản xuất hàng hóa là gì
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội trong đó những sản phẩm được sản xuất ra nhằm mục đích để trao đổi, mua bán trên thị trường
- Điều kiện ra đời, tồn tại của sản xuất hàng hoá:
Thứ nhất: Có sự phân công lao động xã hội.
Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động xã hội thành các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong nền sản xuất
Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi hàng hoá trở thành tất yếu Bởi lẽ, khi có phân công lao động xã hội, mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định Nhưng nhu cầu cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, do vậy, để thỏa mãn nhu cầu, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, trao đổi sản phẩm cho nhau Phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều cũng là cơ sở thúc đẩy trao đổi sản phẩm
Như vậy, phân công lao động là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hoá Phân công lao động xã hội càng phát triển thì sản xuất và trao đổi hàng hoá càng mở rộng và đa dạng Tuy nhiên, nếu chỉ phân công lao động xã hội thì chưa đủ Mác đã chứng minh rằng, trong công xã thị tộc Ấn Độ thời cổ, đã có sự phân công lao động khá chi tiết, nhưng sản phẩm lao động chưa trở thành hàng hóa Bởi vì, tư liệu sản xuất là của chung nên sản phẩm từng nhóm sản xuất chuyên môn hóa cũng là của chung; công xã phân phối trực tiếp cho từng thành viên để thỏa mãn nhu cầu cho nên cần phải có điều kiện khác
Thứ hai: Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất hoặc những hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
Chế độ tư hữu làm cho người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất độc lập nhất định với nhau Do đó, sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chi phối của chủ thể kinh tế, người này muốn tiêu dùng sản phẩm lao động của người khác thì phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm
Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất là của mỗi cá nhân nên kết quả sản xuất làm ra sản phẩm là thuộc quyền của họ Còn trong sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho người phụ thuộc vào nhau, còn chế độ tư hữu làm cho sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn
Vì thế Mác cho rằng hai điều kiện trên là hai điều kiện cần và đủ của sản
Trang 3xuất hàng hoá, thiếu một trong hai điều kiện thì sản xuất đó không phải là sản xuất hàng hoá Ở đâu còn tồn tại hai điều kiện nói trên thì ở đó còn tồn tại sản xuất hàng hoá không kể chế độ xã hội nào
2 - Quá trình phát triển của sản xuất hàng hóa, nét đặc trưng và ưu thế của nó
Thời gian: 5 phút
Phương pháp: Nêu vấn đề định hướng nghiên cứu.
Nền sản xuất xã hội ra đời từ khi nào; nền sản xuất hàng hóa ra đồi tư khi nào? Đặc trưng và ưu thế của nó so với sản xuất tự cung tự cấp?
a Quá trình phát triển của sản xuất xã hội
Sản xuất hàng hóa ra đời cách đây khoảng 8000 năm, từ cuối công xã nguyên thuỷ đến đầu chế độ chiếm hữu nô lệ và liên tục phát triển cho đến nay Cho đến nay
xã hội loài người đã và đang trải qua ba kiểu sản xuất hàng hóa: sản xuất hàng hóa giản đơn; sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa
Sản xuất hàng hóa ra đời từ nền sản xuất tự cung tự cấp, là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội", xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội
Nền sản xuất hàng hóa khác với nền kinh tế tự cấp, tự túc Do sự phát triển của phân công lao động xã hội làm cho sản xuất được chuyên môn hóa ngày càng cao, thị trường ngày càng mở rộng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ Sự phát triển của sản xuất hàng hóa đã xóa bỏ tính chất khép kín, tính bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất
b- Đặc trưng và ưu thế cuả sản xuất hàng hóa:
- Đặc trưng của sản xuất hàng hoá:
Sản xuất hàng hoá là sản xuất để trao đổi, mua bán
Lao động của người sản xuất hàng hoá vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã hội
- Ưu thế của sản xuất hàng hoá so với sản xuất tự cung tự cấp:
Sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất Do đó, khai thác được lợi thế về mọi mặt của từng người, từng cơ sở, từng vùng, từng địa phương Đồng thời, lợi thế này lại tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hoá lao động ngày càng tăng, mối liên kết giữa các ngành, các vùng ngày càng mở rộng
Trong nền sản sản xuất hàng hoá quy mô sản xuất không bị giới hạn bởi nhu cầu nguồn lực mang tính hạn hẹp của cá nhân, gia đình, cơ sở, địa phương, mà nó được mở rộng trên cơ sở nhu cầu nguồn lực của xã hội Đó là điều kiện thuận lợi để ứng dụng khoa học vào sản xuất
Trong nền sản xuất hàng hoá, sự tác động của qui luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh… buộc người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất, kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động,
Trang 4nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Vì thế, quá trình sản xuất không ngừng phát triển
Sản xuất hàng hoá phát triển tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu kinh
tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước, quốc tế ngày càng phát triển, góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
II- HÀNG HÓA
Thời gian: 60 phút
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp dạy học nhóm là chính
1 - Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
Thời gian: 10 phút
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp đàm thoại trao đổi
a Khái niệm
Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi
Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình như sắt, thép, gạo…cũng có thể ở dạng vô
hình như dịch vụ thương mại, giáo dục, y tế…
b Hai thuộc tính của hàng hoá
- Gía trị sử dụng của hàng hoá:
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Đặc điểm của giá trị sử dụng
Cơ sở của giá trị sử dụng của hàng hoá là do những thuộc tính tự nhiên của thực thể hàng hoá đó quyết định Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì giá trị sử dụng của hàng hoá ngày càng nhiều, chủng loại càng phong phú, chất lượng ngày càng cao Giá trị sử dụng của hàng hoá là một phạm trù vĩnh viễn
Giá trị sử dụng với tư cách là thuộc tính của hàng hóa, nó không phải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hóa, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua bán Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải luôn quan tâm đến nhu cầu xã hội, làm cho sản phẩm luôn dáp ứng nhu cầu của xã hội Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
- Giá trị hàng hóa:
Để nghiên cứu giá trị hàng hóa, trước tiên ta phải nghiên cứu giá trị trao đổi
vì giá trị trao đổi là biểu hiện bên ngoài của giá trị
Giá trị trao đổi là một quan hệ về lượng, là tỷ lệ theo đó giá trị sử dụng này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác
Ví dụ: 1 mét vải = 5 kg thóc
Tức 1 mét vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc
1 và 5 là quan hệ về số lượng
1 = 5 là tỷ lệ trao đổi lẫn nhau
Tại sao vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng chúng lại có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định! Vì, vải và thóc có
Trang 5một cơ sở chung nhất là chúng đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động của người sản xuất kết tinh trong đó Một mét vải trao đổi được với 5 kg thóc bởi số lượng hao phí lao động làm ra 1 m vải bằng số lượng lao động làm ra 5 kg thóc Thực chất, việc trao đổi hàng hóa vải và thóc là trao đổi lao động hao phí của những người sản xuất ra vải và thóc Từ đó C Mác quan niệm: sự hao phí lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa tạo nên giá trị của hàng hoá
Vậy, giá trị của hàng hoá là hao phí lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Từ khái niệm trên cho thấy: sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất kết tinh trong đó thì không có giá trị; sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao
Giá trị là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Như vậy, hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hóa, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, sở dĩ
họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị Ngược lại, đối với người mua, cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Vì vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó, nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng C.Mác cho rằng giá trị là biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá
2- Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Thời gian: 20 phút
Phương pháp: Thuyết trình
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị là do lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
a Lao động cụ thể
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương pháp riêng, phương tiện riêng và kết quả riêng Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ mộc, người thợ may, người thợ cơ khí…
Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá Lao cụ thể càng nhiều loại càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, các hình thức lao động cụ thể ngày càng đa dạng, phong phú,
nó phản ánh trình độ phát triển của phân công lao động xã hội
Trang 6Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế - xã hội nào Sản xuất càng phát triển thì lao động cụ thể càng đa dạng, hình thức của lao động cụ thể thay đổi càng phong phú
b Lao động trừu tượng
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể đi của nó, hay nói cách khác đó chính là sự tiêu hao sức lao động (sự hao phí sức lực, thần kinh) của người sản xuất hàng hoá.
Lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá tạo ra giá trị của hàng hoá Giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hóa Đó là chất của giá trị hàng hoá
Lao động trừu tượng chỉ có trong nền sản xuất hàng hóa, do mục đích của sản xuất để trao đổi Các lao động cụ thể vốn rất khác nhau, không thể so sánh được với nhau nên phải quy các lao động cụ thể thành một thứ lao động đồng chất,
là lao động trừu tượng làm cơ sở cho sự trao đổi
Sản xuất hàng hoá là một phạm trù lịch sử nên lao động trừu tượng cũng là một phạm trù lịch sử
c Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội
Trong nền sản xuất hàng hoá mỗi người sản xuất cái gì là công việc riêng của
họ (lao động cụ thể) nên nó mang tính chất tư nhân Nhưng mặt khác, lao động của họ lại là một bộ phận của lao động xã hội, mang tính chất xã hội trong hệ thống phân công lao động xã hội, họ trao đổi lao động cho nhau thông qua trao đổi hàng hoá (lao động trừu tượng) Do đó, lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội
Giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng có mâu thuẫn với nhau và nó được biểu hiện cụ thể trong các trường hợp sau:
- Sản phẩm của người sản xuất hàng hoá riêng biệt tạo ra có thể không ăn khớp với nhu cầu tiêu dùng của xã hội Khi sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu dùng của xã hội
sẽ có một số hàng hoá không bán được, tức không thực hiện được giá trị
- Mức tiêu hao lao động cá biệt của người sản xuất hàng hoá cao hơn so với mức tiêu hao mà xã hội chấp nhận, khi đó hàng hoá cũng không bán được hoặc bán được nhưng không thu hồi đủ chi phí lao động bỏ ra
Mâu thuẫn trên mầm mống của mọi mâu thuẫn trong nền sản xuất hàng hoá Chính vì những mâu thuẫn ấy mà sản xuất hàng hoá vừa vận động phát triển, vừa tiền ẩn khả năng khủng hoảng kinh tế
3 Lượng giá trị hàng hóa, những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Thời gian: 30 phút
Phương pháp: Học nhóm
Tình huống: Tại sao 1 mét vải trao được 5 kg thóc? Có phải tỷ lệ đó là bất biến không? Vì sao?
Các nhóm theo tổ chức như cũ, cùng chuẩn bị nội dung trên vào giấy dưới sự điều hành của nhóm trưởng; nhóm cử người báo cáo trước lớp, hết giờ nộp lại cho
Trang 7giáo viên.
Thời gian chuẩn bị 10 phút ( làm rõ thời gian lao động xã hội cần thiết là gì? Tại sao 2 vật phẩm đó trao đổi được với nhau Trong nền kinh tế hàng hóa tỷ lệ trao đổi đó bất biến không vì sao?
Thảo luận báo cáo trước lớp 15 phút
Giáo viên kết luận 5 phút
a Thời gian lao động xã hội cần thiết
Lượng giá trị là được đo bằng lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó Lượng tiêu hao ấy được tính bằng thời gian như: giờ lao động, ngày lao động… Trong thực tế, sản xuất hàng hoá lượng thời gian hao phí cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt hàng hóa của từng người sản xuất, nhưng khi trao đổi hàng hoá trên thị trường lại phải tuân thủ theo lượng thời gian hao phí xã hội hay giá trị xã hội của hàng hoá Vì vậy, lượng giá trị của hàng hóa không phải được tính bằng thời gian lao động cá biệt mà bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội Thông thường, thời gian lao
động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hóa nào đó trên thị trường
b Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi của lượng giá trị hàng hoá tùy thuộc vào năng suất lao động và mức độ phức tạp hay giản đơn của lao động
- Năng suất lao động:
Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít và ngược lại Hiểu cách khác lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi hàng hóa thì ta phải tăng năng suất lao động Năng suất lao động tăng hay giảm tùy thuộc vào nhiều nhân tố: trình độ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên
Cần phân biệt giữa tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động Tăng năng suất lao động thì số lượng giá trị hàng hoá sẽ giảm; tăng cường độ lao động thì số lượng giá trị hàng hoá không thay đổi
- Lao động giản đơn và lao động phức tạp:
Lao động giản đơn là lao động mà người lao động bình thường không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được.
Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể thực hiện được.
Trong nền sản xuất hàng hoá có nhiều hình thức lao động sản xuất khác nhau, song tính lượng giá trị người ta phải qui về một loại lao động thống nhất
Trang 8Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân gấp bội lên
Để cho các hàng hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, tức thời gian lao động giản đơn
III - TIỀN TỆ
Thời gian: 40 phút
Phương pháp: Nêu vấn đề thảo luận nhóm kết hợp thuyết trình
1 - Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ
Thời gian: 30 phút
Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề thảo luận nhóm là chính
a Nguồn gốc của tiền tệ
Tiền tệ ra đời là kết quả lâu dài và tất yếu của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá Ứng với mỗi giai đoạn của sản xuất và trao đổi hàng hoá có một hình thái giá trị Lịch sử ra đời của tiền tệ gắn với lịch sử phát triển của các hình thái giá trị:
- Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:
Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác
Ví dụ: 1 mét vải = 5 kg thóc
Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở giá trị sử dụng của thóc Còn thóc là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải Với thuộc tính tự nhiên của mình, thóc trở thành hiện thân giá trị của vải Sở dĩ như vậy vì bản thân thóc cũng có giá trị Hàng hóa (vải) mà giá trị của nó được biểu hiện ở giá trị sử dụng một hàng hóa khác (thóc) thì gọi là hình thái giá trị tương đối Còn hàng hóa (thóc)
mà giá trị sử dụng của nó biểu giá trị của hàng hóa khác (vải) gọi là hình thái vật ngang giá
Hình thái trao đổi ngẫu nhiên xuất hiện trong điều kiện sản xuất chưa phát triển, trao đổi diễn ra lẻ tẻ, vật đổi lấy vật, giá trị của hàng hoá này chỉ được biểu hiện ở hàng hoá khác
- Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:
Khi lực lượng sản xuất có bước phát triển cao hơn, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa này có thể quan hệ với nhiều hàng hóa khác Tương ứng với giai đoạn này là hình thái đầy đủ hay mở rộng
Ví dụ: 1 mét vải = 5 kg thóc
= 1 con dê
= 20 kg chè…
Trang 9Đây là sự mở rộng hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên Ở ví dụ trên, giá trị của một mét vải được biểu hiện ở giá trị sử dụng của 5 kg thóc hoặc 1 con dê hoặc 20 kg chè Như vậy, hình thái vật ngang giá đã được mở rộng ra ở nhiều hàng hóa khác nhau, tuy nhiên vẫn là trao đổi trực tiếp, tỷ lệ trao đổi chưa cố định
Hình thái mở rộng nó xuất hiện trong điều kiện: Sản xuất có bước phát triển cao hơn, sản phẩm làm ra nhiều hơn; trao đổi diễn ra nhiều, giá trị của một hàng hoá được biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác đóng vai trò làm vật ngang giá
- Hình thái chung của giá trị:
Ví dụ : 5 kg thóc
20 đôi dép = 1mét vải
1 con dê…
Với sự phát triển cao hơn nữa của lực lượng sản xuất và phân công lao động
xã hội, hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và nhiều chủng loại hơn Nhu cầu trao đổi trở nên phức tạp hơn, người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác Vì thế, việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi Trong tình hình đó, người ta phải
đi con đường vòng, mang hàng hóa của mình đổi lấy thứ hàng hóa mà nó được nhiều người ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hóa mà mình cần Khi vật trung gian trong trao đổi được cố định lại ở thứ hàng hóa được nhiều người ưa chuộng thì hình thái chung của giá trị xuất hiện
Ở đây, tất cả các hàng hóa đều biểu hiện giá trị của mình ở cùng một thứ hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá chung Tuy nhiên, trong xã hội vật ngang giá chung chưa ổn định ở một thứ hàng hóa nào, nên vật ngang giá do từng địa phương quy định Ở các địa phương khác nhau thì hàng hóa dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau
- Hình thái tiền tệ:
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho trao đổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn, do đó đòi hỏi khách quan phải hình thành vật ngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật và phổ biến thì xuất hiện hình thái tiền tệ của giá trị
Ví dụ: 10 kg thóc
Hoặc 20 kg chè = 0, 1 chỉ vàng Hoặc 1 mét vải
Hoặc 1 con dê
Lúc đầu có nhiều kim loại đóng vai trò tiền tệ, nhưng về sau được cố định lại
ở kim loại quý: vàng, bạc và cuối cùng là vàng Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền
Trang 10tệ là do những ưu điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với một lượng có thể tích nhỏ nhưng chứa đựng một giá trị lớn
Tiền tệ ra đời là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa được phân thành hai cực: một bên là các hàng hóa thông thường, một bên là hàng hóa đóng vai trò tiền tệ (vàng)
b Bản chất tiền tệ
Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giời hàng hóa làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.
2 - Chức năng của tiền tệ
Thời gian: 10 phút
Phương pháp: Nêu vấn đề, người học tự nghiên cứu là chính
- Thước đó giá trị:
Tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác
Muốn đo lường giá trị của các hàng hóa, bản thân tiền tệ cũng phải có giá trị
và không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng
Khi thực hiện chức năng thước đo giá trị, thì giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa
- Phương tiện lưu thông:
Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa
Muốn trao đổi hàng hóa đòi hỏi phải có tiền mặt (vàng thỏi, bạc nén, tiền đúc, tiền giấy, tiền tín dụng…)
Với chức năng là phương tiện lưu thông, lúc đầu tiền xuất hiện dưới hình thức vàng thỏi, bạc nén Sau đó là tiền đúc ra đời, tiền đúc chỉ là ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành và buộc xã hội phải công nhận Trong quá trình lưu thông, tiền đúc có thể bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó, nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị
- Phương tiện cất trữ:
Tiền làm phương tiện cất trữ khi được rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải
Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền, vàng, bạc Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hóa nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, sản xuất giảm, hàng hóa ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ
- Phương tiện thanh toán:
Tiền làm phương tiện thanh toán khi được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển đến trình độ nào đó,