1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG CHI TIẾT KINH tế CHÍNH TRỊ lưu THÔNG TIỀN tệ, QUAN hệ tài CHÍNH tín DỤNG TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM

13 594 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 125,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. mục đích, yêu cầuGiúp người học nắm được những nội dung cơ bản của tài chính tín dụng và ngân hàng trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay Những nội dung trên được xem như là công cụ và cũng là chính sách để quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó vận dụng vào học và tập công tác sau này.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ, QUAN HỆ TÀI CHÍNH, TÍN DỤNG TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

1 mục đích, yêu cầu

Giúp người học nắm được những nội dung cơ bản của tài chính tín dụng

và ngân hàng trong thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay

Những nội dung trên được xem như là công cụ và cũng là chính sách để quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó vận dụng vào học và tập công tác sau này

2 thời gian 4 tiết ( 3 tiết gới thiệu 1 tiết tự nghiên cứu)

3 vật chất bảo đảm: tài liệu bài giảng; Sách giáo khoa

Văn kiên đảng 6;7;8;9;10;11; 12

4 Nội dung, Phương pháp:

Nội dung: Gồm 3 phần lớn trọng tâm phần I

Phương pháp: nêu vấn đề nhóm làm việc kết hợp thuyết trình là chính

Phương pháp học: nghe kết hợp trao đổi thảo luận, ghi chép nội dung quan trọng của bài làm cơ sở để học tập và nghiên cứu

NỘI DUNG

I LƯU THÔNG TIỀN TỆ TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ Ở NƯỚC TA Thời gian: 40 phút

Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề

1 Lưu thông tiền tệ và tác dụng của lưu thông tiền tệ

Thời gian: 40 phút

Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề

a Lưu thông tiền tệ

Lưu thông tiền tệ là sự vận động liên tục của tiền tệ lấy lưu thông hàng hoá

làm tiền đề, làm cơ sở

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sản xuất và lưu thông hàng hoá đang phát triển, nên tiền tệ và lưu thông tiền tệ tồn tại là khách quan vì còn sản xuất

và lưu thông hàng hóa tất yếu tiền tệ còn tồn tại và phát huy các chức năng, tác vốn

có của nó Tiền tệ dùng để đo lường giá trị của các hàng hoá; làm môi giới cho lưu thông hàng hoá; phương tiện thanh toán…Phương thức thanh toán chủ yếu trong thời kỳ quá độ là: thanh toán dùng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt Chức năng của nhà nước trong quá trình thực hiện lưu thông tiền tệ biểu hiện

ở chỗ nhà nước xác định được số lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông; mọi hoạt động từ phát hành cho đến quản lý điều tiết lưu thông tiền tệ tập trung vào

cơ quan duy nhất là ngân hàng nhà nước

b Tác dụng của lưu thông tiền tệ

- Lưu thông tiền tệ là điều kiện quan trọng bảo đảm cho quá trình tái sản xuất được diễn ra một cách thuận lợi

Trang 2

- Lưu thông tiền tệ là khâu quan trọng của việc thực hiện mục đích của nền

sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Lưu thông tiền tệ thông suốt, với tốc độ nhanh chóng có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Lưu thông tiền tệ là khâu quan trọng để xúc tiến giao lưu kinh tế, kỹ thuật với bên ngoài

2.Đặc điểm của lưu thông tiền tệ

Thời gian: 40 phút

Phương pháp: Thuyết trình kết hợp nêu vấn đề

- Quan hệ tiền tệ và lưu thông tiền tệ từ chỗ mang nặng tính cấp phát không ổn

định, lạm phát cao chuyển sang hướng kinh doanh tiền tệ, kiềm chế lạm phát, củng cố sức mua của đồng tiền Việt Nam, từng bước trở thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi

- Quan hệ tiền tệ và lưu thông tiền tệ từ chỗ hầu như chỉ hoạt động thông qua

độc quyền của hệ thống ngân hàng nhà nước chuyển sang kết hợp với hoạt động

của các ngân hàng thuộc các thành phần kinh tế.

- Ngân hàng từ ngân hàng một cấp, tồn tại như một cơ quan cấp phát quốc gia

(phát hành, cấp phát, thủ quỹ) chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp, hoạt động thông qua hai chức năng: ngân hàng trung ương gắn với chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước và ngân hàng kinh doanh gắn với chức năng quản lý vi mô

- Quan hệ tiền tệ và lưu thông tiền tệ từ mang tính “khép kín” trong nước chuyển sang hoạt động theo cơ chế “mở”, hội nhập với khu vực và thế giới

II QUAN HỆ TÀI CHÍNH TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Thời gian: 40 phút

Phương pháp: học nhóm

Quan hệ tài chính là gì, đặc điểm và chức năng của nó?

Yêu cầu:

Phân tích rõ khái niệm tài chính

Tài chính trong thời kỳ quá độ hiện nay có đặc điểm gì

Tài chính hiện nay có mấy chức năng, làm rõ từng chức năng

Phân công: nhóm 1-2 chuẩn bị nội dung 1; nhóm 3-4 chuẩn bị nội dung 2; nhóm 5-6 chuẩn bị nội dung 3

Thời gian chuẩn bị của nhóm 15 phut; làm việc toàn lớp 20 phút; kết luận 5 P; làm vào vở

1 Quan hệ tài chính và đặc điểm của quan hệ tài chính

a Quan hệ tài chính

Tài chính là quan hệ xã hội về phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ để hình thành và sử dụng có kế hoạch các quỹ tiền tệ tập

Trang 3

trung và không tập trung nhằm phục vụ quá trình tái sản xuất và đời sống nhân dân.

Quan hệ tài chính là một hệ thống các quan hệ kinh tế, là sợi dây ràng buộc giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế quốc dân

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tài chính tồn tại là một tất yếu khách quan, bởi lẽ:

- Còn tồn tại sản xuất hàng hoá và vai trò quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quản lý kinh tế

- Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài quan hệ hàng hoá, tiền tệ, còn hình thành và nảy sinh các quan hệ khác như vay mượn, tài trợ, phân phối…

- Quan hệ kinh tế đối ngoại trở thành xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia muốn phát triển kinh tế tất yếu phải tham gia vào các quan hệ tài chính quốc tế

b Đặc điểm của quan hệ tài chính

- Nền tài chính trong thời kỳ quá độ là nền tài chính của dân, do dân và vì dân

- Nguồn thu tài chính và các quan hệ tài chính trong xã hội bao trùm tất cả các thành phần kinh tế đang tồn tại trong thời kỳ quá độ

- Các quan hệ tài chính đang trong quá trình chuyển từ tài chính của nền kinh tế quản lý theo cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Cơ cấu của hệ thống tài chính gồm nhiều bộ phận hợp thành, hoạt động theo kế hoạch, định hướng của nhà nước

- Nhà nước sử dụng tài chính làm công cụ quản lý vĩ mô nhằm điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

2 Chức năng của tài chính

- Chức năng phân phối: (bao gồm phân phối lần đầu và phân phối lại)

Phân phối lần đầu, là sự phân phối chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực sản xuất vật chất Kết quả phân phối lần đầu hình thành nên quỹ bù đắp tư liệu sản xuất hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh; quỹ lương hay thu nhập ban đầu của người lao động trong sản xuất kinh doanh; các khoản nộp ngân sách cho nhà nước; lợi nhuận của doanh nghiệp Phần lợi nhuận được chia thành các loại quỹ: quỹ mở rộng sản xuất, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ trả lợi tức cổ phiếu, trái phiếu, dự phòng tài chính Phân phối lại, là quá trình tiếp tục phân phối những quỹ tiền tệ hay những khoản thu nhập đã hình thành trong phân phối lần đầu Được diễn ra trên phạm

vi toàn xã hội, mục đích tạo nguồn thu cho những người làm việc trong lĩnh vực không sản xuất vật chất, điều tiết thu nhập bảo đảm công bằng xã hội

- Chức năng giám đốc:

Chức năng giám đốc của tài chính biểu hiện ở chỗ tài chính có vai trò như người kiểm tra, giám sát, đôn đốc tình hình hoạt động kinh tế.

Trang 4

Cơ sở của chức năng giám đốc là sự thống nhất giữa sự vận động của các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh tế Thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật được thể hiện dưới hình thức giá trị trong các bảng biểu kiểm kê, kế toán, hợp đồng kinh tế, chứng từ…

Vai trò giám đốc của tài chính được thể hiện ở chỗ: kiểm tra tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất, thúc đẩy các đơn vị hoạt động đúng hướng, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội; hướng dẫn các doanh nghiệp chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp và các chế độ chính sách của nhà nước, chống tham mô, lãng phí, thực hành tiết kiệm Phạm vi và mức độ giám đốc: tuỳ thuộc vào chức năng của các cơ quan tài chính các cấp và nguồn vốn tài chính để tiến hành hoạt động

III QUAN HỆ TÍN DỤNG TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA

XÃ HỘI

Thời gian: 45 phút

Phương pháp: Giảng viên đặt vấn đề giao cho nhóm làm việc sau dó kết

luận nội dung

LÀM VIỆC THEO NHÓM

THỜI GIAN BÁO CÁO TẠI LỚP

THỜI GIAN KẾT LUẬN

1

2

Nền kinh tế thị

trường tín dụng có

đặc điểm gì, hình

thức hoạt động nó

ra sao, chức năng

của nó như thế

nào?

Ngân hàng là gì vai

trò của nó? Nhiệm

vụ của ngân hàng

Nhà nước, ngân

hàng thương mại?

Thảo luận theo nhóm, Chuẩn bị theo nhóm

và khi báo cáo mỗi nhóm cử 1 đ/c báo cáo theo chỉ định của giáo viên

Nhóm làm việc trong

10 phút

Thời gian báo cáo tại lớp chỉ định ngẫu nhiên 6 Đ/

C đại diện cho 6 nhóm báo cáo còn lại theo dõi

Kết luận

và giao nhiệm vụ nghiên cứu tiếp của giáo viên khoảng 10 phút

2 Tổng thời gian 45

Phút

Hướng dẫn làm việc: từ nhóm 1-3 chuẩn bị nội dung 1

Những nhóm còn lại chuẩn bị nội dung 2

Các nhóm làm việc tại nhóm 10 phút, các nhóm cử nhóm trưởng để duy trì hoạt động của nhóm mình khi thảo luận ở lớp nhóm cử 1 Đ/C đại diện cho nhóm mình báo cáo Trong báo cáo đảm bảo về nội dung; thời gian không quá 5 phút

Giáo viên kết luận khoảng 10 phút

Kết luận nội dung:

1 Quan hệ tín dụng, các hình thức và chức năng của tín dụng

Trang 5

a Quan hệ tín dụng

- Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, là hình thức vận động của vốn cho vay Quan hệ tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức.

Trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng tồn tại là một tất yếu khách quan và được quyết định bởi đặc điểm của sản xuất hàng hóa và sự phát triển của chức năng tiền tệ làm phương tiện thanh toán Quan hệ tín dụng ra đời bắt nguồn từ đặc điểm chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp mà trong từng thời điểm thường xuyên có một bộ phận vốn nhàn rỗi cần được sử dụng để sinh lợi

- Đặc điểm của quan hệ tín dụng:

Quan hệ tín dụng tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa, nhưng ở các phương thức sản xuất khác nhau thì mang bản chất khác nhau Quan hệ tín dụng trong thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội, ngoài đặc điểm chung là quyền sở hữu vốn tách rời quyền sử dụng vốn, còn có đặc điểm lớn là : nhiều quan hệ tín dụng khác nhau với những nguồn lợi tức khác nhau phản ánh nền kinh tế nhiều thành phần Các quan hệ tín dụng này vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

b Các hình thức tín dụng

- Tín dụng ngân hàng, là hình thức tổ chức tín dụng mà các quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua vai trò trung gian của ngân hàng

- Tín dụng thương mại, là việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ bằng cách cho chịu tiền với kỳ hạn nhất định và lợi tức nhất định

- Tín dụng nhà nước, là quan hệ vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế trong nước, giữa Nhà nước với các tầng lớp dân cư, giữa nhà nước với chính phủ các nước khác…

- Tín dụng tập thể, là hình thức tự nguyện góp vốn của các thành viên cho nhau vay hoặc cùng nhau kinh doanh tín dụng

c Chức năng của tín dụng

- Chức năng phân phối: chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện

thông qua phân phối lại vốn Phân phối của tín dụng dựa trên cơ sở tự nguyện theo nguyên tắc hoàn trả và có hiệu quả

- Chức năng giám đốc: kiểm soát các hoạt động kinh tế của tín dụng có liên

quan đến đặc điểm quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn, đến mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay Người có vốn cho vay luôn quan tâm đến hoạt động của người sản xuất kinh doanh của người đi vay để đánh giá khả năng hoàn trả

2 Vai trò của hệ thống ngân hàng trong quan hệ tín dụng

Trang 6

Ngân hàng là xí nghiệp kinh doanh tiền tệ được tín nhiệm của khách hàng trở thành những trung tâm: tín dụng, tiền mặt và thanh toán.

-

Vai trò của hệ thống ngân hàng:

+ Điều tiết vĩ mô qua việc nắm tình hình kinh tế nói chung phát hiện ra những mất cân đối trong nền kinh tế quốc dân để từ đó điều tiết quy mô tín dụng

và lượng cung ứng tiền tệ

+ Điều tiết lưu thông tiền tệ và phân phối tiền vốn bằng huy động vốn và cho vay + Giám đốc của ngân hàng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yêu thông qua việc cho vay vốn, mở rộng tín dụng ngân hàng

+ Quản lý ngoại hối (ra sức thu hút tiền giữi ngoại tệ, tập trung ngoại hối, giữ vững sự cân đối thu - chi ngoại hối, sử dụng tốt ngoại hối…)

- Đối với nước ta: hệ thống ngân hàng được chia làm hai phân hệ:

+ Ngân hàng nhà nước (hay ngân hàng trung ương).

Các chức năng cơ bản của ngân hàng nhà nước:

Một là, phát hành tiền tệ, điều tiết lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán Hai là, là người đại diện về tài chính, tiền tệ của Nhà nước, quản lý tiền vốn

của Nhà nước, cung cấp tín dụng cho Nhà nước, nhận mua quốc trái

Ba là, thông qua cho vay, huy động tiền gửi, tiến hành quản lý các ngân

hàng và các cơ cấu tiền tệ khác, định ra chính sách tiền tệ, điều tiết giá cả và nhu cầu tiền tệ, hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng ổn định

Ngân hàng Nhà nước có hai nhiệm vụ cơ bản:

Một là, thực hiện vai trò là chủ ngân hàng (hay ngân hàng của ngân hàng) đối với

các ngân hàng thương mại, đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động bình thường

Hai là, thực hiện vai trò là chủ ngân hàng đối với nhà nước, chịu trách nhiệm kiểm

soát cung ứng về tiền tệ và việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách của nhà nước

Ngân hàng Nhà nước có các nhiệm vụ cụ thể :

Một là, tham gia xây dựng các chiến lược, kế hoách phát triển kinh tế xã hội

các chính sách liên quan đển hoạt động tiền tệ, tín dụng

Hai là, xây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về tiền tệ, tín dụng

ngoại hối để cấp có thẩm quyền phê chuẩn Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện hệ thống pháp luật đã ban hành

Ba là, quan lý nhà nước các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng thương

mại, tổ chức tín dụng trong tất cả các thành phần kinh tế, kể cả ngân hàng nước ngoài thông qua chính sách tiền tệ

Bốn là, tổ chức in, đúc và bảo quản tiền dự trữ phát hành Quản lý lưu thông

tiền tệ, không chế lạm phát và thực hiện nghiệp vụ phát hành tiền tệ

Năm là, thực hiện vai trò ngân hàng của các ngân hàng kinh doanh và các tổ

Trang 7

chức tín dụng Nhận gửi và cho vay đối với kho bạc nhà nước để sử dụng ngân sách có hiệu quả và đáp ứng yêu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước

Sáu là, bảo quản dự trữ Nhà nước và quản lý nhà nước về ngoại tệ và vàng;

đại diện cho nhà nước tại các tổ chức tiền tệ, tín dụng quốc tế; trực tiếp ký kết hoặc được uỷ quyền ký kết các điều ước quốc tế về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối; lập cán cân thanh toán quốc tế; thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, kinh doanh ngoại hối trên thị trường quốc tế

Bảy là, bám sát diễn biến thị trường công bố lãi suất về tiền gữi, lãi suất tối

đa về tiền vay, tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam với ngoại tệ mạnh

Tám là, tổ chức đào tạo nghiệp vụ kinh tế và kỹ thuật cho cán bộ nhân viên của ngành.

Các công cụ chủ yếu để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng nhà nước bao gồm:

Một là, phát hành giấy bạc ngân hàng Đây là nhiệm vụ quan trọng gắn với

chức năng phát hành của ngân hàng nhà nước

Hai là, hoạt động thị trường mở Đây là một công cụ ngân hàng trung ương

mua bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ…

Ba là, lãi xuất chiết khấu Đây là công cụ mà ngân hàng nhà nước trung

ương dùng để điều tiết thị trường vốn…

Bốn là, dự trử bắt buộc Dự trử bắt buộc là dự trử tiền của các ngân hàng thương

mại tại ngân hàng trung ương, đây là công cụ mà ngân hàng trung ương dùng để điều chỉnh tín dụng của các ngân hàng thương mại trong quản lý vĩ mô của mình

+ Ngân hàng thương mại (hay ngân h àng kinh doanh):

Nhiệm vụ chủ yếu của các ngân hàng này là thu hút vốn ngắn hạn và cung cấp dịch vụ cho xí nghiệp công thương Dùng phương thức thu hút vốn cho xí nghiệp công thương vay để làm vốn lưu động ngoài ra còn làm các nghiệp vụ thu chi, hối đoái, tạm ứng và thanh toán các chứng khoán và thế chấp cho vay Theo lĩnh vực kinh doanh hệ thống ngân hàng được chia thành các loại: ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng kinh doanh tổng hợp Ngân hàng chuyên doanh như: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng nông nghiệp…; còn ngân hàng kinh doanh tổng hợp là Ngân hàng công thương Theo hình thức sở hữu có các loại: ngân hàng thương mại Nhà nước, là ngân hàng được thành lập bằng 100% vốn của nhà nước, hoạt động theo những nguyên tắc của doanh nghiệp nhà nước Ngân hàng thương mại cổ phần, là ngân hàng được thành lập theo hình thức công ty cổ phần, vốn do cổ đông gióp lại, hoạt động theo khuôn khổ pháp luật của nhà nước và những quy định của ngân hàng nhà nước

Ngân hàng thương mại tư nhân, là ngân hàng kinh doanh vốn thuộc sở hữu

Trang 8

tư nhân Tổ chức hoạt động theo pháp luật của nhà nước và quy định của ngân hàng nhà nước với các điều khoản riêng

Ngân hàng thương mại nước ngoài, là những cơ sở của nước ngoài tại Việt Nam, tồn tại hoạt động tuân theo luật pháp của nhà nước Việt Nam và chịu sự quản lý khống chế của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Chức năng của ngân hàng thương mại:

Hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, hạch toán độc lập dưới quyền quản lý của hội đồng quản trị và quyền điều hành của giám đốc; chịu sự quản lý

vĩ mô của ngân hàng nhà nước; có quan hệ với khách hàng theo nguyên tắc tự chịu trách nhiệm về vật chất và hành chính đối với tài sản, tiền vốn và cam kết

bí mật về số liệu, hoạt động, tạo sự tín nhiệm và thuận lợi cho khách hàng có

quan hệ với các tổ chức tín dụng khác theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, cùng có lợi

Nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại:

Huy động vốn nhằm tao ra nguồn vốn để cho vay

Nghiệp vụ cho vay vốn nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Nghiệp vụ thanh toán trên cơ sở uỷ nhiệm của khách hàng trong các khâu thanh toán

5 Giao nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Lưu thông tiền tệ, đặc điểm của lưu thông tiền tệ ở nước ta?

2 đặc điểm chức năng hoạt động của tín dụng?

3 đặc điểm, chức năng vai trò của tài chính và ngân hàng trong thời kỳ quá độ ở nước ta ?

4 Đọc bài lợi ích kinh tế và phân phối cho tiêu dung cac nhân…

6 Rút kinh nghiệm:

Trang 9

- Chính sách tài chính:

Chính sách tài chính là chính sách động viên, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính được biểu hiện bằng hệ thống các quan điểm, chủ trương và biện pháp của Nhà nước phù hợp với đặc điểm tình hình đất nước và đường lối phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi thời kỳ

Chính sách tài chính ở nước ta hiện nay cần hướng vào những vấn đề chủ yếu sau đây:

+ Xây dựng đồng bộ thể chế tài chính phù hợp với kinh tế thị trường Đổi mới chính sách quản lý tài chính để giải phóng và phân bổ hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực; phát triển nền tài chính quốc gia vững mạnh Bảo đảm an ninh tài chính quốc gia, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của tài chính Việt Nam

+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh

+ Đổi mới chính sách phân phối tài chính và cơ chế kết hợp nguồn lực nhà nước với các nguồn lực khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

+ Đổi mới cơ chế quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện các công việc được ngân sách cấp kinh phí

+ Đổi mới căn bản chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, kiên quyết xoá bỏ tình trạng bao cấp đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước

+ Chủ động mở rộng hoạt động tài chính đối ngoại và hội nhập quốc tế về tài chính; thực hiện đa dạng hoá nguồn vốn, đa phương hoá quan hệ đối tác, tăng

dự trữ ngoại tệ của quốc gia

+ Tạo điều kiện phát triển vững chắc thị trường tài chính; kiện toàn bộ máy quản lý tài chính

e) Tín dụng

Trang 10

- Bản chất của quan hệ tín dụng trong thời kỳ quá độ

Tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn

cả vốn gốc lẫn lợi tức

Quan hệ tín dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội phản ánh hệ thống lợi ích của nền kinh tế nhiều thành phần Các quan hệ tín dụng này vừa hợp tác vừa cạnh tranh với nhau trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây cũng là lĩnh vực đấu tranh gay gắt, đòi hỏi quan hệ tín dụng nhà nước phải không ngừng lớn mạnh để đảm nhiệm vai trò chủ đạo trong quan hệ tín dụng toàn xã hội

Quan hệ tín dụng tồn tại dưới các hình thức sau:

- Tín dụng nhà nước: Nhà nước phát hành công trái để vay của dân hoặc

vay của nước ngoài

- Tín dụng thương mại là việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ bằng

cách cho chịu tiền với kỳ hạn nhất định và lợi tức nhất định

Tín dụng thương mại không chỉ có trong quan hệ mua - bán lớn mà còn có ngay cả trong tiêu dùng, một hình thức dễ dẫn tới sự mua bán chịu, chiếm dụng vốn lẫn nhau Bởi vậy, tín dụng thương mại là một hình thức cần được kiểm soát chặt chẽ trong kinh tế thị trường

- Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa các chủ thể kinh tế có

ngân hàng làm trung tâm Dưới hình thức này, các quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua hoạt động của ngân hàng Theo đà phát triển của nền kinh tế, hình thức tín dụng ngân hàng ngày càng trở thành hình thức chủ yếu không chỉ ở trong nước mà còn trên trường quốc tế

Tùy theo cách phân chia khác nhau, tín dụng ngân hàng có các loại khác nhau Nếu phân chia theo thời gian thì có tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn (trên 1 năm và dưới 5 năm) và tín dụng dài hạn (trên 5 năm) Nếu phân chia theo đối tượng đầu tư của tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động, tín dụng vốn cố định

Ngoài các hình thức tín dụng chủ yếu nói trên, còn có một số hình thức tín dụng khác như: tín dụng nhà nước, tín dụng tập thể, tín dụng tiêu dùng, tín dụng học đường

- Chức năng của tín dụng:

Đây là một bộ phận của hệ thống tài chính, quan hệ tín dụng cũng có chức năng phân phối và giám đốc

Chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện thông qua phân phối

lại vốn Phân phối của tín dụng dựa trên cơ sở tự nguyện theo nguyên tắc hoàn trả vàcó hiệu quả Nội dung của chức năng này biểu hiện ở cơ chế "hút" (hay huy động) các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi, phân tán trong xã hội để "đẩy" (hay cho vay) nó vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng

Chức năng giám đốc, kiểm soát các hoạt động kinh tế của tín dụng có liên

quan đến đặc điểm quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn, đến mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay

Người có vốn cho vay luôn quan tâm đến sự an toàn của vốn; không những thế, họ còn mong muốn vốn của họ khi sử dụng có khả năng sinh lợi để

họ có thể thu thêm về khoản lợi tức Muốn vậy, người cho vay phải am hiểu và kiểm soát hoạt động của người đi vay, từ khâu xem xét tư cách pháp nhân người

Ngày đăng: 20/04/2017, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w