Những vấn đề cơ bản về công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binhđoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam 44 Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NG
Trang 1nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu, tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Đức Lự
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG
TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG XÂY DỰNG CHÍNH QUY Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT
1.1 Đơn vị cơ sở và xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các
binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam 281.2 Những vấn đề cơ bản về công tác đảng, công tác chính
trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binhđoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam 44
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CÔNG
TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG XÂY DỰNG CHÍNH QUY Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT
2.1 Thực trạng công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng
chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội
2.2 Nguyên nhân và kinh nghiệm công tác đảng, công tác
chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở cácbinh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam 95
Chươn
g 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG XÂY
DỰNG CHÍNH QUY Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT
3.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu tăng cường công tác đảng,
công tác chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở cácbinh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện
3.2 Những giải pháp tăng cường công tác đảng, công tác
chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở cácbinh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam giai
Trang 3PHỤ LỤC 190
Trang 41 Ban Chấp hành Trung ương BCHTW
11 Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Nxb QĐND
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài: “Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” là vấn đề được nghiên cứu sinh quan tâm trăn trở, ấp ủ, đầu tư trí
tuệ và công sức nghiên cứu từ lâu, xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm họctập, công tác của nghiên cứu sinh ở các nhà trường quân đội và ĐVCS cácBĐCL Quá trình triển khai đề tài nghiên cứu, tác giả dựa trên cơ sở hệ thốngnguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội kiểu mới của giaicấp công nhân; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhànước ta về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinhnhuệ, từng bước hiện đại; tham khảo kết quả các công trình khoa học nghiên cứu
ở nước ngoài và trong nước có liên quan; dựa vào kết quả nghiên cứu thực tiễnXDCQ và CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL từ năm 2006 đến nay
Đề tài luận án tập trung luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về XDCQ
và CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam;đánh giá đúng thực trạng, rút ra những kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong XDCQ;xác định yêu cầu, đề xuất giải pháp tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ởĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay
2 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy là yêu cầu kháchquan, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm cho quân đội luôntập trung thống nhất, chặt chẽ về tổ chức và hoạt động; chuẩn mực về lễ tiết,tác phong quân nhân; nghiêm minh về kỷ luật; tập trung thống nhất trong lãnhđạo, chỉ huy, hiệp đồng tác chiến; mọi quân nhân có ý chí, trách nhiệm caotrong huấn luyện, SSCĐ và công tác XDCQ đã trở thành nhiệm vụ cơ bản,thường xuyên của các cơ quan, ĐVCS trong toàn quân
Trang 6CTĐ, CTCT trong xây dựng chính quy luôn giữ vai trò đặc biệt quantrọng, là nhân tố quyết định giữ vững định hướng chính trị, tạo nên sự thống nhất
ý chí và hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp và nâng cao chất lượng, hiệuquả XDCQ Tiến hành CTĐ, CTCT trong XDCQ vừa là vấn đề có tính nguyêntắc, vừa là nội dung, nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết đối với các cấp ủy, tổ chức đảng,
cơ quan chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và cán bộ, đảng viên ởĐVCS trong toàn quân hiện nay
Đơn vị cơ sở ở các BĐCL có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trongquản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ; huấn luyện quân sự, trực ban sẵnsàng chiến đấu, XDCQ, thực hiện chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất,công tác của các BĐCL Nhiệm vụ XDCQ và CTĐ, CTCT trong XDCQ củacác BĐCL được thực hiện chủ yếu ở ĐVCS Tiến hành CTĐ, CTCT trongXDCQ ở ĐVCS là vấn đề đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần xây dựngđơn vị cơ sở VMTD, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấucủa các BĐCL ngang tầm đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ xây dựng quân độicách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong thời kỳ mới
Những năm qua, ĐVCS các BĐCL đã tập trung quán triệt và tổ chứcthực hiện các chỉ thị của Thường vụ ĐUQSTW (nay là Thường vụ QUTW)
“Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy trong giai đoạn mới” [51] và Chỉ thị của Bộ trưởng BQP “Về xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện trong toàn quân” [17]; đã triển khai đồng bộ nhiều chủ trương, kế hoạch, nội
dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTĐ, CTCT trong XDCQ và đã thuđược nhiều kết quả; trực tiếp góp phần xây dựng đơn vị cơ sở VMTD, hoànthành tốt mọi nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạtđược, CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL còn nhiều mặt hạnchế cả về nhận thức, trách nhiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chứcthực hiện; nội dung, hình thức, phương pháp tiến hành CTĐ, CTCT cònchậm đổi mới, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp; chất lượng xây dựng văn bản chưa
Trang 7có sự thống nhất về hình thức, tính chính quy về nội dung còn nhiều hạn chế.Công tác giáo dục pháp luật cho bộ đội tiến hành chưa đồng bộ, thường xuyên;phương pháp, tác phong công tác của một số cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộchính trị cấp cơ sở còn biểu hiện lúng túng, thiếu tỉ mỉ, cụ thể, chưa thật sự khoahọc, chưa đáp ứng kịp sự phát triển và yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ huấnluyện, SSCĐ và chiến đấu, xây dựng đơn vị chính quy, VMTD.
Hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN và đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế của toàn Đảng,toàn dân, toàn quân ta đang phát triển nhanh chóng, đứng trước những thời cơ,thuận lợi đan xen với những nguy cơ, thách thức không thể xem thường Tranhchấp lãnh thổ, chủ quyền biển đảo trong khu vực và trên biển Đông tiếp tục diễn
ra gay gắt, phức tạp Nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ
Tổ quốc có bước phát triển mới, yêu cầu ngày càng cao Nhiệm vụ huấn luyện,SSCĐ, XDCQ, xây dựng đơn vị VMTD, sản xuất, công tác của ĐVCS cácBĐCL đang diễn biến nhanh chóng và ngày càng phức tạp đang đặt ra đòi hỏiphải tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Xây dựng Đảng và
Chính quyền Nhà nước Đây là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích: Luận giải làm rõ những vấn đề về lý luận, thực tiễn và đề
xuất những giải pháp tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS cácBĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về XDCQ và CTĐ, CTCTtrong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
Trang 8- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra kinh nghiệmCTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường CTĐ,CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam giaiđoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL
Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn, thực trạng, kinh nghiệm, yêu cầu và giải pháp CTĐ, CTCTtrong XDCQ ở ĐVCS đủ quân, làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ ở các BĐCL
Quân đội nhân dân Việt Nam
Các tư liệu, số liệu điều tra, khảo sát ở ĐVCS các BĐCL (Binh đoànQuyết Thắng, Binh đoàn Hương Giang, Binh đoàn Tây Nguyên và Binh đoànCửu Long) chủ yếu giới hạn từ năm 2006 đến 2016
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Là hệ thống những nguyên lý, nguyên tắc, quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin về quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách
và pháp luật của Nhà nước về xây dựng quân đội chính quy và tiến hànhCTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam; Các nghị quyết, chỉ thị củaQUTW, BQP và TCCT về CTĐ, CTCT trong xây dựng quân đội chính quy
và xây dựng đơn vị VMTD trong giai đoạn hiện nay
* Cơ sở thực tiễn: Hiện thực XDCQ và hoạt động CTĐ, CTCT trong
XDCQ ở ĐVCS các BĐCL; các báo cáo, tổng kết về CTĐ, CTCT trongXDCQ và xây dựng đơn vị VMTD ở ĐVCS các BĐCL; các kết quả điều tra,khảo sát thực tế của nghiên cứu sinh ở Binh đoàn Quyết Thắng, Binh đoàn
Trang 9Hương Giang, Binh đoàn Tây Nguyên và Binh đoàn Cửu Long Quân đội nhândân Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu củakhoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó chú trọng các phương pháp:lôgic - lịch sử; phân tích - tổng hợp; tổng kết thực tiễn; phương pháp điều tra,khảo sát và phương pháp chuyên gia
6 Những đóng góp mới của luận án
- Luận giải làm rõ về quan niệm, vai trò, đặc điểm CTĐ, CTCT trong XDCQ
ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
- Khái quát rút ra một số kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong XDCQ ởĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
- Đề xuất một số nội dung, hình thức, biện pháp cụ thể có tính khả thi
tăng cường CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dânViệt Nam giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sâu sắc hơn những vấn
đề lý luận về CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL; cung cấp thêm
cơ sở khoa học giúp cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trịcác cấp nghiên cứu, vận dụng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tiếnhành CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS Luận án có thể sử dụng làm tàiliệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn CTĐ,CTCT ở các học viện, trường sĩ quan quân đội
8 Kết cấu của luận án
Gồm phần: Mở đầu; 3 chương (6 tiết); kết luận; danh mục cáccông trình của tác giả đã được công bố; danh mục các tài liệu tham khảo;phụ lục
Trang 10TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vấn đề xây dựng quân đội chính quy và CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ xâydựng quân đội chính quy đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong nước vànước ngoài có liên quan được công bố dưới dạng sách, giáo trình, tài liệutham khảo, đề tài khoa học nghiên cứu cơ bản, đề tài luận án, các bài báokhoa học, các bài viết tham gia hội thảo khoa học Theo đó, tác giả lựa chọntổng quan về một số công trình tiêu biểu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án
1 Các công trình nghiên cứu về xây dựng quân đội chính quy
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về xây dựng quân đội chính quy
“Các lực lượng vũ trang Liên Xô” [20] ; “Lực lượng vũ trang các nước trên thế giới” [84]; “Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thế kỷ 21” [104]; “Xu hướng mới trong xây dựng quân đội thế kỷ 21” [169];
“Lược sử quân đội các nước Đông Nam Á” [85]; “Mài sắc răng hổ” [87];
“Hiện đại hóa người lính - phụ thuộc ngân sách nhưng tiềm năng lớn” [71]; “Nhật Bản: Dự đoán tiềm lực quân sự trong 10 năm tới” [95];
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tiếp cận và luận giải nhữngvấn đề về xây dựng sức mạnh tổng hợp của quân đội nói chung và xâydựng quân đội chính quy, hiện đại nói riêng; chỉ ra vấn đề tất yếu kháchquan về xây dựng sức mạnh tổng hợp đối với mọi quân đội trong lịch sửphát triển quân sự thế giới Đồng thời, đã đưa ra nhận định: trong thế kỷXXI, việc xây dựng quân đội chính quy, hiện đại là một xu hướng lớn,mang tính quốc tế hóa ngày càng rõ rệt; đặc biệt là đối với các quân độihiện đại của các nước lớn như Mỹ, Trung quốc, Nga, Anh, Pháp, ẤnĐộ… Trong đó, xây dựng quân đội chính quy cần tập trung vào nhữngnội dung cụ thể như: ngày càng hoàn thiện về tổ chức biên chế, hiện đạihóa vũ khí, trang bị, phương tiện quân sự, hệ thống điều lệnh, điều lệ và
Trang 11các quy định thống nhất về hệ thống tổ chức chỉ huy, quản lý, điều hànhcác lĩnh vực hoạt động của quân đội được xây dựng dựa trên cơ sở phápluật của nhà nước, phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội
và tiềm lực quốc phòng của mỗi quốc gia
1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy
1.2.1 Các công trình nghiên cứu về vị trí, vai trò, sự cần thiết phải xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy
Khi bàn về “Vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân” [67], Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định:
“Trên cơ sở giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng củaquân đội, cần phải đẩy mạnh chính quy hóa và hiện đại hóa quân đội.Chính quy hóa là bước đi tất yếu của mọi quân đội khi mà tổ chức quânđội đã phát triển đến một trình độ hoàn chỉnh nhất định Quân đội càngtiến lên hiện đại thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, vấn đề chínhquy hóa càng phải được đẩy mạnh” [67, tr.135]
Đồng thời, tác giả chỉ rõ: chính quy hóa là thực hiện sự thống nhất quânđội về mặt tổ chức dựa trên những chế độ, điều lệnh, quy định nhằm đưa toàn
bộ hoạt động của quân đội vào nền nếp thống nhất, nâng cao tính tổ chức, tínhtập trung, tính kỷ luật, tính khoa học, đạt đến trình độ kiên quyết và nhất trícao, đến sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận của quân đội trong chiếntranh Chính quy hóa gắn với việc xây dựng, ban hành và không ngừng hoànthiện các chế độ, điều lệnh, điều lệ và việc chấp hành các chế độ, điều lệnh,điều lệ đó Yêu cầu về xây dựng chính quy quân đội phải trên cơ sở cácnguyên tắc về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và cần phảixuất phát từ tình hình và nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấukhông ngừng phát triển của quân đội Để đẩy mạnh chính quy hóa quân đội,một trong những vấn đề hết sức quan trọng là phải nâng cao ý thức tổ chức và
Trang 12kỷ luật của quân đội Cần phải tiếp tục làm cho bộ đội có nhận thức sâu sắc vềvai trò và yêu cầu của kỷ luật đối với một quân đội chính quy, hiện đại; phải tạonên một bước chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tổ chức, kỷ luật cũng như nền nếpquản lý bộ đội, làm cho toàn quân nghiêm chỉnh thực hiện các chế độ, điều lệnh,điều lệ, triệt để chấp hành mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên Trong quá trìnhđẩy mạnh chính quy hóa quân đội, cần phải giải quyết thật tốt mối quan hệ giữatập trung và dân chủ, giữa sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và vai trò của người chỉhuy, chủ trì, quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa cấp trên và cấp dưới Phải kếthợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, gắn chặt việc giáo dụcthuyết phục với việc rèn luyện, quản lý nghiêm ngặt; kết hợp nâng cao tính tựgiác với yêu cầu cương vị, chức trách, nhiệm vụ cần phải làm; tiến hành thưởngphạt nghiêm minh Phải phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức làm chủ tập thểcủa cán bộ và chiến sĩ đối với việc quản lý kỷ luật, chấp hành điều lệnh, điều lệ,chế độ quy định Trong đó, vai trò gương mẫu và trình độ tổ chức, quản lý củacán bộ có ý nghĩa rất quan trọng.
Trong cuốn “Đẩy mạnh xây dựng chính quy nâng cao chất lượng chiến đấu của quân đội ta” [30], Đại tướng Văn Tiến Dũng khẳng định: Chính quy
hóa là bước đi tất yếu của mọi quân đội thường trực của các nhà nước tronglịch sử; chính quy hóa càng phải cao khi quân đội càng được trang bị hiện đại;chính quy hóa của mọi quân đội phản ánh trước hết bản chất giai cấp củaquân đội đó; đẩy mạnh chính quy hóa trên cơ sở tăng cường bản chất giai cấpcông nhân, đi đôi với nâng cao trình độ hiện đại hóa là một yêu cầu cấp thiếtđối với quân đội ta hiện nay Quân đội ta đang đứng trước những nhiệm vụquân sự trọng đại trong giai đoạn cách mạng mới, để bảo đảm cho quân đội cóthể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, vấn đề tất yếu là phải tiếp tục đẩymạnh công cuộc xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, hiện đại.Sức mạnh chiến đấu của quân đội ta là kết quả tổng hợp của ba mặt xây dựng:cách mạng, chính quy và hiện đại Ba mặt đó đều rất quan trọng và liên quan
Trang 13mật thiết với nhau Vấn đề đẩy mạnh chính quy hóa của quân đội ta là vấn đềtăng cường sự thống nhất tập trung của quân đội về mặt tổ chức, dựa trên sựthống nhất về tư tưởng chính trị nhằm đạt đến sự thống nhất cao trong mọihành động: chiến đấu, công tác, sinh hoạt, góp phần nâng cao chất lượngchiến đấu của quân đội, bảo đảm cho quân đội ta phát huy hơn nữa sức mạnhtổng hợp của mình, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ chiến đấu, xây dựng,công tác trong giai đoạn mới cũng như về lâu dài Trong vấn đề chính quy hóaquân đội có nhiều nội dung như: thống nhất về biên chế, tổ chức, trang bị củaquân đội; thống nhất về lãnh đạo, chỉ huy, quản lý bộ đội; thống nhất về cáchđánh, huấn luyện, giáo dục, công tác, sinh hoạt, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ …;thống nhất về kỷ luật (khen thưởng và xử phạt …) Thực hiện đầy đủ, có chấtlượng và hiệu quả các nội dung chính quy hóa quân đội là:
“nhằm nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật, tính tập trung thống nhất, tínhkhoa học trong toàn bộ hoạt động của quân đội, tăng cường sự thống nhấtđến mức cao độ của quân đội ta cả trong chiến đấu, xây dựng, học tập,công tác và sinh hoạt, khiến cho quân đội ta khi hành động thì trăm vạnngười chỉ như một người, phát huy đến mức cao độ sức mạnh của mình,chiến thắng quân thù, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ” [30, tr 6] Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề xâydựng sức mạnh tổng hợp của quân đội càng trở nên cấp thiết Nghiên cứu về
“Xây dựng quân đội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
[74], Đại tướng Đoàn Khuê nhấn mạnh:
“Vấn đề mấu chốt hiện nay là tập trung sức tạo một bước chuyểnbiến mạnh mẽ về chất lượng tổng hợp, toàn diện của quân đội nhân dântrong đó lấy chất lượng chính trị làm cơ sở, bảo đảm cho quân đội luôn
là một lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậycủa Đảng, của Nhà nước và nhân dân” [74, tr 251]
Trang 14Nội dung xây dựng sức mạnh tổng hợp của quân đội bao gồm: Xâydựng quân đội nhân dân thực sự là quân đội cách mạng; tập trung xây dựngquân đội thực sự chính quy, có trình độ tổ chức kỷ luật cao, tự giác và nghiêmminh, bảo đảm cho toàn quân, từ ĐVCS đến các học viện, nhà trường và các
cơ quan chiến lược, là một khối thống nhất, vững chắc trong tư tưởng và hànhđộng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giaophó; tiếp tục chấn chỉnh, ổn định tổ chức, biên chế quân đội, phù hợp với yêucầu của thời bình và sẵn sàng đối phó có hiệu quả với các tình huống xảy ra;nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội theo yêu cầu mới của công nghiệphóa, hiện đại hóa và vấn đề xây dựng Quân đội nhân dân hiện đại
1.2.2 Các công trình nghiên cứu về nội dung xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy
Tiếp tục nghiên cứu về “Xây dựng Quân đội vững mạnh bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [151], Thượng tướng Phạm Văn Trà đã
đề cập nhiều vấn đề quan trọng định hướng cho nhiệm vụ xây dựng Quân độinhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cần phảiđược quán triệt và triển khai tổ chức thực hiện ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnhvực trong toàn quân, trọng tâm hướng về xây dựng ĐVCS vững mạnh toàn diện.Trong đó, tác giả nhấn mạnh:
“Trong xây dựng đơn vị cơ sở, phải đặc biệt quan tâm xây dựng chính quy
và quản lý kỷ luật quân đội Tiếp tục tăng cường duy trì nghiêm nền nếp chính quy,
giữ nghiêm kỷ luật quân đội Trước mắt phải chấn chỉnh bằng được, tiến tới xâydựng thành ý thức tự giác, thói quen việc mang mặc, tác phong quân nhân nơi làmviệc, hội họp và khi ra ngoài doanh trại, thực hiện nghiêm chế độ quản lý conngười, quản lý vũ khí, trang bị, chế độ giáo dục, huấn luyện và chế độ sẵn sàngchiến đấu, làm việc theo chức trách, hiệp đồng theo điều lệnh, mọi vi phạm kỷ luậtquân đội, pháp luật nhà nước phải được xử lý nghiêm, kịp thời, bảo đảm tính giáodục cao” [151, tr 17]
Trang 15Những nội dung nêu lên tuy mới là bước đầu nghiên cứu nhưng đó lànhững tổng kết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình xây dựng lựclượng vũ trang, quân đội cách mạng của Đảng Qua đó, góp phần phát triểnthêm một bước lý luận về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng,chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn cả nước đi lênCNXH, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảmcho Quân đội nhân dân luôn là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy củaĐảng, Nhà nước và nhân dân, có đủ sức mạnh tổng hợp, sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu thắng lợi bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọitình huống Đây là những khối lượng kiến thức mà tác giả có thể tiếp thu cóchọn lọc để tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận của đề tài luận án
Đề tài “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân về mọi mặt trong giai đoạn mới” [169], là đề tài thuộc Chương trình khoa học “Những luận cứ khoa
học của chiến lược quốc phòng - an ninh trong giai đoạn mới”, mã số
KX-09-13, theo Quyết định 246-CT, ngày 08 tháng 8 năm 1991 của Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Mục tiêu của đề tài bao gồmviệc xác định những luận cứ khoa học xây dựng Lực lượng vũ trang nhân dântrong giai đoạn mới; kiến nghị phương hướng và giải pháp tổng quát xâydựng lực lượng vũ trang nhân dân, giải pháp riêng xây dựng Quân đội nhândân và Công an nhân dân Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm bộ đội chủlực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; an ninh nhân dân, cảnh sát nhândân, bộ đội biên phòng và an ninh quần chúng, là những lực lượng nòng cốtcủa nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; trong đó, đối tượng nghiêncứu chủ yếu là Quân đội nhân dân gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương
và Công an nhân dân gồm an ninh nhân dân và cảnh sát nhân dân Phạm vinghiên cứu của đề tài KX-09-13 tập trung nghiên cứu xây dựng Quân độinhân dân và Công an nhân dân về chính trị, tổ chức, cán bộ, chính sách.Nghĩa là tập trung xây dựng con người, các yếu tố chính trị - tinh thần và kinh
Trang 16tế - xã hội của lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng mối quan hệ giữa conngười và con người trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, xây dựngmối quan hệ giữa lực lượng vũ trang nhân dân với toàn xã hội Trên cơ sở đó,
đề xuất những giải pháp xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh vềmọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN trong giai đoạn mới
Đề tài cấp BQP “Xây dựng chính quy Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới” [166], trong đó đã luận giải làm rõ những tư tưởng chủ yếu
của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm của Đảng ta về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy vàthực tiễn xây dựng quân đội chính quy qua các thời kỳ Bước đầu xây dựngđược khái niệm về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy trongthời kỳ mới; chỉ ra được chủ thể, lực lượng, đối tượng, nội dung xây dựngquân đội chính quy trong thời kỳ mới Xác định những vấn đề có tính nguyêntắc và tiêu chí đánh giá xây dựng quân đội chính quy trong thời kỳ mới; đánhgiá thực trạng trên một số vấn đề, rút ra nguyên nhân ưu điểm, khuyết điểmxây dựng quân đội chính quy trong thời gian vừa qua Xác định sự tác độngcủa tình hình thế giới, khu vực, trong nước; đặc điểm xây dựng quân đội vànhững thuận lợi, khó khăn về xây dựng quân đội trong thời kỳ mới; đề xuấtđược những giải pháp cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chínhquy trong thời kỳ mới
Thành công của các đề tài này đã kịp thời cung cấp thêm những cơ sởkhoa học cho Đảng, Nhà nước, ĐUQSTW (nay là QUTW), BQP, Đảng ủyCông an Trung ương, Bộ Công an trong việc hoạch định đường lối quân sựquốc phòng và an ninh, xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, nộidung, biện pháp xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cáchmạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn mới
Trang 171.2.3 Các công trình nghiên cứu về hình thức, biện pháp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam
Nguyễn Trọng Thắng, “Quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 86 của ĐUQSTW về công tác giáo dục - đào tạo” [127]; Phí Minh Hải, “Một số vấn đề về đẩy mạnh chính quy hóa quân đội ta hiện nay” [69]; Phùng Quang Thanh, “Từng bước hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, phát triển” [123]; Trần Phước Tới, “Tình hình chấp hành kỷ luật trong Quân đội năm 2010 và những vấn đề đặt ra” [151]; Phạm Đức Lâm,
“Một số kinh nghiệm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện ở Đoàn B.95 ” [79]; Trần Văn Kình, “Sư đoàn 3 đẩy mạnh xây dựng chính quy, rèn luyện
kỷ luật” [75]; Tô Đình Phùng, “Đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới” [102]; Nguyễn Công Tính,
“Kinh nghiệm xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện ở đoàn 968” [134]; Nguyễn Đức Hải, “Một số giải pháp xây dựng Binh đoàn Tây Nguyên vững mạnh toàn diện” [68]; Nguyễn Tân Cương, “Quân đoàn 1 đẩy mạnh xây dựng chính quy” [27]; Phan Thành Chung, “Một số giải pháp xây dựng chính quy ở Trung tâm Huấn luyện thực hành và huấn luyện kíp tàu” [22]; Nguyễn Văn Thái, “Ngành kỹ thuật Quân khu 1 đẩy mạnh xây dựng chính quy” [121]; Nguyễn Văn Cốc, “Lữ đoàn Công binh 229 tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện” [24]; Nguyễn Văn Khánh, “Tiếp tục đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp trong quân đội” [73]; Nguyễn Quang Luyến, “Sư đoàn Phòng không 365 tập trung xây dựng vững mạnh toàn diện [83]; Lương Đình Lành, “Sư đoàn 9 tập trung xây dựng vững mạnh toàn diện” [78]; Lê Minh Quang, “Sư đoàn 330 gắn công tác quản lý
tư tưởng với giáo dục pháp luật” [103]; Ngô Xuân Lịch, “Đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” [82]; Trương Quang Lệnh, “Giải pháp nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu ở Lữ đoàn Pháo binh 572” [81]; Nguyễn Văn Nhạc, “Sư
Trang 18đoàn Phòng không 375 tập trung huấn luyện làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật” [94].
Đây là các công trình nghiên cứu quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyếtĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI, XII của Đảng vào thực tiễn xâydựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từngbước hiện đại; đồng thời tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm chỉ thị 37-CT/ĐUQSTW, ngày14/4/1993 của Thường vụ ĐUQSTW (nay là QUTW) về
“Đẩy mạnh xây dựng quân đội chính quy trong giai đoạn mới” [51] và Chỉ thị 917/1999/CT-QP, ngày 22/6/1999, của Bộ trưởng BQP về “Xây dựng đơn
vị vững mạnh toàn diện trong toàn quân” [17] Các tác giả tập trung phân tích
làm rõ tính tất yếu khách quan của việc xây dựng sức mạnh tổng hợp củaquân đội và xây dựng đơn vị VMTD trong toàn quân Trong đó nhấn mạnh,cùng với việc xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nângcao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội và xây dựng đơn
vị VMTD, vấn đề xây dựng quân đội chính quy là một đòi hỏi khách quan vàcấp thiết Mục đích của XDCQ là nhằm tạo sự tập trung thống nhất cao về tưtưởng chính trị, ý chí và hành động, đảm bảo cho quân đội có tổ chức chặtchẽ, thống nhất về trang phục, mẫu mực về lễ tiết, tác phong quân nhân,nghiêm minh về kỷ luật, khoa học trong hiệp đồng tác chiến Xây dựng quânđội chính quy có nội dung rất rộng lớn, liên quan tới mọi tổ chức, mọi quânnhân, mọi lĩnh vực tổ chức và hoạt động của quân đội, đơn vị Phải coi trọngtính toàn diện, đồng thời tập trung vào trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá,tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc từng mặt, làm cơ sở để xây dựng đơn
vị VMTD Thời gian tới, cần chú ý nâng cao trình độ chính quy trong huấnluyện, SSCĐ; quản lý bộ đội, quản lý vũ khí, trang bị; thống nhất về trangphục, lễ tiết, tác phong quân nhân; thực hiện chức trách và chế độ quy định.Kết hợp chặt chẽ xây dựng nền nếp chính quy với duy trì nghiêm kỷ luật quânđội, chấp hành pháp luật của Nhà nước Cần phải có nhận thức đúng đắn và
Trang 19đầy đủ về mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại thúc đẩy nhau phát triểncủa các yếu tố cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
2 Các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng quân đội chính quy
2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng quân đội chính quy
“Tóm tắt lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng
vũ trang Liên Xô từ năm 1918 1973” [135]; “Giáo trình công tác đảng công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang Xô viết” [66]; “Giáo trình công tác chính trị của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc” [65]; “Điều
-lệ Công tác chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc” [60];
Dựa trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xâydựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và đặc điểm hoạt động của quânđội các nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, các công trình nghiên cứu
đã đi sâu luận giải làm rõ về vị trí, vai trò, bản chất, chức năng, nhiệm vụ củaquân đội; bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng sức mạnh chiến đấu tổnghợp của quân đội và khẳng định: tiến hành CTĐ, CTCT trong xây dựng quânđội vô sản là một nguyên tắc cơ bản, bất di, bất dịch; đồng thời chỉ rõ vị trí,vai trò, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, biện pháp tiến hành CTĐ,CTCT trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của quân đội, bảo đảm cho việc xâydựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổnghợp, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang, quân đội Hoạt độngCTĐ, CTCT luôn chịu sự tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố như cơ sởchính trị, kinh tế - xã hội, tiềm lực quốc phòng, Các chủ thể, các lực lượngtiến hành CTĐ, CTCT cần nắm vững xu hướng vận động phát triển của tìnhhình, đặc điểm tổ chức và hoạt động của quân đội và yêu cầu nhiệm vụ xâydựng quân đội để không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng, hiệu quảCTĐ, CTCT trong quân đội Tuy nhiên, vấn đề tiến hành CTĐ, CTCT trongXDCQ ở đơn vị chủ lực cơ động, làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ chưa có
Trang 20công trình nào luận bàn một cách trực tiếp, cụ thể, có hệ thống với tính chất làmột công trình khoa học chuyên biệt.
2.2 Các công trình nghiên cứu về công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy
Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chủ thể, lực lượng, đối tượng, nội dung,hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ, đã có một số sách, giáotrình, tài liệu, bài tham luận hội thảo, các đề tài nghiên cứu cơ bản, các đề tàiluận án và các bài báo khoa học đã đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau:
“Điều lệ công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam” [56], khẳng định rằng: “Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu
và trưởng thành của Quân đội, CTĐ, CTCT đã góp phần quan trọng giữ vững
và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; xây dựng quân độivững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị, lựclượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước XHCN và của
nhân dân [56, tr 6]; Giáo trình Lịch sử CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân
Việt Nam [137], quán triệt và vận dụng đúng đắn những nguyên tắc của chủnghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, đểlãnh đạo chặt chẽ quân đội về mọi mặt, trong mọi tình huống, ngay từ khi mớithành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đãquan tâm đến chế độ CTĐ, CTCT trong quân đội; “CTĐ, CTCT trong Quânđội nhân dân Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời những hoạt độnglãnh đạo của Đảng đối với quân đội; là một phương thức quan trọng để thựchiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, để xây dựng quân đội vữngmạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; là cơ sở chính trị tinh thần cho quânđội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao Dưới sự lãnh đạo củaĐảng, cùng với sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội, CTĐ, CTCTcũng được hình thành và ngày càng phát triển cả về lý luận, tổ chức và hoạtđộng thực tiễn, góp phần to lớn vào việc giữ vững và phát huy bản chất giai
Trang 21cấp công nhân và truyền thống cách mạng vẻ vang của quân đội, xây dựngquân đội vững mạnh về mọi mặt, đoàn kết nội bộ, gắn bó mật thiết với nhândân các dân tộc trên đất nước Việt Nam, đoàn kết với bạn bè quốc tế, làm choquân đội không ngừng trưởng thành và chiến thắng” [137, tr 4].
“Giáo trình CTĐ, CTCT (Dùng cho đào tạo cán bộ cấp chiến thuật,
chiến dịch)” [141], đề cập hệ thống các kiến thức cơ bản về CTĐ, CTCT theoquan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta;gắn liền với đặc điểm hoạt động của ĐVCS, phổ biến những kinh nghiệmthực tiễn và hướng dẫn tay nghề CTĐ, CTCT phù hợp với mục tiêu, yêu cầuđào tạo của các học viện, nhà trường quân đội
“Giáo trình CTĐ, CTCT (Dùng cho đào tạo cán bộ cấp phân đội)”
[142], khẳng định rằng, CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ xây dựng chính quy ởđại đội có vai trò rất quan trọng, nhằm góp phần tạo nên sự thống nhất ý chí
và hành động trong thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng đơn vị chính quy,VMTD Đồng thời, xác định các yêu cầu và nội dung, hình thức, biện phápCTĐ, CTCT trong nhiệm vụ XDCQ ở đại đội
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên cho thấy: CTĐ, CTCT tronglực lượng vũ trang, quân đội và trong các nhiệm vụ của đơn vị quân đội có vị trí,vai trò rất quan trọng, là linh hồn, mạch sống của Quân đội ta Vì vậy, tiến hànhCTĐ, CTCT ở từng cơ quan, ĐVCS, trong tất cả các nhiệm vụ, trong đó cónhiệm vụ xây dựng quân đội chính quy, đây vừa là vấn đề có tính nguyên tắc,vừa là một hoạt động cơ bản trong xây dựng và hoạt động của mỗi đơn vị vàtoàn quân Các công trình trên, một mặt đang đề cập chung cho các đối tượng;mặt khác, do mục đích, mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên cách tiếp cận và đivào nghiên cứu từng đối tượng cụ thể, đa dạng và phong phú Song, chưa cócông trình nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống, cụ thể về vị trí, vai trò, nộidung, hình thức, biện pháp CTĐ, CTCT trong nhiệm vụ XDCQ ở ĐVCS cácBĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
Trang 22Ngô Văn Quỳnh,“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kỷ luật vào giáo dục, rèn luyện kỷ luật bộ đội” [114]; Nguyễn Văn Nghĩa, “Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng thế trận phòng không bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay” [97; Nguyễn Như Hội, “Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay” [72]; Trần Đại Nghĩa, “Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quần đảo Trường Sa của các đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân hiện nay” [98]; Lê Văn Bình,
“Phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, xây dựng tinh thần đoàn kết trong quân đội trước yêu cầu mới” [5]; Trịnh Minh Sơn, “Tiếp tục giáo dục pháp luật và kỷ luật quân đội cho quân nhân theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [116]; Phạm Hồng Thái, “Kết quả và một số kinh nghiệm hoạt động CTĐ, CTCT ở Lữ đoàn Phòng không 241, Quân đoàn 1” [122]; Nguyễn Mạnh Thủy, “Chủ động khắc phục tình trạng vi phạm kỷ luật nghiêm trọng của
Hạ sĩ quan, Binh sĩ hiện nay” [130]; Nguyễn Văn Biên, “Công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn lật đổ của bộ đội địa phương các tỉnh trên địa bàn Tây Bắc” [4] Lê Văn Nhựt, “Một
số kết quả hoạt động CTĐ, CTCT ở Sư đoàn 330, Quân khu 9” [96]; Nguyễn Xuân Sơn, “Kết quả và kinh nghiệm hoạt động CTĐ, CTCT ở Sư đoàn 9, Quân đoàn 4” [115]; Nguyễn Văn Thành, “Hoạt động CTĐ, CTCT trong tổ chức cơ động tác chiến của quân đoàn trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc” [126]
Trong các công trình khoa học trên đây, mặc dù mỗi tác giả có cáchtiếp cận khác nhau, đều khẳng định XDCQ và tăng cường kỷ luật là một đòihỏi tất yếu khách quan, được tiến hành đồng bộ bằng hệ thống các giải pháp,trong đó CTĐ, CTCT là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm quán triệt và giữvững định hướng chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng,năng lực chỉ đạo, triển khai, hướng dẫn tổ chức của đội ngũ cán bộ chủ trì, chỉhuy các cấp và cơ quan chính trị ở ĐVCS trong toàn quân; là một nội dung
Trang 23cơ bản, thường xuyên trong hoạt động của cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chínhtrị các cấp, là trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng tham gia và của mọicán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân Các tácgiả của nhóm công trình trên đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễnCTĐ, CTCT trong huấn luyện, SSCĐ, XDCQ, rèn luyện kỷ luật; đánh giáthực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm; đề xuất giảipháp tăng cường, nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong XDCQ và rènluyện kỷ luật ở các cơ quan, đơn vị, nhà trường quân đội hiện nay Đây làcác tài liệu có giá trị về mặt lý luận mà tác giả có thể kế thừa và tiếp thu cóchọn lọc trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu.
2.3 Các công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy
“Nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới” [139]; “Dân chủ và kỷ luật” [160].
Các công trình trên đã tập trung luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn,đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng và bước đầu rút ra một
số kinh nghiệm thực tiễn của từng đối tượng nghiên cứu Đồng thời, đưa ranhững nhận định về những yếu tố tác động, xác định yêu cầu và một số giảipháp nâng cao hiệu lực CTĐ, CTCT, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, đápứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong giai đoạn mới
Thành công của các công trình trên đã cung cấp thêm những luận cứkhoa học cho việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quânđội; giúp cho cấp ủy, chỉ huy, các cơ quan, đơn vị các cấp, nhà trường trongtoàn quân nghiên cứu, vận dụng vào quá trình xác định những chủ trương,biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT trongcác nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, xây dựng các cơ quan,đơn vị trong toàn quân VMTD, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn
Trang 24mới Song, các công trình này chưa đi vào luận giải một cách có hệ thống vềvấn đề CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL.
Ngô Văn Quỳnh, “Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực hiện nay” [113]; Phạm Thanh Lân, “Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong điệp báo quân sự hiện nay” [80]; Nguyễn Phương Đông, “Xây dựng kỹ năng công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội ở các đơn vị binh chủng hợp thành làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” [63]; Vũ Văn Chuyên, “Nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới ở đơn vị
cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” [23]; Hà Sĩ Chiến,
“Nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong quản lý, bảo quản, sử dụng trang bị kỹ thuật ở các trung, lữ đoàn thông tin Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” [21]; Mai Quang Phấn, “Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách đối với quân đội và hậu phương quân đội” [99]; Phạm Văn Hào, “Yêu cầu nâng cao chất lượng CTĐ, CTCT trong huấn luyện chiến đấu của các lữ đoàn tàu mặt nước, Quân chủng Hải quân” [70]; Nguyễn Thành Cung, “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong quân đội” [26]; Nguyễn Quang Phát, “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới” [100]; Nguyễn Đức Độ, “Nâng cao năng lực thực thi pháp luật của Cảnh sát biển Việt Nam hiện nay” [62].
Trên đây là nhóm các công trình khoa học tập trung nghiên cứu vềCTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ chủ yếu của Quân đội nhân dân Việt Nam.Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các tác giả đãtiếp cận nghiên cứu chuyên sâu về CTĐ, CTCT trong một số nhiệm vụ chủyếu; luận giải làm rõ và khẳng định bản chất CTĐ, CTCT là hoạt động lãnhđạo của Đảng đối với quân đội, có vị trí, vai trò quan trọng là “linh hồn,
Trang 25mạch sống” của quân đội, là nhân tố giữ vững định hướng chính trị, là cơ
sở bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động của mọi quân nhân và mọi
tổ chức của quân đội Đồng thời, các tác giả đã xác định rõ mục tiêu, đốitượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của từng đề tài Đi sâu nghiên cứu,phân tích làm rõ những luận cứ khoa học cả trên phương diện lý luận vàthực tiễn; khảo sát và đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân của nhữngkhuyết điểm và hạn chế, bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm thựctiễn trên từng đối tượng nghiên cứu Dự báo những nhân tố tác động đếnhoạt động CTĐ, CTCT trong một số nhiệm vụ cụ thể của quân đội, ĐVCStrong thời gian tới; trên cơ sở đó xác định yêu cầu và đề xuất một số giảipháp nhằm tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT tronghuấn luyện, SSCĐ, rèn luyện kỷ luật, quản lý, bảo quản, sử dụng vũ khítrang bị kỹ thuật quân sự; xây dựng khu vực phòng thủ; phòng chống bạoloạn lật đổ…
Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây đã cung cấp bổsung những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước, QUTW, BQP trong việcxác định phương hướng, nội dung, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân ViệtNam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; các cấp ủy, chỉ huycác cấp trong toàn quân nghiên cứu, vận dụng trong xây dựng cơ quan, đơn vịVMTD, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội và nhiệm vụ bảo vệ Tổquốc trong giai đoạn hiện nay Song, chưa có công trình nào nghiên cứuchuyên biệt về CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Do đó, nhữngthành công của các công trình đã nghiên cứu vừa là cơ sở khoa học để tác giảxác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài luận án của mình không bị trùnglắp với các đề tài trước đó, vừa là những đơn vị kiến thức mà tác giả có thể kếthừa có chọn lọc phục vụ cho việc nghiên cứu, hoàn thiện đề tài luận án
3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Trang 263.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến đề tài
Dưới nhiều góc độ khác nhau, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đãlàm rõ vai trò, tầm quan trọng và tính tất yếu khách quan về xây dựng quân độichính quy, hiện đại Đặc biệt nhấn mạnh, trong xu thế toàn cầu hóa, vấn đề xâydựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội đáp ứng yêu cầu chiến tranhhiện đại, trong đó XDCQ, hiện đại càng trở thành vấn đề cấp thiết đối với mọiquân đội Đồng thời, chỉ rõ quá trình xây dựng quân đội chính quy, hiện đại phụthuộc vào tiềm lực kinh tế, tiềm lực chính trị, văn hóa xã hội, tiềm lực khoa học
và công nghệ, tiềm lực quốc phòng, an ninh… của mỗi quốc gia
Dựa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vềquân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, kết quả các công trình nghiên cứu
ở các nước Liên xô (trước đây) và Trung Quốc đều khẳng định: tiếnhành CTĐ, CTCT trong lực lượng vũ trang, quân đội là một nguyêntắc bất di, bất dịch, nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn thốngnhất ý chí và hành động, là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy củaĐảng, Nhà nước và nhân dân, luôn có đủ sức mạnh chiến đấu tổng hợp
và khả năng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCNtrong mọi tình huống Trong điều kiện quân đội càng tiến lên chínhquy, hiện đại đòi hỏi CTĐ, CTCT phải không ngừng cải tiến, đổi mới đểđáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra
Các công trình nghiên cứu ở trong nước đã phân tích làm rõ một số cơ
sở lý luận và thực tiễn về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng,chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Các tác giả thống nhất khẳng định,CTĐ, CTCT có vị trí, vai trò rất quan trọng, vừa là bản chất, truyền thốngtốt đẹp, vừa là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội ta Tiến hành CTĐ,CTCT trong các nhiệm vụ của quân đội nói chung và nhiệm vụ xây dựngquân đội chính quy nói riêng vừa là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là trách
Trang 27nhiệm chính trị của các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị, các tổchức quần chúng.
Các công trình đã tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về XDCQ
và CTĐ, CTCT trong xây dựng quân đội chính quy Khảo sát, đánh giá thựctrạng, chỉ rõ nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm và khái quát một sốkinh nghiệm thực tiễn, đồng thời đề xuất một số nội dung, biện pháp nâng caochất lượng, hiệu quả XDCQ và tiến hành CTĐ, CTCT trong XDCQ ở một số
cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân
Tuy nhiên, do giới hạn mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiêncứu nên chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và trùnglặp với vấn đề: “CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhândân Việt Nam”, mà Nghiên cứu sinh đã lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ xâydựng Đảng và Chính quyền Nhà nước
3.1 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Từ kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan cho thấy đề tài
luận án “Công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng chính quy ở đơn vị
cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay” là vấn đề mới mang tính cấp thiết đặt ra để tác giả tiếp tục nghiên cứu,
giải quyết, thể hiện ở những vấn đề cụ thể sau:
Một là, nghiên cứu toàn diện những vấn đề cơ bản về chính quy và
XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
Hai là, khái quát và luận giải nội hàm quan niệm CTĐ, CTCT trong
XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam; xác định vai trò,đặc điểm, những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá CTĐ,CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
Ba là, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn, đánh giá đúng thực
trạng, nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm và rút ramột số kinh nghiệm CTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quânđội nhân dân Việt Nam
Trang 28Bốn là, dự báo những yếu tố tác động đến CTĐ, CTCT trong XDCQ ở
ĐVCS các BĐCL; xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cườngCTĐ, CTCT trong XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Namgiai đoạn hiện nay
Trang 29Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ TRONG XÂY DỰNG CHÍNH QUY Ở ĐƠN VỊ CƠ SỞ CÁC BINH ĐOÀN CHỦ LỰC
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 1.1 Đơn vị cơ sở và xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.1 Đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
* Các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, các BĐCL là tên gọi của các quânđoàn chủ lực binh chủng hợp thành của lục quân, trực thuộc BQP Hiện nay,trong tổ chức biên chế của Quân đội nhân dân Việt Nam có các BĐCL, gồm:Binh đoàn Quyết Thắng, Binh đoàn Hương Giang, Binh đoàn Tây Nguyên vàBinh đoàn Cửu Long
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy, công
cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân, chức năng của Quân độinhân dân Việt Nam do Đảng, Nhà nước xác định và trao cho là đội quân chiếnđấu, đội quân lao động sản xuất và đội quân công tác Các BĐCL là thành phần
cơ bản trong Quân đội nhân dân Việt Nam, là lực lượng chủ lực cơ động cấpchiến dịch, chiến lược trực thuộc BQP, có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu làthường trực SSCĐ và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống, góp phần bảo vệvững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệĐảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN
Nhiệm vụ chủ yếu của các binh đoàn chủ lực hiện nay là quản lý, giáo dục,rèn luyện bộ đội; tổ chức huấn luyện quân sự, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷluật; quản lý, bảo quản, sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; trực ban SSCĐ,phòng chống thiên tai, thảm họa môi trường, cứu hộ, cứu nạn; giúp đỡ nhân dânxóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, ổn định đời sống, giữ vững ổn định chính
Trang 30trị, môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
Các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam đóng quân trên các địa bàn có giátrị chiến lược về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước và thế trậnchiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc; có thể độc lập tác chiến chiến dịch hoặcđảm nhiệm một hướng của chiến dịch trong đội hình chiến đấu hợp đồng quânbinh chủng của cấp trên
Cơ cấu tổ chức biên chế cơ bản của BĐCL hiện nay gồm có: Bộ tư lệnhbinh đoàn; các sư đoàn bộ binh (trong đó có thể có sư đoàn bộ binh cơ giới);các lữ đoàn binh chủng (gồm: lữ đoàn Tăng - Thiết giáp; lữ đoàn Pháo Phòngkhông; lữ đoàn Pháo binh; lữ đoàn Công binh), trường quân sự và các cơquan (Bộ Tham mưu, cục Chính trị, cục Hậu cần, cục Kỹ thuật) trực thuộc bộ
tư lệnh binh đoàn Các sư đoàn bộ binh trực thuộc bộ tư lệnh binh đoànthường tổ chức biên chế ban chỉ huy sư đoàn, các phòng chức năng, các trungđoàn bộ binh, trung đoàn bộ binh cơ giới, các tiểu đoàn binh chủng và tươngđương Ở cơ quan Bộ Tham mưu có các tiểu đoàn thông tin, trinh sát, hóahọc, cảnh vệ và tương đương; cục Hậu cần có tiểu đoàn vận tải, các kho hậucần và tương đương; cục Kỹ thuật có các tiểu đoàn sửa chữa kỹ thuật, kho kỹthuật và tương đương; … Hệ thống chỉ huy được tổ chức từ cấp binh đoànđến cấp tiểu đội và tương đương Cán bộ chính trị, gồm có: từ cấp trung đoàn
và tương đương đến cấp binh đoàn có chính ủy, từ cấp đại đội và tươngđương đến cấp tiểu đoàn và tương đương có chính trị viên, ở mỗi cấp đều có
bố trí cấp phó và một bộ phận cán bộ chính trị công tác ở các cơ quan chínhtrị và cán bộ chính trị làm công tác giảng dạy ở trường quân sự Hệ thống tổchức đảng ở các BĐCL, gồm có: đảng bộ binh đoàn là tổ chức đảng trực thuộcQUTW, đảng bộ cấp sư đoàn và tương đương là tổ chức đảng cấp trên trực tiếp
cơ sở, các tổ chức cơ sở đảng ở các lữ đoàn và tương đương trực thuộc đảng bộbinh đoàn; các tổ chức cơ sở đảng ở trung đoàn và tương đương trực thuộc đảng
bộ sư đoàn Tổ chức quần chúng ở các binh đoàn có Hội Phụ nữ được tổ chức ở
Trang 31các cơ quan, trường quân sự trực thuộc bộ tư lệnh binh đoàn; Đoàn cơ sở được
tổ chức ở các ĐVCS
Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các binh đoàn chủlực luôn xứng đáng là những “quả đấm thép”, lực lượng trực tiếp quyết địnhthắng lợi trên chiến trường, là lực lượng hết sức quan trọng trong xây dựng thếtrận phòng thủ chiến lược và thế trận chiến tranh nhân nhân bảo vệ Tổ quốc,đồng thời là thành phần cơ bản, nòng cốt trực tiếp xây dựng Quân đội nhân dânViệt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
* Đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
Theo quy định của BTTM, ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân ViệtNam gồm có: các lữ đoàn (lữ đoàn Pháo binh, lữ đoàn Pháo Phòng không, lữđoàn Công binh, lữ đoàn Tăng - Thiết giáp), các trung đoàn bộ binh và trungđoàn bộ binh cơ giới và tương đương
Đơn vị cơ sở các BĐCL là lực lượng cơ bản, chủ yếu, nền tảng hợpthành sức mạnh chiến đấu của sư đoàn và binh đoàn; là đơn vị chiến đấu cấpchiến thuật, có thể hoạt động độc lập hoặc hiệp đồng tác chiến trong đội hìnhcủa cấp trên hoặc có thể là lực lượng tăng cường, phối thuộc cùng đơn vị bạntheo yêu cầu nhiệm vụ
Đơn vị cơ sở các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam là nơi tổ chứcthực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước, nhiệm vụ của quân đội và cấp trên giao; là nơi trực tiếpquản lý, giáo dục, rèn luyện, nuôi dưỡng bộ đội; tổ chức huấn luyện nâng caotrình độ kỹ, chiến thuật, duy trì các trạng thái SSCĐ và chiến đấu thắng lợitrong mọi tình huống; trực tiếp tổ chức xây dựng nền nếp chính quy, duy trì chấphành nghiêm kỷ luật quân đội; quản lý, khai thác, sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất,
vũ khí, khí tài, phương tiện, trang bị kỹ thuật quân sự được giao; tổ chức tăng giasản xuất cải thiện đời sống; tuyên truyền vận động nhân dân và trực tiếp thamgia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, phát triển kinh tế - vănhóa, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xóa đói giảm nghèo,
Trang 32phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên địa bàn đóng quân và sẵn sàng cơđộng làm nhiệm vụ khi có lệnh của cấp trên
Về tổ chức, biên chế lực lượng của ĐVCS các BĐCL Quân đội nhândân Việt Nam: Ở các lữ đoàn binh chủng, gồm có: ban chỉ huy lữ đoàn, phòngtham mưu, phòng chính trị, phòng hậu cần, phòng kỹ thuật, các tiểu đoàn và đạiđội trực thuộc lữ đoàn Ở các trung đoàn bộ binh và bộ binh cơ giới, gồm có: banchỉ huy trung đoàn, ban tham mưu, ban chính trị, ban hậu cần, ban kỹ thuật, cáctiểu đoàn và đại đội trực thuộc trung đoàn Hệ thống chỉ huy được tổ chức từ cấplữ, trung đoàn đến cấp tiểu đội và tương đương Hệ thống tổ chức đảng ở ĐVCS
đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ ở các BĐCL là tổ chức cơ sở đảng 3cấp gồm có: đảng bộ cơ sở trung, lữ đoàn và tương đương; đảng bộ bộ phận tiểuđoàn và tương đương; chi bộ đại đội và tương đương Tổ chức quần chúng có tổchức đoàn cơ sở 3 cấp gồm: đoàn cơ sở trung, lữ đoàn và tương đương; liên chiđoàn ở tiểu đoàn và tương đương; chi đoàn ở đại đội và tương đương Hội đồngquân nhân là tổ chức đại diện quyền làm chủ của cán bộ, chiến sĩ được tổ chức ởcấp đại đội và tương đương
* Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực
Chức năng của đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực:
Đơn vị cơ sở các BĐCL là thành phần cơ bản hợp thành sức mạnh chiếnđấu các BĐCLvà của Quân đội nhân dân Việt Nam Theo đó, ĐVCS các BĐCLphải thực hiện đầy đủ các chức năng của Quân đội nhân dân Việt Nam và củaBĐCL, trong đó chức năng chủ yếu là tập trung huấn luyện nâng cao chất lượngtổng hợp, trình độ và khả năng SSCĐ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trongmọi tình huống
Nhiệm vụ của đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực:
Phụ thuộc từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể, từng đơn vị cơ sở có thể đượccấp có thẩm quyền giao cho đảm trách các yêu cầu nhiệm vụ cụ thể khác nhau,song các đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực nói chung đều có các nhiệm vụ chủyếu sau:
Trang 33Một là, nghiên cứu, quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của QUTW,BQP, đảng ủy, bộ tư lệnh các BĐCL
Hai là, quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ; tổ chức huấn luyện
quân sự, huấn luyện chiến đấu; duy trì, thực hiện các chế độ trực ban SSCĐ; sẵnsàng cơ động thực hiện các nhiệm vụ khi được bộ tư lệnh binh đoàn giao cho
Ba là, xây dựng đơn vị cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại;
duy trì đơn vị chấp hành nghiêm các điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quânđội, của binh đoàn; quản lý, bảo quản, sử dụng an toàn, tiết kiệm vũ khí, khí tài, trangthiết bị kĩ thuật quân sự; chăm lo bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần, sức khỏe cho
bộ đội, thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ; tiến hành CTĐ,CTCT; xây dựng đảng bộ cơ sở TSVM; xây dựng đơn vị cơ sở VMTD; xây dựngcác tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân ở ĐVCS vững mạnh
Bốn là, tổ chức tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống của cán bộ, chiến sĩ;
tham gia phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng cơ sởchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương trên địa bàn đóng quân và thựchiện nhiệm vụ Thực hiện nhiệm vụ phòng chống “diễn biến hòa bình”, bạoloạn lật đổ
Năm là, tiến hành công tác dân vận; phòng chống thiên tai, thảm họa môi
trường, cứu hộ, cứu nạn; giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, phòng chống dịchbệnh, phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống; tăng cường, củng cố quan hệmật thiết với nhân dân; tham gia thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có côngvới cách mạng, thực hiện chính sách hậu phương quân đội
1.1.2 Chính quy và xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
* Quan niệm chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
Chính quy là thuật ngữ có rất sớm, tồn tại trong lịch sử phát triển củahoạt động xã hội, là thuộc tính của tổ chức lao động khoa học; là nhân tố quan
Trang 34trọng bảo đảm cho mọi hoạt động của con người, của tổ chức xã hội đạt đượcchất lượng, hiệu quả cao, thể hiện tính mục đích của các chủ thể hoạt động
Hoạt động quân sự là một loại hình tổ chức lao động xã hội đặc thù,liên quan nhiều đến hoạt động xã hội và các mối quan hệ khác nhau Trong
đó, mối quan hệ đặc trưng cơ bản có ý nghĩa chi phối các mối quan hệ khác
đó là mối quan hệ giữa con người và vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự Conngười với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo, đồng thời chịu sự tác động,chi phối của rất nhiều yếu tố khác Vì vậy, để hoạt động quân sự đạt đượcchất lượng, hiệu quả và mục đích đề ra đòi hỏi mọi hoạt động của cá nhân vàcác tổ chức quân sự phải có tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh, có tính đồng
bộ và tính thống nhất cao, đây là vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết củamọi cá nhân, tổ chức trong hoạt động quân sự
Từ khi quân đội xuất hiện trong lịch sử nhân loại, sự tồn tại và pháttriển của quân đội luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của giai cấp và nhànước đã sinh ra nó Để quân đội trở thành công cụ bạo lực sắc bén, trungthành và bảo vệ lợi ích của mình, tất yếu giai cấp và nhà nước phải thườngxuyên quan tâm xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp của quân đội Trong
đó, chính quy hóa và hiện đại hóa là một trong những yếu tố cơ bản tạo thànhchất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội Quân đội càng tiếnlên hiện đại thì yêu cầu tập trung, thống nhất càng cao, vấn đề chính quy hóacàng phải được đẩy mạnh Theo đó, quan niệm về chính quy của quân độicũng được ra đời và luôn có sự phát triển, gắn liền với sự phát triển của giaicấp, nhà nước và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc
Quân đội vô sản ra đời trong đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo củachính đảng tiền phong của giai cấp công nhân Để giành chính quyền và bảo vệvững chắc những thành quả cách mạng của giai cấp vô sản thì bất luận quân đội
vô sản nào cũng cần được xây dựng thành một đội quân hùng mạnh, có tínhchính quy, đồng bộ và tính thống nhất cao về ý chí và hành động; chặt chẽ về tổchức, biên chế, có phương thức hoạt động khoa học, kỷ luật tự giác, nghiêm
Trang 35minh, có trang bị vũ khí, phương tiện phù hợp V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Chiến tranh
đã dạy chúng ta nhiều… dạy rằng kẻ nào có kỹ thuật cao hơn, có trình độ tổchức và kỷ luật cao hơn, có những máy móc tốt hơn thì kẻ đó sẽ thắng…” [162,
tr 243] và “Phải chấp hành tất cả những luật lệ về Hồng quân, tất cả nhữngmệnh lệnh một cách hoàn toàn tự giác chứ không phải vì sợ; phải dùng đủ mọicách để giữ vững kỷ luật trong Hồng quân… Phải nghiêm ngặt đề phòng tưtưởng du kích, tính vô kỷ luật của một số đơn vị, hành động không phục tùngtrung ương và tất cả những cái đó đều đưa đến tai họa” [163, tr 625, 626]
Theo Từ điển tiếng Việt - Nxb Đà Nẵng (1986), Chính quy là: 1 Cóquy củ và thống nhất về mặt tổ chức, biên chế, trang bị, huấn luyện, tác chiến,sinh hoạt của quân đội; Quân đội chính quy 2 Có quy chế chính thức; Đượcđào tạo chính quy [161, tr 157]
Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam:
“Quân đội chính quy là quân đội được xây dựng theo những tiêuchuẩn thống nhất được pháp luật nhà nước quy định về tổ chức, biênchế, trang bị; hệ thống chỉ huy, điều hành, chế độ huấn luyện, giáo dục,các chế độ công tác và sinh hoạt trên cơ sở xây dựng vững chắc tính tổchức, tính kỷ luật, tính tập trung, tính khoa học Xây dựng quân độichính quy trở thành xu hướng tất yếu của mọi quân đội, đặc biệt là đốivới những quân đội ra đời và trưởng thành từ chiến tranh du kích, nhằmnâng cao sức mạnh chiến đấu đáp ứng với yêu cầu của chiến tranhchính quy Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng theo hướngcách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” [148, tr 830].Quan niệm về chính quy và quân đội chính quy, tuy được tiếp cận,luận giải dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều có điểm chung là phản ánhtrình độ thống nhất về quy mô, tổ chức, tính kỷ luật, phương thức hoạt động
và trang bị, bảo đảm của quân đội dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước; điềulệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội, nhằm đưa toàn bộ hoạt động củaquân đội vào nền nếp thống nhất, nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật, tính tập
Trang 36trung, tính khoa học, đạt đến hành động kiên quyết và nhất trí, đến sự phốihợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các tổ chức, các lực lượng của quân đội trong mọilúc, mọi nơi, mọi điều kiện, hoàn cảnh Chính quy gắn liền với việc ban hànhđiều lệnh, điều lệ, các chế độ, quy định và việc chấp hành điều lệnh, điều lệ,các chế độ, quy định đó
Chính quy trong Quân đội nhân dân Việt Nam là sự thống nhất về tổchức biên chế, cách làm việc khoa học, mọi quân nhân có sự thống nhất cao vềnhận thức tư tưởng, chính trị và hành động, có bản lĩnh chính trị vững vàng, ýchí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ đượcgiao, có tinh thần kỷ luật tự giác, nghiêm minh; về tác chiến, đánh nhỏ, đánh lớn,đánh vận động, đánh tập trung có nhiều binh chủng phối hợp, có chỉ huy thốngnhất với những phương châm chiến thuật nhất định; về trang bị và bảo đảmhậu cần, kỹ thuật thống nhất, đồng bộ, đầy đủ với những vũ khí và phươngtiện phù hợp và hiện đại; thống nhất về trang phục, lễ tiết tác phong quânnhân, nơi ăn ở, trang bị hiện đại, đồng thời phải có tính tổ chức, tính kỷ luật,tính tập trung thống nhất, tính khoa học trong mọi hoạt động của cán bộ,chiến sĩ và các tổ chức trong toàn quân trên cơ sở pháp luật của Nhà nước,điều lệnh, điều lệ quân đội và thực hiện một cách đầy đủ, triệt để và nghiêmtúc Vì vậy, có thể khẳng định, chính quy hóa có ý nghĩa rất quan trọng, làđiều kiện, cơ sở nền tảng để xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội vàphát huy sức mạnh tổng hợp trong các hoạt động quân sự, đảm bảo cho quânđội thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và các nhiệm
vụ khác được giao
Theo cách tiếp cận trên, có thể quan niệm: Chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam là sự chuẩn mực, tập trung, thống nhất về tư tưởng, chính trị, tổ chức, biên chế, kỷ luật, nền nếp, lễ tiết, tác phong công tác, sinh hoạt và hoạt động của các tổ chức, các lực lượng và mọi quân nhân, bảo đảm tuân theo đúng điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của quân đội và pháp luật của Nhà nước
Trang 37Nội dung chính quy ở ĐVCS các BĐCL, bao gồm:
Hệ thống các chuẩn mực được thể hiện trong các văn bản pháp quy, quản
lý của Nhà nước đối với quân đội; hệ thống điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định củaquân đội, quy chế, chế độ quy định hoạt động của đơn vị đã được ban hành, tạo cơ
sở, hành lang pháp lý trong việc quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiệnnhiệm vụ và duy trì nền nếp hoạt động ở ĐVCS các BĐCL
Thống nhất về tư tưởng, chính trị: cán bộ, chiến sĩ luôn nêu cao tinh
thần yêu nước, lòng tự hào và tinh thần tự tôn dân tộc; có bản lĩnh chính trịvững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tương Hồ Chí Minh, mục tiêu
lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, trung thành tuyệt đối với Đảng,Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN; nhận thức rõ về nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc XHCN, nhiệm vụ của quân đội, nhiệm vụ của đơn vị vàyêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội trong thời kỳ mới; nhận thức rõ về đốitượng, đối tác của cách mạng và đối tượng tác chiến của quân đội Nêu caotinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lựcthù địch; có ý chí quyết tâm cao, tích cực, chủ động khắc phục khó khăn, giankhổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao
Mọi tổ chức và mọi quân nhân có nhận thức đúng đắn và tự giác chấphành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ quyđịnh của quân đội và của đơn vị; mệnh lệnh, chỉ thị của người chỉ huy; tự giácrèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của người quân nhân cáchmạnh; phát huy truyền thống, cống hiến tài năng xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”;đoàn kết, gắn bó, thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội, đoàn kết quân dân.Tích cực tuyên truyền và vận động nhân dân chấp hành tốt mọi đường lối, chủtrương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng cơ
sở địa phương vững mạnh về mọi mặt
Thống nhất về tổ chức, biên chế, trang bị: các ĐVCS thường xuyên
được kiện toàn tổ chức, biên chế lực lượng bao gồm con người và vũ khí,trang bị, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật quân sự đảm bảo đúng, đủ cả
về số lượng và chất lượng, thống nhất và đồng bộ ở tất cả các cơ quan, đơn
Trang 38vị các cấp theo mẫu biên chế; thực hiện nghiêm và chặt chẽ có nền nếp chế
độ quản lý con người và quản lý, sử dụng, bảo quản vũ khí, trang bị, cơ sởvật chất, phương tiện kỹ thuật quân sự ở tất cả các cấp như: chế độ đăng ký,thống kê, chế độ báo cáo và liên thẩm quân số, vũ khí trang bị hàng tháng,hàng quý theo đúng quy định của BQP
Thống nhất về lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành đơn vị: các cấp
ủy, tổ chức đảng, ban chỉ huy, cán bộ chủ trì, các cơ quan, đơn vị các cấp ởĐVCS quán triệt và chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ và hệthống các nguyên tắc trong cơ chế tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với quânđội, hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quy chế quy định và có sựphối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các mặt công tác và mọilĩnh vực hoạt động Mọi hoạt động của ĐVCS các BĐCL đều dưới sự lãnhđạo trực tiếp, toàn diện của hệ thống các cấp ủy, tổ chức cơ sở đảng, sự quản
lý, điều hành tập trung, thống nhất của hệ thống chỉ huy các cấp
Thống nhất thực hiện các nền nếp, chế độ quy định theo điều lệnh quân đội:
Thực hiện thống nhất chế độ công tác tham mưu, hành chính quân sự, CTĐ,CTCT, công tác hậu cần, công tác kỹ thuật Thực hiện thống nhất các chế độ huấnluyện chiến đấu, SSCĐ, sản xuất, công tác Mọi quân nhân thực hiện đúng cương vị,chức trách được giao; duy trì và chấp hành thống nhất các quy định về lễ tiết, tácphong quân nhân và các chế độ sinh hoạt, học tập, công tác trong ngày và trongtuần Thực hiện thống nhất doanh trại “chính quy, xanh, sạch, đẹp”, thống nhất kiểuloại, màu sắc, thời gian sử dụng trang phục, quân dụng Duy trì thống nhất, chặt chẽ
có nền nếp các chế độ, quy tắc trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, công tác, sinhhoạt và tham gia giao thông; bảo đảm đơn vị an toàn tuyệt đối về mọi mặt, có đờisống vật chất, tinh thần và môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, thống nhất
* Quan niệm xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam
Xây dựng quân đội chính quy phải có đầy đủ các thuộc tính tổ chức, tính kỷluật, tính khoa học, tính tập trung thống nhất cao trong nhận thức và hành động.Đây là những thuộc tính căn bản mà mọi quân đội chính quy đều hướng đến
Trang 39Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, muốn bảo vệ vững chắcthành quả cách mạng của giai cấp vô sản thì quân đội cách mạng phải đượcxây dựng thành một tổ chức chặt chẽ, hùng mạnh, có phương thức tác chiếnlinh hoạt, khoa học, có kỷ luật tự giác, nghiêm minh và được trang bị bảo đảmphù hợp với điều kiện của đất nước.
Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhândân mà chiến đấu; là công cụ bạo lực sắc bén, trung thành, tin cậy của Đảng,của Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng,
sự quản lý, điều hành của Nhà nước Mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng,chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại luôn là chủ trương, đường lối nhấtquán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo xây dựng quân đội của Đảng ta.Theo đó, XDCQ ở ĐVCS các BĐCL luôn là một nhiệm vụ cơ bản, thườngxuyên, liên tục và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựngQuân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay
Theo cách tiếp cận trên:
Xây dựng chính quy ở đơn vị cơ sở các binh đoàn chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam là tổng thể những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy; quản lý, điều hành của chỉ huy các cấp và cách thức, biện pháp tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng, các đơn vị, các lực lượng nhằm làm cho mọi lĩnh vực, hoạt động của các tổ chức và mọi quân nhân ở đơn vị cơ sở luôn tuân theo đúng chuẩn mực nền nếp chính quy được quy định trong điều lệnh, điều lệ quân đội, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh toàn diện, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm
vụ được giao.
Nội hàm quan niệm đã chỉ ra một số vấn đề cơ bản về XDCQ ở ĐVCScác BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam
Mục đích XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam là:
Xây dựng con người chính quy, hiện đại; xây dựng tập thể đơn vị chính quy,hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
Trang 40từng bước hiện đại trong thời kỳ mới Tổ chức mọi hoạt động của ĐVCS mộtcách khoa học, chính quy, gắn kết chặt chẽ giữa tính khoa học, chính quy vớitính văn minh, hiện đại Tạo sự tập trung thống nhất, đồng bộ về nhận thức tưtưởng và hành động của mọi tổ chức và mọi quân nhân trong đơn vị; về tổ chức,biên chế lực lượng; về vũ khí trang bị; thống nhất duy trì chấp hành nghiêm nềnnếp, chế độ quy định trong điều lệnh, điều lệ quân đội và pháp luật của Nhànước; góp phần xây dựng đơn vị VMTD, nâng cao chất lượng tổng hợp, trình
độ, khả năng SSCĐ, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Nội dung XDCQ ở ĐVCS các BĐCL Quân đội nhân dân Việt Nam:
Thứ nhất, xây dựng tính thống nhất về nhận thức, nâng cao giác ngộ tư
tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống
Giáo dục, rèn luyện cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững
vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối trung thành, tin tưởngvào sự lãnh đạo của Đảng; đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạnchống phá của các thế lực thù địch, có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, có nhậnthức sâu sắc về nhiệm vụ chính trị của đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của bảnthân, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; có phẩmchất đạo đức cách mạng, có lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, trungthực, khiêm tốn, thật thà, thương yêu đồng chí, đồng đội, đoàn kết gắn bó mậtthiết với nhân dân
Thứ hai, thực hiện thống nhất tổ chức, biên chế của đơn vị theo đúng
quy định của BTTM, duy trì nghiêm, thống nhất chế độ SSCĐ, huấn luyệnquân sự
Thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, thống nhất về tổ chức, biên chế lựclượng, vũ khí, phương tiện kĩ thuật theo đúng quy định của BQP, bảo đảm tínhkhoa học, đồng bộ, thống nhất chặt chẽ ở tất cả các cấp Duy trì nghiêm nền nếp,thống nhất các chế độ công tác, các lĩnh vực hoạt động như: công tác tham mưu,hành chính - quân sự, CTĐ, CTCT, công tác hậu cần, công tác kỹ thuật; chấp