Cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước tiếp tục hoạch định và hoàn thiện
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Võ Khánh Vinh
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Kết luận của luận án chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
NGHIÊN CỨU SINH
Nguyễn Ngọc Huấn
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 CPC Danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do
tôn giáo
2 ECHR Hiến chương châu Âu về quyền con người
3 EU Liên minh châu Âu
4 ICCPR Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị
5 ICESCR Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và
Văn hóa
6 IGE Viện Liên kết toàn cầu
7 NGO Các tổ chức phi Chính phủ
8 TEU Hiệp ước của liên minh châu Âu
9 UBND Ủy ban nhân dân
10 UDHR Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.3 Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận nghiên cứu đề tài 25
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
29
2.1 Những vấn đề lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 29
2.3 Các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 61
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
73
3.1 Thực trạng pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
hiện nay
73
3.2 Thực trạng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 85
3.3 Đánh giá những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về
tôn giáo
101
CHƯƠNG 4: NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
112
4.1 Những quan điểm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp
luật Việt Nam hiện nay
112
4.2 Những giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp
luật Việt Nam hiện nay
129
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị được ghi nhận trong một số văn bản chính trị - pháp lý của Liên hợp quốc bao gồm các văn bản mang tính chất Tuyên ngôn như Hiến chương của Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966
Bất kỳ ai cũng được tự do theo tôn giáo mình thích hoặc không theo một tôn giáo nào Theo đạo, chuyển đạo hay bỏ đạo trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành là quyền tự do của mỗi người Nhà nước Việt Nam thừa nhận và đảm bảo cho mọi công dân có hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi; không có sự phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Các tôn giáo được nhà nước thừa nhận đều bình đẳng trước pháp luật Mọi người cần ý thức tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác, đồng thời chống lại những phần tử lợi dụng tôn giáo chống lại giai cấp công nhân, lợi ích dân tộc Nhà nước chủ trương tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, bảo đảm mọi sinh hoạt tôn giáo bình thường trong khuôn khổ pháp luật, nghiêm cấm những âm mưu lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
Trước yêu cầu quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tôn giáo; trước sự phục hồi, phát triển nhanh chóng, phức tạp của các tôn giáo và âm mưu lợi dụng tôn giáo, nhân quyền chống phá nước ta; trong khi đó pháp luật về tôn giáo đã bộc lộ những bất cập, yếu kém, thiếu tính đồng bộ, tính thống nhất, nhiều vấn đề phát sinh trong hoạt động tôn giáo chưa được pháp luật bổ sung, điều chỉnh; chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước về tôn giáo trong tình hình mới Những thiếu sót đó là một trong những nguyên nhân gây ra sự
Trang 6lúng túng, thiếu thống nhất khi xử lý đối với hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này
Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng dựa trên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Trong giai đoạn hiện nay, việc bảo
vệ và phát triển quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được ưu tiên trong chính sách của Đảng và Nhà nước, trở thành một trong những vấn đề lớn thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành và cộng đồng quốc tế
Tôn giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, tôn giáo tham gia thực hiện nhiều chức năng đối với xã hội vừa mang những ưu điểm và hạn chế; để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những mặt tích cực, hạn chế những tiêu cực, nhà nước cần phải quản lý hoạt động tôn giáo, đảm bảo cho những hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợp sự phát triển chung của xã hội Thời gian qua, việc quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn một số tồn tại như hiện tượng hạn chế, thu hẹp, thậm chí vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trong quản lý có nơi còn nóng vội, giản đơn khi giải quyết vấn đề liên quan đến tôn giáo dẫn đến vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, làm giảm lòng tin trong bộ phận quần chúng có đạo về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; có nơi lại thụ động, buông lỏng quản lý dẫn tới kỷ cương pháp luật không được giữ nghiêm; việc kiểm tra, giám sát và xử
lý các hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn chưa kịp thời, chặt chẽ và kiên quyết Nguyên nhân của tình trạng trên còn nhiều, nhưng chủ yếu là do trong bộ máy nhà nước và ở ngoài xã hội chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện về ý nghĩa, tầm quan trọng và vai trò của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chưa ý thức được sự cần thiết phải tôn trọng và bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được pháp luật quy định
Trang 7Cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước tiếp tục hoạch định và hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên các lĩnh vực khác nhau; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đấu tranh chống lại các thế lực lợi dụng tôn giáo, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ
chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
a Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về tôn giáo và thực trạng pháp luật về tôn giáo cũng như thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
b Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để thực hiện được mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau: + Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật về tôn giáo, vai trò của pháp luật về tôn giáo; tiêu chí hoàn thiện pháp luật về tôn giáo và các yếu tố bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
+ Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo dựa trên quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; những thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
+ Đánh giá thực trạng pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay qua các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo hiện hành; phân tích, làm sáng tỏ thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trên cơ sở đó rút ra những ưu điểm, nhược điểm và chỉ rõ nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế
Trang 8+ Làm rõ sự cần thiết khách quan phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay, nêu quan điểm và các giải pháp
hoàn thiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật về tôn giáo và công cụ pháp lý
để đảm bảo pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong hoạt động tôn giáo trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Các công cụ pháp lý đó được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tôn giáo và gắn liền với việc thực hiện pháp luật về tôn giáo, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; trong đó nhấn mạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian
+ Quốc tế: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền
cơ bản của con người và được các quốc gia trên thế giới ghi nhận và đảm bảo Luận án nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế như các công ước, điều ước quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới Trong phạm vi này, tác giả sẽ phân tích nội dung, giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các công ước quốc tế và thể hiện trong pháp luật của một số nước trên thế giới Từ những nghiên cứu, sẽ làm cơ sở
để so sánh, đánh giá pháp luật, thực tiễn pháp luật Việt Nam trong việc đảm đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
+ Việt Nam: Pháp luật về tôn giáo có thể được nghiên cứu từ nhiều góc
độ với những mức độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi một luận án không
thể nghiên cứu được hết các vấn đề đó Luận án nghiên cứu đề tài “Quyền tự
Trang 9do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay” dưới góc độ Luật
Hiến pháp và Luật Hành chính Những nghiên cứu cụ thể được đề cập trong luận án được giới hạn nhằm hướng đến việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
+ Phạm vi về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu pháp luật và việc thực hiện pháp luật về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay từ thời điểm ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) đến thời điểm hiện tại Bên cạnh đó, luận án cũng khái quát quá trình hình thành và phát triển pháp luật về tôn giáo
ở Việt Nam từ năm 1945 cho đến trước khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo như một sự so sánh để thấy được bước tiến của pháp luật về tôn giáo
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
+ Tiếp cận chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Phân tích, luận giải các vấn đề lý luận về tôn giáo, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
+ Tiếp cận liên ngành: Tiếp cận vấn đề nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo dưới góc độ luật học, có sự phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như khoa học lịch sử, xã hội học, tôn giáo học
+ Tiếp cận lịch sử: Quan điểm lịch sử cụ thể được quán triệt trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt xem xét mối quan hệ này qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau Đồng thời, khi phân tích đánh giá từng mặt của mối quan hệ này được quán triệt trong những bối cảnh lịch sử và những điều kiện cụ thể nhìn nhận dưới góc độ logic phát triển
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận án “Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay” sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành Đề tài dựa trên cơ
sở lý luận chính là học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Tham khảo học thuyết chủ quyền nhân dân, học thuyết phân chia quyền lực, lý luận
Trang 10nhà nước và pháp luật; vận dụng cơ sở lý thuyết về phương pháp luận duy vật biến chứng, duy vật lịch sử, các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề tôn giáo Luận án còn sử dụng tổng thể các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp hệ thống, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp phân tích - dự báo Nghiên cứu pháp luật quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và vấn đề bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo làm cơ sở đối chiếu, so sánh pháp luật bảo
vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế; đưa ra những giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay; cụ thể như sau:
Chương 1: Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, phương
pháp tổng hợp và phương pháp phân tích Qua thống kê và tổng hợp các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và ngoài nước về những vấn đề có liên quan đến nội dung luận án, tác giả phân tích những nội dung cơ bản trong các công trình nghiên cứu đó và đưa ra đánh giá về tình hình nghiên cứu
Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp so sánh để đưa ra các quan niệm, bản chất, đặc điểm, lịch
sử hình thành và phát triển về quyền con người; Khái niệm pháp luật tôn giáo, khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm và bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nội dung Quyền con người, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; pháp luật về tôn giáo cũng như vai trò, nội dung, đối tượng điều chỉnh, các điều kiện đảm bảo của pháp luật về tôn giáo
phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh để đánh giá quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử; thực trạng pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay qua các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đặc biệt đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tôn giáo, từ đó chỉ ra những
Trang 11hạn chế, bất cập và nguyên nhân Đồng thời, khái quát pháp luật về tôn giáo ở một số nước trên thế giới để so sánh với pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam
Chương 4: Luận án sử dụng phương pháp phân tích - dự báo, phương
pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê; làm rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và những yêu cầu đặt ra từ đó đưa ra các giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là công trình chuyên khảo, nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống pháp luật về tôn giáo, về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận án:
Một là, làm sáng tỏ khái niệm, vị trí của pháp luật về tôn giáo trong hệ thống pháp luật Việt Nam, làm sáng tỏ vai trò, đặc điểm, nội dung của pháp luật về tôn giáo Đặc biệt, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Hai là, làm sáng tỏ thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo dựa trên quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; những nguyên nhân và hạn chế của thực trạng cũng như thực tiễn thực hiện quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Đánh giá những thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Ba là, luận án đưa ra hệ thống các quan điểm và giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích sự biến đổi của đời sống tôn giáo ở Việt Nam dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và có tính đến đặc trưng của hoạt động tôn giáo Ngoài các giải pháp trước mắt, luận án chú trọng đến các giải pháp ở tầm chiến lược, lâu dài góp phần xây dựng luật tín ngưỡng, tôn giáo
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Trang 12Luận án nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về tôn giáo Kết quả nghiên cứu của luận án làm rõ những vấn đề lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo, một lĩnh vực cần có sự nghiên cứu một cách đầy đủ ở Việt Nam Luận án cũng góp phần luận giải tính tất yếu và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp
luật Việt Nam hiện nay
Chương 3 Thực trạng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Chương 4 Những quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân, đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước đối với tôn giáo, ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của công dân Hiến pháp năm 2013 tại Điều 24 quy định: “Mọi người có quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” [40, tr.17-18]
Những năm gần đây, vấn đề quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo, khách quan, các cuộc hội thảo trong nước và quốc tế
đã được tổ chức, việc nghiên cứu quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được coi trọng, các công trình nghiên cứu điển hình như:
+ Hội thảo, Tôn giáo và Pháp quyền ở Đông Nam Á, Hà Nội, 2007, tập
trung thảo luận về các chủ đề then chốt đã được nêu ra tại Hội thảo năm 2006 như so sánh các mô hình quan hệ nhà nước - giáo hội; vấn đề pháp nhân tôn giáo; tình hình và tiến triển của pháp luật về tôn giáo ở Đông Nam Á Ngoài
ra Hội thảo còn đề cập đến những vấn đề mới và thời sự hơn như: tôn giáo và
an ninh nhà nước; các vấn đề thuế, tài chính liên quan đến hoạt động tôn giáo; hoạt động của các tổ chức tôn giáo nước ngoài tại Đông Nam Á; vấn đề tôn giáo và giáo dục… Tại Hội thảo, tham luận của các học giả Việt Nam nêu ra
Trang 14những khó khăn và thách thức trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo hiện nay; tham luận của các học giả quốc tế nhấn mạnh những nỗ lực tìm kiếm mô hình quan hệ nhà nước - giáo hội thích hợp ở Châu Âu, việc quản lý hoạt động từ thiện của các nhóm tôn giáo ở Hoa Kỳ, tham luận của các học giả từ các nước Đông Nam Á như Singapore, Phillipines, Thailand, Malaysia nêu ra những kinh nghiệm thực tế khi nhà nước phải mau chóng giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo trên phương diện pháp luật
+ Hội thảo, Tôn giáo và pháp quyền Đông Nam Á, Hà Nội, 2011, thảo
luận các vấn đề quan trọng về vai trò của nhà nước trong việc điều hành, quản
lý và tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường, có đóng góp vào
sự ổn định và phát triển của toàn xã hội, tập trung vào các vấn đề: so sánh các
mô hình quan hệ nhà nước - giáo hội; vấn đề pháp nhân tôn giáo, tình hình hiện tại và tiến triển của pháp luật về tôn giáo ở Đông Nam Á Hầu hết các ý kiến đều nhất trí quan điểm chung cho rằng, các nhóm tôn giáo có khả năng đóng góp vào sự thịnh vượng chung của xã hội, họ dạy con người về đạo lý, nhân sinh quan và những tiêu chí đạo đức, họ có những chính sách cụ thể trong việc chăm sóc người nghèo và điều đó giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho chính quyền địa phương trong việc đảm bảo an sinh xã hội… Tuy vậy, tất cả những điều đó có thể thành hiện thực nếu tất cả các nhóm tôn giáo được các chính phủ tạo điều kiện để họ được tự do thực hành các hoạt động tôn giáo trong xã hội
+ Giá trị di sản của đa dạng tôn giáo ở Việt Nam và những đóng góp
đối với xã hội Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ, Hà Nội, 2015 Đây là tập
kỷ yếu của hai cuộc hội thảo quốc tế, được tổ chức bởi Ban Tôn giáo Chính phủ hợp tác với phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, với chủ đề “Giá trị di sản của đa dạng tôn giáo ở Việt Nam và những đóng góp đối với xã hội Việt Nam”, được tổ chức ngày 25, 26/9/2013 và chủ đề “Tôn giáo và đời sống tôn giáo ở Việt Nam - Chia sẻ kinh nghiệm châu Âu và Việt Nam trong việc đảm bảo tự do tôn giáo” được tổ chức ngày 26, 27/9/2014 Hội thảo có sự
Trang 15tham gia của các chuyên gia đầu ngành về tôn giáo, về luật pháp đến từ các nước trong Liên minh châu Âu Hội thảo đã phân tích sự đang dạng tôn giáo ở Việt Nam cùng những đóng góp của các tôn giáo đối với lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc Việt Nam Hội thảo phân tích vai trò của nguồn lực
xã hội của tôn giáo trong công cuộc đổi mới của đất nước Việt Nam Hội thảo dành thời lượng phân tích những chuyển biến trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam, phân tích những nỗ lực và thành tựu của nhà nước Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, khuyến khích các hoạt động tôn giáo tiến bộ vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân
1.1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu những vấn đề chung về tôn giáo, chính sách, pháp luật về tôn giáo
- PGS.TS Đỗ Quang Hưng, Vấn đề tôn giáo trong cách mạng Việt
Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2008, 447 trang
Sách đã hệ thống lại những nét chủ yếu về lý luận và thực tiễn trong công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, lịch sử nhận thức của Đảng, Nhà nước về tôn giáo và những phác họa đầu tiên về tiến trình đó, chủ yếu là giai đoạn từ 1945 đến năm 2005; quá trình Đảng, Nhà nước ta xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách tôn giáo qua các giai đoạn lịch sử, đáp ứng đổi mới về tôn giáo, từ đó đặt ra một số vấn đề gợi mở làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay; giúp tác giả có cái nhìn toàn diện, hệ thống về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
- GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Những vấn đề lý luận và thực tiễn
của nhóm quyền dân sự và chính trị, Nxb Khoa học xã hội, 2011, trong đó bài
viết của Nguyễn Hồng Nhung, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo - Những vấn
đề lý luận và thực tiễn, tác giả đã khái quát quan niệm về tín ngưỡng, tôn
giáo, từ đó đưa ra nội dung và giới hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng như thực tiễn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các nước trên thế giới và thực tiễn pháp lý ở Việt Nam Trong đó tác giả khẳng định, về cơ bản, bên cạnh việc tạo ra một cơ chế pháp lý tương đối toàn diện bảo đảm quyền tự
Trang 16do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, Đảng và Nhà nước ta đã và đang không ngừng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đời sống tâm linh, phục vụ tốt cho quá trình xây dựng đất nước
- Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, tập thể tác giả, chủ biên:
GS.TS Hoàng Văn Hảo - TS Chu Hồng Thanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, 288 trang Sách đề cập đến những vấn đề lý luận quyền con người
về dân sự và chính trị; phân tích quyền con người về dân sự và chính trị trong các Hiến pháp Việt Nam Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, do vậy cuốn sách là nguồn tư liệu quý giúp tác giả nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài
- Một số công trình khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Động về quyền công dân ở Việt Nam có liên quan trực tiếp đến đề tài, giúp tác giả cả về phương pháp nghiên cứu, học thuật và nội dung nghiên cứu Các công trình:
Các quyền hiến định về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay (sách
chuyên khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004, 203 trang; Quyền con người,
quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb Khoa
học Xã hội, 2005, 253 trang; Các quyền hiến định về chính trị của công dân
Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb tư pháp, Hà Nội, 2006, 183 trang
- PGS.TS Hoàng Thế Liên, Việt Nam với vấn đề quyền con người, Bộ
Tư pháp, Hà Nội, 2005, 368 trang Cuốn sách giúp tác giả những kiến thức lý luận và nhận thức đúng đắn, toàn diện vấn đề quyền con người trên bình diện quốc tế và quốc gia, những thành tựu, những bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phục vụ cho các hoạt động bảo vệ quyền con người
- TS Đỗ Minh Hợp (chủ biên), Tôn giáo phương Đông, quá khứ và
hiện tại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2006, 398 trang; sách đề cập đến lịch sử phát
triển kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa của các xã hội phương Đông; sách
đã trình bày hoàn cảnh, quá trình hình thành các tôn giáo Phương Đông cùng
Trang 17với sự tác động của nó đến xã hội Cuốn sách đã giúp tác giả thấy rõ những tư liệu hiện có, những tư liệu gốc về tôn giáo Phương Đông, thấy rõ được đặc thù và bản chất của các tôn giáo, phân tích sự hoạt động và vị trí trong đời sống xã hội và con người phương Đông
- Tuyên ngôn thế giới và hai công ước 1966 về quyền con người, tập thể
tác giả, Trung tâm nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002, 240 trang Nội dung cuốn sách đã đề cập đến những vấn đề cơ bản liên quan trực tiếp đến Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); đồng thời đề cập đến việc áp dụng các nguyên tắc và quy định trong ba văn kiện đó về thực tiễn trên thế giới và Việt Nam; giúp tác giả củng cố những kiến thức lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Phạm Khiêm Ích (chủ biên), Quyền con người, các văn kiện quan
trọng, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội 1998, 595 trang; cuốn sách
bao gồm 15 văn kiện quan trọng, tuy khác nhau về thời gian và địa điểm ra đời, nhưng lại rất giống nhau, nhất quán với nhau trong việc đề cao và bảo vệ các quyền tự nhiên, không thể bị tước đoạt và thiêng liêng của con người; sách đã nêu bật được các văn kiện, đồng thời khẳng định mạnh mẽ rằng không có sự vi phạm nhân quyền nào có thể biện minh được; bởi vậy các quốc gia trong cộng đồng quốc tế cam kết hoàn thành nghĩa vụ của mình là thúc đẩy sự tôn trọng ở khắp nơi, thực hiện và bảo vệ tất cả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, các văn kiện khác liên quan tới quyền con người và luật pháp quốc tế Sách đã giúp tác giả thẩm thấu được các quyền thừa thưởng
về tự do tôn giáo, các quy định tại các nước thành viên, xác định mối quan hệ quốc tế trong đó có các luật quy định về hệ thống pháp luật tôn giáo, công nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 18- PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại,
lý luận và thực tiễn (sách chuyên khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008, 418
trang; cuốn sách là sự kết hợp các kiến thức trên các lĩnh vực lý luận nhà nước và pháp luật, Luật hiến pháp nước ngoài và Luật so sánh, từ đó đưa ra một cách nhìn toàn diện về nhà nước và pháp luật tư sản
Ngoài ra, còn có một số công trình khác như: Tôn giáo ở Mỹ, Nghiêm Văn Thái, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3/2011; Dấu mốc và kết quả hội
nhập quốc tế về tôn giáo ở Việt Nam; Bùi Quang Nhượng, Tạp chí Công tác
Tôn giáo, số 9/2015; Một số vấn đề đặt ra trong việc vận dụng quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác vận động tín đồ tôn giáo, Đoàn Thị Thu
Hà, Tạp chí Công tác Tôn giáo, số 7/2016; Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín
ngưỡng, tôn giáo, Tạ Văn Sang và Nguyễn Thị Hằng, Tạp chí Công tác Tôn
giáo, số 8/2016;
1.1.1.2 Nhóm công trình đề cập đến thực trạng và thực tiễn áp dụng chính sách, pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam
- Bùi Đức Luận (chủ biên), Quản lý hoạt động tôn giáo, cơ sở lý luận
và thực tiễn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2005, 111 trang; sách đã đưa ra một số
vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, thực tiễn quản
lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay, nhân
tố mới để thực hiện cải cách hành chính trong quản lý hoạt động tôn giáo
- Đỗ Quang Hưng, Chính sách tôn giáo và Nhà nước pháp quyền, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, 567 trang; sách là một công trình khoa học
có giá trị, chứa đựng những kiến giải sâu sắc, có tính mới về lý luận; giúp tác giả thấy được tính mới về lý luận, tổng kết sâu sắc về thực tiễn đời sống tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, trong
xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
- Ngô Hữu Thảo, Công tác tôn giáo - Từ quan điểm Mác - Lênin đến
thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội 2012, đây là bài viết
đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm của các nhà kinh điển Mác -
Trang 19Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo cũng như công tác tôn giáo của hệ thống chính trị và một số vấn đề đặt ra hiện nay
- Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và công tác quản lý nhà nước đối
với các hoạt động tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, 2008, 332 trang Sách đã
làm rõ lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, chủ trương, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; kiến thức về các tôn giáo lớn ở Việt Nam và công tác quản lý nhà nước đối với các tôn giáo đó ở cơ sở; đồng thời, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật, thực trạng công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay Qua đó, làm rõ nguyên nhân của những thành tựu
và hạn chế của thực trạng trên
- Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học
Brigham Young Hoa Kỳ, Tài liệu bồi dưỡng kiến thức Nhà nước pháp quyền
và tôn giáo, tư liệu tham khảo, 2012 Tập bài giảng gồm những bài viết chọn
lọc về “Lý luận về Nhà nước pháp quyền và tôn giáo” và phần tư liệu cơ bản
về đường lối, chính sách và pháp luật tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
- Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam
(sách trắng), Hà Nội, 2009, 85 trang Cuốn sách này đã giúp tác giả thấy rõ, đầy đủ và toàn diện hơn về tình hình tôn giáo và chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo
- Ban Tôn giáo Chính phủ, Tài liệu Hỏi - Đáp pháp luật liên quan đến
tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2008, 142 trang Cuốn sách gồm phần chuyên
Hỏi - Đáp pháp luật về tôn giáo, phần chuyên Hỏi - Đáp về đất sử dụng cho mục đích tôn giáo, phần chuyên Hỏi - Đáp pháp luật về khiếu nại, tố cáo; đã giúp tác giả nắm vững những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền và trách nhiệm của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc trong hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; hoạt động của tổ chức tôn giáo; quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong công tác tôn giáo
Trang 20- Ban Tôn giáo Chính phủ, Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín
ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2001, 622 trang; Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội, 2013, 120 trang; Nội dung cuốn sách được trình
bày ngắn gọn, dễ hiểu, đề cập đến những vấn đề cơ bản trong chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
+ Luận án Tiến sĩ, Pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam, những vấn đề lý
luận và thực tiễn, của Đỗ Thị Kim Định, Học viện Khoa học Xã hội, năm
2015 Luận án đã nghiên cứu nội dung pháp luật về tôn giáo, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về tôn giáo, đánh giá đúng thực trạng pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam, những yếu tố tác động đến luật pháp tôn giáo ở Việt Nam, nêu được sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam
+ Luận án Tiến sĩ, Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi
mới ở Việt Nam, của Nguyễn Thị Vân Hà, Học viện Khoa học Xã hội, năm
2014 Luận án đã nghiên cứu tiến trình xây dựng, hoàn thiện luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận chung về tôn giáo và luật pháp, những yếu tố tác động đến luật pháp tôn giáo ở Việt Nam và hướng tới việc đưa ra một khung lý thuyết về luật pháp về tôn giáo xung quanh yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, nêu được những thành tựu và hạn chế, chỉ ra được nguyên nhân trong công tác xây dựng và hoàn thiện luật pháp về tôn giáo ở nước ta hiện nay Luận án giúp tác giả thấy được nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo, cách hành xử của chính quyền và sự vận hành của tổ chức tôn giáo, vai trò của nhà nước đối với tôn giáo
- Nguyễn Khắc Huy, Tiến trình luật pháp tôn giáo ở Việt Nam từ năm
1990 đến nay, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 01/2007 Tác giả đã khái quát
quá trình phát triển của luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam từ 1990 đến nay Với việc điểm lại nội dung điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật đối với tôn giáo, tác giả đã khẳng định sự ra đời của Pháp lệnh tín ngưỡng,
Trang 21tôn giáo (2004) ghi một dấu mốc lịch sử trên con đường hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
- Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Viện Khoa học xã
hội nhân văn quân sự thuộc Bộ quốc phòng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
2005, 218 trang Sách đã nêu những thông tin khái quát, ngắn gọn và dễ hiểu một số vấn đề cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay
- GS.TS Đỗ Quang Hưng, Bước đầu tìm hiểu về mối quan hệ giữa Nhà
nước và Giáo hội, Viện nghiên cứu tôn giáo, Nxb Tôn giáo, 2003, 377 trang;
sách có nội dung chuyên nghiên cứu về vấn đề quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội nói chung, với Giáo hội các tôn giáo ở Việt Nam nói riêng; giúp tác giả thấy được nhiệm vụ đặt ra với giới khoa học và những người làm công tác nghiên cứu lý luận về vấn đề này, đặc biệt là lý luận Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo, đúc kết những thực tiễn của nước ta, tìm hiểu những bài học trên thế giới, góp phần cùng với Đảng và nhà nước ta xác lập
và hoàn thiện chính sách đổi mới hiện nay đối với tôn giáo, tín ngưỡng
- Nguyễn Cao Thanh, Đôi điều phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo,
Tạp chí Công tác tôn giáo, số 01, 02/2014 Bài viết nêu nhiều định nghĩa về tín ngưỡng, tôn giáo, giáo lý và sự thờ phụng, luật lệ, lễ nghi và cách tiếp cận tín ngưỡng, tôn giáo cần quan tâm; giúp tác giả hiểu được nhiều định nghĩa cũng như lời phân tích, lý giải về tín ngưỡng, tôn giáo và nhiều vấn đề cần quan tâm về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
- Minh Định, Một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện Pháp lệnh
tín ngưỡng, tôn giáo, Công tác tôn giáo, 12/2008 Tác giả đã đặt ra một số vấn
đề trong quá trình thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nảy sinh như: một
số nội dung chưa được quy định trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định hướng dẫn thi hành; một số quy định trong Pháp lệnh và Nghị định
Trang 22hướng dẫn thi hành chưa phù hợp với thực tiễn hoặc đến nay không còn phù hợp với thực tiễn
- Nguyễn Thanh Xuân, Một số tôn giáo ở Việt Nam (tái bản lần thứ
mười), Nxb Tôn giáo, 2012, 574 trang; giúp tác giả hiểu được lịch sử ra đời,
phát triển, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo, cơ cấu tổ chức giáo hội của đạo Phật, đạo Công Giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo và một số tổ chức quốc tế của đạo Phật, đạo Tin Lành, một số dòng
tu, một số trào lưu thần học và các cộng đồng chung của đạo Công Giáo, một
số số liệu cơ bản về tôn giáo trên thế giới và ở Việt Nam
- ThS Nguyễn Ngọc Huấn, ThS Nguyễn Văn Hòa, ThS Cát Ngọc
Trình, Tìm hiểu pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thanh tra chuyên ngành
trong lĩnh vực tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2016, 167 trang; cuốn sách
nêu bật được tình hình các tôn giáo hiện nay, tập hợp những câu hỏi vướng mắc từ các địa phương sau đó biên soạn và trả lời được những câu hỏi theo dạng hỏi đáp, nêu bật được các văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và thanh tra trong lĩnh vực tôn giáo
- Văn phòng Quốc hội, Thực tiễn và thách thức trong chuyển hóa pháp
luật tại Việt Nam: chia sẻ kinh nghiệm của Liên minh Châu Âu, Nxb Hồng
Đức, Hà Nội 2016, 268 trang Sách đã nêu bật được kinh nghiệm và thực thi pháp luật của quốc gia khác phục vụ công tác xây dựng và thực thi pháp luật của quốc gia mình; sự trao đổi, nhìn nhận, góp phần chia sẻ những kinh nghiệm pháp luật quốc tế phục vụ cho cải cách pháp luật ở Việt Nam
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Quyền con người bắt nguồn từ bản chất con người và lịch sử xã hội, Quyền con người là một giá trị cao quý, là kết tinh của nền văn minh nhân loại; cùng với sự ra đời của Liên hợp quốc, quyền con người đã trở thành một vấn đề có tính toàn cầu, có tác động ngày càng sâu sắc trong đời sống chính trị thế giới và ảnh hưởng trực tiếp đến các quốc gia Những thành tựu pháp lý
về quyền con người hiện nay là sản phẩm của cuộc đấu tranh lâu dài, khó
Trang 23khăn, phức tạp của loài người tiến bộ, chống bất công, áp bức, xây dựng cuộc sống tự do, bình đẳng Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới
+ Các tôn giáo và tín ngưỡng ở Mỹ của tác giả Catherine L.Albanese,
do Việt Thư dịch, Nxb Thời Đại, 623 trang, 2012; cuốn sách gồm 2 phần, đề cập đến tính đa nguyên của tôn giáo, tính thống nhất của tôn giáo ở Hoa Kỳ Cuốn sách đã nêu được lục địa Bắc Mỹ có rất nhiều tôn giáo và tín ngưỡng, mỗi bộ lạc người Indian trên mảnh đất này trước khi người châu Âu đặt chân đến đều có tín ngưỡng riêng… sau này, người di cư lại mang theo tôn giáo và tín ngưỡng của mình từ Cựu thế giới đến miền đất mới Người châu Âu mang đến đạo Do Thái, đạo Thiên chúa La Mã và đạo Tin Lành, người châu Phi và châu Á mang đến đạo Hồi, đạo Phật, đạo Hindu cùng nhiều tín ngưỡng khác, góp phần làm cho các tôn giáo và tín ngưỡng mới phát triển và tô điểm thêm bức tranh văn hóa phong phú, đa dạng ở lục địa này Đây là công trình nghiên cứu lịch sử tôn giáo và tín ngưỡng kết hợp với lịch sử tôn giáo nói chung Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nơi có nhiều tín ngưỡng cùng tồn tại, nhiều cộng đồng sắc tộc, nhiều đức tin, tập quán thờ phụng và giáo luật đạo đức khác nhau Nền văn hóa Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ trên những tác động qua lại phức tạp giữa tính nhất thể và tính đa nguyên của các tôn giáo và tín ngưỡng
để tạo nên những nét độc đáo của riêng mình mà không giống bất cứ dân tộc, đất nước nào trên thế giới
+ Tôn giáo ở Trung Quốc, 100 câu hỏi và trả lời của tác giả Lữ Vân, do
Nguyễn Thị Bạch Tuyết dịch, Nxb Tôn giáo, 199 trang, 2003; sách nêu tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề cá nhân của các công dân Trung Quốc và với việc loại bỏ các tàn dư của “Cách mạng Văn hóa 1966-1976”, quan niệm chung hiện nay là lợi ích cơ bản của những người theo hoặc không theo một tôn giáo nào là thống nhất trên cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế Sách đã giúp tác giả
Trang 24thấy được một số nét cơ bản về các tôn giáo ở Trung Quốc, lịch sử và hiện trạng, có những lời giải thích về chính sách tôn giáo của Trung Quốc, quan điểm hiện nay về tôn giáo trong giới học thuật và nhiều vấn đề khác liên quan tới Phật Giáo, Đạo Giáo, Hồi Giáo, Công Giáo, Tin Lành ở Trung Quốc
+ Predicting religion của José Casanova (Dự báo tôn giáo), 2003 Tôn
giáo ở phương Tây hiện nay đang trải qua những biến đổi nhanh chóng Cuốn sách gồm nhiều bài viết của các chuyên gia nghiên cứu về tương lai của tôn giáo ở thế kỷ XXI Sự dự báo dựa trên việc phân tích các lĩnh vực tôn giáo hiện nay từ các hình thức truyền thống Thiên Chúa giáo đến đời sống tinh thần mới Cuốn sách gồm 3 phần: 1 Xem xét lại học thuyết thế tục; 2 Dự đoán Thiên Chúa giáo; 3 Dự đoán những sự lựa chọn
+ Law and religion in contemporary society của tác giả Phillip
Goodchild, Nhà xuất bản Ashgate, Burlington, 2002 Cuốn sách giới thiệu mối quan hệ giữa luật pháp tôn giáo trong xã hội hiện nay Cuốn sách gồm 4 phần chính: 1 Nội dung bàn về tôn giáo và luật pháp tôn giáo ở Anh Có sự trung lập giữa các tôn giáo hay sự trung lập giữa tôn giáo và phi tôn giáo hay không? Phần 2 Các tổ chức tôn giáo và nhà nước Phần 3 Công xã hoá trong luật pháp Phần này bàn về quyền tự do tôn giáo của trẻ em, quy định về hoạt động tôn giáo ở Mỹ
+ Popular religion in sixteenth century England của tác giả Christopher
Marsh, Nhà xuất bản Macmillan, London, 1998 Cuốn sách gồm 258 trang, miêu tả đời sống tôn giáo Anh trong suốt thời kỳ cải cách Tác giả đã trả lời những câu hỏi quan trọng và giải thích sự phát triển tôn giáo và nêu rõ vai trò của người dân đối với giáo hội Cuốn sách cũng đề cập đến các chủ đề như việc thực hành tế lễ, các mối quan hệ với tăng lữ, lễ hội, các nhóm tôn giáo, tôn giáo “ma thuật”, toà án giáo hội
+ Law and Protestantisme của tác giả JR.John Witte, Nhà xuất bản
Cambridge, New York, 2002 Cuốn sách bàn về luật pháp và tôn giáo Cuốn sách gồm 7 phần: 1 Giới thiệu; 2 Luật thần học và luật dân sự trong thời gian
Trang 25trước cải tổ; 3 Pháp luật yêu kẻ thù của mình; 4 Một pháo đài hung mạnh; 5
Có lẽ các luật gia là những tín đồ Thiên Chúa giáo tốt hơn cả; Từ sách phúc
âm đến luật pháp; 6 Bà mẹ của mọi luật pháp trên trái đất; 7 Trường đạo dân
sự Những suy nghĩ kết luận
Từ năm 2006, Viện Nghiên cứu Tôn giáo đã kết hợp với Viện Liên kết toàn cầu (IGE) của Mỹ tổ chức nhiều cuộc hội thảo tại Hà Nội, Paris, Quảng Châu bàn về đời sống tôn giáo ở các nước hữu quan, về mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo ở khu vực Đông Nam Á, Pháp, Mỹ, Trung Quốc Các cuộc hội thảo đã hội tụ được các học giả Việt Nam, châu Âu, Mỹ, Trung Quốc và các học giả trong khu vực Đông Nam Á Trong đó có một số bài viết về luật pháp của các nước về tôn giáo cũng như kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn
giáo như: Tác giả Yushang P.Yao, Luật tôn giáo và sự phát triển của nó ở
Đài Loan; Rik Torfs, Mối quan hệ giữa tôn giáo và nhà nước ở châu Âu
Patrice Rolland, Chính sách phân lập, một hình thức điều chỉnh về mặt pháp
luật sự đa nguyên tôn giáo; Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc: Tiêu chuẩn quốc tế về tự do tôn giáo và quy định pháp luật của tác giả Brett
G.Scharffs; Các tính năng tiêu biểu của hiệu lực pháp luật tôn giáo: Một
nhận thức so sánh của W Cole Durham, Jr, Giáo sư Đại học Luật Susa
Young Gates; Liu Peng, Các hướng quan hệ Giáo hội - Nhà nước ở Trung
Quốc: Các vấn đề về luật pháp tôn giáo; GS Reginal Reimer, Những đóng góp của các Hội thánh Cơ Đốc giáo và các tổ chức tôn giáo phi chính phủ trong cộng đồng Canada - sự ủng hộ của luật pháp và chính phủ đối với các
tổ chức này; Alain Garay, Pháp trị và sự phát triển của tự do tôn giáo
1.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.2.1 Những ưu điểm, những kết quả nghiên cứu mà Luận án sẽ tiếp tục kế thừa, phát triển
Từ các công trình nghiên cứu đến tôn giáo, chính sách, pháp luật về tôn giáo và nhận định khái quát về nội dung của các công trình nghiên cứu này,
có thể thấy một số kết quả nổi bật như sau:
Trang 26Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã khái quát được đặc điểm, tình
hình tôn giáo ở Việt Nam cũng như sự biến đổi của các tôn giáo ở Việt Nam dưới sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực Theo các tác giả, đời sống tôn giáo ở Việt Nam hiện nay có những biểu hiện tiêu biểu đáng lưu ý như: xu hướng gia tăng số lượng tín đồ các tôn giáo và sự phân bố lại bản đồ tôn giáo;
sự đa dạng trong hệ thống tôn giáo; hiện tượng cải đạo diễn ra mạnh mẽ, nhất
là vùng dân tộc thiểu số; việc tăng cường xây dựng hệ thống tổ chức hành chính đạo, kiện toàn đội ngũ nhân sự của các tôn giáo; xu hướng các tôn giáo ngày càng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, hoà nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế - xã hội đất nước; văn hoá tôn giáo ngày càng hội nhập với văn hoá dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng vấn đề tôn giáo và dân tộc
để chống phá cách mạng Việt Nam,v.v…
Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết quản lý nhà
nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực tôn giáo Quản lý nhà nước bằng pháp luật nhằm định hướng, tạo thuận lợi cho các tổ chức, tín đồ tôn giáo hoạt động theo đúng tôn chỉ, mục đích, hiến chương, điều lệ của các tôn giáo phù hợp với mục tiêu, lợi ích của nhà nước; không lợi dụng hoạt động tôn giáo xâm hại đến lợi ích nhà nước, trật tự chung xã hội và lợi ích hợp pháp của công dân; phát huy giá trị tích cực của tôn giáo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Thứ ba, các công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình hình thành,
phát triển của chính sách tôn giáo ở Việt Nam, nhất là phương diện quản lý nhà nước cũng được làm rõ: từ việc sớm khẳng định mô hình nhà nước thế tục về tôn giáo, các nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vấn đề tôn giáo, cho đến xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam Đồng thời, vạch ra những nét chủ yếu trong việc thực thi chính sách ấy ở thực tiễn đời sống các tôn giáo trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 27Thứ tư, các công trình nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn khái quát về sự ra
đời và địa vị pháp lý của “luật pháp về tôn giáo” ở châu Âu; các mối quan hệ giữa nhà nước với Giáo hội; mối quan hệ giữa luật pháp tôn giáo các nước trên thế giới với luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam; đã đưa ra những nguyên tắc trong việc xây dựng luật pháp tôn giáo và có cái nhìn đối sánh với pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam
Thứ năm, các công trình nghiên cứu đã khái quát sự hình thành và phát
triển của pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử và được đánh dấu bằng sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật
1.2.2 Về những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu
Nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo trong những năm gần đây đã được các nhà nghiên cứu, các cơ sở nghiên cứu khoa học và các cơ quan quản lý quan tâm Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu được công bố mới chỉ dừng lại ở việc phân tích khái quát sự đổi mới về đường lối và chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước ta, còn việc nghiên cứu trên phương diện lý luận; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo chưa được chú trọng Việc nghiên cứu pháp luật về tôn giáo chủ yếu chỉ khái quát và điểm lại những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan
hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo đã được ban hành từ năm 1945 đến nay Đã
có một vài công trình là luận án tiến sĩ và thạc sĩ nghiên cứu về việc hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở nước ta và có một vài bài nghiên cứu viết trên tạp chí có nói về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhưng cho đến nay, thực tiễn quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cũng như pháp luật về tôn giáo có nhiều thay đổi, vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay là thực sự cần thiết Luận án sẽ tiếp tục tập trung vào khoảng nghiên cứu còn trống sau:
Về lý luận: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền
cơ bản của con người, tuy nhiên việc tiếp cận quyền con người trong đó có
Trang 28quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như là một yêu cầu của quá trình hoàn thiện pháp luật về tôn giáo chưa có công trình nào đề cập một cách cụ thể Từ cách tiếp cận dựa trên quyền, luận án phân tích rõ pháp luật về tôn giáo là công cụ
để bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người và là môi trường pháp lý thuận lợi để nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
- Quan niệm pháp luật về tôn giáo chưa thống nhất, lập luận khoa học cho các quan niệm trên được đưa ra còn sơ sài; vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho luận án là: trên cơ sở phân tích một cách khoa học các quan niệm trước đây về pháp luật tôn giáo để đưa ra quan niệm của mình và đặc biệt nhìn nhận vị trí của pháp luật về tôn giáo trong hệ thống pháp luật Việt Nam Phân tích vai trò cũng như đặc điểm và chỉ rõ nội dung điều chỉnh của pháp luật về tôn giáo
- Về đặc điểm của pháp luật về tôn giáo: với việc kế thừa các nghiên cứu đã được thực hiện, luận án cần triển khai thêm một bước để làm rõ những đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bổ sung những đặc điểm mới chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu trước Một vấn đề khác cũng đã được nhà nghiên cứu đề cập nhưng mới chỉ ở mức độ khái quát mà chưa làm rõ được pháp luật về tôn giáo không phải điều chỉnh tất cả các quan
hệ xã hội trong hoạt động tôn giáo, đối với hoạt động tôn giáo thuần túy, pháp luật không can thiệp và các tín đồ, chức việc, chức sắc các tôn giáo thực hiện theo Hiến chương, Đạo quy, giáo lý, giáo luật của mình Vì vậy luận án cần phải làm sáng tỏ vấn đề này ở mức cần thiết
- Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân, nghiên cứu về pháp luật tôn giáo, một công cụ để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, nhưng phân tích và làm rõ thực trạng đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đưa ra những giải pháp để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì chưa được đề cập Vì vậy, luận án đặt ra nhiệm vụ cần phải nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực trạng thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; trên cơ sở xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình
Trang 29điều chỉnh, đảm bảo và thực hiện pháp luật về tôn giáo hiện nay, luận án đưa
ra những giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Về thực trạng: Quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về tôn giáo
qua các giai đoạn lịch sử của nhà nước ta, qua các bản Hiến pháp cũng sẽ được luận án xem xét cho việc nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật hiện hành được toàn diện
Các nghiên cứu được thực hiện đã đề cập một cách khái quát về các quy định của pháp luật hiện hành về tôn giáo cũng như thực trạng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Tuy nhiên việc phân tích nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của các quy định pháp luật cũng như việc thực hiện pháp luật
về tôn giáo chưa được nhìn nhận một cách có hệ thống Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục tìm hiểu thực trạng pháp luật về tôn giáo cũng như thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và phân tích rõ nguyên nhân cũng như những thành tựu và hạn chế để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Về giải pháp: Trên cơ sở lý luận cũng như thực trạng pháp luật về tôn
giáo và thực trạng thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, luận án có nhiệm vụ đưa ra các giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay
1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.3.1 Cơ sở lý luận
Pháp luật về tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề mới
và phức tạp, chưa có sự nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Vì vậy, để có nhận thức đúng đắn về vấn đề này, luận án sử dụng cơ sở lý thuyết như sau:
- Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, sự phát sinh
và phát triển của tôn giáo; thái độ của đảng mác xít với các tôn giáo và quan điểm về nhà nước và pháp luật; một số lý thuyết trong nghiên cứu tôn giáo và luật pháp được sử dụng như lý thuyết xã hội học tôn giáo, luật học so sánh
Trang 30- Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, đặc biệt là những dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng pháp luật về tôn giáo
- Các quan điểm của Đảng, Nhà nước trong cách nhìn nhận, phân tích các vấn đề tôn giáo, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, sự hình thành và phát triển của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ 1945 đến nay
- Dựa vào lý thuyết xã hội học thực hiện pháp luật để phân tích thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; luận án đặc biệt coi trọng các phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh pháp luật, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn ở trong và ngoài nước; thông qua các điều kiện, hoạt động thực hiện pháp luật như các điều kiện chung, chuyên môn và cá nhân nhằm đánh giá quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật về tôn giáo, thực trạng những thành tựu và hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của thành tựu và hạn chế đó để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1.3.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Trên cơ sở tập hợp, hệ thống các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã được thu thập, luận án sẽ kế thừa có chọn lọc trên cơ sở phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu đó Từ đó, đưa ra những quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản học khi tiếp cận các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến tôn giáo và luật pháp; phương pháp so sánh để tìm sự tương đồng, khác biệt và sự tác động qua lại giữa luật pháp về tôn giáo của một số quốc gia với luật pháp về tôn giáo ở Việt Nam từ đó rút ra những kinh nghiệm cần thiết; phương pháp nghiên cứu lịch sử, đặt sự phát triển của tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong dòng chảy của lịch sử, đồng thời nhìn nhận những biến cố lịch sử xã hội - tôn giáo như là nguyên nhân căn bản tác động tới tiến trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tôn giáo; phương pháp
Trang 31tổng hợp, thống kê giúp tác giả nắm bắt những giữ liệu về tình hình tôn giáo, thực trạng thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp và có liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam
- Cùng với việc nghiên cứu trực tiếp các quy định pháp luật hiện hành
về tôn giáo, các bản Hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ, luận án sẽ xem xét quá trình thực hiện những quy định này trong thực tiễn để từ đó có những đánh giá toàn diện về các quy định của pháp luật, làm tiền đề cho các giải pháp cụ thể trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1.3.3 Khung phân tích để làm rõ lý thuyết
Với mục đích làm sâu sắc thêm pháp luật về tôn giáo cả về phương diện lý luận và thực tiễn, tác giả cần làm rõ vai trò cũng như những đặc điểm
và nội dung của pháp luật về tôn giáo Từ đó, làm cơ sở để soi chiếu thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về tôn giáo, những thành tựu, hạn chế
và chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó Để giải quyết được vấn đề này, tác giả đặt ra giả thuyết như sau:
Hệ thống pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đã khá hoàn thiện
cơ bản đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống, song trước sự biến đổi của xã hội, của đời sống tôn giáo đã bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập nhất định
do một số quy định thiếu cụ thể, không còn phù hợp với thực tiễn và một số nội dung mới phát sinh trong hoạt động tôn giáo nhưng chưa có quy định điều chỉnh; ngoài ra, do nhận thức và cơ chế phối hợp giữa các ngành trong quản
lý nhà nước về tôn giáo nên việc thực hiện pháp luật tôn giáo, đảm bảo quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn những hạn chế cần khắc phục
Từ đó, tác giả nghiên cứu và giải đáp có hệ thống các câu hỏi như sau:
1 Tín ngưỡng, tôn giáo là gì? Giới hạn và nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo? Pháp luật về tôn giáo? Vai trò, đặc điểm và nội dung quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo?
Trang 322 Thực trạng và thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ khi ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) cho đến nay; quy định của pháp luật về tôn giáo? Thực hiện pháp luật về tôn giáo?
3 Tính tất yếu hoàn thiện pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam? Các giải pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện nay cho mọi người và tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Tiểu kết chương 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và pháp luật về tôn giáo là một vấn đề mới và đã được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên việc tiếp cận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như là một yêu cầu của quá trình hoàn thiện pháp luật về tôn giáo chưa có công trình nào đề cập một cách cụ thể; các nghiên cứu được thực hiện đã đề cập khái quát về các quy định của pháp luật hiện hành về tôn giáo; việc phân tích nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của các quy định pháp luật cũng như việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, pháp luật về tôn giáo chưa được nhìn nhận một cách có hệ thống Vì vậy, việc đánh giá thực trạng cũng như thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm không còn cập nhật với thực tế Nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như một cơ
sở nền tảng để xây dựng và hoàn thiện pháp luật chưa được đề cập, đặc điểm, nội dung của pháp luật về tôn giáo đã được đề cập nhưng chưa thật rõ
Từ những nội dung đã được đề cập hay còn bỏ trống kể trên, luận án sẽ tập trung xem xét, luận giải và làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn trong những chương tiếp theo Để giải quyết các vấn đề đó, ngoài các phương pháp nghiên cứu và tiếp cận truyền thống, luận án còn sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành
Trang 33CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
2.1.1 Khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng
Vấn đề tín ngưỡng, hiện nay giới khoa học xã hội còn đang có nhiều ý kiến khác nhau khi nói tới khái niệm tín ngưỡng, bởi chúng có mối liên hệ và
sự chuyển hóa trong những bối cảnh nhất định Từ cổ xưa, khi con người xuất hiện thì cuộc sống của họ luôn phải đấu tranh để sinh tồn và phát triển; họ phải đấu tranh với thiên nhiên (thời tiết, khí hậu, thiên tai, thú dữ…), đấu tranh giữa cá thể với cá thể, với cộng đồng người trong một xã hội đầy trắc trở… Những hiện tượng thiên nhiên (như sấm chớp, bão tố, nước, lửa…), những hiện tượng xã hội (người giàu, kẻ nghèo, người tốt, kẻ xấu, người làm vua, kẻ ăn mày,…) họ không thể giải thích được Từ đó con người đã suy nghĩ những hiện tượng thiên nhiên, bản thân con người, xã hội là do có những
“đấng siêu nhiên” tạo ra, mình phải cầu, cúng những “đấng siêu nhiên” tác động cho đời sống con người được tốt hơn Như vậy niềm tin vào một đấng siêu nhiên đã hình thành ngày một lan rộng trong hầu hết cộng đồng người trên thế giới; đó chính là tín ngưỡng
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, tín ngưỡng nghĩa là lòng tin và sự
ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó Nhìn chung, đa số các
nhà nghiên cứu đều cho rằng: tín ngưỡng có hai nghĩa Nghĩa rộng, tín
ngưỡng phản ánh niềm tin và sự ngưỡng mộ, sùng kính của con người về một chủ thuyết, một lực lượng nào đó Tín ngưỡng tôn giáo chỉ là một dạng của
tín ngưỡng nói chung Theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng là đức tin, niềm tin vào lực
Trang 34lượng siêu nhiên, là một bộ phận cấu thành chủ yếu của tôn giáo Cơ sở của tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” (hay nói gọn lại là “cái thiêng”) - cái đối lập với cái “trần tục”, cái hiện hữu mà con người có thể sờ mó, quan sát được
Có người đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo, có người lại coi tín ngưỡng nằm dưới tôn giáo trong bậc thang phát triển; tín ngưỡng mang tính dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian; trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ và nghi lễ còn phân tán, không có những quy định chặt chẽ; tín ngưỡng thường không có tổ chức hoặc
có tổ chức ở dạng sơ khai nhất; tín ngưỡng cũng không có hệ thống giáo lý
mà chỉ có các vật được tôn thờ bao gồm: hiện tượng thiên nhiên (mưa bão, sấm chớp, lũ lụt,…), vật thể (nước, lửa, bến nước, núi non, sông biển,…), con người (người đã mất, người có công với đất nước, với dân, siêu nhân,…), nhân vật siêu thực (thần thánh, tiên, thượng đế,…); khi nói đến tín ngưỡng thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc hay một cộng đồng người
Cũng bàn về khái niệm tín ngưỡng, PGS.TS Nguyễn Đức Lữ cho rằng
“Tín ngưỡng chỉ là niềm tin, đức tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng của con người vào cái gì đó mà người ta cho là siêu phàm, là cao cả và đẹp đẽ” [9, tr.30]
Theo tác giả Phương Anh thì “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng vọng về một lực lượng tiên thiên, tuyệt đối hay thần thánh nào đó Lực lượng
đó có ảnh hưởng đến hành vi của người tin theo, hoặc có thể chi phối đến hành vi nhưng ở một giới hạn nhất định” [2, tr.15]
Từ những nhận định như trên, có thể định nghĩa khái niệm “tín
ngưỡng” một cách khái quát như sau: Tín ngưỡng là niềm tin, là sự ngưỡng
mộ vào các đấng siêu nhiên hay những người được cho là thần thánh ở thế giới siêu thực, có sức mạnh tác động vào đời sống hiện tại của con người nên được tôn thờ
2.1.1.2 Khái niệm tôn giáo
Trang 35Theo từ điển tiếng việt (Viện ngôn ngữ - 1996): Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng những lực lượng siêu nhiên cho rằng những lực lượng siêu nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ Tôn giáo nảy sinh rất sớm, từ trong xã hội nguyên thủy Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng hay những
vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái nào đó Theo từ điển Tôn giáo (2001 - Marguerite Mariethiollier): Tôn giáo bao hàm một mặt, sự tìm kiếm sự thật về nguồn gốc của thế giới và của con người
và những quan hệ của nó với thần thánh Mặt khác, một tập hợp những tín ngưỡng, một nhu cầu thương yêu và xúc cảm, một quan hệ hài hòa giữa vũ trụ
vi mô và vũ trụ vĩ mô, nó là sự thể hiện của cái thiêng và sự tổ chức những nghi thức cá nhân và xã hội
Nhà triết học duy vật siêu hình cổ Hi Lạp Democrite (460BC-370BC)
đã xem tôn giáo phát sinh từ niềm tin và sự sợ hãi của con người, ông viết:
“Con người thường rơi vào hoàn cảnh khó khăn, họ khó có thể khắc phục được, họ dao động giữa niềm tin, hy vọng và sự sợ hãi Con người cần có sự giúp đỡ Còn theo nhà triết học Hà Lan Baruch Spinoza (1632-1677) thì tiếp cận tôn giáo ở khía cạnh tâm lý con người, ông viết: “Các điều kiện sống thực
tế đã hình thành trạng thái tâm lý nhất định Khi con người lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc, không tìm được cách giải quyết thì họ tin vào hiện tượng thần thánh cứu giúp họ” Còn nhà triết học duy vật người Anh Bettrand Rusell (1872-1970) cho rằng tôn giáo hình thành bởi ba nỗi sợ hãi của con người: sợ thiên nhiên, sợ con người với nhau và sợ chính bản thân mình Nhà triết học duy tâm biện chứng nổi tiếng Hegel người Đức Geogre Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) đã dựa trên suy luận từ tôn giáo để hình thành “tư tưởng triết học Hegel” ông cho rằng Thượng Đế là sự thể hiện cao nhất của lý tính hay nói cách khác Thượng Đế chính là tinh thần tuyệt đối
Với cách nhìn tôn giáo từ góc độ tư tưởng, triết học của các nhà kinh điển Mác - Lênin Các định nghĩa “Tôn giáo là tiếng thờ dài của chúng sinh bị
Trang 36áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần” [134, tr.570] Ph Ăng-ghen cho rằng: “tất cả các tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [135, tr.437]
Gần đây một số nhà nghiên cứu tôn giáo Việt Nam cũng đưa ra những
lý giải hoặc chia sẻ quan điểm của mình về tín ngưỡng, tôn giáo Từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1992, đưa ra định nghĩa “Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ” Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn trong sách Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam, xuất bản năm 1998 cho rằng: “Tôn giáo là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại hư ảo giữa con người và thế giới
đó nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay
xã hội khác nhau” [109, tr.42] Năm 1997, trong một nghiên cứu, Phó Giáo sư Nguyễn Văn Kiệm cho rằng là một tôn giáo phải hội đủ các điều kiện như:
“Một niềm tin vào đấng siêu nhiên có vai trò quyết định đối với vận mệnh của con người trong cuộc sống hiện tại cũng như cuộc sống bên kia; một hệ thống
lễ nghi đôi khi đơn giản, đôi khi phức tạp, cầu kỳ nhằm giúp tín đồ thường xuyên gắn bó với niềm tin; một tổ chức nhân sự ít nhiều quy mô về hệ thống điều hành việc hành đạo của tín đồ; hệ thống luân lý đạo đức cho người tu hành, đây là thành tố được coi là quan trọng nhất” [2, tr.11]
Trong các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo ở nước ta chưa có bất cứ một văn bản nào giải thích khái niệm, kể cả trong Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh trực tiếp lĩnh vực tôn giáo, phần giải thích từ ngữ, khái niệm tôn
Trang 37giáo vẫn bị bỏ ngỏ; do việc giải thích khái niệm tôn giáo khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, nhưng để có một khái niệm làm công cụ cho việc nghiên cứu quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật Việt Nam hiện
nay, chúng tôi sử dụng khái niệm tôn giáo theo nghĩa: “Tôn giáo là tín
ngưỡng của những người cùng chung một tổ chức, có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và được Nhà nước công nhận”
2.1.1.3 Khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Tự do tôn giáo, một giá trị tư tưởng của loài người, được hình thành ở Châu Âu với các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XVII - XVIII Những nhà tư tưởng như John Locke (1632-1645), J.J.Rousseau (1712-1778) đã góp phần tạo ra lý thuyết về một nhà nước chỉ căn cứ vào nhu cầu và đòi hỏi của con người vào các “khế ước xã hội” mà thôi, chứ không còn tựa vào những nguyên tắc tôn giáo nữa [75, tr.20]; đã đặt ra nền móng cho quyền tự do tôn giáo khi cho rằng, tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn là của xã hội và vai trò của Nhà nước không phải là khuyến khích tôn giáo mà trái lại, là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân sở hữu niềm tin của họ
Trong tiến trình vận động của lịch sử, quan niệm về tự do tôn giáo dần trở lên hoàn thiện hơn: Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 đề cập đến
tự do “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [125, tr 96], song chưa nói
cụ thể về tự do tôn giáo; sự đóng góp của Đại cách mạng Pháp năm 1789 và cách mạng tư sản Châu Âu đã có vai trò rất lớn trong việc giải quyết mối quan
hệ giữa nhà nước và giáo hội; cuộc cách mạng ấy đã tạo ra một quyền lực bằng chính chủ thể con người Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789 của Pháp, tại điều 1 có quy định “mọi người sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền” [125, tr.112] và quy định “không ai có thể gây phiền hà
do có ý kiến kể cả tín ngưỡng này khác, miễn là không có biểu hiện gây rối trật tự công cộng do luật pháp quy định” [125, tr.114], song cũng chưa nói rõ
Trang 38về tự do tôn giáo Năm 1905, Luật Phân ly nổi tiếng của nước Pháp có nói đến quyền tự do lương tâm và quyền thực hành thờ phụng (điều 1) với “hạn chế duy nhất là phải đảm bảo lợi ích công cộng”, Luật Phân ly có đóng góp đặc biệt quan trọng vì đã tìm ra mô hình thỏa ước đã khẳng định ba nguyên tắc cơ bản đó là; tách giáo hội khỏi nhà nước, tách nhà trường - hệ thống giáo dục ra khỏi giáo dục nhà thờ và coi tôn giáo là việc cá nhân của mỗi người
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong văn bản luật quốc tế về tôn giáo được ghi nhận từ rất sớm trong các văn kiện luật nhân quyền quốc gia và quốc
tế Ở cấp độ quốc gia, có thể kể đến Luật của Rhode Island 1647 và Hiệp ước Hòa bình Augsburg 1555 với những quy định liên quan đến “quyền được thừa hưởng về tự do tôn giáo” Ở cấp độ quốc tế, quyền này được khẳng định ngay trong văn kiện quốc tế đầu tiên về nhân quyền là Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền năm 1948; Điều 18 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm
1948 định nghĩa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau: “Mọi người đều
có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo; quyền này bao gồm quyền tự do thay đổi tôn giáo và niềm tin, cũng như quyền tự do biểu hiện tôn giáo hay niềm tin của mình, một mình hay cùng chung nhau, ở nơi công cộng hay ở nơi riêng tư, bằng thuyết giảng, tục lệ, thờ cúng và làm các nghi lễ” [125, tr.152].Cũng theo khoản 1 Điều 18 của Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 nêu khái niệm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo Quyền
tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và giảng đạo” [125, tr.242] Liên minh châu Âu (EU) hiểu tự do tín ngưỡng và tôn giáo theo điều 9 và điều 10 Hiến chương châu Âu về quyền con người (ECHR), cũng như theo “truyền thống hiến pháp chung cho các thành viên” (điều 6.3 EU), sẽ được chỉ rõ trong đối thoại giữa cấp độ quốc gia và cấp độ châu Âu Theo điều 9.1 Hiến chương châu Âu về
Trang 39quyền con người, sau đó được tái khẳng định tại điều 10 Hiến chương châu
Âu về nhân quyền “mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo; quyền này bao gồm cả tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như cầu nguyện, truyền giảng, thực hành và thực hiện nghi lễ tôn giáo”; theo điều 10, Hiến chương châu Âu về các quyền cơ bản, “quyền tự do lương tâm được công nhận, phù hợp với pháp luật quốc gia điều chỉnh việc thực hiện quyền này”; Liên minh châu Âu hiểu tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách rộng rãi như vậy
để bao gồm đa số hiện tại của các định nghĩa trong các quốc gia Ví dụ điều
19 của Hiến pháp Bỉ năm 1970, căn cứ vào Hiến pháp năm 1831, đảm bảo rằng “tự do tôn giáo, thực hành công khai và tự do thể hiện ý kiến của một người trên tất cả các vấn đề được đảm bảo, nhưng hành vi phạm tội khi tự do này được sử dụng có thể bị trừng phạt”, trong khi điều 20 quy định rằng
“không ai có thể có nghĩa vụ đóng góp trong bất kỳ cách nào với các hành vi
và nghi lễ của một tôn giáo hoặc thực hiện các ngày nghỉ ngơi”
Điều 19, Hiến pháp Ý năm 1948 bảo vệ tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở chừng mực “bất cứ ai cũng có quyền tự do tuyên xưng niềm tin tôn giáo của
họ dưới mọi hình thức, với tư cách cá nhân hoặc với những người khác, và để thúc đẩy họ và tôn vinh nghi thức ở nơi công cộng hoặc riêng tư, miễn là chúng không gây hại cho đạo đức xã hội” Điều 4, Luật Cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949 quy định rằng “tự do của đức tin, của lương tâm và
tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay ý thức hệ, sẽ bất khả xâm phạm” Điều 16 của Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 đảm bảo rằng “tự do tư tưởng, tôn giáo và giáo phái của các cá nhân và cộng đồng được đảm bảo không có bất kỳ giới hạn trong các cuộc tuần hành của họ trừ khi đó là cần thiết để duy trì trật tự công cộng được bảo vệ bởi pháp luật” Hiến pháp của Vương quốc Anh định nghĩa tự do tín ngưỡng, tôn giáo dựa trên sự kết hợp của điều 9 Hiến chương châu Âu về quyền con người thông qua đạo luật Nhân quyền năm 1998
Trang 40Từ các định nghĩa pháp lý của tự do tín ngưỡng, tôn giáo, các cơ quan của Liên minh châu Âu đã phát triển thêm khái niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, với các mô tả được cung cấp bởi Hội đồng Liên minh châu Âu vào năm
2009 và nhắc lại trong “hướng dẫn” năm 2013: “Tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo, hay tín ngưỡng, áp dụng đồng đều cho tất cả mọi người Đó là tự do
cơ bản bao gồm tất cả các tôn giáo hay tín ngưỡng, bao gồm cả những gì đã không được thực hành truyền thống trong một quốc gia cụ thể, niềm tin của những người thuộc các tôn giáo thiểu số, cũng như niềm tin tôn giáo vô thần
và người vô thần Tự do bao gồm quyền thực thi, thay đổi hoặc từ bỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của một người, của ý chí tự do của chính mình”
Ở châu Á, Trung Quốc là một nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam cả về văn hóa, phong tục tập quán lẫn thể chế chính trị Trong quan điểm đối với tôn giáo, trên phương diện pháp luật, các nội dung liên quan đến tôn giáo được thể hiện trong Hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị định, quy định Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc có một số điều căn bản đề cập tới vấn
đề tín ngưỡng, tôn giáo đó là các điều 30, 33, 34, 36, 38, 51 Tại Nghị định
145 ngày 31/01/1994 của Trung Quốc quy định: “Các nơi hoạt động của tôn giáo phải đăng ký theo thể thức do Cục Tôn giáo Quốc gia ấn định Các nơi
đó không thể do người nước ngoài điều khiển Các nơi thờ tự không được nhận tiền bạc của các tổ chức và cá nhân từ nước ngoài gửi về Tiền bạc do người nước ngoài tặng hoặc dâng cúng phải được tiếp nhận theo luật pháp quốc gia”; tại điều 251, Luật Hình sự của Trung Quốc quy định: “Nhân viên các cơ quan nhà nước tước đoạt trái phép quyền tự do tín ngưỡng của công dân và xâm phạm phong tục tập quán dân tộc thiểu số, tình tiết nghiêm trọng
sẽ bị xử phạt tù giam dưới hai năm” Điều 77, Luật Dân sự quy định: “Tài sản hợp pháp của các đoàn thể xã hội, bao gồm cả đoàn thể tôn giáo, được pháp luật bảo hộ” Luật giáo dục quy định: “Nhà nước thực hành giáo dục tách rời tôn giáo Bất cứ tổ chức hay cá nhân nào cũng không được lợi dụng tôn giáo
để tiến hành các hoạt động cản trở chế độ giáo dục của nhà nước”