Do vậy, việc nghiên cứu những nội dung cụ thể và chỉ ranhững đóng góp cùng hạn chế trong tư tưởng triết học về khoa họccủa Karl Popper có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của chuyên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-NGUYỄN THỊ THUÝ DI
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC
CỦA KARL POPPER TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.03.01
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng Phản biện 1: TS Trần Ngọc Ánh
Phản biện 2: PGS.TS Hồ Tấn Sáng
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Triết học họp tại Đại học Kinh tế Đà Nẵng vào ngày 25 tháng 3 năm 2017
Có thể tìm hiểu Luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin – Học liệu: Đại học Đà Nẵng
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng Phản
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khoa học là một lĩnh vực quan trọng của ý thức xã hội.Những thành tựu của khoa học có vai trò vô cùng to lớn đối với sựphát triển sản xuất và các hoạt động của con người nhằm cải tạo tựnhiên và phát triển xã hội Có một ngành của triết học đi sâu nghiêncứu để trả lời cho một loạt câu hỏi, như về bản chất của khoa học,
về con đường phát triển của nhận thức khoa học; về vấn đề chân lýtrong các khoa học, v.v Chuyên ngành mới này của triết họcchuyên nghiên cứu những vấn đề chung nhất đó của khoa học và
được gọi là Triết học về khoa học (Philosophy of science).
Những nhà triết học theo lập trường chủ nghĩa Thực chứng lànhững người đầu tiên đã tiếp cận các vấn đề của triết học về khoahọc Sự phát triển tiếp theo của chủ nghĩa thực chứng mới được gọi
là chủ nghĩa hậu thực chứng Người đầu tiên khởi xướng cho xu
hướng này là nhà triết học người Áo Karl Raimund Popper (1902 –
1994) với chủ nghĩa duy lý phê phán và nguyên tắc khả phủ chứngrất nổi tiếng Karl Popper đã thách thức với cách tiếp cận và nhiềuvấn đề thuộc nội dung và phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩathực chứng lôgic Ông đã đưa ra cách tiếp cận mới và nhiều nộidung nghiên cứu mới cho triết học về khoa học Tuy nhiên, triết học
về khoa học của Karl Popper cũng không tránh khỏi những thiếu sótnhất định Do vậy, việc nghiên cứu những nội dung cụ thể và chỉ ranhững đóng góp cùng hạn chế trong tư tưởng triết học về khoa họccủa Karl Popper có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của chuyênngành mới này của triết học
Với những lý do trên và lòng mong muốn tìm hiểu tư tưởng
triết học của Karl Popper, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng triết học về
khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm” làm đề tài luận
văn của mình
Trang 42 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 M ục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích là nghiên cứu tư tưởng triết học vềkhoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm triết học của ông,
từ đó chỉ ra những giá trị cùng những hạn chế của nó
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đề ra những
nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề lý luận của
sự ra đời tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper
- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng triết học về khoahọc của Karl Popper qua một số tác phẩm của ông
- Phân tích những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học
về k h o a h ọ c của Karl Popper
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung tưtưởng triết học về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm
triết học của ông đã được xuất bản, qua đó chỉ ra những đóng góp
và hạn chế của K Popper trong cách tiếp cận của ông về bản chất
và con đường của nhận thức khoa học, về vấn đề chân lý trong tri
thức khoa học
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trongmột số tác phẩm triết học về khoa học của Karl Popper, như “Lôgiccủa phát minh khoa học”, “Phỏng định và bác bỏ” và “Tri thức
khách quan” Đồng thời Luận văn cũng tham khảo lý luận nhận
thức của triết học Mác-Lênin, tư tưởng của một số tác giả khác có
liên quan, như của các nhà triết học thực chứng lôgic nhóm Viên và
sự phát triển của triết học về khoa học của một số nhà nghiên cứu
Trang 5sau này để thấy được những mặt hợp lý và hạn chế của Karl Popper.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luậnnhận thức duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu
khác nhau Nhưng chủ yếu sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:phương pháp thống nhất giữa phân tích và tổng hợp, quy nạp và
diễn dịch, lôgic và lịch sử, đối chiếu, so sánh, trừu tượng hóa, kháiquát hóa
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận
văn có nội dung chính gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành tư tưởng triết học về khoa
học của Karl Popper
Chương 2: Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng triết
học về khoa học của Karl Popper
Chương 3: Những đóng góp và hạn chế trong tư tưởng
triết học về khoa học của Karl Popper
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về Karl Popper ở nước ngoài
khá phong phú Trước hết phải kể đến các bài viết trong các từ điển
và bách khoa thư được công bố trên mạng internet, các sách của KarlPopper có liên quan đến tư tưởng triết học về khoa học của ông được
xuất bản bằng tiếng Anh đều được công bố trên mạng internet, nênrất thuận lợi cho việc tra cứu
Hiện nay ở nước ta, các công trình nghiên cứu về KarlPopper tuy không nhiều, nhưng có thể chia thành các loại:
Trang 6+ Một số sách dịch và giới thiệu tác phẩm của Karl Popper bằng tiếng Việt Hiện nay ở nước ta mới chỉ có ba tác phẩm của Karl Popper được dịch ra tiếng Viêt: 1) Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch
sử, 2) Xã hội mở và những kẻ thù của nó, 3) Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa.
+ Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo về Karl
Popper được dịch ra tiếng Việt.
+ Một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học phương Tây đương đại, trong đó có triết học Karl Popper.
Ở nước ta trên mạng internet cũng đã xuất hiện một số bài
(tiếng Việt) về K Popper, hoặc ít nhiều có liên quan Trong thời giangần đây, có một vài luận văn cao học đề cập một số khía cạnh trong
tư tưởng triết học của Karl Popper
CHƯƠNG I
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
1.1 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA
SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
1.1.1 Các điều kiện kinh tế
Vào cuối năm 20 đầu những năm 30, cuộc khủng hoảngkinh tế diễn ra trong thế giới tư bản có ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống của nhiều nước châu Âu Kinh tế của các nước trong đế
quốc Áo - Hung lạc hậu, kém phát triển nên rơi vào khủng hoảngnghiêm trọng trong điều kiện chiến tranh, ngoài mặt trận thì quân
đội liên tiếp thất bại, các dân tộc nổi lên đòi độc lập khiến Đế quốc
Áo – Hung nằm trên bờ vực sụp đổ Hoàn cảnh lịch sử đó đã tạonên sự phát triển không đồng đều và sự khác nhau về hình thứcthống trị của các nước tư bản
Trang 71.1.2 Tình hình chính trị - xã hội
Vào nửa đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội tạiViên diễn biến phức tạp Đế quốc Áo – Hung có tham vọng lớn làlàm chủ khu vực Balkan mặc dù kinh tế hết sức lạc hậu, mâu thuẫndân tộc vô cùng phức tạp Năm 1909, Đế quốc Áo – Hung thôn tínhBosnia và Herzegovina, làm cho sự đối địch giữa Áo – Hung vàSerbia ngày càng gay gắt Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng
Mười Nga, Đế quốc Áo – Hung cũng bùng lên làn sóng cách mạng
của nhân dân Lúc này tại Viên rất hỗn loạn, không chỉ có sự xáotrộn về chính trị mà nạn thất nghiệp, lạm phát, đói kém và các tệnạn xã hội tràn lan
Tình hình chính trị Áo trở nên căng thẳng, khi nước Áo và
Đức sát nhập vào nhau, Karl Popper buộc phải rời khỏi Áo cùng
với vợ
1.2 TIỀN ĐỀ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN CHO RA ĐỜI
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER
1.2.1 Các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống đọc sách,
K Popper đã sớm tiếp cận với những thành tựu triết học và khoa
học của thế giới Các nhà triết học như Spinoza, Descartes, Kantvới những quan điểm của mình đã làm K Popper phải suy tư trongnhiều năm Đặc biệt ông đã chú tâm đọc “Luân lý học” và “Nguyên
lý triết học Descartes”
K Popper đã bị khuất phục về độ chính xác sau khi lý
thuyết của Einstein được thực nghiệm Karl Popper so sánh ba trào
lưu lý luận đang thịnh hành: chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Freud và
thuyết tương đối của Einstein và ông rút ra kết luận chỉ có họcthuyết của Einstein mới thực sự là khoa học
Ngoài ra, K Popper còn chịu ảnh hưởng của Alfred Adler
Trang 8(1870 – 1937) chuyên gia tâm thần học Về mặt vật lý học, K.
Popper chịu ảnh hưởng thuyết bất định trong vật lý học lượng tử.
Về mặt kinh tế, K Popper chịu ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa tự docủa Friedrich Hayek (1899–1992)
1.2.2 Các trào lưu triết học duy khoa học
Karl Popper ngay từ thời niên thiếu đã tiếp xúc với trào
lưu triết học duy khoa học Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học
và sự ứng dụng ngày một rộng rãi của toán học và lôgic toán trongkhoa học, điều này đã dẫn đến khuynh hướng tuyệt đối hoá toánhọc lôgic và khoa học thực nghiệm
Người khởi xướng cho sự ra đời của triết học về khoa học
và chủ nghĩa thực chứng là nhà triết học Pháp Auguste Comte 1857) Ngoài ra, còn có các đại biểu nổi tiếng khác như Ernst Mach(1838-1916), Ludwing Wittgenstein (1889-1951), Rudolf Carnap(1891 – 1870)
(1798-1.3 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper
Karl Popper sinh ngày 28 tháng 6 năm 1902 tại Viên,nước Áo, là một người mang dòng dõi Do Thái, nhưng gia đình lại
theo Kitô giáo
Karl Popper lớn lên trong một gia đình mà sách và âmnhạc luôn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống Cha củaKarl Popper là Simon Carl Siegmund (1856-1932), là một tiến sĩluật của Đại học Viên Mẹ của K Popper là Jenny Schiff (1864 –1938), bà xuất thân từ một gia đình âm nhạc Trong thời thơ ấu của
K Popper, gia đình ông có cuộc sống khá thịnh vượng
Ngay từ khi còn trẻ ông đã chú ý đến các câu hỏi về triếthọc Năm 1918, K Popper tròn 16 tuổi, ông đã bỏ học Sau khi bỏhọc, K Popper bắt đầu tự học và vào học dự thính tại Trường đạihọc Viên Bốn năm sau, ông vượt qua kỳ thi để trở thành sinh viên
Trang 9chính thức của Trường đại học Viên.
Năm 1928, K Popper đã hoàn thành luận án tiến sĩ triết
học với đề tài: “Vấn đề phương pháp trong tâm lý học tư duy” Năm
1929, K Popper nhận làm giáo viên dạy bộ môn số học và khoa học
tự nhiên cấp trung học cơ sở Trong thời gian là giáo viên, ông đãgặp và kết hôn với Josephine Henninger (Hennie), sau này bà cũngtrở thành một người giáo viên
Năm 1937, Karl Popper đến New Zealand và giảng dạy
triết học như một giảng viên cao cấp tại Đại học Canterbury Trongthời gian chiến tranh ông đã hoàn thành hai tác phẩm về triết họcchính trị là: “The Poverty of Historicissm” (Sự nghèo nàn của chủnghĩa lịch sử) và “The Open Society and Its Enemies” (Xã hội mở
và kẻ thù của nó) Năm 1949 đã trở thành một giáo sư lôgic và khoahọc về phương pháp tại Trường Kinh tế London Trong thời giangiảng dạy lôgic và khoa học về phương pháp tại Trường Kinh tế
London, ông đã viết hai tác phẩm mang tư tưởng triết học khoa học
nổi tiếng là “Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific
Knowledge” (Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức
khoa học) và “Objective Knowledge: An Evolutionarry Approach”(Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa)
Năm 1958, Karl Popper đã trở thành một thành viên của
Học viện Anh và trong 1958 – 1959 ông là Chủ tịch Hội Aristotle
Karl Popper đã được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ(Knight) vào năm 1965 và trở thành thành viên Hội Hoàng gia vàonăm 1976
Năm 1979, ông ngừng giảng dạy nhưng vẫn tiếp tục viếtsách Năm 1992, ông được Viện Goethe của Đức trao tặng Huychương Goethe Ông là thành viên của Mont Pelerin Society do
Hayek thành lập, đồng thời cũng là thành viên của Royal Society vàcủa International Academy of Science Ông mất vào ngày 17 tháng
Trang 109 năm 1994 tại London.
1.3.2 Một số tác phẩm tiêu biểu của Karl Popper về triết học khoa học
Hai tác phẩm tiêu biểu cho quan điểm chính trị - xã hội của
K Popper là: “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” và “Xã hội mở
và những kẻ thù của nó” Trong hai tác phẩm này cũng chứa đựngmột số tư tưởng triết học về khoa học của ông
Các tác phẩm chủ yếu thể hiện quan điểm triết học về khoahọc của Karl Popper gồm có:
1) “Lôgic của phát minh khoa học” [46] Cuốn sách được
ông viết bằng tiếng Đức có tựa đề Logik der Forschung – xuất bản
lần đầu tại Nhà xuất bản Julius Springer Verlag, Vienna, 1934 – sau
đó được chính tác giả dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề The Lôgic of Scientific Discovery – Nxb Hutchinson, London, 1959.
2) “Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức khoa học” (Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific
Knowledge) [49], được xuất bản lần đầu năm 1963, do NxbRoutledge & Kegan Paul Đây là tác phẩm được viết bằng tiếng Anh,thể hiện quan điểm của Karl Popper về hai quá trình chủ yếu củahoạt động nghiên cứu khoa học
3) “Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa” (Objective Knowledge: An evolutionary Approach) [50].
Cuốn sách là tập hợp 9 bài viết và tham luận quan trọng của ông dochính ông chủ biên và xuất bản lần đầu do Nxb Oxford UniversityPress, 1972, dưới nhan đề “Objective Knowledge: An EvolutionaryApproach” Sách này được Chu Lan Đình dịch do Nxb Tri thức, HàNội, xuất bản năm 2012 [34]
Ngoài ra, còn một tác phẩm khác cũng quan trọng cho việc
nghiên cứu về Karl Popper Đó là tác phẩm “Unended Quest: An
Trang 11Intellectual Autobiography (Sự sưu tầm chưa kết thúc: Một tự tiểu sử của người tri thức) [45].
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper được hình
thành vào cuối những năm 20 đầu những năm 30 với sự ra đời củatác phẩm “Lôgic của phát minh khoa học”
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper ra đời khinước Áo lâm vào khó khăn và tình trạng kinh tế khó khăn, ông phải
di tản sang nước ngoài Đồng thời, trong thời đại của ông xuất hiệnnhiều thành tựu khoa học mới
Ngoài những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị - xã hộicủa mình, quan điểm triết học về khoa học của Karl Popper đượctrình bày trong một loạt các tác phẩm tiêu biểu như: “Lôgic của phátminh khoa học”, “Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thứckhoa học”, “Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến
hóa” Tất cả những tác phẩm này đã được công bố trên mạng internet
và một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt là cơ sở để chúng tôi
đi sâu nghiên cứu về tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper
CHƯƠNG II
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER 2.1 VỀ VẤN ĐỀ PHÂN RANH GIỮA KHOA HỌC VÀ PHI KHOA HỌC
Đối với các nhà triết học về khoa học, vì tuyệt đối hóa vai trò
của khoa học nên họ đặt ra vấn đề phân định ranh giới (gọi tắt là
phân ranh, tiếng Anh: demarcation) giữa khoa học và những hình
thái khác mà họ gọi là siêu hình học (metaphysics), phi khoa học(non-science), khoa học giả hiệu (pseudo-science) Theo Karl
Popper, đây là vấn đề trung tâm của triết học về khoa học
Trang 12Theo ông, để phân biệt một phát biểu (một mệnh đề) hay một
lý thuyết là khoa học hay không khoa học không phải ở chỗ “khả
năng chứng thực” (khả năng chứng minh sự chân thực, hay tính khả thực chứng – verifiability), mà ở “khả năng chứng sai” (khả năng
chứng tỏ sự giả dối, khả năng bị bác bỏ, hay tính khả phủ chứng –
falsifiability hay refutability).
Trong tác phẩm “Phỏng định và bác bỏ”, K Popper viết: “Tiêuchuẩn tính khả phủ chứng (falsifiability) là giải pháp cho vấn đềphân ranh, vì nó nói rằng những phát biểu (statements) hay những hệthống các phát biểu, để được xếp vào hàng ngũ khoa học, phải cókhả năng xung đột với những quan sát có thể có hay có thể tiến hành
được” [49, tr.51]
Đối với Popper, khả năng kiểm nghiệm là khả năng phủ chứng, khả năng bị bác bỏ bằng quan sát.
2.2 VỀ MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC
2.2.1.Về mục đích và nhiệm vụ của nhận thức khoa học
Popper cho rằng: “Trong khoa học điều mà chúng ta muốn
đạt tới là miêu tả và cắt nghĩa thực tại” [34, tr.72] Thay cho việc
nghiên cứu quy luật, Karl Popper coi mục đích của khoa học chỉ là
đưa ra những kiến giải (giải thích) thoả đáng Theo Karl Popper,
mục đích của nghiên cứu khoa học không chỉ đưa ra những kiến giải,
mà quan trọng hơn là sáng tạo ra những lý thuyết khoa học.
K Popper cũng cho rằng mục đích chính của khoa học làtruy tìm chân lý Ông nói: “Trong khoa học cũng như trong triết học,mục đích chính của chúng ta là truy tìm chân lý bằng cách đưa ranhững phỏng định táo bạo, và bằng việc nghiên cứu phê phán nhằmtìm ra cái sai trong những lý thuyết cạnh tranh đa dạng” [34, tr.419]
Khi nói đến nhiệm vụ của khoa học, Ông nói: “Nhiệm vụ
của khoa học không chỉ giới hạn ở việc tìm kiếm những kiến giải
Trang 13thuần tuý lý thuyết; nó còn có cả những mặt thực tiễn nữa”.“Chẳnghạn nhiệm vụ ở đây là xây một chiếc cầu, cần tuân thủ một số đòi hỏi
kỹ thuật nhất định được ghi trong một danh mục chi tiết” [34,tr.462]
2.2.2.Về bản chất của sự nhận thức khoa học
Karl Popper lại không dùng những thuật ngữ như “phản ánh”,
“quy luật khách quan” mà ông thay vào đó bằng các thuật ngữ
“phỏng định và bác bỏ” (conjecture and refutation) và “tri thức kháchquan” (objective knowledge) Đây cũng là những tiêu đề của hai
công trình nghiên cứu quan trọng của ông Trong “Phỏng định và bácbỏ” (Conjectures and Refutations), K Popper viết: “Cách thức pháttriển của tri thức, và nhất là tri thức khoa học của chúng ta, là bằngnhững dự kiến (anticipations), tiên đoán (guesses), bằng những giải
pháp thăm dò (tantative solutions), bằng những phỏng định
(conjectures) Những phỏng định này được kiểm soát bằng sự phêphán; nghĩa là bằng những bác bỏ có chủ định (attempted
refutations)” [49, tr.11]
Karl Popper coi những cố gắng của triết học và khoa học xãhội đi tìm những quy luật cho sự phát triển lịch sử chỉ là “ảo tưởng”.Ông nói: “Niềm hy vọng đặc biệt hơn cả là một ngày nào đó chúng ta
sẽ tìm ra những “quy luật vận động của xã hội”, giống hệt như
Newton đã tìm ra những quy luật vận động của các vật thể vật lý
(laws of motion of physical bodies), hoàn toàn chỉ là kết quả củanhững sự nhầm lẫn nói trên Bởi vì không có sự vận động xã hội nàogiống hoặc tương tự với vận động của các vật thể vật lý, cho nênchẳng thể có những quy luật như vậy” [48, tr.115]
Như vậy, theo Karl Popper, bản chất nhận thức khoa học
không phải là phản ánh thế giới khách quan, không phải là tìm ra quy
luật, mà quá trình chủ thể đưa ra những phỏng đoán, dự báo, sau đó