1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Xây dựng hệ thống tra cứu điểm thi và trả lời tự động qua tin nhắn SMS

65 549 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Suy ra, khi xây dựng một chương trình làm việc với các Mô-đem GSM , cần phải nghiên cứu tài liệu kỹ thuật của từng loại mô-đem để có thể thiết lập đúng những thông số mà mô-đem đó hỗ trợ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trải qua thời gian 5 năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông - Đại học Thái Nguyên, đến nay em đã kết thúc khoá học và hoàn thành đồ án tốt nghiệp Để có được kết quả này em xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông cùng các thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin đã giảng dạy, quan tâm

và tạo điều kiện thuận lợi để chúng em học tập và rèn luyện trong suốt thời gian theo học tại trường.

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn của em

là Thầy giáo Ths Trịnh Văn Hà đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đồ án này.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè giúp đỡ em rất nhiều trong thời gian học tập và làm đồ án tốt nghiệp.

Đồ án đã hoàn thành với những kết quả nhất định, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự cảm thông và đóng góp từ các thầy

cô Sự phê bình, góp ý của quý thầy cô và các bạn sẽ là những bài học kinh nghiệm rất quý để đồ án được hoàn thiện hơn, có khả năng ứng dụng trong thực tế.

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2012 Sinh viên thực hiện

Bùi Thu Trang

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đồ án tốt nghiệp là sản phẩm tổng hợp toàn bộ các kiến thức mà sinh viên đã học được trong suốt thời gian học tập tại trường đại học Ý thức được điều đó, với tinh thần nghiêm túc, tự giác cùng sự lao động miệt mài của bản

thân và sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo Ths Trịnh Văn Hà em đã hoàn

thành xong đồ án tốt nghiệp của mình.

Em xin cam đoan nội dung đồ án của em không sao chép nội dung cơ bản

từ các đồ án khác và sản phẩm của đồ án là của chính bản thân em nghiên cứu xây dựng lên Mọi thông tin sai lệch em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng bảo vệ.

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Thông tin di động ngày nay đã trở thành một dịch vụ kinh doanh không thể thiếu được của tất cả các nhà khai thác viễn thông trên thế giới Đối với các khách hàng viễn thông, nhất là đối với các nhà doanh nghiệp thông tin di động trở thành một phương tiện liên lạc quen thuộc Các dịch vụ thông tin di động không còn chỉ hạn chế cho khách hàng giàu có mà đang phát triển để trở thành dịch vụ cho mọi đối tượng khách hàng viễn thông.

Thông tin di động mang lại cho con người khả năng trao đổi thông tin ngay cả khi đang di chuyển với chất lượng không thua kém điện thoại cố định, ngoài ra có nhiều dịch vụ tiện ích khác như: thông tin số liệu tốc độ cao hơn, hình ảnh tốc độ thấp, hình ảnh tốc độ đủ để phục vụ cho truyền hình,

SMS là một trong những tính năng được khai thác nhiều nhất của thiết bị

di động (DĐ) cầm tay SMS đang được ứng dụng ngày càng sâu rộng, mang lại hiệu quả kinh tế và là phương tiện giải trí cho số đông người dùng, đặc biệt là giới trẻ Hiện cách thức mở rộng của SMS khá rộng như: gửi SMS giữa các thiết bị DĐ với nhau; gửi từ website đến thiết bị DĐ và ngược lại; gửi/nhận từ điện thoại cố định có hỗ trợ tính năng nhắn tin với các thiết bị DĐ khác SMS có thể tham gia các quá trình điều khiển, tự động hóa, kinh doanh, thanh toán Hiện tại, ngay cả các cửa hàng kinh doanh viễn thông, các công ty tin học và nhiều cơ quan truyền thông cũng đã tham gia vào thị trường này SMS đang trở thành một loại hạ tầng thông tin không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày từ vui chơi giải trí, thương mại, xã hội Ứng dụng tra cứu thông tin, giải trí là loại ứng dụng phổ thông nhất của SMS và đang được sử dụng nhiều nhất hiện nay Người sử dụng chỉ việc nhắn tin theo cú pháp định sẵn đến một số tổng đài nhất định, tổng đài sẽ tra cứu thông tin và phản hồi về (tra cứu thông tin) hoặc sẽ xác nhận người sử dụng tham gia vào một chương trình giải trí nào đó (đố vui, trúng thưởng.) Có thể kể đến các ứng dụng cụ thể như tra cứu điểm thi; tra cứu danh bạ điện thoại; địa chỉ nhà hàng, khách sạn; địa chỉ đặt

Trang 5

ATM; giá cổ phiếu; kết quả xổsố, bóng đá Một số khả năng của SMS đã được khai thác trên thế giới và chắc chắn cũng sẽ có mặt ở Việt Nam Từ những yêu cầu thực tế, những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống, cộng với sự hợp tác,

phát triển mạnh mẽ của mạng di động nên em đã chọn đề tài "Xây dựng hệ thống tra cứu điểm trả lời tin nhắn tự động SMS" để đáp ứng được nhu

cầu ngày càng cao của con người và góp phần vào sự tiến bộ, văn minh, hiện đại của nước nhà.

Đồ án gồm 3 chương:

Chương I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương II: PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG

Chương III: XÂY DỰNG HỆ THỐNG

Do kiến thức và thời gian có hạn nên đây chưa phải là chương trình hoàn chỉnh Em hy vọng ý tưởng xây dựng hệ thống này có thể được hoàn thiện hơn trong tương lai để được áp dụng vào thực tế đem lại những hiệu quả thiết thực Rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để em có thêm kinh nghiệm, ý tưởng hay thực hiện được điều này.

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

CHƯƠNG I

Trang 8

Ủy ban Châu Âu (EC) đưa ra lời hướng dẫn yêu cầu các quốc gia thànhviên sử dụng GSM cho phép liên lạc di động trong băng tần 900MHz Viện tiêuchuẩn viễn thông Châu Âu (ETSI) định nghĩa GSM khi quốc tế chấp nhận tiêuchuẩn hệ thống điện thoại tế bào số

Lời đề xuất có kết quả vào tháng 9 năm 1987, khi 13 nhà điều hành vàquản lý của nhóm cố vấn CEPT GSM thỏa thuận ký hiệp định GSM MoU

“Club”, với ngày khởi đầu là 1 tháng 7 năm 1991

GSM là từ viết tắt của Global System for Mobile Communications (hệthống thông tin di động toàn cầu), trước đây có tên là Groupe Spécial Mobile

Hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM là hệ thống thông tin tế bào sốtích hợp và toàn diện, được phát triển đầu tiên ở Châu Âu và đã nhanh chóng pháttriển trên toàn thế giới Mạng được thiết kế phù hợp với hệ thống ISDN và các dịch

vụ mà GSM cung cấp là một hệ thống con của dịch vụ ISDN chuẩn

Cho đến nay công nghệ này có gần 2 tỷ thuê bao sử dụng trên phạm vi

212 quốc gia và vùng lãnh thổ Do nó hầu như có mặt khắp mọi nơi trên thế giới nên khi các nhà cung cấp dịch vụ thực hiện việc ký kết hòa mạng với nhau nhờ đó mà thuê bao GSM có thể dễ dàng sử dụng máy điện thoại GSM của mình bất cứ nơi đâu.

Trang 9

Hình 1.1 Mạng tế bào vô tuyến

GSM đầu tiên được thiết kế hoạt động ở dải tần 890-915 MHz và

935-960 MHz, hiện nay là 1.8 GHz Một vài tiêu chuẩn chính được đề nghị cho hệ thống:

- Chất lượng âm thoại chính thực sự tốt

- Giá dịch vụ và thuê bao giảm

- Hỗ trợ liên lạc di động quốc tế

- Khả năng hỗ trợ thiết bị đầu cuối trao tay

- Hỗ trợ các phương tiện thuận lợi và dịch vụ mới

- Năng suất quang phổ.

- Khả năng tương thích ISDN

Tiêu chuẩn được ban hành vào tháng giêng năm 1990 và những hệ thống thương mại đầu tiên được khởi đầu vào giữa năm 1992 Tổ chức MoU (Memorandum of Understanding) thành lập bởi nhà điều hành và quản lý GSM được cấp phép đầu tiên, lúc đó có 13 hiệp định được ký kết và đến nay đã có

191 thành viên ở khắp thế giới.Tổ chức MoU có quyền lực tối đa, được quyền định chuẩn GSM.

1.1.2. Cấu trúc mạng GSM

Mạng GSM gồm có 3 thành phần, đó là trạm di động (Mobile Station)được người thuê bao mang theo Hệ thống trạm gốc ( Base Station Subsystem)điều khiển kết nối vô tuyến với trạm di động Hệ thống mạng (NetworkSubsystem), với bộ phận chính là Trung tâm chuyển mạch dịch vụ di động(MSC), thực hiện việc chuyển mạch cuộc gọi giữa các thuê bao di động và giữacác thuê bao di động với thuê bao của mạng cố định MSC cũng thực hiện cácchức năng quản lý di động Ở đây không vẽ trung tâm vận hành bảo dưỡng(OMC) với chức năng đảm bảo vận hành và thiết lập mạng Trạm di động và hệ

Trang 10

thống trạm gốc giao tiếp thông qua giao diện Um, còn được gọi là giao diệnkhông gian hoặc kết nối vô tuyến Hệ thống trạm gốc giao tiếp với MSC qua giaodiện A.

Mobile Base Station Subsystem Network Subsystem

Station

Hình 1.2 Cấu trúc tổng quan của một mạng GSM

- SIM Subscriber Identity Module (Thẻ thông minh xác thực thuê bao)

- ME Mobile Equipment (Thiết bị di động)

- BTS Base Transceiver Station (Trạm thu phát gốc)

- BSC Base Station Controller (Trạm điều khiển gốc)

- HLR Home Location Register (Bộ ghi địa chỉ thường trú)

- VLR Visitor Location Register (Bộ ghi địa chỉ tạm trú)

- MSC Mobile services Switching Center (Tổng đài chuyển mạch di động)

- EIR Equipment Identity Register (Bộ ghi nhận dạng thiết bị)

- AuC Authentication Center (Trung tâm xác thực)

Trang 11

Identity) để hệ thống nhận dạng thuê bao, một mật mã để xác thực và các thôngtin khác IMEI và IMSI hoàn toàn độc lập với nhau để đảm bảo tính di động cánhân Card SIM có thể chống việc sử dụng trái phép bằng mật khẩu hoặc số nhậndạng cá nhân (PIN).

b) Hệ thống trạm gốc

Hệ thống trạm gốc gồm có hai phần Trạm thu phát gốc (BTS) và Trạmđiều khiển gốc (BSC) Hai phần này giao tiếp với nhau qua giao diện Abis, chophép các thiết bị của các nhà cung cấp khác nhau có thể "bắt tay" nhau được

Trạm thu phát gốc có bộ thu phát vô tuyến xác định một ô (cell) và thiếtlập giao thức kết nối vô tuyến với trạm di động Trong một khu đô thị lớn thì sốlượng BTS cần lắp đặt sẽ rất lớn Vì thế, yêu cầu đối với trạm BTS là chắc chắn,

ổn đinh, có thể di chuyển được và giá thành tối thiểu

Trạm điều khiển gốc quản lý tài nguyên vô tuyến cho một hoặc vài trạmBTS Nó thực hiện thiết lập kênh vô tuyến, phân bổ tần số, và chuyển vùng BSC

là kết nối giữa trạm di động và tổng đài chuyển mạch di động MSC

c) Hệ thống mạng

Thành phần trung tâm của hệ thống mạng là tổng đài chuyển mạch diđộng MSC Nó hoạt động giống như một tổng đài chuyển mạch PSTN hoặcISDN thông thường, và cung cấp tất cả các chức năng cần thiết cho một thuê bao

di động như: đăng ký, xác thực, cập nhật vị trí, chuyển vùng, định tuyến cuộc gọitới một thuê bao roaming (chuyển vùng) MSC cung cấp kết nối đến mạng cốđịnh ( PSTN hoặc ISDN) Báo hiệu giữa các thành phần chức năng trong hệthống mạng sử dụng Hệ thống báo hiệu số 7 (SS7)

Bộ ghi địa chỉ thường trú (HLR) và Bộ ghi địa chỉ tạm trú (VLR) cùng vớitổng đài chuyển mạch di động MSC cung cấp khả năng định tuyến cuộc gọi vàroaming cho GSM HLR bao gồm tất cả các thông tin quản trị cho các thuê bao

đã được đăng ký của mạng GSM, cùng với vị trí hiện tại của thuê bao Vị trí củathuê bao thường dưới dạng địa chỉ báo hiệu của VLR tương ứng với trạm diđộng Chỉ có một HLR logic cho toàn bộ mạng GSM mặc dù nó có thể được triểnkhai dưới dạng cơ sở dữ liệu phân bố

Trang 12

Bộ ghi địa chỉ tạm trú (VLR) bao gồm các thông tin quản trị được lựachọn từ HLR, cần thiết cho điều khiển cuộc gọi và cung cấp dịch vụ thuê bao,cho các di động hiện đang ở vị trí mà nó quản lý Mặc dầu các chức năng này cóthể được triển khai ở các thiết bị độc lập nhưng tất cả các nhà sản xuất tổng đàiđều kết hợp VLR vào MSC, vì thể việc điều khiển vùng địa lý của MSC tươngứng với của VLR nên đơn giản được báo hiệu Chú ý rằng MSC không chứathông tin về trạm di động cụ thể- thông tin này được chứa ở bộ ghi địa chỉ

Có hai bộ ghi khác được sử dụng cho mục đính xác thực và an ninh Bộghi nhận dạng thiết bị (EIR) là một cơ sở dữ liệu chứa một danh sách của tất cảcác máy điện di dộng hợp lệ trên mạng với mỗi máy điện thoại được phân biệtbởi số IMEI Một IMEI bị đánh dấu là không hợp lệ nếu nó được báo là bị mấtcắp hoặc có kiểu không tương thích Trung tâm xác thực (AuC) là một cơ sở dữliệu bảo vệ chứa bản sao các khoá bảo mật của mỗi card SIM, được dùng để xácthực và mã hoá trên kênh vô tuyến

Mặt thuận lợi to lớn của công nghệ GSM là ngoài việc truyền âm thanh với chất lượng cao còn cho phép thuê bao sử dụng các cách giao tiếp khác rẻ tiền hơn đó là tin nhắn SMS Ngoài ra để tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ thì công nghệ GSM được xây dựng trên cơ sở hệ thống mở nên nó dễ dàng kết nối các thiết bị khác nhau từ các nhà cung cấp thiết bị khác nhau.

Nó cho phép nhà cung cấp dịch vụ đưa ra tính năng roaming cho thuê bao của mình với các mạng khác trên toàn thế giới Và công nghệ GSM cũng phát triển thêm các tính năng truyền dữ liệu như GPRS và sau này truyền với tốc độ cao hơn khi họ sử dụng EGDE.

1.2.1. Giới thiệu SMS

SMS là sự viết tắt của cụm từ Short Message Service tạm dịch là dịch vụ tin nhắn ngắn Là một giao thức viễn thông cho phép gửi các thông điệp dạng text ngắn (không quá 160 ký tự trên một tin nhắn) Giao thức này có trên hầu hết các điện thoại di động

Trang 13

SMS là công nghệ mà nó cho phép gửi và nhận những thông điệp giữa những chiếc điện thoại di động SMS lần đầu tiên xuất hiện năm 1992, nó được

sử dụng trên hệ thống mạng GSM đây là chuẩn duy nhất vào thời điểm khởi đầu Sau đó nó được sử dụng cho các công nghệ mạng không dây khác như CDMA và TDMA Đúng như ý nghĩa cái tên của nó "dịch vụ tin nhắn ngắn" dữ liệu mà nó có thể mang trong mỗi tin nhắn SMS vô cùng giới hạn Một tin nhắn SMS chỉ có thể bao gồm nhiều nhất là 140 byte (tương đương với 1120 bit) dữ liệu vì vậy một tin nhắn chỉ có thể bao gồm các dạng sau:

+ 160 ký tự nếu 7 bít ký tự mã hóa được dùng 7 bít ký tự mã thích hợp cho việc mã hóa các ký tự Latin như bảng chữ cái alphabe của tiếng Anh.

+ 70 ký tự nếu như 16 bit ký tự Unicode UCS2 mã hóa được dùng Lúc này các ký tự trong tin nhắn văn bản SMS là những ký tự không thuộc hệ ký tự Latin như ký tự chữ Trung Quốc, phải sử dụng 16 bít ký tự để mã hóa.

+ Ngoài định dạng văn bản, hệ thống tin nhắn SMS còn có thể mang được cả dữ liệu nhị phân Nó có thế gửi nhạc chuông, hình ảnh, logo mạng, hình nền, ảnh động, business cards (ví dụ như VCards)

+ Một lợi điểm chính của SMS là được hổ trợ 100% đối với các điện thoại di động GSM Không giống như SMS, các công nghệ di động khác như WAP và Java thì không hỗ trợ hỗ trợ trên nhiều dòng điện thoại đời cũ.

+ Một đặc tính nổi bật của SMS đó chính là sự báo nhận Tức là nếu một máy di động gửi tin và có yêu cầu báo cáo tình trạng sau khi gửi tin nhắn Trung tâm lưu trữ SMS sau khi gửi SMS đến máy đích và khi máy đích nhận được trung tâm sẽ phản hồi cho máy di động gửi tin một bản tin nhỏ gọi là bản tin xác nhận Việc này giúp cho người gửi có thể biết được là bản tin SMS của mình đã được nhận hay chưa.

Trang 14

Nội dung của một tin nhắn SMS khi được gửi đi sẽ được chia làm 5 phầnnhư sau :

- Instructions to handset: Chỉ thị dữ liệu kết nối bắt tay

- Instructions to SIM (optional): Chỉ thị dữ liệu kết nối, nhận biếtSIM(Subscriber Identity Modules)

- Message body: Nội dung tin nhắn SMS

1.2.3. Dịch vụ tin nhắn ngắn (Short Message Services - SMS) Tin nhắn

SMS chuỗi / tin nhắn SMS dài

SMS là một giao thức viễn thông cho phép gửi các thông điệp dạng text ngắn (không quá 160 chữ cái) giữa những thiết bị di động Giao thức này có trên hầu hết các điện thoại di động và một số PDA với khả năng truyền thông không dây SMS là dịch vụ tin nhắn ngắn đang được dùng rất phổ biến Về mặt thương mại, SMS là một dịch vụ lớn với 80 tỉ đô-la Mỹ thu được vào năm 2006.

SMS được thiết kế như một phần dịch vụ gia tăng của GSM, nhưng nó hiện có sẵn trên nhiều hệ thống mạng, bao gồm cả các mạng 3G Tuy nhiên, không phải tất cả các hệ thống thông điệp dạng text đều sử dụng SMS, và một

số nhà cung cấp dịch vụ truyền thông nổi tiếng như J-Phone's SkyMail và NTT Docomo's Short Mail (Nhật Bản) sử dụng giao thức thông điệp dạng e-mail.

Trang 15

Việc sử dụng e-mail trên thiết bị di động đã được sử dụng rộng rãi trên các dịch vụ NTT Docomo's i-mode và RIM BlackBerry, nó sử dụng giao thức thư điện tử tiêu chuẩn như SMTP trên nền TCP/IP.

ở trạng thái nhận (bật nguồn) trong lúc gửi thì SMSC sẽ lưu trữ tin nhắn này Vàkhi máy điện thoại của người nhận mở nguồn thì nó sẽ gửi tin nhắn này tới ngườinhận

Thường thì một SMSC sẽ hoạt động một cách chuyên dụng để chuyểnlưu thông SMS của một mạng wireless Hệ thống vận hành mạng luôn luôn quản líSMSC của riêng nó và ví trí của chúng bên trong hệ thống mạng wireless Tuynhiên hệ thống vận hành mạng sẽ sử dụng một SMSC thứ ba có vị trí bên ngoàicủa hệ thống mạng wireless

Bạn phải biết địa chỉ SMSC của hệ thống vận hành mạng wireless để sửdụng, tinh chỉnh chức năng tin nhắn SMS trên điện thoại của bạn Điển hình mộtđịa chỉ SMSC là một số điện thoại thông thường ở hình thức, khuôn mẫu quốc tế.Một điện thoại nên có một thực đơn chọn lựa để cấu hình địa chỉ SMSC Thôngthường thì địa chỉ được điều chỉnh lại trong thẻ SIM bởi hệ thống mạng wireless.Điều này có nghĩa là bạn không cần phải làm bất cứ thay đổi nào cả

1.2.5. Nhắn tin SMS quốc tế

Các tin nhắn SMS giữa các nhà điều hành được chia ra làm hai hạng mụcgồm tin nhắn SMS giữa các nhà điều hành cục bộ và tin nhắn SMS giữa các nhàđiều hành quốc tế với nhau Tin nhắn SMS giữa các nhà điều hành cục bộ là tin

Trang 16

nhắn mà được gửi giữa các nhà điều hành trong cùng một quốc gia còn tin nhắnSMS giữa các nhà điều hành quốc tế là tin nhắn SMS được gửi giữa các nhà điềuhành mạng wireless ở những quốc gia khác nhau

Thường thì chi phí để gửi một tin nhắn SMS quốc tế thì cao hơn so vớigửi trong nước Và chi phí gửi tin nhắn trong nội mạng thì ít hơn so với gửi chomạng khác trong cùng một quốc gia nhỏ hơn hoặc bằng chi phí cho việc gửi tinnhắn SMS quốc tế

Khả năng kết hợp của tin nhắn SMS giữa hai mạng wireless cục bộ haythậm chí là quốc tế là một nhân tố chính góp phần tới sự phát triển mạnh mẽ của

hệ thống SMS toàn cầu

a) Dùng Simple Network Pager Protocol – trước đây phổ biến ở Mỹ và một số nước, hiện nay không còn được dùng rộng rãi nữa, vì hầu hết sở hữu ĐTDĐ chứ không phải máy nhắn tin

b) Dùng TAP/UCD Protocol – gửi SMS thông qua kết nối dialup, vừa chậm và vừa không ổn định

c) Dùng mô-đem GSM – phụ thuộc vào tốc độ xử lý SMS của mô-đem Đa

số các mô-đem GSM tích hợp sẵn trong ĐTDĐ được cho là không hoàn toàn là một mô-đem GSM hoàn chỉnh, có tốc độ gửi/nhận SMS chậm, khó có thể đáp ứng chế độ làm việc liên tục 24/24 vì nhiều lý do, trong đó có lý do liên qua đến vấn đề của pin Các mô-đem GSM chuyên dụng có giá không cao, tốc độ gửi/nhận trung bình 1.000 SMS/giờ và đáp ứng tốt chế độ làm việc liên tục

d) Thông qua dịch vụ HTTP – SMS được gửi đến/nhận từ một địa chỉ IP

và máy chủ ở đó đảm nhận việc trung chuyển SMS Có thể sử dụng SMS gateway trung gian theo cách này và thông thường là miễn phí đối với chủ dịch vụ và người dùng cuối sẽ phải trả phí SMS theo quy định của dịch vụ SMS gateway đó

Trang 17

e) Xây dựng SMS gateway bằng cách sử dụng các giao thức khác nhau, chẳng hạn Short Message Peer to Peer Protocol (SMPP) Giải pháp này cho phép gửi/nhận SMS với tốc độ cao Tuy nhiên, nó khá đắt đỏ trong cả đầu tư ban đầu, cả phí hỗ trợ hàng tháng và phức tạp trong thủ tục đăng ký Đối với các tổ chức kinh tế/xã hội có nhu cầu ở mức độ trung bình trong việc gửi/nhận SMS, giải pháp sử dụng các mô -đem GSM tối ưu nhất.

Một modem GSM có thể là một thiết bị mở rộng bên ngoài hay một

PC Card/PCMCIA Card Điển hình đó là một modem GSM rời bên ngoài được kếtnối với một máy tính thông qua một cáp nối tiếp hay một cáp USB Một modemGSM hợp chuẩn với một PC Card/PCMCIA Card được thiết kế cho việc sử dụngvới một máy tính laptop Nó được gắn vào một trong những khe cắm PCCard/PCMCIA Card của một máy tính laptop

Giống như một điện thoại di động GSM, một modem GSM yêu cầu 1 thẻSIM với một sóng mang wireless để hoạt động

Số tin nhắn SMS có thể được thực thi bởi một modem GSM trên một phút thì

Trang 18

rất thấp, nó chỉ khoảng từ 6 đến 10 tin nhắn SMS trên 1 phút

1.3.2. Lệnh AT

Để gửi/nhận SMS, cần kết nối thiết bị là Mô-đem GSM vào cổng COM của máy tính Nếu mô-đem kết nối vào máy tính bằng cổng USB thì cần phải biết tên của thiết bị trong hệ thống hoặc thiết bị đã được kết nối qua cổng COM emulated nào Chương trình máy tính và thiết bị trao đổi dữ liệu thông qua hệ thống lệnh AT (Attention commands) chuẩn Tuy nhiên, tuỳ vào thiết bị và nhà sản xuất, mỗi mô-đem có thể có hệ thống lệnh AT mở rộng nhằm tối ưu và nâng cao khả năng kết nối của thiết bị với máy tính [2, 4, 6, 7, 11].

Trang 19

đọc kết quả thực thi lệnh AT từ cổng COM Cần kiểm tra kết nối và mô-đem bằng cách sử dụng nhóm lệnh: AT, +CPIN, +CSCA, +CGMI, +CGMM, +CMEE, +CSMS, +CSQ, +CBC trước mỗi phiên làm việc Nhóm lệnh AT trong biểu dùng

để làm việc với SMS.

Để đọc thiết lập hiện tại, dùng lệnh AT có thêm ký tự ‘?’ Để xem những giá trị nào có thể thiết lập, dùng lệnh AT có thêm 2 ký tự ‘=?’ Để thiết lập giá trị thông số mới, dùng lệnh AT có thêm ký tự ‘=’, và theo sau đó là những giá trị thông số mới Để gửi một nội dung đến chỉ một khách hàng, sử dụng lệnh +CMGS là tối ưu nhất Tuy nhiên, có những nội dung cần gửi đến nhiều khách hàng khác nhau Trong trường hợp này nên dùng lệnh +CMGW ghi SMS lên bộ nhớ của mô-đem, sau đó dùng lệnh +SMSS để gửi SMS đó đến các khách hàng khác nhau Cách này cho phép nâng cao tốc độ làm việc của mô-đem nhờ giảm thiểu trao đổi thông tin giữa mô-đem và chương trình.

Có thể gửi SMS theo hai chế độ văn bản (text mode, +CMGF = 1) và chế

độ mặc định PDU (Protocol Data Unit, +CMGF = 0) Giá trị các thiết lập thông

số cho chế độ văn bản và PDU có khác nhau cho một số lệnh AT Chẳng hạn, với lệnh đọc tất cả các tin nhắn +CMGL tiếp nhận các thông số "REC UNREAD","REC READ","STO UNSENT", "STO SENT" và "ALL" trong chế độ văn bản; trong khi đó, trong chế độ PDU sẽ là các giá trị 0 – 4 Ngoài ra, không phải tất cả các Mô-đem GSM đều hỗ trợ chế độ văn bản Thử nghiệm cho thấy không chỉ những điện thoại lạc hậu, mà một số điện thoại hiện đại thuộc loại bậc nhất hiện nay, chẳng hạn W580, cũng không hỗ trợ chế độ văn bản khi làm việc với các chương trình trên PC Trong khi đó, chế độ PDU thì tất cả các mô- đem hỗ trợ và chế độ này cho phép gửi hình ảnh và nhạc chuông Suy ra, khi xây dựng một chương trình làm việc với các Mô-đem GSM , cần phải nghiên cứu tài liệu kỹ thuật của từng loại mô-đem để có thể thiết lập đúng những thông số mà mô-đem đó hỗ trợ, và trong mô-đun làm việc với các mô-đem, cần xác định loại và mô-đen mô-đem, sau đó sử dụng những thông số mà mô-đem

đó hỗ trợ; hoặc dùng lệnh AT có thêm ‘=?’ để kiểm tra, những giá trị nào các thông số tương ứng của một lệnh AT cho một mô-đen cụ thể có thể tiếp nhận.

Trang 20

Tất cả các mô-đem đều phải hỗ trợ tập hợp các lệnh AT chuẩn Nếu mô-đun sử dụng tập hợp AT chuẩn để làm việc với các mô-đem, thì hệ thống sẽ không bị phụ thuộc vào thiết bị được sử dụng.

tượng UML

1.4.1. UML là gì?

Ngôn ngữ mô hình hợp nhất UML (Unified Modeling Language) là một ngôn ngữ trực quan cung cấp cho các nhà phân tích thiết kế các hệ thống hướng đối tượng một cách hình dung ra các hệ thống phần mềm, mô hình hóa các tổ chức nghiệp vụ và sử dụng hệ thống phần mềm này, cũng như xây dựng

và làm tài liệu về chúng UML đang tiến triển như là chuẩn và trở thành một chuẩn quốc tế được tổ chức tiêu chuẩn ISO (International Standard Organization) chấp nhận.

UML là một ngôn ngữ dùng để

Trực quan hóa

Cụ thể hóa

Sinh mã ở dạng nguyên mẫu

Lập và cung cấp tài liệu

a) UML là ngôn ngữ dùng để trực quan hóa

Đối với nhiều lập trình viên, không có khoảng cách nào giữa ý tưởng để giải quyết một vấn đề và việc thể hiện điều đó thông qua các đoạn mã Họ nghĩ

ra và họ viết mã Trên thực tế, điều này gặp một số vấn đề Thứ nhất, việc trao đổi về các ý tưởng giữa những người lập trình sẽ gặp khó khăn, trừ khi tất cả đều nói cùng một ngôn ngữ Thậm chí ngay cả khi không gặp trở ngại về ngôn ngữ thì đối với từng công ty, từng nhóm cũng có những “ngôn ngữ” riêng của

họ Điều này gây trở ngại cho một người mới vào để có thể hiểu được những việc đang được tiến hành Hơn nữa, trong lĩnh vực phần mềm, nhiều khi khó có thể hiểu được nếu chỉ xem xét các đoạn mã lệnh Ví dụ như sự phân cấp của các lớp, ta có thể phải duyệt rất nhiều đoạn lệnh để hiểu được sự phân cấp của các lớp Và nếu như người lập trình không mô tả các ý tưởng mà anh ta đã xây

Trang 21

dựng thành mã lệnh thì nhiều khi cách tốt nhất là xây dựng lại trong trường hợp một người khác đảm nhận tiếp nhiệm vụ khi anh ta rời khỏi nhóm.

Xây dựng mô hình sử dụng ngôn ngữ UML đã giải quyết được các khó khăn trên.

Khi trở thành một chuẩn trong việc lập mô hình, mỗi kí hiệu mang một

ý nghĩa rõ ràng và duy nhất, một nhà phát triển có thể đọc được mô hình xây dựng bằng UML do một người khác viết.

Những cấu trúc mà việc nắm bắt thông qua đọc mã lệnh là khó khăn nay đã được thể hiện trực quan.

Một mô hình rõ ràng, sáng sủa làm tăng khả năng giao tiếp, trao đổi giữa các nhà phát triển.

b) UML là ngôn ngữ dùng để chi tiết hóa

Có nghĩa là xây dựng các mô hình một các tỉ mỉ, rõ ràng, đầy đủ ở các mức độ chi tiết khác nhau Đặc biệt là UML thực hiện việc chi tiết hoá tất cả các quyết định quan trọng trong phân tích, thiết kế và thực thi một hệ thống phần mềm.

c) UML là ngôn ngữ dùng để sinh ra mã ở dạng nguyên mẫu

Các mô hình xây dựng bởi UML có thể ánh xạ tới một ngôn ngữ lập trình cụ thể như : Java, C++… thậm chí cả các bảng trong một CSDL quan hệ hay CSDL hướng đối tượng.

Việc các yêu cầu có khả năng thường xuyên thay đổi trong quá trình phát triển hệ thống dẫn đến việc các cấu trúc và hành vi của hệ thống được xây dựng có thể khác mô hình mà ta đã xây dựng Điều này có thể làm cho một

mô hình tốt trở nên vô nghĩa vì nó không còn phản ánh đúng hệ thống nữa Cho nên phải có một cơ chế để đồng bộ hóa giữa mô hình và mã lệnh.

UML cho phép cập nhật một mô hình từ các mã thực thi.( ánh xạ ngược) Điều này tạo ra sự nhất quán giữa mô hình của hệ thống và các đoạn

mã thực thi mà ta xây dựng cho hệ thống đó.

d) UML là ngôn ngữ dùng để lập và cung cấp tài liệu

Trang 22

Một tổ chức phần mềm ngoài việc tạo ra các đoạn mã lệnh( thực thi) thì còn tạo ra các tài liệu sau:

- Ghi chép về các yêu cầu của hệ thống

1.4.2. Lịch sử phát triển của UML

Những năm đầu của thập kỷ 90 có rất nhiều phương pháp phân tích, thiết kế hệ thống hướng đối tượng và cùng với chúng là các ký hiệu riêng cho từng phương pháp Số lượng các phương pháp trong khoảng từ 10 đã lên đến gần 50 trong những năm từ 1989 đến 1994 Ba phương pháp phổ biến nhất là OMT (Object Modeling Technique)[James Rumbaugh], Booch91 [Grady Booch]

và OOSE (Object-Oriented Software Enginering)[Ivar Jacobson] Mỗi phương pháp đều có những điểm mạnh và yếu Như OMT mạnh trong phân tích và yếu

ở khâu thiết kế, Booch91 thì mạnh ở thiết kế và yếu ở phân tích OOSE mạnh ở phân tích các ứng xử, đáp ứng của hệ thống mà yếu trong các khâu khác.

Do các phương pháp chưa hoàn thiện nên người dùng rất phân vân trong việc chọn ra một phương pháp phù hợp nhất để giải quyết bài toán của

họ Hơn nữa, việc các ký hiệu khác nhau của các phương pháp đã gây ra những sự mập mờ, nhầm lẫn khi mà một ký hiệu có thể mang những ý nghĩa khác nhau trong mỗi phương pháp Ví dụ như một hình tròn được tô đen biểu hiện một multiplicity trong OMT lại là một aggregation trong Booch) Thời kỳ này còn được biết đến với tên gọi là cuộc chiến giữa các phương pháp Khoảng đầu năm 94, Booch đã cải tiến phương pháp của mình trong đó có ứng dụng những ưu điểm của các phương pháp của Rumbaugh và Jacobson Tương tự Rumbaugh cũng cho đăng một loạt các bài báo được biết đến với tên gọi phương pháp OMT-2 cũng sử dụng nhiều ưu điểm của phương pháp của Booch Các phương pháp đã bắt đầu hợp nhất, nhưng các kí hiệu sử dụng ở các phương pháp vẫn còn nhiều điểm khác biệt.

Trang 23

Cuộc chiến này chỉ kết thúc khi có sự ra đời của UML – một ngôn ngữ

mô hình hóa hợp nhất Tại sao lại là hợp nhất? Đó là do có sự hợp nhất các cách kí hiệu của Booch, OMT và Objectory cũng như các ý tưởng tốt nhất của một số phương pháp khác như hình vẽ sau:

Bằng cách hợp nhất các kí hiệu sử dụng trong khi phân tích, thiết kế của các phương pháp đó, UML cung cấp một nền tảng chuẩn trong việc phân tích thiết kế Có nghĩa là các nhà phát triển vẫn có thể tiến hành theo phương pháp

mà họ đang sử dụng hoặc là có thể tiến hành theo một phương pháp tổng hợp hơn( do thêm vào những bước ưu điểm của từng phương pháp) Nhưng điều quan trọng là các ký hiệu giờ đây đã thống nhất và mỗi ký hiệu chuẩn của tổ chức OMG (Object Management Group) vào tháng 7-1997.

1.4.3. Các thành phần của UML

Ngôn ngữ UML bao gồm một loạt các phần tử đồ họa (graphic element)

có thể được kếp hợp với nhau để tạo ra các biểu đồ Bởi đây là một ngôn ngữ, nên UML cũng có các nguyên tắc để kết hợp các phần tử đó.

Một số những thành phần chủ yếu của ngôn ngữ UML:

- Hướng nhìn (view): Hướng nhìn chỉ ra những khía cạnh khác nhau của hệ thống cần phải được mô hình hóa Một hướng nhìn không phải là một bản vẽ, mà là một sự trừu tượng hóa bao gồm một loạt các biểu đồ khác nhau Chỉ qua việc định nghĩa của một loạt các hướng nhìn khác nhau, mỗi hướng nhìn chỉ ra một khía cạnh riêng biệt của hệ thống, người ta mới có thể tạo dựng nên một bức tranh hoàn thiện về hệ thống Cũng chính các hướng nhìn này nối kết ngôn ngữ mô hình hóa với quy trình được chọn cho giai đoạn phát triển.

- Biểu đồ (diagram): Biểu đồ là các hình vẽ miêu tả nội dung trong một hướng nhìn UML có tất cả 9 loại biểu đồ khác nhau được sử dụng trong những sự kết hợp khác nhau để cung cấp tất cả các hướng nhìn của một hệ thống.

- Phần tử mô hình hóa (model element): Các khái niệm được sử dụng trong các biểu đồ được gọi là các phần tử mô hình, thể hiện các khái niệm hướng đối tượng quen thuộc Ví dụ như lớp, đối tượng, thông

Trang 24

điệp cũng như các quan hệ giữa các khái niệm này, bao gồm cả liên kết, phụ thuộc, khái quát hóa Một phần tử mô hình thường được sử dụng trong nhiều biểu đồ khác nhau, nhưng nó luôn luôn có chỉ một

ý nghĩa và một kí hiệu.

- Cơ chế chung: Cơ chế chung cung cấp thêm những lời nhận xét bổ sung, các thông tin cũng như các quy tắc ngữ pháp chung về một phần tử mô hình; chúng còn cung cấp thêm các cơ chế để có thể mở rộng ngôn ngữ UML cho phù hợp với một phương pháp xác định (một quy trình, một tổ chức hoặc một người dùng).

1.4.4. Biểu đồ

- Biểu đồ lớp (Class Diagram)

Bao gồm một tập hợp các lớp, các giao diện, các collaboration và mối quan hệ giữa chúng Nó thể hiện mặt tĩnh của hệ thống.

- Biểu đồ đối tượng (Object Diagram)

Bao gồm một tập hợp các đối tượng và mối quan hệ giữa chúng Đối tượng là một thể hiện của lớp, biểu đồ đối tượng là một thể hiện của biều đồ lớp.

- Biểu đồ Use case (Use Case Diagram)

Khái niệm actor: là những người, hệ thống khác ở bên ngoài phạm vi của hệ thống mà có tương tác với hệ thống.

Biểu đồ Use case bao gồm một tập hợp các Use case, các actor và thể hiện mối quan hệ tương tác giữa actor và Use case Nó rất quan trọng trong việc tổ chức và mô hình hóa hành vi của hệ thống

- Biểu đồ trình tự (Sequence Diagram)

Là một dạng biểu đồ tương tác (interaction), biểu diễn sự tương tác giữa các đối tượng theo thứ tự thời gian Nó mô tả các đối tượng liên quan trong một tình huống cụ thể và các bước tuần tự trong việc trao đổi các thông báo(message) giữa các đối tượng đó để thực hiện một chức năng nào đó của hệ thống.

- Biểu đồ hợp tác (Collaboration)

Trang 25

Gần giống như biểu đồ Sequence, biểu đồ Collaboration là một cách khác để thể hiện một tình huống có thể xảy ra trong hệ thống Nhưng nó tập trung vào việc thể hiện việc trao đổi qua lại các thông báo giữa các đối tượng chứ không quan tâm đến thứ tự của các thông báo

đó Có nghĩa là qua đó chúng ta sẽ biết được nhanh chóng giữa 2 đối tượng cụ thể nào đó có trao đổi những thông báo gì cho nhau.

- Biểu đồ chuyển trạng thái (Statechart)

Chỉ ra một máy chuyển trạng, bao gồm các trạng thái, các bước chuyển trạng và các hoạt động Nó đặc biệt quan trọng trong việc mô hình hóa hành vi của một lớp giao diện(interface class) hay collaboration và nó nhấn mạnh vào các đáp ứng theo sự kiện của một đối tượng, điều này rất hữu ích khi mô hình hóa một hệ thống phản ứng(reactive).

- Biểu đồ hoạt động (Activity)

Là một dạng đặc biệt của biểu đồ chuyển trạng Nó chỉ ra luồng

đi từ hoạt động này sang hoạt động khác trong một hệ thống Nó đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng mô hình chức năng của hệ thống và nhấn mạnh tới việc chuyển đổi quyền kiểm soát giữa các đối tượng

- Biểu đồ thành phần (Component)

Chỉ ra cách tổ chức và sự phụ thuộc của các thành phần(component) Nó liên quan tới biểu đồ lớp, trong đó một thành phần thường ánh xạ tới một hay nhiều lớp, giao diện , collaboration.

- Quan hệ Thừa kế (Generalization)

Chỉ ra cấu hình của hệ thống khi thực thi.

Trang 26

tính chất đó hiện diện trong một ngôn ngữ lập trình hiện đại Hơn nữa ngôn ngữ C# được xây dựng trên nền tảng hai ngôn ngữ mạnh nhất là C++ và Java.

1.5.2. Lý do chọn C#

- C# là ngôn ngữ đơn giản, rất dễ hiểu

- C# là ngôn ngữ hiện đại

- C# là ngôn ngữ hướng đối tượng

- C# là ngôn ngữ mạnh mẽ và mềm dẻo

- C# là ngôn ngữ hướng module

- C# sẽ trở nên phổ biến

- C# rất gần với C++, C

- C# và Java lại càng giống nhau hơn về cú pháp

- Ngôn ngữ C++ thường cho ra chương trình chạy nhanh hơn nhưng ngôn ngữ lại phức tạp hơn.

1.5.3. Hạn chế C#

- C++ thường cho kết quả nhanh hơn các chương trình viết bằng C#.

- C++ tương tác trực tiếp với các hàm API của hệ điều hành, còn C# thì lại dựa trên ý tưởng tương tự như máy ảo của Java, do đó khi muốn dùng các API này cho mục đích lập trình cấp cao bạn phải dùng công

cụ P\Invoke , không dễ dàng hiểu ngay đối với các lập trình viên mới làm quen.

1.5.4. Xây dựng Windows Forms Application

a) Khởi động

Start | All Programs | Microsoft Visual Studio 2010 | Microsoft Visual Studio 2010

Trang 27

Hình 1.5 Giao diện Visual Studio 2010

+ Mở hộp ToolBox: Menu View | ToolBox → chứa các control

+ Mở cửa sổ Properties: Menu View | Properties →chứa thuộc tính

+ Mở cửa sổ Solution Explorer: Menu View | Solution Explorer →cửa

sổ Project xuất hiện.

+ Thiết kế form: Nhắp vào View Designer (trong cửa số Solution

Explorer)

+ Viết code: Nhắp vào View Code (trong cửa số Solution Explorer)

Để dừng chương trình, nhấn Shift + F5 hoặc nhắp vào nút

* Các thao tác với Project / Solution

- Tạo Project

Trang 28

C1 Vào menu File | New | Project

C1 Vào menu File | Save All

C2 Chọn công cụ Save All trên thanh Standart

b) Màn hình giao diện của Windows Forms

Hình 1.6 Cửa sổ thiết kế Form

Trang 29

Hình 1.7 Cửa sổ viết code

* Các thao tác với Form

- Thêm một Form mới vào Project:

b1 C1 Vào menu Project | Add New Item …

C2 Chọn công cụ Add New Item trên thanh Standart

b2 Khai báo

+ Categories: chọn Windows Forms

+ Templates: chọn Windows Form

+ Name: đặt tên Form

b3 Nhắp Add

b1 Vào menu Project | Add Existing Item …

b2 Chọn Form

b3 Nhắp Add

Trang 30

- Xóa bỏ một Form đang có trong Project:

b1 Chọn Form cần gỡ bỏ (ở cửa sổ Solution Explorer)

b2 Vào menu Edit | Delete

- Lưu Form

- Vào menu File | Save Form.cs

- Ctrl + S

* Ghi chú

- Ta đem “bỏ vào” form các đối tượng như: Label, TextBox, Button, …

+ Label, TextBox, Button, … được gọi là control hay còn gọi là component.

+ Form được gọi là control “chứa”.

- Khi thay đổi nội dung của Label, TextBox, Button, … ta thay đổi vào Text Text được gọi là Property của control.

c) Control là gì?

- Control là lớp (class) các thành phần được thêm vào Windows Forms

để tương tác giữa người sử dụng với Windows.

- Có rất nhiều loại control trong Windows Forms như: Label, TextBox, ListBox,

ComboBox, Button, …

- Các control sử dụng trên Windows Forms dùng namespace

System.Windows.Forms.

d) Properties (thuộc tính) của control

- Properties là những thông tin mà ta có thể thay đổi nội dung, cách trình bày … của người thiết kế để ứng dụng vào control.

- Mỗi lớp (class) có nhiều property khác nhau Tuy nhiên, vẫn có một số property giống nhau được xây dựng từ lớp ban đầu.

1.6.1. Tổng quan về SQL

Trang 31

a) Khái niệm SQL

- SQL (Structured Query Language – ngôn ngữ hỏi có cấu trúc) là công cụ sử dụng để tổ chức, quản lý và truy xuất dữ liệu được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu.

- SQL là một hệ thống ngôn ngữ bao gồm tập các câu lệnh sử dụng để tương tác với cơ sở dữ liệu quan hệ.

- SQL được sử dụng để điều khiển tất cả các chức năng mà một hệ quản trị cơ

sở dữ liệu cung cấp cho người dùng bao gồm:

• Định nghĩa dữ liệu: SQL cung cấp khả năng định nghĩa các cơ sở dữ

liệu, các cấu trúc lưu trữ và tổ chức dữ liệu cũng như mối quan hệ giữa các thành phần dữ liệu.

• Truy xuất và thao tác dữ liệu: Với SQL, người dùng có thể dễ dàng

thực hiện các thao tác truy xuất, bổ sung, cập nhật và loại bỏ dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu.

• Điều khiển truy cập: SQL có thể được sử dụng để cấp phát và kiểm

soát các thao tác của người sử dụng trên dữ liệu, đảm bảo sự an toàn cho cơ sở dữ liệu.

• Đảm bảo toàn vẹn dữ liệu: SQL định nghĩa các ràng buộc toàn vẹn

trong cơ sở dữ liệu nhờ đó đảm bảo tính hợp lệ và chính xác của dữ liệu trước các thao tác cập nhật cũng như các lỗi của hệ thống.

- SQL có những vai trò như sau:

• SQL là ngôn ngữ hỏi có tính tương tác: Người sử dụng có thể dễ

dàng thông qua các trình tiện ích để gởi các yêu cầu dưới dạng các câu lệnh SQL đến cơ sở dữ liệu và nhận kết quả trả về từ cơ sở dữ liệu.

Trang 32

• SQL là ngôn ngữ lập trình cơ sở dữ liệu: Các lập trình viên có thể

nhúng các câu lệnh SQL vào trong các ngôn ngữ lập trình để xây dựng nên các chương trình ứng dụng giao tiếp với cơ sở dữ liệu.

• SQL là ngôn ngữ quản trị cơ sở dữ liệu: Thông qua SQL, người

quản trị cơ sở dữ liệu có thể quản lý được cơ sở dữ liệu, định nghĩa các cấu trúc lưu trữ dữ liệu, điều khiển truy cập cơ sở dữ liệu,

• SQL là ngôn ngữ cho các hệ thống khách/chủ (client/server):

Trong các hệ thống cơ sở dữ liệu khách/chủ, SQL được sử dụng như là công cụ để giao tiếp giữa các trình ứng dụng phía máy khách với máy chủ cơ sở dữ liệu.

• SQL là ngôn ngữ truy cập dữ liệu trên Internet: Cho đến nay, hầu

hết các máy chủ Web cũng như các máy chủ trên Internet sử dụng SQL với vai trò là ngôn ngữ để tương tác với dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu.

• SQL là ngôn ngữ cơ sở dữ liệu phân tán: Đối với các hệ quản trị cơ

sở dữ liệu phân tán, mỗi một hệ thống sử dụng SQL để giao tiếp với các

hệ thống khác trên mạng, gởi và nhận các yêu cầu truy xuất dữ liệu với nhau.

• SQL là ngôn ngữ sử dụng cho các cổng giao tiếp cơ sở dữ liệu:

Trong một hệ thống mạng máy tính với nhiều hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau, SQL thường được sử dụng như là một chuẩn ngôn ngữ để giao tiếp giữa các hệ quản trị cơ sở dữ liệu.

1.6.2. Tổng quan về cơ sở dữ liệu (CSDL) quan hệ

a) Mô hình dữ liệu quan hệ

- CSDL quan hệ là một CSDL trong đó tất cả dữ liệu được tổ chức trong các bảng (table) có mối quan hệ với nhau Mỗi bảng (table) bao gồm các dòng (record/bản ghi/bộ) và các cột (field/trường/thuộc tính).

- Tóm lại, một CSDL bao gồm nhiều bảng (table) có mối quan hệ với nhau (relationship).

b) Bảng (Table)

Bảng (table) bao gồm các yếu tố sau:

Ngày đăng: 19/04/2017, 22:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6]. Võ Trung Hùng – Trần Thị Lợi. Xây dựng hệ thống quản lý tập trung các tin nhắn SMS. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 5(28).2008.[7]. Một số website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Võ Trung Hùng – Trần Thị Lợi. Xây dựng hệ thống quản lý tập trungcác tin nhắn SMS. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số5(28).2008."[7]
[1]. Đặng Văn Đức, Phân tích thiết kế hướng đối tượng bằng UML, NXB Giáo Dục, 2002 Khác
[2]. Jhiming Lui, Object-Oriented Software Development With UML, 2002 Khác
[3]. Nguyễn Thiên Bằng, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Đức Hải. Từng bước học lập trình Visual C#.net. Nhàxuất bản lao động xã hội Khác
[4]. Phương Lan, Phạm Hữu Khang. Kỹ thuật lập trình ứng dụng C#.net toàn tập. Tập 1,2,3. Nhàxuất bản lao động xã hội.2002 Khác
[5]. Nguyễn Trần Quốc Vinh. Một số vấn đề trong xây dựng hệ thống gửi / nhận SMS dùng mô-đem GSM. Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng – số 5(28).2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w