Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Dược phẩm Quảng Bình.. Do đó, để đạt được hệ thống các mục tiêu của mình, trong đó mục tiêu cơ bản và
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ 5
1.1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: 5
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh: 5
1.1.2 Quan điểm về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường 6
1.1.3 Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh 7
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh: 7
1.1.4.1 Nhóm nhân tố về điều kiện vị trí địa lý: 8
1.1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân của doanh nghiệp: 8
1.1.4.3 Nhóm nhân tố về thị trường: 9
1.1.4.4 Nhóm nhân tố về cơ chế chính sách của Nhà nước: 9
1.1.5 Vai trò của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp:10 1.1.6 Hệ thống chỉ tiêu phân tích: 11
1.1.6.1 Hệ thống chỉ tiêu chung phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: 12
1.1.6.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động: 13
1.1.6.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn: 15
1.2 Cơ sở thực tiễn: 17
1.2.1 Tính chất, đặc điểm của ngành sản xuất dược Việt Nam: 17
1.2.2 Sơ lược về tình hình ngành Dược ở nước ta: 18
1.2.2.1 Tình hình chung: 18
1.2.2.2 Một số thành tựu đạt được: 19
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM QUẢNG BÌNH 21
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY 21
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình 21
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ: 22
2.1.3 Mạng lưới cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh: 22
2.2 Một số đặc điểm chủ yếu của Công ty ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình 23
2.2.1 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh: 24
2.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý 25
2.2.3 Đặc điểm về quy trình công nghệ kỷ thuật sản xuất sản phẩm 27
2.2.4 Đặc điểm về máy móc thiết bị của Công ty 29
2.2.4.1 Tình hình biến động nguồn lao động của Công ty qua 3 năm (2008 -2010) 29
Trang 22.2 4.2 Tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty qua 3 năm
(2008 - 2010) 32
2.2.4.3 Tình hình tài chính, nguồn vốn của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình 33
2.2.4.4 Đánh giá một số thành tựu đạt được của Công ty qua 3 năm (2008 -2010): 36
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM QUẢNG BÌNH 38
3.1 Phân tích môi trường kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình hiện nay 38
3.1.1 Môi trường vĩ mô 38
3.1.1.1 Môi trường kinh tế: 38
3.1.1.2 Môi trường chính trị pháp luật: 38
3.1.1.3 Môi trường văn hoá- xã hội: 39
3.1.1.4 Môi trường kỷ thuật công nghệ: 39
3.1.1.5 Môi trường tự nhiên và cơ sở hạ tầng: 40
3.1.2 Môi trường vi mô 40
3.1.2.1 Khách hàng: 40
3.1.2.2 Đối thủ cạnh tranh: 41
3.2 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 41
3.2.1 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình qua 3 năm (2008 - 2010) 41
3.2.3 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty trong thời gian gần đây (2008 - 2010) 46
3.2.4 Phân tích tình hình tiêu thụ của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình trong những năm gần đây (2008 - 2010) 48
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY CP DƯỢC PHẨM QUẢNG BÌNH 50
4.1 Phương hướng sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian tới 50
4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty CP Dược phẩm Quảng Bình 52
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1.1 Kết luận: 59
1.2 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra các sản phẩm dịch vụ đầu ra phải sử dụng các nguồn lực, yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, tài nguyên Tất cả các nguồn lực này đều có hạn và có rất nhiều cách thức khác nhau để sử dụng chúng, mỗi cách thức có một mức tiêu hao các nguồn lực khác nhau, có cách thức sử dụng rất tiết kiệm các nguồn lực nhưng cũng có các cách thức tiêu hao rất nhiều các nguồn lực Do đó, để đạt được hệ thống các mục tiêu của mình, trong đó mục tiêu cơ bản và bao trùm lâu dài nhất là tối đa hoá lợi nhuận trong điều kiện môi trường nền kinh tế thị trường đầy biến động, cạnh tranh ngày càng gay gắt quyết liệt, các nguồn lực ngày càng khan hiếm thì vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của mình
Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình là một doanh nghiệp nhà nước
có quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ khi chuyển sang cơ chế mới Công ty đã sớm xác định: "Hiệu quả kinh doanh là thước đo quan trọng của sự phát triển" Công ty luôn tìm mọi cách để nâng cao hiệu quả kinh doanh và ngày càng khẳng định vị thế của mình trong ngành dược
Với những kiến thức đã học, hững thông tin thu thập được trong thời gian thực tập tại công ty và được sự hướng dẩn tận tình của giảng viên hướng dẫn em
quyết định chọn chuyên đề: " Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả
kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình".
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề là nhằm làm rõ cơ sở khoa học về vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường và bước đầu vận dụng vào đơn vị thực tập của mình, em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
* Phương pháp duy vật biện chứng & duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận chung
Trang 4* Phương pháp điều tra, quan sát thu thập số liệu và các thông tin liên quan.
* Phương pháp tổng hợp thống kê nhằm xử lý và hệ thống hoá số liệu điều tra
* Phương pháp thống kê, phân tích kinh doanh để xác định nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh
* Phương pháp hệ thống hoá đề rút ra các giải pháp và kết luận cần thiết
Do điều kiện thời gian và trình độ kiến thức có hạn, chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ giáo tận tình của quý thầy cô
và các bạn để chuyên đề hoàn thiện hơn
Đồng Hới, ngày 10 tháng 5 năm 2011 Sinh viên
Phạm Văn Thành
Trang 5PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH DOANH DƯỢC PHẨM.
1.1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH:
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh:
Trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế diễn ra gay gắt Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển không còn cách nào khác
là phải hoạt động có hiệu quả Vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh là gì? Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự tập trung phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh các nguồn lực sẵn có Nó là đại lượng xác định bằng cách so sánh giữa các chi phí bỏ ra và kết quả thu vào Hiệu quả kinh doanh phản ánh đầy đủ thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp về trình độ tổ chức quản lý, địa vị của doanh nghiệp trên thương trường Doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp có lợi nhuận ngày càng tăng, với mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận trên vốn, trên doanh thu đạt cao Đó là cơ sở để
doanh nghiệp tích luỹ, để phát triển vốn và mở rộng sản xuất theo chiều sâu, đồng thời cũng cố vị thế của doanh nghiệp trên thương trường, không ngừng cải thiện đời sống của CBCNV
Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội và quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu cần phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại và phát huy năng lực,
Trang 6hiệu năng của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí Vì vậy yêu cầu của hiệu quả hoạt động kinh doanh là phải tối đa lợi nhuận với chi phí nhất định hoặc đạt lợi nhuận nhất định với chi phí tối thiểu
1.1.2 Quan điểm về hiệu quả hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Trong nền kinh tế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá phải thực hiện theo nhu cầu từ trung ương đến địa phương, nên trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu doanh nghiệp đạt được các chỉ tiêu cấp trên giao thì được xem là đạt hiệu quả kinh doanh Điều này chứng tỏ người ta đã đồng nhất giữa kêt quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh mà không dề cập đến yếu
tố chi phí để tạo ra kết quả đó cũng như cách thức để đạt được mục tiêu
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ chung của toàn xã hội
- Về mặt thời gian: Hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng giai
đoạn, từng thời kỳ kinh doanh không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ vấcc chu kỳ tiếp theo Trong thực tế kinh doanh, điều này đòi hỏi bản thân doanh nghiệp không vì lợi ích trước mắt mà quên đi lâu dài
- Về mặt không gian: Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể coi là đạt được một
cách toàn diện khi hiệu quả mà các đơn vị bộ phận mang lại không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung
Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh phải được thể hiện toàn diện trên hai mặt định tính và định lượng
- Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh doanh là là quan hệ so sánh giữa đầu
vào và đầu ra, là lợi ích lớn nhất thu được với chi phí nhất định hoặc một kết quả nhất định với chi phí nhỏ nhất
Trang 7- Về mặt định tính: Hiệu quả kinh doanh không những thể hiện qua các
con số cụ thể mà còn thể hiện những nguyên nhân để đạt được các con số đó Hiệu quả mà đơn vị đạt được phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội Một dự
án hoat động mang lại lợi nhuận cao nhưng đồng thời không không làm ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của người dân
Như vậy, hiệu quả kinh doanh là sự biểu hiện của sự kết hợp theo một tương quan xác định cả về lượng lẫn chất của các yếu tố trong quá trình kinh doanh: lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Hiệu quả chung của đơn vị có thể thu được trên cơ sở của các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh phải được sử dụng có hiệu quả Từ đó xác định những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh
1.1.3 Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu của tất cả mọi đối tượng mọi ngành nghề, mọi đơn vị kinh doanh và cả nền kinh tế Trên góc độ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh mang ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất phát từ một số lý do sau:
Thứ nhất: Nâng cao hiệu quả kinh doanh là yêu cầu của quy luật tiết
kiệm
Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh góp phần nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ ba: Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhằm thực hiện công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh:
Hoạt động kinh doanh là một quá trình bao gồm nhiều yếu tố liên quan chặt chẽ với nhau từ đầu vào cho đến đầu ra Trong quá trình đó có nhiều nhân
tố ảnh hưởng đến sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm Việc xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là hết sức quan trọng
Trang 8Từ đó, doanh nghiệp nhận biết được nhân tố nào ảnh hưởng tốt đến quá trình kinh doanh để doanh nghiệp có kế hoạch tận dụng tối đa nhân tố đó Đồng thời doanh nghiệp tìm ra mặt yếu để khắc phục làm cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn.
Sau đây là một số nhóm nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
1.1.4.1 Nhóm nhân tố về điều kiện vị trí địa lý:
Doanh nghiệp muốn làm ăn có hiệu quả thì phải có vị trí địa lý thuận lợi, đmư bảo cho việc giao lưu, giao dịch của Công ty được dễ dàng, tiết kiệm được chi phí lưu thông Nếu sản phẩm có khối lượng giảm hơn nhiều so với khối lượng nguyên liệu đưa vào sản xuất thì nên đặt địa điểm sản xuất gần nơi
nguyên liệu
1.1.4.2 Nhóm nhân tố thuộc về bản thân của doanh nghiệp:
- Vốn cho sản xuất kinh doanh:
Đây là điều tiên quyết cho hoạt động của doanh nghiệp diễn ra được hay không, bởi vì bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng cần đến vốn Vấn đề là làm sao quản lý và sử dụng vốn một cách hợp lý, tránh lãng phí vốn, bị chiếm dụng vốn và ứ động vốn
- Lao động:
Là yếu tố quan trọng trong sản xuất Việc tổ chức và sử dụng hợp lý lao động là biện pháp để tăng năng suất lao động, tăng khối lượng sản phẩm, tích cực giảm giá thành và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Trình độ công nghệ:
Công nghệ được hiểu là tất cả các phương thức, những quá trình sử dụng
để chuyển hoá các nguồn lực sản xuất và các dịch vụ, là tập hợp các yếu tố và điều kiện để tiến hành sản xuất ra các sản phẩm Quyết định công nghệ phải phù hợp với từng giai đoạn sản xuất với yêu cầu cũng như xu thế của từng thời đại
Trang 9với mục đích ngày càng nâng cao năng suất, phẩm chất đồng thời phải hạ giá thành sản phẩm.
- Trình độ về tổ chức và quản lý sản xuất:
Tổ chức và quản lý bao gồm việc sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, cơ sở vật chất, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần hàon thành mục tiêu và kế hoạch một cánh hiệu quả và nhanh chóng
- Nghệ thuật kinh doanh:
Nghệ htuật kinh doanh sẽ thúc đẩy quá trình tiêu thụ hàng hoá tốt hơn, hoạt động có hiệu quả hơn Nó bao gồm tập hợp nhiều biện pháp gây sự chú ý, tín nhiệm của khách hàng, làm cho việc tiêu thụ hàng hoá nhanh hơn Có nghệ thuật kinh doanh tốt thì doanh nghiệp thành công hơn trong lĩnh vực kinh doanh của mình Nghệ thuật kinh doanh không những thể hiện ở việc bán sản phẩm mà còn thể hiện ở việc mua sản phẩm và có yếu tố đầu vào để sản suất và bán
1.1.4.3 Nhóm nhân tố về thị trường:
Trong quá trình kinh doanh hiện nay, mỗi doanh nghiệp muốn đững vững trong thương trường thì phải nghiên cứu thị trường Thị trường sẽ trả lời các câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Và sản xuất bao nhiêu? Hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ phải thông qua thị trường Thị trường vừa là đối tượng vừa là căn cứ để các doanh nghiệp định hướng sản xuất của mình Các nhân tố thị trường rất đa dạngk và phong phú Do vậy,
doanh nghiệp phải có một đội ngũ cán bộ đi sâu, đi sát thị trường để linh hoạt ứng xử trước các vấn đề thị trường đặt ra, đưa lại lợi ích cho doanh nghiệp
1.1.4.4 Nhóm nhân tố về cơ chế chính sách của Nhà nước:
Các đơn vị hoạt động kinh doanh đều phải chịu sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Sự điều tiết đó tác động đến mọi lĩnh vực của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 10Nước ta trong giai đoạn hiện nay cùng với chính sách phát triển kinh tế và
cơ chế ngày càng hoàn thiện đáp ứng được nhu cầu cũng như giải quyết những bức bách xảy ra tạo sự thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Chúng ta rất thuận lợi trước một loạt văn bản luật, dưới luật về kinh tế ra đời làm hành lang pháp lý cho các daonh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
Tóm lại, việc nhận thức đầy đủ, sử dụng hợp lý các nhân tố sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động ngày càng có hiệu quả trong cơ chế thị trường đầy năng động và khắt khe
1.1.5 Vai trò của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp:
Trước đây, trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản và với quy mô nhỏ, yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích hiệu quả kinh doanh thường được hành đơn giản, có thể thấy ngay trong công tac hoạch toán Khi sản xuất kinh doanh càng phát triển thì nhu cầu thông tinh cho nhà quản trị càng nhiều, đa dạng và phức tạp, phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển như một khoa học độc lập, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị
Ta thấy răng phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là quá trình nhận biết bản chất và sự tác động của các hoạt động kinh doanh, là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mang nhiều tính chất khác nhau và phụ thuộc vào đối tượng cũng như các phương pháp mà ta sử dụng Nội dung nghiên cứu của phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là các hiện tượng kinh tế đã hoặc sẽ xảy ra trong một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập dưới sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan khác nhau
Khác với kế toán - có tính chất pháp lệnh và mang tính chuẩn mực, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng vào phục vụ nội bộ
Trang 11liệu của phân tích không có trách nhiệm pháp lý cung cấp rộng rãi như các báo cáo kế toán mà đôi khi ở một vài khía cạnh, là những bí mật riêng của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Vì vậy, hoạt động phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh mang tính ý thức, có vai trò hết sức to lớn đối với doanh nghiệp Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh không những là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ để cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiện khác nhau như thế nào đi nữa cũng còn những tiềm ẩn, khả năng có thể phát hiện được và khai thác chúng để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Thông qua phân tích
doanh nghiệp mới thấy rỏ nguyên nhân cùng nguồn gốc của các vấn đề phát sinh
và có các giải pháp cụ thể để cải tiến quản lý Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh có các tác dụng cơ bản sau đây:
- Cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình Chính trên cơ sở này các doanh nghiệp sẽ xác đinh đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh có hiệu quả
- Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để đề ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý nhất là trong các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh có hiệu quả
- Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro bất định trong kinh doanh
Như vậy, phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh trở nên cần thiết và đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết đối với tất cả doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Một thị trường luôn đầy những cạnh tranh khốc liệt và tiềm
ẩn chính trong lòng nó nhiều rủi ro bất trắc
Trang 12Để đánh giá một cách khách quan và khoa học về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nhất thiết phải xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phân tích hợp lý Những chỉ tiêu đó phải làm bật lên được chất lượng, phản ánh được hiệu suất kinh doanh cảu doanh nghiệp.
1.1.6.1 Hệ thống chỉ tiêu chung phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
- Chỉ tiêu dạng thuận:
Kq
H = C
Trong đó: + H là hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (dạng thuận).+ Kq là kết quả đầu ra
+ C là chi phí hoạt động
- Chỉ tiêu dạng nghịch:
C
h = Kq
Trong đó: + h là hiệu quả sản xuất kinh doanh (dạng nghịch)
Đây là chỉ tiêu tương đối cường độ biểu hiện mối quan hệ giữa đầu vào với đầu ra (hiệu quả kinh tế) Chỉ tiêu H biểu hiện: Mỗi đơn vị đầu vào tham gia quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì sẽ mang lại bao nhiêu đơn vị kết quả đầu ra Ngược lại chỉ tiêu h biểu hiện sự tiêu tốn các đơn vị đầu vào để tạo ra được một đơn vị đầu ra
Hai chỉ tiêu này có vai trò khác nhau nhưng lại liên quan mật thiết với nhau, khi dùng chúng để đánh giá hiệu quả kinh tế theo hai chiều, chiều thuận và chiều nghịch: Chỉ tiêu H dùng để biểu hiện sự ảnh hưởng của các nguồn lực đến kết quả hoạt động, còn chỉ tiêu h là cơ sở để đánh giá quy mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực
Trang 13Các chỉ tiêu trên thường được gọi là chỉ tiêu toàn phần Do trong kinh doanh thường dựa vào thông tin có được giữa đầu vào với đầu ra, bao gồm phần trước của tái sản xuất giản đơn và phần tái sản xuất mở rộng Người ta thường quan tâm nhiều hơn đến tái sản xuất mở rộng Cho nên ngoài những chỉ tiêu trên, người ta còn sử dụng thêm các chỉ tiêu cận biên:
- Chỉ tiêu dạng thuận:
Kq
H = C
- Chỉ tiêu dạng nghịch:
C
h = Kq
Dạng thuận cho thấy, khi tăng thêm một đơn vị đầu vào thì sẽ mang lại được bao nhiêu dơn vị đầu ra và ngược lại khi muốn có thêm được một đơn vị đầu ra thì phải sử dụng thêm bao nhiêu đơn vị đầu vào (được biểu hiện ở dạng nghịch)
1.1.6.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động:
* Chỉ tiêu hiện vật.
- Nửa thành phẩm: Là kết quả đã qua chế biến một hay một số giai đoạn của quá trình sản xuất Nữa thành phẩm được hoàn thành đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng ở các giai đoạn trước đó có thể được bán ra ngoài phạm vi doanh nghiệp và được tiếp tục chế biến ở các giai đoạn tiếp theo để hoàn thành sản phẩm hoàn chỉnh
- Chỉ tiêu sản phẩm hoàn thành: Là những sản phẩm đã đi qua tất cả các giai đoạn của quy trình công nghệ, qua kiểm soát chất lượng và đạt tiêu chuẩn
- Chỉ tiêu sản phẩm quy ước: Chỉ tiêu này phản ánh sản phẩm tương đối
từ những sản cùng tên nhưng khác nhau về mức độ, phẩm chất, quy cách sản
Trang 14 Sản phẩm quy ước = (Sản lượng sản phẩm thực hiện x Hệ số quy đổi)
* Doanh thu tiêu thụ.
Doanh thu tiêu thụ bao gồm tổng giá trị sản lượng hàng hoá tiêu thụ của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ giả trị hàng hoá mà doanh nghiệp đã bán và thu được tiền trong kỳ báo cáo
Có thể khái quát doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp thông qua công thức:
D = n ij
i
ij Q P
1
Trong đó: Pij là giá bán sản phẩm i thời điểm j
Qij là sản lượng tiêu thụ sản phẩm i thời điểm j
- Doanh thu bao gồm:
- Doanh thu bán hàng thuần: Là tổng doanh thu tiêu thụ trừ đi thuế doanh thu tiêu thụ hàng hoá đặc biệt, các khoản giảm trừ chiết khấu thương nghiệp, bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bị trả lại các khoản sửa chửa sai hỏng trong thời bảo hành
- Doanh thu thuần: Là doanh thu bán hàng cộng với các khoản dự phòng giảm giá hàng bán, nợ khó đòi trong kỳ báo Doanh thu thuần là chỉ tiêu dùng để tính lãi, lổ của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
* Chi phí trung gian:
Là toàn bộ chi phí cấu thành nên tổng giá trị sản xuất, bao gồm chi phí thường xuyên về mặt vật chất như: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí động lực, chi phí vật chất, chi phí dịch vụ được sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất và hoạt động dịch vụ khác của doanh nghiệp bằng tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ có trong doanh nghiệp
* Giá trị tăng thêm thuần:
Trang 15Là toàn bộ giá trị biểu hiện toàn bộ giá trị mới được sáng tạo ra trong kỳ nghiên cứu của tất cả các hoạt động dich vụ.
* Chi tiêu lãi lỗ:
Đây là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị thặng dư hay giá trị kinh tế của
doanh nghiệp mà doanh nghiệ thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lãi kinh doanh = Doanh thu sản xuất kinh doanh - Chi phí sản xuât kinh doanh
Lãi gộp là chỉ tiêu chưa trừ đi chi phí bán hàng và chi phí quản lý kinh doanh
Lãi gộp = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán
Lãi thuần = Doanh thu thuần - Giá trị sản phẩm tiêu thụ
= Lãi gộp - (Chi phí bán hàng+ Chi phí quản lý)
1.1.6.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn:
Vốn là cơ bản của hoạt động sản xất kinh doanh, vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
- Vốn cố định (VCĐ): Là những tài sản có giá trị lớn, sử dụng được trong
một thời gian dài và chuyển dần giá trị vào trong sản phẩm qua con đường khấu hao (theo quy định hiện nay thì VCĐ là những tài sản có giá trị lớn hơn hoặc bằng 5 triệu đồng và có thời gian sử dụng lớn hơn 1 năm)
- Vốn lưu động (VLĐ): Là những tài sản có giá trị hay tư liệu lao động có
giá trị nhỏ, chuyển hết gía trị một lần vào trong sản phẩm trong một chu kỳ sản xuất
+ Các chỉ tiêu sử dụng:
Tổng giá trị sản xuất Q
Tổng vốn bình quân trong kỳ VCĐ + VLĐChỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn sản xuất sẻ tạo ra được bao nhiêu đồng đơn vị sản lượng
Trang 16QVốn lưu động:
VLĐHLĐ =
QKhi các chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả càng cao và ngược lại
- Tốc độ luân chuyên vốn (L):
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động không
ngừng hoạt động và biến đổi từ dạng này đến dạng khác, từ tiền mặt sang
nguyên vật liệu sang hàng hổẳt về hình thái bằng tiền hoặc từ T'- H-T' Với quá trình biến đổi liên tục vòng quay của vốn được xác định từ khi bỏ tiền ra để kinh doanh đến khi thu hồi lại bằng tiền
Tốc độ luân chuyển vốn biểu hiện số vòng quay của vốn lưu động, mức luân chuyển của một vòng lưu thông hoặc số ngày của một vòng luân chuyển
Đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh trình độ quản lý sử dụng tài chính
doanh nghiệp
D
L =
V
Trang 171.2.1 Tính chất, đặc điểm của ngành sản xuất dược Việt Nam:
Đứng trên gốc độ kinh tế để xem xét thì dược phẩm là một hàng hoá
mang lại lợi nhuận cho nhà kinh doanh nhưng đây là một loại hàng hoá có độ co giản rất thấp Do tính chất đặc biệt và vai trò của nó đối với đời sống kinh tế xã hội mà mặt hàng này chịu ảnh hưởng rất lớn từ sự biến động của thị trường
- Sản phẩm dược chỉ có giá trị với ngành Y tế hay nói đúng hơn là chỉ có giá trị đối với người bệnh và người bệnh có thể chi trả với mọi giá để thoả mãn mọi nhu cầu về nó
- Cung cầu về loại sản phẩm này có sự biến động rất lớn theo từng thời kỳ phụ thuộc lớn vào đời sống sức khoẻ của cộng đồng
- Sản phẩm Dược của chúng ta chủ yếu nhập nguyên liệu, sản phẩm từ trước ngoài và môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt
Dược phẩm là sản phẩm rất cần thiết đối với đời sống sức khoẻ cộng
đồng Chính vì thế mà nhất thiết mọi quốc gia phải tổ chức tốt lĩnh vực sản xuất
Trang 18và cung ứng loại sản phẩm này một cách tốt nhất Đặc biệt đối với đất nước ta, thường hay gánh chịu những thiên tai do thiên nhiên tạo ra Do đó việc sản xuất cung cấp dự trữ thuốc hết sức cần thiết, hơn thế nữa Thế giới ngày nay thường xuất hiện những căn bệnh mới: Viêm đường hô hấp cấp, cúm gà làm cho nhu cầu sản phẩm dược tăng lên đòi hỏi luôn đảm bảo đày đủ dược phẩm để đối phó, phòng chống, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
1.2.2 Sơ lược về tình hình ngành Dược ở nước ta:
1.2.2.1 Tình hình chung:
Đất nước Việt Nam trải qua 36 mươi năm chiến tranh bị tàn phá nặng nề
về mặt kinh tế xã hội Sau ngày giải phóng thống nhất tổ quốc (1975), mặc dù chúng ta đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng và hệ thống công nghiệp còn nhỏ bé, khả năng đầu tư của Nhà nước còn hạn chế trong việc phục hồi nền kinh tế và giải quyết các bức xúc đời sống kinh tế xã hội Trong đó, có việc nâng cao và bảo vệ sức khoả cộng đồng của ngành Y tế Cũng như mọi người khác, ngành Y tế đã nỗ lực phấn đấu phát huy tốt lợi thế của mình để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tốt hơn cho việc điều trị và phòng bệnh Sản xuất và lưu thông dược phẩm để nâng cao và bảo vệ sức khoẻ của người dân
- Về cơ sở điều trị và phòng bệnh của ngành: Có gần 13.000 cơ sở với 200.000 giường bệnh từ thành phố đến xã phường
- Về cơ sở sản xuất: Có 106 xí nghiệp sản xuất Dược trãi dài với 61 tỉnh, thành phố Trong đó 7 xí nghiệp bào chế thuốc Y học cổ truyền
- Về đào tạo: Hiện tại có 11 cơ sở đào tạo Đại học và trên Đại học trực thuộc Bộ Y tế có uy tín, số lượng Dược sỹ trên 10.000 dân
- Đối với ngành Dược ngày nay, yêu cầu cấp thiết phải phát triển nâng cao trình độ, hiện đại hoá, đạt được các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể
Trong điều kiện mới của nền kinh tế hiện nay, ngành Dược Việt Nam phải thực
Trang 19hiện các bước đi đúng đắn để phát huy đựơc sức mạnh và hoàn thành nhiệm vụ của mình.
- Trong cơ chế thị trường, ngành Dược nước ta đã và đang có nhiêu cố gắng đáp ứng nhu cầu cơ bản về thuốc cho cộng đồng, đã cố gắng khắc phục được hoàn cảnh thiếu thuốc khi thiên tai dịch bệnh xãy ra
Trong thời gian qua, mặc dù có những biến động lớn về giá cả và môi trưòng kinh doanh không mấy thuận lợi, các doanh nghiệp trong nước đã rất cố gắng để vượt qua khó khăn, giữ vững được tốc độ phát triển và tăng trưởng
không thua kém gì các năm trước
1.2.2.2 Một số thành tựu đạt được:
Theo Cục quản lý và dự báo thống kê, tổng giá trị nhập khẩu thuốc và nguyên vật liệu làm thuốc năm 2009 đạt 500 triệu USD tăng 10% so với 450 triệu USD năm 2008 Giá nguyên vật liệu nhập khẩu với 100 triệu USD tăng 25% tổng giá trị nhập khẩu
- Tổng giá trị sản xuất thuốc năm 2009 đạt 3.770 tỷ VNĐ tăng 20% so với 3.144 tỷ đồng năm 2008
- Giá trị sản lượng năm 2009 tăng 220%, đạt 250 triệu USD, bằng 50% thị trường dược phẩm Việt Nam, So với tỷ lệ 38% năm 2008
Tổng quát kết quả ngành Dược trong những năm qua:
- Tổng giá trị nhập khẩu tăng 8,9%
- Giá trị nguyên vật liệu nhập tăng 12,8%
- Giá thành nhập kho tăng 12,8%
- Giá trị thuốc sản xuất trong nước tăng 22,4%
Ngành Dược Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng bình quân 13%
Như vậy ta thấy rằng sản xuất trong nước tăng nhưng phụ thuộc quá lớn vào nguyên vật liệu nước ngoài Cho nên làm cho giá thành cao, làm giảm hiệu
Trang 20Các thành viên của Công ty Dược Việt Nam đã đạt được một số thành quả đáng khích lệ:
- Tổng doanh thu đạt 85.6% so với kế hoạch tăng lên 15,7%
- Doanh số bán ra đạt 88,2% so với kế hoạch tăng 24%
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 85,5% so với kế hoạch tăng 17,2%
- Lợi nhuận và tổng nộp ngân sách đạt trên 90% so với kế hoạch
Những kết quả này đã khẳng định việc hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch và phần nào khẳng định việc đạt được hiệu quả về mặt kinh tế xã hội
Trang 21CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM QUẢNG
BÌNH
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY.
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình.
Thuốc chữa bệnh và trang thiết bị dụng cụ y tế là mặt hàng thiết yếu
không thể thiếu được phục vụ nhu cầu phòng và chữa bệnh cho nhân dân Trong bối cảnh đất nước chiến tranh thì nhu cầu ấy càng bức thiết hơn, trước tình hình
đó ngày 19/5/1965 Xí nghiệp Dược phẩm Quảng Bình được thành lập và đóng tại địa bàn Tuyên Hoá Tháng 1/1976 sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất theo yêu cầu nhiệm vụ mới Xí nghiệp chuyển về địa bàn phường Bắc Lý thị xã Đồng Hới
Tháng 4/1982 sát nhập với Xí nghiệp dược phẩm Quảng Trị và Xí nghiệp dược phẩm Thừa Thiên Huế với tên gọi Xí nghiệp liên hiệp dược Bình Trị
Thiên Tháng 7/1989 Xí nghiệp tách khỏi Xí nghiệp liên hiệp dược Bình Trị Thiên, đổi tên : Xí nghiệp liên hiệp dược Quảng Bình, tháng 6/1992 Xí nghiệp liên hiệp dược Quảng Bình hợp nhất với Công ty trang thiết bị dịch vụ y tế
Quảng Bình, mang tên: Xí nghiệp liên hiệp dược- thiết bị y tế Quảng Bình
Ngày 27/03/1993 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định số 63 QĐ/UB thành lập doanh nghiệp nhà nước: Công ty dược phẩm Quảng Bình, tháng 1 năm
2005 chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình
Trải qua 46 năm xây dựng và phát triển, đơn vị đã vượt qua biết bao gian nan và thử thách của buổi đầu mưa bom bão đạn với hơn 40 cán bộ công nhân viên, nguồn vốn ít ỏi điều kiện sản xuất thô sơ nhưng vẫn hoàn thành nhiệm vụ, phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến Bên cạnh những thời kỳ phát triển
mạnh Công ty cũng có thời kỳ gặp nhiều khó khăn đặc biệt là cuối năm 1993
Trang 22đầu năm 1994 Công ty đứng bên bờ của sự phá sản, sản xuất kinh doanh thua lỗ, tình hình tài chính mất khả năng thanh toán đời sống công nhân viên vô cùng khó khăn Phát huy truyền thống đoàn kết, gắn bó tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên đã tìm ra chiến lược sản xuất kinh doanh đúng đắn, năng động sáng tạo đưa doanh nghiệp dần ổn định và phát triển.
Cho đến nay, trong nền kinh tế đổi mới bức tranh toàn cảnh của công ty mang màu sắc mới với nhiều thành tựu trong SXKD điều đó được thể hiện qua
sự quan tâm đến mọi chế độ cho cán bộ công nhân viên, giá trị sản lượng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng, số lượng sản lượng sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng và sự tín nhiệm của khách hàng đối với sản phẩm ngày càng nâng cao
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ:
Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình là doanh nghiệp Nhà nước hạch toán kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân Cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp là Sở Y tế Quảng Bình
Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh thuốc tân dược, trang thiết bị, dụng cụ Y tế phục vụ cho các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, góp phần tăng tích luỹ cho nhân dân Nhà nước và giải quyết việc làm cho xã hội
Thị trường kinh doanh trong nước trên cơ sở bám sát và phát huy thị
trường nội tỉnh mà thế mạnh là các trung tâm các huyện, thị xã, các cơ sở khám chữa bệnh đồng thời mở rộng thị trường cả nước Liên doanh liên kết với các doanh nghiệp dược phẩm trong nước để phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
2.1.3 Mạng lưới cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh:
Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình tổ chức sản xuất và chuyên môn hoá lao động theo từng phân xưởng Các phân xưởng là nơi trực tiếp sản
Trang 23xuất ra các loại sản phẩm theo kế hoạch sản xuất của Công ty Trực tiếp áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và trực tiếp quản lý lực lượng lao động cả về số lượng và chất lượng lao động Mỗi phân xưởng được phân công sản xuất nhiều loại mặt hàng khác nhau qua nhiều công đoạn Do đó không có
sự phân tổ hoặc nhóm Để giúp Giám đốc quản lý và điều hành mọi hoạt động của phân xưởng thì mỗi phân xưởng có một Quản đốc điều hành chung và trực tiếp chỉ đạo công tác kỹ thuật, chất lượng sản phẩm tuỳ theo quy trình sản xuất từng mặt hàng để luân chuyển bố trí lao động một cán bộ thống kê phân xưởng tham mưu cho phòng tài vụ về công tác quản lý tại phân xưởng và đội ngủ công nhân lành nghề
Mạng lưới kinh doanh bao gồm các hiệu thuốc và phòng kế hoạch kinh doanh là nơi sử dụng trên 65% vốn sản xuất kinh doanh và hơn 60% lao động trong toàn Công ty Do đó mạng lưới kinh doanh là khâu then chốt quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cơ cấu tổ chức của các hiệu thuốc gồm có một chủ hiệu thuốc, một cán bộ cung ứng, một kế toán, một thủ kho kiêm thủ quỷ cùng hệ thống quầy hàng và đại lý Mỗi quầy hàng bố trí một nhân viên bán hàng có trình độ từ ta dược trở lên Phòng Kế hoạch kinh doanh gồm có trưởng phòng điều hành chung trạm Hà Nội, Sài Gòn, hai quầy trung tâm và cán bộ cung ứng tiêu thụ
2.2 Một số đặc điểm chủ yếu của Công ty ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình.
Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình là doanh nghiệp Nhà nước, có đầy đủ tư cách pháp nhân, cơ quan quản lý hành chính Nhà nước cấp trên trực tiếp là Sở Y tế Quảng Bình
Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh thuốc tân dược, trang thiết bị dụng cụ Y tế phục vụ cho các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu bảo vệ sức khoẻ của Nhân dân, góp phần tăng tích luỹ cho ngân sách Nhà
Trang 24Thị trường kinh doanh trong nước trên cơ sở bám sát và phát huy thị
trường nội tỉnh và thế mạnh là các trung tâm Huyện Thị xã, các cơ sở khám
chữa bệnh đồng thời mở rộng ra thị trường cả nước Liên doanh liên kết với các doanh nghiệp dược phẩm trong nước để phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá
2.2.1 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh:
Công ty dược phẩm tổ chức sản xuất và chuyên môn hoá lao động theo từng phân xưởng, các phân xưởng là nơi trực tiếp sản xuất ra các loại sản phẩm theo kế hoạch sản xuất của Công ty trực tiếp áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất và trực tiếp quản lý lực lượng lao động cả về số lượng lẩn chất lượng Mỗi phân xưỡng được phân công sản xuất nhiều loại mặt hàng khác nhau qua nhiều công đoạn, do đó không có sự phân tổ của nhóm
Để giúp giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành mọi hoạt động của phân xưởng thì mổi phân xưởng có một quản đốc điều hành chung và trực tiếp chỉ đạo công tác kỷ thuật, chất lượng sản phẩm, tuỳ theo quy trình sản xuất của sản
phẩm mặt hàng để luân chuyển bố trí lao động Ngoài ra ở mỗi phân xưởng còn
có một cán bộ thống kê phân xưởng theo dõi và tập hợp chi phí phát sinh ở phân xưởng, vật tư nguyên vật liệu đưa vào sản xuất
Mạng lưới kinh doanh bao gồm các hiệu thuốc, phòng kế hoạch kinh
doanh hai trạm, các đại lý, quầy hàng, lĩnh vực kinh doanh sữ dụng trên 65% vốn sản xuất kinh doanh và hơn 60% lao động trong toàn Công ty, do đó mạng lưới kinh doanh là khâu then chốt quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp Có 7 hiệu thuốc trực thuộc Công ty đóng ở các huyện thị bao gồm: Hiệu thuốc Đồng hới, Lệ thuỷ, Quảng ninh, Bố trạch, Quảng trạch, Tuyên hoá, Minh hoá mỗi hiệu thuốc gồm một chủ nhiệm, một kế toán thủ kho thủ quỹ
và hệ thống quầy hàng Hai trạm Hà nội, Sài gòn thuộc sự quản lý của phòng kế hoạch
Trang 252.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Dược phẩm Quảng Bình được xây dựng trên cơ sở yêu cầu phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong hiện tại và tương lai, với phương châm gọn nhẹ hiệu quả, tuỳ theo điều kiện nhiệm vụ cụ thể từng thời kỳ để tổ chức, bố trí bộ máy quản lý và mạng lưới cơ
sở hợp lý để phát huy sức mạnh tổng hợp hoàn toàn của doanh nghiệp Hiện tại
tổ chức bộ máy của đơn vị được hình thành với bốn phòng tham mưu, sáu phân xưởng, một tổng kho, bảy hiệu thuốc ở các huyện thị
CÁC QUẦY
Trang 26SƠ ĐỒ 2: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
Ghi chú: Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ tác nghiệp
Chức năng nhiệm vụ các cấp lãnh đạo:
+ Giám đốc: là người điều hành mọi hoạt động của Công ty đồng thời chịu trách nhiệm trước nhà nước và tập thể về quản lý, chỉ đạo mọi hoạt động
+ Phó giám đốc: gồm hai phó giám đốc phụ trách hai khối sản xuất và kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ điều hành cụ thể và tham mưu cho giám đốc trong việc ra quyết định
+ Các phòng chức năng - tham mưu: gồm 4 phòng
Trang 27+ Phân xưởng cơ điện: hoạt động phục vụ sản xuất kinh doanh toàn Công
ty + Tổng kho: thực hiện nghiệm thu, bảo quản, xuất nhập các loại vật tư, hàng hoá thành phẩm
2.2.3 Đặc điểm về quy trình công nghệ kỷ thuật sản xuất sản phẩm.
Với nhiệm vụ sản xuất và bào chế thuốc tân dược phục vụ cho nhu cầu phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân nên quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về chất lượng, từ khâu pha chế đến khâu bao gói sản phẩm được thực hiện trong một môi trường vệ sinh tối
đa với các loại máy móc thiết bị tương đối hiện đại
Cùng với nhịp độ phát triển của Công ty- quy trình công nghệ kỷ thuật sản xuất sản phẩm cũng được phát triển thoe từ kỷ thuật sản xuất ban đầu chủ yếu dựa trên các thiết bị loại nhỏ, thủ công Phòng thí nghiệm đến nay đã phát triễn thành công nghệ bào chế hoàn chỉnh Các phân xưởng sản xuất được trang
bị máy móc thiết bị hiện đại với dây chuyền công nghệ hiện đại khép kín
Công tác sản xuất ở các phân xưởng đạt trình độ chuyên môn hoá cao, các công đoạn sản xuất từ khâu đầu tiên là pha chế đến khâu cuối cùng là bao gói nhập kho thành phẩm đều mang tính chất liên tục và liên quan với nhau dưới
Trang 28dạng dây chuyền, các bước sản xuất không tách rời nhau và được tổ chức sản xuất hàng loạt lớn, chu kỳ sản xuất ngắn.
Cho đến nay, Công ty đã từng bước thay đổi trang thiết bị, hợp lý hoá dây chuyền sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm
SƠ ĐỒ 3: QUY TRÌNH SẢN XUẤT THUỐC
Đạt tiêu chuần Không đạt Tiêu chuẩn
Đăc điểm sản xuất tiêu thụ ở đây là trong các khâu sản xuất, nguyên liệu đưa vào: Hoá chất bao bì, dụng cụ đều được kiểm tra vô trùng đóng gói vấn đề
vệ sinh an toàn được đưa lên hàng đầu
Các loại sản phẩm:
+ Thuốc viên: kháng sinh : Ampicilin; tetracilin; trimazol
+ Thuốc mỡ: plucina; clorocid-H
+ Thuốc viên Bổ :Vitamin
+ Các loại thuốc cao đơn; thuốc bôi ngoài da; dầu nhật lệ rượu bổ
VỆ SINH VÔ TRÙNG
Trang 29- Sản xuất sản phẩm hàng loạt, có giá trị nhỏ.
- Công tác vệ sinh an toàn được theo dõi thường xuyên trong quá trình sản xuất
- Do đặc điểm thuốc chữa bệnh nên sản phẩm sản xuất ra không có dạng sản phẩm dở dang đầu và cuối kỳ, không có phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang áp dụng ở đây
- Thành phẩm, bán thành phẩm không đạt tiêu chuẩn thì bị loại ra và
không được sữa lại
2.2.4 Đặc điểm về máy móc thiết bị của Công ty.
Công ty dược phẩm Quảng Bình ra đời từ thời kỳ bao cấp nên máy móc thiết bị rất đa dạng cả thô sơ lẩn hiện đại, đủ kiểu đủ chủng loại nhưng do từ nhiều nguồn vốn khác nhau nên thiều tính đồng bộ
Sau khi xoá bỏ bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN, việc cạnh tranh về chất lượng sản phẩm giữa các công ty dược trong nước, giữa thuốc nội và thuốc ngoại đã thúc đẩy Công ty phải đổi mới, áp dụng nhiều công nghệ hiện đại nhằm mua sắm thêm máy móc thiết bị mới như: Máy dập viên máy đóng nhộng tự động, máy ép vĩ, in nhãn trên nang, máy đóng thuốc bột
Cho đến nay, quy trình đổi mới của Công ty tuy đã được áp dụng nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu sản xuất Công ty đã bắt đầu trang bị một số dây chuyền thiết bị mới hoàn toàn để sản xuất một số mặt hàng đòi hỏi chất lượng sản phẩm cao, mang tính chất cạnh tranh
Thời gian làm việc của thiết bị từ 10-15 năm nhưng một số máy móc thiết
bị do mức độ sử dụng chưa cao nên nay vẩn còn được sử dụng mặc dù đã khấu hao hết
2.2.4.1 Tình hình biến động nguồn lao động của Công ty qua 3 năm (2008 - 2010)
Trang 30Bảng 1: Tình hình lao động của Công ty dược Quảng Bình qua ba năm
TỶ TRỌNG (%)
SỐ LƯỢNG
TỶ TRỌNG (%)
SỐ LƯỢNG
TỶ TRỌNG
Từ kết quả số liệu trên ta thấy rằng tổng số lao động của Công ty qua ba năm đều tăng Năm 2009 so với năm 2008 tăng 5,7% tương ứng với 18 người, năm 2010 so với năm 2009 tăng 1,2% tương ứng với 4 người Đây là điều hợp
lý của Công ty bởi quy mô sản xuất kinh doanh qua 3 năm đều tăng, đòi hỏi lực lượng lao động tăng theo để phù hợp với quy mô đó
- Xét theo giới tính: Tỷ lệ lao động nữ đều chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số lao động của Công ty ( trung bình qua ba năm chiếm khoảng 70%) thể hiện tính chất đặc thù của ngành Dược và yêu cầu của công việc đòi hỏi về tính cẩn thận, kiên nhẫn trong sản xuất kinh doanh, số lao động này chủ yếu thực hiện
%
Trang 31các bước công việc trong khâu trực tiếp sản xuất (thuộc các tổ), các quầy thuốc, chi nhánh, đại lý Trong năm 2009 Công ty đã tuyển thêm 6 lao động nữ, năm
2010 tuyển thêm 2 lao động nữ phục vụ ở các cửa hàng Dược: Đồng Hới và xưởng sản xuất để đáp ứng yêu cầu tăng quy mô sản xuất kinh doanhvà mở rộng thị trường của Công ty
Số lao động nam của Công ty chủ yếu phục vụ ở phòng kỹ thuật, phòng
Kế hoạch kinh doanh, phòng TC - HC và phục vụ các công việc quản lý gián tiếp, số lao động này đều tăng qua 3 năm Đặc biệt là trong năm 2009, Công ty
đã tuyển thêm 7 lao động làm việc ở phòng kỷ thuật và 5 lao động làm việc ở phòng kinh doanh
- Xét theo trình độ chuyên môn của lao động: Đây là chỉ tiêu đánh giá được chất lượng lao động và yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của Công ty Nhóm lao động có trình độ sơ cấp chiếm tỷ trọng tương đối lớn 48% và giảm dần qua 3 năm Sở dĩ nhóm này có tỷ trọng lớn là vì Công ty tuyển lao động làm việc ở các công việc không cần trình độ và tay nghề cao, chủ yếu thực hiện các công việc đơn giản, phổ thông và thủ công trong sản xuất Bởi lực lượng lao động này có giá nhân công rẽ, đã tiết kiệm được chi phí sản xuất
Trong 3 năm qua Công ty đã chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lao động, thể hiện ở số lao động có trình độ đại học đều tăng qua 3 năm Năm
2010 tuyển thêm một lao động có trình độ cao đẳng, đưa một số cán bộ có trình
độ trung cấp và sơ cấp học nâng cao trình độ và nghịêp vụ Số lao động này chủ yếu phục vụ công tác quản lý của Công ty
- Xét theo tính chất lao động thì Công ty chủ yếu sử dụng lao động trực tiếp (trung bình qua ba năm chiếm 90%) và số lao động này làm việc ở các phân xưởng sản xuất và phục vụ bán ở các cửa hàng thuốc, số lao động gián tiếp
chiếm một tỷ lệ thấp và sổ lao động này làm công tác quản lý gián tiếp
Nhìn chung, khi xem xét lực lượng lao động của Công ty qua 3 năm thì