1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN Biện Pháp Giúp Học Sinh Hiểu Và Giải Nghĩa Đúng Từ Hán – Việt Để Làm Bài Tập Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 5

24 832 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 214,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

8 Phần III: Phương pháp 9 A- Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng 9 từ Hán- Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu 1 - Hướng dẫn học sinh lập sổ tay Ti

Trang 1

Mục lục

Phần I: đặt vấn đề 3

A- Lí do chọn đề tài 3

1 - Cơ sở lí luận 2.- Cơ sở thực tiễn

3- Kết luận

B- Mục đích của đề tài 6

C- Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6

1 - Đối tượng nghiên cứu 2.- Phạm vi ngghiên cứu D- Phương pháp nghiên cứu 7

Phần II: Nội dung thực hiện đề tài 7

A- Hệ thống các bài tập có liên quan đến từ Hán-Việt 7

trong phân môn Luyện từ và câu B- Những điểm cần khắc phục của học sinh khi làm bài tập 8

Phần III: Phương pháp 9

A- Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng 9

từ Hán- Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu 1 - Hướng dẫn học sinh lập sổ tay Tiếng Việt 2- Rèn trực tiếp trong các giờ luyện từ và câu 3- Rèn trong các giờ học tăng buổi 4- ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học sinh trong phân môn Luyện từ và câu 5- Tiếp tục xây dựng hình mẫu " Những đôi bạn cùng tiến" B- Những điểm cần lưu ý khi dạy các dạng bài tập khác của 18

phân môn luyện từ và câu Phần IV: Kết quả thực hiện 18

Phần V: Những kinh nghiệm được rút ra 21

Phần VI: Những vấn đề bỏ ngỏ và điều kiện thực hiện đề tài 22

Phần VI: Kiến nghị 22

Phần VIII: Kết luận chung 23

Trang 2

Kinh nghiệm:

Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng

từ Hán- Việt để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5

ở trường tiểu học Minh Hoàng

đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ, chính quyền phong kiến Việt Nam lúc bấy giờ đã bắt người dân dùng loại chữ viết này và coi đó là chữ viết phổ cập Khi Cách mạng tháng Tám thành công, vì thấy đây là loại chữ viết dễ dùng nên chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyến khích người dân dùng chữ Quốc ngữ

để viết, vậy là từ đó chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và phổ cập như ngày nay Mặc dù vậy, khi sử dụng từ ngữ, người Việt Nam vẫn thường có thói quen sử dụng từ gốc Hán, đọc theo âm Việt( từ Hán-Việt) Từ Hán Việt đã góp phần làm phong phú kho tàng từ điển Việt Nam Từ Hán-Việt

có nghĩa cổ kính, thấp thoáng và rất trang trọng, nhiều khi trong một văn bản nhất định, người ta không thể dùng được những từ thuần Việt tương

đương để thay thế Ví dụ: "phụ nữ" là từ đồng nghĩa với "đàn bà" nhưng trong trường hợp sau đây, để thể hiện sự trang trọng người ta đã dùng từ Hán Việt: "Hôm nay là ngày Quốc tế Phụ nữ."

Ngay từ khi mới sinh ra, trẻ em Việt Nam đã được tiếp xúc với ngôn ngữ Tiếng Việt Đó là những câu hát ầu ơ của mẹ, đó là những lời gọi và nói chuyện âu yếm của cha, của những người họ hàng làng xóm khi họ gần gũi với chúng.Khi tập nói, tập đi, những người thân của trẻ thơ lại hướng dẫn chúng nói bằng Tiếng Việt và nhận thức mọi vật xung quanh bằng Tiếng Việt Càng ngày trẻ càng được tiếp xúc với Tiếng Việt nhiều hơn,

đặc biệt là khi trẻ bắt đầu vào lớp 1, trẻ bắt đầu được học ghép chữ để dần hoàn thiện bốn kĩ năng nghe, nói , đọc, viết

Để học sinh Tiểu học có thể nắm bắt thuận lợi tất cả các môn học khác, trẻ phải học tốt môn Tiếng Việt Môn Tiếng Việt có một vị trí quan

Trang 3

trọng trong chương trình Tiểu học, đây là môn học có số lượng tiết học cao nhất trong tuần Môn Tiếng Việt ban đầu với trẻ đến cuối lớp 1 chỉ là 3 phân môn Tập đọc, Chính tả, Kể chuyện, Tập viết thì đến lớp 5, các em phải học đủ cả các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn.Vậy là ngay từ khi bắt đầu cuộc sống của mình, theo lời dạy của cha mẹ và thầy, cô giáo, trẻ em cũng đã được làm quen và dùng từ Hán- Việt trong học tập, trong cuộc sống Muốn trẻ em có thể dùng

đúng từ Hán- Việt trong giao tiếp và viết văn, các em phải hiểu đúng nghĩa của những từ ngữ đó Đây là một vấn đề không hề đơn giản Đối với các em học sinh lớp 1, những từ Hán-Việt được thầy cô cung cấp cho các em thường là những từ có trong bài tập đọc được giải nghĩa ở phần chú thích cuối bài Đến lớp 2, lớp 3, các em đã được làm quen với phân môn Luyện

từ và câu nhưng phần đa vốn từ của các em cũng được cung cấp thêm cũng

là những từ thuần Việt; từ Hán- Việt ở 2 khối lớp này thường vẫn là những

từ xuất hiện thêm ở những bài tập đọc hoặc ở những đoạn văn mẫu trong phân môn Chính tả, Tập làm văn Đến lớp 4, lớp 5, vốn từ của các em đã phong phú hơn Ngoài việc cung cấp thêm vốn từ ngữ cho học sinh, phân môn Luyện từ và câu có dạng bài tập yêu cầu các em phải xếp từ theo nhóm; những nhóm từ này phần lớn đều là từ Hán- Việt Vậy làm thế nào

để có thể xếp từ theo nhóm thích hợp? Đó chính là câu hỏi cần phải đặt ra khi giáo viên giảng dạy phân môn này Ngoài việc xếp từ theo nhóm, các

em học sinh còn phải giải nghĩa các thành ngữ, tục ngữ có rất nhiều từ Hán -Việt Các bài tập cuối cùng của bài thường là viết một đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học Tất cả các giáo viên đều hiểu nếu học sinh nắm được nghĩa của từ thì sẽ làm tốt các dạng bài tập nêu trên nhưng làm thế nào để giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của những từ Hán-Việt mà không bị nhầm lẫn?

Đây chính là vấn đề mà tôi luôn trăn trở khi giảng dạy phân môn Luyện từ

và câu lớp 5

2 Cơ sở thực tiễn:

Những năm gần đây, tôi được phân công giảng dạy lớp 5, mỗi lần

dạy đến phần bài "Mở rộng vốn từ" trong phân môn Luyện từ và câu là tôi

lại gặp phải không ít khó khăn Do học sinh hiểu chưa đúng nghĩa của từ nên dẫn đến khi tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, xếp từ theo nhóm bị sai Khi giáo viên yêu cầu học sinh giải nghĩa từ, học sinh lúng túng không biết giải nghĩa ra sao Những học sinh hiểu thì cũng diễn đạt còn chưa chính xác

Ví dụ: Trong bài Mở rộng vốn từ: "Hữu nghị- Hợp tác" có dạng bài

Trang 4

cũng lúng túng không biết giải nghĩa ra sao mặc dù trong sách giáo khoa cũng có giải nghĩa một số từ khó liên quan đến thành ngữ, tục ngữ đó Ví

dụ: Trong bài "Mở rộng vốn từ" chủ đề "Nam hay nữ" tuần 30, bài 3 có

yêu cầu sau:

Em hiểu mỗi thành ngữ, tục ngữ dưới đây thế nào? Em tán thành câu a

hay câu b? Vì sao?

a "Trai mà chi, gái mà chi

Sinh con có nghĩa có nghì vẫn hơn."

b Nhất nam viết hữu , thập nữ viết vô

(Một trai đã là có, mười gái cũng bằng không.)

c Trai tài gái đảm

d Trai thanh gái lịch

Theo yêu cầu của bài tập này, học sinh phải giải nghĩa được ý nghĩa của câu tục ngữ nêu trên (phần chú thích đã giải nghĩa giúp các em từ

"nghì": nghĩa, tình nghĩa; "đảm": biết gánh vác, lo toan mọi việc) Vậy

là học sinh phải vận dụng vốn từ ngữ mà mình đã được học để giải nghĩa

đúng ý nghĩa của câu tục ngữ nêu trên và bày tỏ ý kiến của mình, giải thích vì sao mình chọn thành ngữ, tục ngữ đó Với vốn từ ngữ đã được học từ lớp

1 đến lớp 5, học sinh rất khó giải thích được những thành ngữ, tục ngữ này, rất nhiều em phải cần đến sự hỗ trợ của giáo viên

ở dạng bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề vừa học, thường thì học sinh đã nắm được cách trình bày một đoạn văn theo chủ đề nhưng do chưa nắm vững nghĩa của từ nên một số em dùng từ không chính xác, câu văn bị hiểu sai nghĩa và như vậy bài viết thường bị điểm thấp Tôi đã

nghiên cứu và tìm ra những nguyên nhân sau:

* Về phía thầy:

Khi giảng dạy, người giáo viên đã khai thác hết những kiến thức cơ bản ở SGK , đã có sự quan tâm tới tất cả đối tượng học sinh , đã phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học như gọi học sinh giỏi phát biểu ý kiến, học sinh dưới lớp nhận xét, giáo viên cùng học sinh cả lớp chốt câu trả lời đúng song hiểu được đúng và nhớ được nghĩa của từ Hán- Việt không phải là việc dễ dàng, sự nhận thức của các em lại không đồng đều nên dẫn đến kết quả tiếp thu của các em khác nhau Chính vì điều đó, khi làm bài tập, tỉ lệ học sinh làm bài đúng không cao, một số em đã nhận thức chậm thường bị điểm yếu

Thời gian giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 5 theo quy định chỉ

có 2 tiết/tuần; trong khi đó giải nghĩa từ giữ vai trò mở ra cánh cửa tri thức cho học sinh biết đó là "cái gì" trước khi có thể làm được các dạng bài tập

có liên quan đến những từ ngữ đó Thực tế cho thấy do không có đủ thời gian nên bản thân giáo viên không thể giúp tất cả học sinh hiểu và giải nghĩa đúng các từ Hán- Việt dẫn đến tình trạng học sinh làm bài kết quả không cao

Trang 5

*Về phía học sinh:

Thứ nhất: Do học sinh không nắm được nghĩa của từ nên khi xếp từ

theo nhóm thường bị sai, không hiểu được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ, khi viết đoạn văn ngắn theo chủ đề thường dùng từ không chính xác

Thứ hai: Nhận thức của các em học sinh không đồng đều nên dẫn

đến tình trạng một số học sinh yếu cho dù cùng được tham gia hoạt động lĩnh hội kiến thức giống như các bạn nhưng vẫn làm bài sai

Thứ ba: Do vốn hiểu biết về cuộc sống của các em còn hạn chế, sự

giao lưu không nhiều, gần như không có học sinh nào có Từ điển Việt Nam hay sách tham khảo bởi vậy ngoài việc tiếp thu bài trong SGK, vốn từ của các em rất hạn hẹp, bản thân cha mẹ học sinh cũng không quan tâm nhiều

đến điều này bởi vậy việc giúp học sinh hiểu đúng và giải nghĩa đúng từ Hán -Việt là một vấn đề vô cùng cần thiết

Thứ tư: Từ Hán -Việt là từ gốc Hán, được đọc theo âm Việt, nghĩa

của từ được giải nghĩa đôi khi chỉ là nghĩa thấp thoáng, không theo một công thức nào cả, người giáo viên không thể dùng chữ Hán mà giải thích cho học sinh đó là những từ có cách viết khác nhau nên các em rất dễ nhầm lẫn Ví dụ: từ "hữu tình" đã nhắc ở trên

3.Kết luận:

Như vậy, sự xuất hiện của từ Hán- Việt trong kho tàng từ điển Việt Nam góp phần làm cho văn hoá Việt thêm giàu đẹp nhưng với học sinh tiểu học, việc hiểu và có thể giải nghĩa đúng từ Hán- Việt đối với các em không phải là vấn đề đơn giản Ngay cả về khái niệm: "Thế nào là từ Hán-Việt?" đối với các em cũng còn rất xa lạ Với riêng tôi, việc giúp các em hiểu và có thể vận dụng từ Hán- Việt để nói và viết trong trong học tập cũng như trong cuộc sống là một vấn đề cần phải trăn trở

B.Mục đích của đề tài:

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 5, năm cuối cùng của bậc Tiểu học, tôi thấy người giáo viên cần củng cố và cung cấp thêm vốn từ ngữ cho học sinh là điều vô cùng cần thiết Từ Hán -Việt lại chiếm một phần khá lớn trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam Dùng từ Hán Việt làm cho bài văn sinh động hơn và đôi khi làm cho sự diễn đạt trong câu văn trở nên trang trọng hơn bởi vậy giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán Việt

là vấn đề cần được người giáo viên quan tâm đến trong từng tiết dạy đặc biệt là trong phân môn Luyện từ và câu.Trong những năm qua, tôi thường xuyên nghiên cứu, đề ra các biện pháp rèn học sinh ở tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt Năm học này, tôi tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm

"Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán- Việt

để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5."

C Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

1.Đối tượng nghiên cứu:

- Học sinh lớp 5B trường Tiểu học Minh Hoàng

- Lớp đối chứng: lớp 5A cùng trường

Trang 6

2.Phạm vi nghiên cứu :

Nội dung môn Tiếng Việt lớp 5 với phạm vi rất rộng, phân môn nào cũng liên quan đến từ Hán -Việt nhưng trong phần bài viết này của mình , tôi chỉ đề cập đến phần từ Hán- Việt trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5

Phần II: Nội dung thực hiện đề tài

Năm học 2009-2010 là năm Bộ giáo dục và Đào tạo tiếp tục phát

động các phong trào thi đua đã có từ năm học trước như “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, “Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học” Chất lượng giáo dục toàn diện các bộ môn cũng rất được chú trọng Việc kiểm tra và đánh giá học sinh theo chuẩn kiến thức kĩ năng ở mỗi môn học được đưa vào áp dụng; bởi vậy với đề tài này, tôi cũng luôn bám sát nhiệm vụ năm học để

có thể có được kết quả cao nhất khi thực nghiệm đề tài

A Hệ thống các bài tâp có liên quan đến từ Hán- Việt trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5:

Từ Hán- Việt được sử dụng rất nhiều khi học sinh làm các bài tập trong phân môn Luyện từ câu Thông thường có những dạng bài tập sau liên quan đến từ Hán- Việt:

1 Xếp từ theo nhóm

2 Tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa

3 Giải nghĩa thành ngữ, tục ngữ

4 Vận dụng đặt câu, viết đoạn văn ngắn theo chủ đề

Để có thể tìm ra biện pháp thích hợp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa

đúng từ Hán- Việt để là bài tập trong phân mộn Luyện từ và câu, ngay từ

đầu năm học, tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra để có được số liệu về chất lượng học tập của từng học sinh với cả hai lớp 5 (theo dạng bài tập đã nêu trên):

Đề bài:

Câu1:Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng "tài":

Tài giỏi, tài nguyên, tài trợ, tài ba, tài đức, tài sản, tài năng, tài hoa

a Tài có nghĩa là "có khả năng hơn người bình thường":

b.Tài có nghĩa là "tiền của":

Câu 2: Tìm từ cùng nghĩa với từ "dũng cảm"

Câu 3: Trong các thành ngữ sau, những thành ngữ nào nói về lòng

Trang 7

dũng cảm?

Ba chìm bảy nổi, vào sinh ra tử; cày sâu cuốc bẫm; gan vàng dạ sắt; nhường cơm sẻ áo, chân lấm tay bùn

Câu4: Viết một đoạn văn ngắn nói về hoạt động du lịch hay thám hiểm

Kết quả khảo sát như sau:

B Những điểm cần khắc phục của học sinh khi làm bài tập:

Để có được kết quả đánh giá ban đầu của học sinh trong phân môn Luyện từ và câu , tôi đã khảo sát ba lần với ba dạng bài tập khác nhau.Tôi phát hiện các em thường mắc những lỗi sau:

- Xếp từ theo nhóm chưa, một số em còn không biết giải nghĩa từ, một số

em khác hiểu nghĩa của từ nhưng diễn đạt cũng không đầy đủ

- Với các thành ngữ, tục ngữ, các em còn hiểu rất mơ hồ, một số em không tìm được các thành ngữ, tục ngữ theo chủ đề; đa số các em giải nghĩa về thành ngữ, tục ngữ đều lúng túng, không biết diễn đạt ra sao

Ví dụ: Trong bài tập 2 của bài kiểm tra, đa số các em chỉ tìm được một

thành ngữ (gan vàng dạ sắt) thành ngữ còn lại (vào sinh ra tử) rất ít em tìm

được Khi giáo viên hỏi về ý nghĩa của các thành ngữ, các em hiểu còn chưa chính xác

- Khi tìm các từ cùng nghĩa, trái nghĩa với những từ đã cho, các em thường tìm những từ thuần Việt vì đó là những từ dễ hiểu còn những từ Hán -Việt thì chỉ những học sinh khá - giỏi mới tìm ra

Ví dụ: Khi tìm từ cùng nghĩa với từ "dũng cảm", một số học sinh tìm

các từ sau: không sợ, dám làm

- Những đoạn văn mà các em viết theo chủ đề thường không phong phú

về nội dung, các em không biết dùng những từ đồng nghĩa để thay thế nhằm làm cho đoạn văn sinh động hơn Vậy là đoạn văn của các em thường sơ sài về nội dung, thậm chí có em còn dùng từ chưa chính xác về cách dùng từ, ngôn ngữ trong đoạn văn "thô", gây cười cho người đọc

Ví dụ: Một học sinh viết một đoạn văn ngắn về chủ đề Du lịch đã viết

như sau:

Trang 8

"Anh ấy là một nhà thám hiểm rất không sợ trước khó khăn

- Ngoài những vướng mắc về nội dung kiến thức, tôi còn thấy các em là

những học sinh còn nhỏ tuổi;đôi khi trước những bài tập khó, các em thường nản lòng, bỏ dở, không chịu suy nghĩ; bởi vậy người giáo viên cần

có biện pháp động viên khích lệ sự tiến bộ của các em kịp thời

Sau khi đã tìm ra nguyên nhân vướng mắc mà các em mắc phải trong từng dạng bài tập cũng như những điểm vướng mắc về tâm lí, tôi lên kế hoạch khắc phục từng điểm khuyết cho các em trong từng giờ dạy

Phần III: Phương pháp

A Một số biện pháp giúp học sinh hiểu và giải nghĩa đúng từ Hán-Việt

để làm bài tập trong phân môn Luyện từ và câu:

1.Hướng dẫn học sinh lập sổ tay Tiếng Việt:

Muốn học sinh làm tốt các dạng bài tập liên quan đến từ Hán- Việt trong phân môn Luyện từ và câu, học sinh phải hiểu nghĩa của từ Với vốn kiến thức các em đã được học từ lớp 1 đến lớp 4 chưa đủ để các em có thể hiểu và làm được các phần bài tập nêu trên; bởi vậy từ ngữ được giải thích ở các phần chú thích cuối các bài Tập đọc và các phân môn khác cũng rất quan trọng, đó là những từ mới mà học sinh cần ghi nhớ để vận dụng làm bài tập các phân môn khác Mỗi học sinh cần có một sổ tay ghi lại những từ mới cần lưu ý Cuốn sổ tay này còn được dùng ghi lại những điều học sinh

chuẩn bị bài mới trước từ nhà bởi với phần "Mở rộng vốn từ" đòi hỏi học

sinh phải nắm vững nghĩa của từ, nhiều em hiểu nghĩa còn chưa chính xác, tôi yêu cầu các em đọc trước bài từ nhà, tập giải nghĩa từ, tham khảo sách

để nắm được nghĩa của các từ khó Khi các em đã hiểu được nghĩa của từ trong bài học, nắm được ý nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ thì hoạt động lĩnh hội kiến thức mới diễn ra rất thuận lợi Tôi còn khuyến khích các em

đến thư viện nhà trường mượn sách tham khảo đọc để có thể hiểu và giải nghĩa chính xác các từ Hán -Việt và các thành ngữ, tục ngữ

2.Rèn trực tiếp trong các giờ học Luyện từ và câu:

Ngay từ đầu năm học, tôi đã định hướng và cùng học sinh của mình tìm ra những vướng mắc khi học phân môn Luyện từ và câu, đặc biệt là khi làm bài tập trong các bài Mở rộng vốn từ, giúp các em hiểu thế nào là từ Hán -Việt và thế nào là từ thuần Việt Với học sinh lớp 5, khái niệm về từ Hán -Việt đối với các em còn rất xa lạ; bởi vậy, giáo viên cần cung cấp khái niệm cho các em một cách đơn giản qua những câu chuyện về lịch sử:

"Nguồn gốc của từ Hán -Việt" Tư liệu này, người giáo viên có thể tham khảo ở sách của thư viện nhà trường hoặc vào những website trong mạng internet

Để giúp học sinh làm tốt tất cả các dạng bài tập trong các tiết học

"Mở rộng vốn từ", trước hết các em phải hiểu được nghĩa của từ Với

những từ thuần Việt, nghĩa rất rõ ràng nhưng với những từ Hán -Việt thì

Trang 9

không phải như vậy Đôi khi trong những trường hợp đặc biệt, giáo viên phải dùng từ Hán Việt khác để minh hoạ Ví dụ: Khi học sinh hiểu "hữu tình" là bạn tình, giáo viên phải giải nghĩa giúp học sinh hiểu: trong từ

điển, không dùng từ "bạn tình" mà nghĩa của nó phải là "người tình" và trường hợp này từ "nhân tình" mới có nghĩa là "người tình" còn "hữu tình'

có nghĩa là "có tình" ("hữu" có nghĩa là "có")

* Với dạng bài tập xếp từ theo nhóm tôi yêu cầu học sinh phải nắm vững nghĩa của từ trước khi làm bài tập, với những em có nhận thức chậm, tôi dành cho các em nhiều thời gian hơn so với các em khác trong các tiết học Các em cần được hướng dẫn cụ thể từng bài tập Còn với học sinh khác, tôi

tự tạo cho các em có cơ hội để phát huy tính tích cực của mình trong giờ học các em có thể trình bày ý kiến của mình, sau đó tôi cùng học sinh cả lớp nhận xét, góp ý, chốt câu trả lời đúng Sau đó, tôi cho học sinh khá giỏi giải thích vì sao em xếp từ theo nhóm như vậy (học sinh phải nêu được nghĩa của từng từ trong nhóm)

Ví dụ: Bài tập 2 trang56 (chủ đề:Hữu nghị-Hợp tác):

Xếp các từ có tiếng hợp cho dưới đây thành hai nhóm a và b:

hợp tình, hợp tác, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp nhất, hợp pháp, hợp lực, hợp lí, thích hợp

a.Hợp có nghĩa là "gộp lại"(thành lớn hơn) M:hợp tác

b.Hợp có nghĩa là "đúng với yêu cầu, đòi hỏi nào đó" M:thích hợp

Sau khi học sinh xếp được hai nhóm từ a và b

a.Hợp có nghĩa là "gộp lại" (thành lớn hơn): hợp tác, hợp nhất, hợp

lực

b.Hợp có nghĩa là "đúng với yêu cầu, đòi hỏi nào đó": thích hợp, hợp tình, phù hợp, hợp thời, hợp lệ, hợp pháp, hợp lí

Học sinh lần lượt giải thích, mỗi học sinh giải thích một từ:

+ Hợp tác: cùng chung sức giúp đỡ nhau trong một việc nào đó,

+ Hợp nhất: hợp lại thành một tổ chức duy nhất

+ Hợp lí: đúng với lẽ phải, đúng sự cần thiết

+ Thích hợp; hợp với yêu cầu, đáp ứng được đòi hỏi

Trang 10

Dạng bài tập thứ nhất: Chọn câu giải nghĩa thích hợp với những thành ngữ, tục ngữ đã cho

Dạng bài tập thứ hai: Yêu cầu học sinh giải nghĩa thành ngữ tục ngữ

Đây là dạng bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải có vốn hiểu biết rộng và nắm vững nghĩa của từ bởi đa phần từ ngữ trong thành ngữ,tục ngữ đều là từ Hán- Việt

* Với dạng bài tập tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, tôi khuyến khích các em tìm hết các từ theo đúng yêu cầu của bài, cho điểm tối đa đối với những học sinh tìm được nhiều từ chính xác

*Với dạng bài tập viết đoạn văn ngắn, tôi cũng yêu cầu học sinh đọc kĩ yêu cầu của bài, hướng dẫn học sinh viết đúng theo chủ đề, chọn và dùng từ cho chính xác, câu văn cần có sự sáng tạo, gắn với thực tế, cách trình bày

đoạn văn theo đúng cấu trúc đã được học Với dạng bài tập này, tôi đặc biệt lưu ý học sinh trong những văn cảnh cụ thể, có những trường hợp các em cần dùng từ Hán- Việt mà không nên dùng từ thuần Việt để câu văn không những diễn đạt được đầy đủ ý nghĩa mà còn thể hiện được sự trang trọng:

Ví dụ: Hôm nay là ngày Quốc tế phụ nữ.( Từ "đàn bà" không thể thay

thế cho từ "phụ nữ".)

Sau khi học sinh viết đoạn văn theo chủ đề, tôi tiến hành chấm bài

và nhận xét trước lớp, chỉ rõ những lỗi sai của học sinh và yêu cầu các em sửa lỗi vào vở sau đó đọc lại một lần để cô giáo và các bạn nhận xét, góp ý Cuối giờ, tôi thường chọn những đoạn văn hay của học sinh khá giỏi đọc cho các em nghe để học sinh trung bình, yếu có thể học tập

Hoạt động tổ chức các trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh trong các giờ học được diễn ra thường xuyên và được áp dụng linh hoạt

Đôi khi trò chơi chính là nội dung các bài tập Chẳng hạn như thi tìm từ

đồng nghĩa, trái nghĩa, thi xếp từ theo nhóm nhanh và đúng

Khi thử nghiệm một thời gian ngắn biện pháp này, tôi cho các em làm bài kiểm tra nhằm đánh giá sự tiến bộ của từng em và đề ra biện pháp tiếp theo trong năm học

Đề bài tuần 10:

Câu1:Phân loại các từ sau đây theo nghĩa của tiếng "hoà":

Hoà bình, hoà giải, hoà hợp, hoà mình, hoà tan, hoà tấu, hoà thuận.

a Hoà có nghĩa là "trạng thái không có chiến tranh, yên ổn":

b.Hoà có nghĩa là "trộn lẫn vào nhau":

Câu 2: Tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa với từ "hoà bình"

Câu 3: Tìm ba thành ngữ nói về những phẩm chất tốt đẹp của người dân Việt Nam

Câu4: Viết một đoạn văn ngắn tả về một cảnh đẹp của quê em hoặc nơi

em ở

Trang 11

Kết quả khảo sát như sau:

Sau 10 tuần của năm học, các em học sinh lớp 5B đã có sự tiến bộ rõ

rệt, những lỗi trước đây các em thường mắc phải khi làm bài đã giảm, một

số em còn viết đoạn văn ngắn khá hay, đoạn văn có rất nhiều sáng tạo; tiêu

biểu là các em Nguyễn Thị Minh Hằng, Doãn Thị Thuỳ, Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Dương Thị Hải Vy Số em có bài đạt dưới điểm 5 chỉ còn 3

em Với các em học sinh lớp 5A mặc dù số em đạt điểm yếu cũng là 3 em

nhưng tỉ lệ học sinh khá, giỏi thấp hơn tỉ lệ học sinh khá, giỏi của lớp 5B

Khi thấy biện pháp áp dụng của mình bước đầu Khi thấy biện pháp

áp dụng của mình bước đầu mang lại hiệu quả, tôi tiếp tục nghiên cứu, bổ

sung để đạt được mục đích nghiên cứu mà mình đề ra

3 Rèn trong các giờ học tăng buổi:

Năm học 2009-2010, Phòng giáo dục huyện Phù Cừ cho phép trường

Tiểu học Minh Hoàng được dạy tăng thêm một tuần 2 buổi, đây là điều kiện thuận lợi để tôi có thể rèn thêm các em học sinh của mình

- Trong các giờ học thêm của phân môn Luyện từ và câu, tôi luôn có 2 dạng bài tập khác nhau Một dạng bài nâng cao dành cho học sinh khá - giỏi và một dạng bài ôn tập dành cho học sinh đại trà Mức bài tập dành

cho học sinh đại trà vừa phải, thường là những bài tập ôn lại những bài các

em vừa học nhằm củng cố sâu hơn các kiến thức đã được lĩnh hội để các

em nắm bắt bài tốt hơn Phần giảng dạy và đánh giá học sinh dù trong tiết

dạy bài mới hay giờ ôn luyện, tôi luôn bám sát yêu cầu của chuẩn kiến thức- kĩ năng đối với phân môn này

- Trong các giờ học thêm phân môn Luyện từ và câu, tôi còn tổ chức một

số tiết thảo luận:

Ví dụ: Với dạng bài xếp từ theo nhóm; tìm thành ngữ, tục ngữ; tìm

từ đồng nghĩa, trái nghĩa với từ đã cho, sau khi cho các em thảo luận nhóm

và đại diện các nhóm thi làm bài trên bảng, tôi cho các nhóm còn lại phỏng

vấn về bài làm của bạn; tất cả các nhóm có thể tham gia giải nghĩa từ, giải

nghĩa thành ngữ, tục ngữ, cùng cô giáo chốt câu trả lời đúng

Trang 12

Với dạng bài tập viết đoạn văn ngắn theo chủ đề, học sinh yếu đọc bài của mình để học sinh cả lớp nhận xét, góp ý, chỉ ra lỗi sai của bạn; phần này, tôi cũng luôn yêu cầu lời nhận xét, góp ý của các em với bạn phải thật chính xác và tế nhị; tránh không làm tổn thương lòng tự trọng của bạn Học sinh khá giỏi cũng được đọc lại bài làm của mình cho học sinh cả lớp tham khảo Ngoài các đoạn văn ngắn do các em viết, tôicòn đọc cho các em nghe một số đoạn văn mẫu được lấy từ các sách tham khảo của thư viện nhà trường hoặc được tải về từ mạng in ternet

Cần phải nâng cao chất lượng học sinh và không để học sinh có điểm dưới trung bình vào cuối năm bởi vậy việc kèm riêng những em học sinh yếu là điều vô cùng cần thiết Tôi đã áp dụng biện pháp dạy cá nhân cho từng em vào các giờ học tăng buổi, dành thêm nhiều thời gian cho các em vào các tuần ôn luyện chuẩn bị cho các đợt kiểm tra định kì

4 ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học sinh phân môn Luyện từ và câu

4.1.Xây dựng các tiết giáo án điện tử cho phân môn Luyện từ và câu:

Năm học 2009-2010, Bộ giáo dục và Sở giáo dục tiếp tục khuyến khích giáo viên các bậc học ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy

Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp, tôi luôn nhận thức được ưu điểm của của hình thức dạy học hiện đại này Đây là hình thức dạy học mới mang lại hiệu quả rất cao trong giảng dạy Học sinh sẽ rất hứng thú học tập nếu người giáo viên thường xuyên xây dựng giáo án và trình chiếu trên màn hình điện tử Sự kết hợp giữa việc giáo dục học sinh chăm học và đồng thời cập nhật, đưa vào giảng dạy những phương pháp dạy học hiện đại sẽ gây

sự chú ý của các em, từ đó người giáo viên sẽ thu được hiệu quả cao trong giảng dạy Nếu như trước đây, khi dạy dạng bài tập xếp từ theo nhóm, giáo viên cho học sinh xếp từ Hán- Việt theo nhóm ( ghi vào phiếu học tập), sau

đó, học sinh lên bảng dán phiếu, giáo viên cùng cả lớp nhận xét, sửa sai thì bây giờ, khi đã nhận xét, chốt lời giải đúng, giáo viên trình chiếu đáp án

đúng; với hiệu ứng sinh động trên màn hình, đồng thời với cách sử dụng màu sắc hợp lí, học sinh sẽ rất hứng thú khi tiếp thu bài mới Với dạng bài viết đoạn văn ngắn theo chủ đề cũng vậy, có những học sinh còn hiểu chưa

rõ về chủ đề đặc biệt là học sinh yếu, lời nói diễn đạt của cô giáo dù hay

đến đâu cũng không thể bằng cho học sinh xem một đoạn băng hình về chủ

đề đó

Ví dụ: Khi học sinh viết một đoạn văn ngắn về đề tài “Bảo vệ môi trường”, giáo viên có thể cho học sinh xem một đoạn băng tư liệu về

những hành động bảo vệ môi trường và những hành động xấu ảnh hưởng

đến môi trường, giúp các em chọn cho mình đề tài thích hợp để viết

Chính vì những lí do trên, tôi luôn suy nghĩ và nghiên cứu xây dựng các tiết giáo án điện tử phục vụ cho giảng dạy.Với phân môn Luyện từ và câu, chất lượng giảng dạy sẽ được nâng lên khi học sinh được tiếp thu bài qua lời giảng của cô giáo và sự minh hoạ sống động trên màn hình điện tử

Ngày đăng: 19/04/2017, 18:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w