Tối thiểu các em phải biết quan sát, viết câu đúng ngữ pháp, dung từ chính xác…ngoài ra các em phảI vận dụng kiến thức ở các bộ môn khácvì các kiến thúc liên quan nay sẽ giúp học sinh co
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Tập làm văn là một phân môn vô cùng quan trọng trong nhà trương tiểu học Trong toàn bộ chương trình tiếng Việt ở tiểu học thì tập làm văn có thể coilà phân môn tổng hợp của các phân môn còn lại Để viết được một bài văn hay đòi hỏi học sinh vận dụng một cách linh hoạt và sáng tậócc kiến thức liên quan Tối thiểu các em phải biết quan sát, viết câu đúng ngữ pháp, dung từ chính xác…ngoài ra các em phảI vận dụng kiến thức ở các bộ môn khácvì các kiến thúc liên quan nay sẽ giúp học sinh co đủ tư liệu đẻ viết văn và sử dụng ngôn ngữ thế nào để trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc,
rõ ràng, sáng sủa và hấp dẫn Quan trọng nữa đó là sức truyền cảm muốn vậy, các em cần rèn luyện cho mình năng lực quan sát, năng lực cảm thụ, năng lực tưởng tượng,liên tưởng, năng lực phân tích tổng hợp và khả năng biểu đạt, bố cục một cách hợp lí đặc biệt, học sinh phải có vốn từ phong phú khả năng sử dụng biện pháp nghệ thuật thành thạo Có như thế thì trong khi học môn tập làm văn các
em mới viết được những bài văn hay, có giá trị gợi cảm, thu hút người đọc, người nghe
Tuy nhiên , trong thực tế giảng dạy tôi thấy phần lớn học sinh viết văn chưa hay, đặc biệt là thể loại văn tả người Đặc điểm chung nổi bật trong các bài làm của học sinh: bài tả người của các em chỉ tả
được vài nét chính, câu từ dùng chưa hay, bài làm chưa chắt lọc được những nét đặc sắc, chưa có sự truyền cảm
Tìm hiểu tình hình học tập của học sinh, tôi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến kết quả học tập môn tập làm văn của học sinh chưa cao chủ yếu là:
-Môn tập làm văn là một môn học khó, bài tập làm văn của học sinh là toàn bộ kiến thức tổng hợp từ các phân môn: tập đọc, luyện từ và câu,…cộng với năng lựccảm thụ của học sinh
Trang 2- Đới với học sinh tiểu học, các em mới chỉ có nhận thức bằng trực quan, có óc quan sát song khả năng tổng hợp phân tích còn hạn chế
-Vốn từ ngữ của học sinh chưa phong phú, cách dùng từ chưa chắt lọc
-Khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật rất hạn chế
Về phía giáo viên, đa số giáo viên đã có ý thức trau dồi, tích lũy kinh nghiệm, giảng dạy nhiệt tình, soạn đủ , đúng chương trình thồi khóa biểu song kết quả bài làm của học sinh có rất ít hoặc không
có bài làm hay Lí do, theo tôi, giáo viên chưa có cách giải quyết hợp
lí trong các trường hợp cụ thể, giáo viên chưa sửa được cho học sinh khi các em dùng từ( trái nghĩa) tối nghĩa, chưa có hệ thống các bài tập giúp các em luyện viết câu, đoạn, bài văn
Trước tình hình thực tế như vậy, vấn đề đặt ra là phải làm như thế nào để việc dạy thể loại văn tả người cho học sinh vừa giúp các
em có kĩ năng quan sát tinh tế, vừa phảI hình thành năng lực tư duy, giao tiếp, năng lực viết câu đúng ngữ pháp, dùng từ hay, biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật một cách linh hoạt để các em viết được một bài văn hay, giàu sức truyền cảm
II Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng việc dạy và học môn tập làm văn nói chung và việc “Rèn kĩ năng viết văn hay cho học sinh lớp 5” (kiểu bài tả người) nói riêng nhằm giúp học sinh viết được bài văn tả người hay hơn, sinh động hơn và có sức truyền cảm
III Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy “Rèn kĩ năng viết văn hay cho học sinh khối lớp 5” trong trường, đặc biệt là rèn kĩ năng viết văn hay cho học sinh lớp 5A
IV Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôI đã sử dụng những phương pháp cơ bản sau:
1 Phương pháp quan sát
Trang 3Thu thập thông tin về quá trình dạy và học môn tập làm văn nói chung và quá trình dạy kiểu bài văn tả người cho học sinh lớp 5 nói riêng để rút ra phương pháp dạy học phù hợp nhất hiệu quả nhất
Trang 4B NOI DUNG Chương I Một số vấn đề lí luận làm cơ sở cho nhiệm vụ luyện
viết văn
I Vị trí, tầm quan trọng của phân môn tập làm văn ở trường Tiểu học
-Tiếng Việt ở trường Tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn khác nhau như tập đọc, tập viết, chính tả, tập làm văn…Phân môn tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếng Việt xét trên hai phương diện
+ Phân môn tập làm văn tận dụng những hiểu biết và kĩ năng
về tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phảI hoàn thiện cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết,phảI vận dụng các kiến thức về tiếng Việt Trong quá trình vận dụng này,các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần
+ Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sinh sản văn bản( nói và viết).Nói cách khác, phân môn tập làm văn
đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy
và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học
- Sản phẩm của phân môn tập làm văn là các bài văn viết hoặc nói theo các kiểu bài do chương trình quy định Để sản sinh được các bài văn này, học sinh phảI có thêm nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, kĩ năng dùng từ, đặt câu Đó là các kĩ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn
và liên kết đoạn…các kĩ năng này không được phân môn vào môn tiếng Việt ,rèn luyện và pháp triển ngoài phân môn tập làm văn,cho nên có thể nói nhiệm vụ cơ bản và chủ yéu của phân môn tập làm văn là giúp học sinh sau một quá trình luyện tập lâu dài và có ý thức, dần dần nắm được cách viết các bài văn theo nhiều phong cách khác nhau do chương trình quy định
Trang 5Ngoài các kĩ năng chung của việc viết một văn bản,để viết
được một bài văn miêu tả, kể chuyện, tường thuật giáo viên cần rèn luyện cho học sinh các kĩ năng đặc thù như kĩ năng quan sát, kĩ năng xây dựng và lập dàn ý…Bên cạnh đó việc rèn luyện tâm hồn, cảm xúc, việc tăng vốn sống, vốn hiểu biết trực tiếp đời sống…cũng là yêu cầu cần phảI quan tâm thích đáng nếu giáo viên muốn học sinh thực sự viết được các bài văn thuộc các kiểu bài trên có hồn
Thực hiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản ở dạng nói hay viết, phân môn tập làm văn đồng thời góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh các kiểu bài miêu tả, kể chuyện, viết thư…giúp học sinh phát triên vốn từ, tập vận dụng các biện pháp tu
từ như so sánh, nhân hóa… và làm cho tình cảm yêu mến và gắn bó với thiên nhiên và con người xung quanh
II Quá trình sản sinh văn bản
1 Phân môn tập làm văn bên cạnh việc sử dụng các kĩ năng đã
được phân môn khác hình thành và phát triển còn hình thành và phát triển một hệ thống các kĩ năng riêng Hệ thống kĩ năng này phảI gấn liền với quá trình sản sinh văn bản.Chính trình độ thành thục của các
kĩ năng sản sinh văn bản góp phần quan trọng quyết định chất lượng các bài văn viết và nói Việc sản sinh văn bản thường có 4 giai đoạn, giai đoạn định hướng, giai đoạn lập chương trình, giai đoạn thực hiện hóa và giai đoạn kiểm tra văn bản mới Có thể thấy các nhóm kĩ năng sau:
- Nhóm kĩ năng chuẩn bị cho việc sản sinh văn bản gồm: kĩ năng quan sát, kĩ năng phân tích đề, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng xây dựng dàn bài
- Nhóm kĩ năng viết văn bản gồm: kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, liên kết đoạn thành bài
- Nhóm kĩ năng kiểm tra kết quả gồm các kĩ năng phát hiện lỗi
và sửa lỗi
Trang 62 Các kĩ năng sản sinh văn bản hợp thành một hệ thống, kĩ
năng này nối tiếp kĩ năng khác Do đó, các kĩ năng sản sinh văn bản
có thể tiến hành luyện tập qua một hệ thống bài tập từ thấp đến cao,
từ sự ngỡ ngàng ban đầu đến sự thành thục, nhuần nhuyễn, trở thành các kĩ sảo Việc luyện tập này, ban đầu thường tạo cảm giác nhàm chán vì lặp đi lặp lại một số dạng bài tập nhưng khi đã thành thục, nhuần nhuyễn thời gian thực hiện chúng mới được thu gọn
Các kĩ năng sản sinh văn bản gắn rất chặt chẽ với các thao tác tư duy nên khó kiểm soát, khó hướng dẫn rèn luyện, khó đánh giá hơn Biện pháp hữu hiệu là tìm cách xác định sản phẩm của từng thao tác, từ đó nhận xét, uốn nắn để học sinh có thể học được các thao tác đúng
Nhiều kĩ năng sản sinh văn bản có quan hệ với đặc điểm, phong cách bài văn, chịu ảnh hưởng của vốn hiểu biết và vốn sống của học sinh Do đó, việc luyện tập chúng chỉ đạt kết quả khi gắn liền với từng kiểu bài và diễn ra song song với việc bồi dưỡng vốn hiểu biết, vốn sống của học sinh
III Các kiểu bài tập làm văn
1 Văn miêu tả
Miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện các chân tướng của sự vật ra” Văn miêu tả giúp người đọc hình dung một cách cụ thể hình ảnh của sự vật thông qua những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc thể hiện cảm xúc thẩm mỹ của người viết
Văn miêu tả có mấy đặc điểm: mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết, sinh động và tạo hình, ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh Các kiểu bài miêu tả học ở tiểu học gồm: tả
đồ vật, tả cây cối, tả loài vật, tă cảnh, tả người
2 Văn kể chuyện
“Kể là nói lại có đầu có cuối cho người nghe”, “kể những điều mắt thấy tai nghe”, “có đầu có cuối” mạch lạc ở tiểu học chúng ta dạy học sinh viết bài văn kể chuỵện nó có nghĩa là bài văn viết, những ngữ điệu lời văn theo lối kể chuyện
Trang 7Để làm được bài văn kể chuyện, người nghe phải nắm vững truyện hay cốt truyện, xác định ngôi của lời kể, xác định giọng điệu của lơì
kể, xác định rõ nhân vật trong truyện, chuẩn bị về mặt ngôn ngữ và
tỏ kín đáo tâm tư, thái độ của mình
Ví dụ: Tre “xung phong” vào xe tăng, đại bác,tre “giữ” làng
“giữ” nước, “giữ” mái nhà tranh, “giữ”đồng lúa chín
2 So sánh
So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng
Ví dụ: Mái tóc của bà bạc trắng như cước
So sánh tu từ được dùng phổ biến trong các phong cách của tiếng Việt, nhưng chỉ dùng trong lời nói nghệ thuật nó mới có thể biểu hiện được đầy đủ nhất những khả năng tạo hình-diễn cảm của
Trang 8các mục đích dạy học tiếng Việt Vì vậy, tổ chức thực hiện có hiệu quả các bài tập tiếng Việt có vai trò quyết định đối với chất lượng dạy học tiếng Việt
Chương II Thực trạng viết văn tả người của học sinh lớp 5
Năm học 2008 -2009 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5A Tôi đã tiến hành khảo sát trên 20 học sinh khá giỏi của lớp chủ nhiệm qua một số đề văn như sau:
• Hãy viết một đoạn văn tả ngoại hình một người mà em thường gặp
• Hãy viết một bài văn tả một người mà em thường gặp
Tôi đã đọc kĩ toàn bộ những đoạn văn, bài văn của các em và có một số nhận xét như sau:
1 Về ưu điểm
- Về đoạn văn tả ngoại hình: Học sinh đã tả đúng ngoại hình nhân vật, tả được khuôn mặt với các bộ phận như trán, mắt, mũi, miệng, tả mái tóc, tả hình dáng, tầm vóc…Viết câu đúng ngữ pháp
- Về bài văn tả người: Học sinh hiểu cấu tạo một bài văn,bố cục rõ ràng (mở bài, thân bài, kết bài), nêu được nội dung chính của mỗi phần Chữ viết của học sinh đẹp, ít mắc lỗi chính tả Có một vài học sinh đã biết sử dụng biện pháp so sánh khi viết văn, tuy nhiên rất
Ví dụ có học sinh viết: MáI tóc bà bạc Miệng, mắt có nhiều nếp nhăn Hai hàm răng đen.(bài viết của em dạ Thảo)
Hoặc: Bé bi có đôI mắt sáng như những vì sao trên bầu trời Sống mũi dọc dừa đẹp tuyệt vời Miệng hình trái tim vô cùng đẹp,
Trang 9mỗi khi bé cười thì hai má lúm đồng tiền hiện ra trông đẹp như những đóa hoa tuyệt vời nhất
ở đoạn thứ nhất, học sinh sử dụng một loạt các câu ngắn, mới chỉ nêu lại các bộ phận trên khuôn mặt với các đặc điểm cơ bản nhất,chưa tả một cách chi tiết, câu văn thiếu hình ảnh dẫn tới bài làm của các em kho khan Còn ở đoạn thứ hai thì ngược lại, các câu văn
đã rất chú ý đến việc sử dụng các hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật (so sánh), song khi đọc lên người ta có cảm giác câu văn bay bổng sáo rỗng, rập khuôn máy móc
Theo tôi, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tồn tại này là do vốn từ của học sinh nghèo nàn, học sinh không tìm được những từ ngữ để viết những câu văn giàu hình ảnh hơn, phong phú hơn mà không bắt chước một cách máy móc
- Học sinh sử dụng từ chưa đúng văn cảnh
Ví dụ, khi tả một em bé học sinh viết:
“Trông bé mới duyên dáng làm sao.Lông mày lá liễu, mắt lá răm, mũi dọc dừa”
Hoặc khi tả một chú công nhân dang làm đường có em viết:
“Chú có đôI bàn tay trắng trẻo và mềm mại, mỗi khi chú xúc những xẻng đá, trông chú như múa vậy”
Những từ “duyên dáng” hoặc cách tả lông mày, mắt, mũi như trên là những từ thường để tả các thiếu nữ
Tả một chú công nhân làm đường cônh việc nặng nhọc, vất vả như vậy thường đôi bàn tay sẽ thô ráp, chai lại vì bị cọ sát nhiều Trong những trường hợp này, có thể thấy học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa tác dụng của những từ ngữ mình sử dụng, vốn từ chưa phong phú
-Học sinh viết câu văn chưa sinh động
Ví dụ: Khi tả một em bé, có đoạn học sinh viết:
“Mỗi khi làm sai điều gì đôI mắt bé cụp xuống, rồi nước mắt chảy ra Nhưng khi có chuyện gì vui bé thường kể chuyện cho mọi người nghe.”
Trang 10Nếu như học sinh viết: “ Mỗi khi làm sai điều gì đôI mắt bé cứ chớp chớp, thế là không biết nước mắt ở đâu chảy ra nhiều thế Còn khi có chuyện vui bé thường ríu rít kể chuyện cho bố, cho mẹ, cho những người mà bé yêu quý nhất” thì đoạn văn sẽ sinh động hơn rất nhiều
Có thể thấy ,học sinh chưa viết được câu văn sinh động là do các em chưa biết sử dụng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, chưa biết cách đưa những từ láy hoặc những thành ngữ, quán ngữ vào trong câu văn
-Học sinh hầu như không sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi viết câu
Nguyên nhân của việc các em ít hoặc không sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong câu là do vốn từ của các em chưa phong phú, chưa được làm quen nhiều, chưa được nhắc nhở nhiều và đặc biệt chưa được luyện tập cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong câu
-Học sinh có sử dụng các biện pháp nghệ thuật song chưa hợp
lí
Ví dụ có học sinh tả một cô gái:
“Mắt cô long lanh như hai hòn bi ve”
Học sinh chưa hiểu là những từ ngữ như thế nào thì không nên
so sánh với người mà chỉ so sánh với loài vật…Các em cho rằng cứ
sử dụng biện pháp nghệ thuật là tốt rồi
-Việc liên kết các câu văn, các câu văn trong đoạn, đoạn trong bài của học sinh còn rất lúng túng, thường các em không biết chuyển
ý
Ví dụ khi tả một bạn học có em viết:
“Lan học rất giỏi, bạn thường giành được điểm9,10 mỗi khi cô giáo chấm điểm Và bạn còn hát rất hay nữa Bạn còn có sở thích là
đọc sách, đọc rất nhiều sách.”
Đọc đoạn văn,người đọc thấy rõ khả năng liên kết các câu trong đoạn của học sinh lúng túng Với mặt hạn chế này học sinh
Trang 11phảI được giáo viên chỉnh sửa ngay và các em cần phảI được luyện tập cách chuyên ý khi viết câu, đoạn
-Học sinh chưa thể hiện tình cảm của mình khi viết văn
Qua việc khảo sát 20 học sinh tôI thấy các em chưa bộc lộ
được tình cảm, cảm xúc của mình khi viết văn Các em chỉ chú ý đến tả đặc điểm ngoại hình, tình cách, hoạt động của nhân vật mà chưa chú ý đến việc sen lồng cảm xúc của mình khi viết văn
Trên đây là những ưu điểm và những mặt còn hạn chế của 20 học sinh khá giỏi của lớp 5A.Những ưu điểm của các em là những vấn đề cơ bản của một bài văn song muốn viết văn hay các em phảI khắc phục được những mặt còn hạn chế trên Để làm được điều đó thì đòi hỏi ở người thầy rất nhiều Thầy phải biết sửa khi học sinh sai, phải có phương pháp hợp lí với mỗi tồn tại của học sinh và đặc biệt phải đầu tư thời gian và tâm huyết để rèn rũa các em qua hệ thống các bài tập Có như vậy, học sinh mới có thể viết được những bài văn hay Bởi viết văn hay giúp các em hiểu thêm cái hay, cái đẹp của tiếng Việt, biết giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Ngoài ra để viết được một bài văn hay các em phảI vận dụng hết những hiểu biết của mình về cuộc sống, về thế giới xung quanh, về văn học…Như vậy các em dần dần đã biết khai thác chính bản thân mình Điều đó
sẽ giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn và các em sẽ biết thể hiện tốt bản thân mình qua giao tiếp với mọi người xung quanh
Chương III Những vấn đề cần giải quyết
1 Tìm hiểu yêu cầu của bài văn tả người
2 Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn tả người cho học sinh lớp 5
IV Những kinh nghiệm và các phương pháp thực hiện
1 Yêu cầu của bài văn tả người
1.1 yêu cầu của bài văn đúng
Để có được bài văn hay, trước hết các em phải viết được một bài văn đúng Một bài văn đúng phải đảm bảo những yêu cầu sau;
Trang 12* Bố cục rõ ràng: Một bài văn phảI có đầy đủ 3 phần: mở bài, thân bài và kết bài Các em phải trình bày rõ 3 phần:
- Mở bài: Giới thiệu người định tả
- Kết bài: Nêu cảm nghĩ về người được tả
* Câu phải đúng ngữ pháp.Có thể sử dụng câu tỉnh lược hoặc
đảo ngữ, song điều đó phải đảm bảo câu vẫn phảI thông báo một nội dung rõ ràng, dễ hiểu và việc sử dụng những câu đó sẽ làm cho bài văn hay hơn
* Dùng từ chính xác, sử dụng từ đúng văn cảnh
* Không mắc lỗi chính tả
* Phải miêu tả một cách chân thực
1.2 Những yêu cầu của một bài văn hay
Ngoài những yêu cầu của một bài văn đúng, một bài văn hay còn phải có những yếu tố sau:
- Những câu văn phải sinh động có sử dụng những hình ảnh gợi tả, gợi cảm hoặc sử dụng các từ láy
- Việc sử dụng từ ngữ phải phong phú, tránh sử dụng nhiều lần một từ, cụm từ trong bài( trừ trường hợp sử dụng nghệ thuật lặp)
- Nên sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa…
- Các câu văn trong đoạn phảI được liên kết với nhau một cách chặt chễ Các ý, các đoạn phải được nối tiếp một cách uyển chuyển, mềm mại
- Một bài văn hay gây cảm xúc cho người đọc không thể thiếu
được tình cảm, cảm xúc của người viết bộc lộ trong đó
2 Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn hay cho học sinh lớp 5 kiểu bài văn tả người
Trang 13Để nâng cao chất lượng viết văn tả người cho học sinh lớp 5, tôi đã sử dụng một số biện pháp trong quá trình giảng dạy và thực hiện đề tàiđó là:
2.1 Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn
Ngay từ khi còn nhỏ, hầu hết các em đã thích nghe ông bà, cha
mẹ hoặc người thân kể chuyện, đọc thơ Bước chân tới trường tiểu học, được tiếp xúc với những câu thơ, bài văn hay trong sách giáo khoa tiếng Việt, nhiều em muốn đọc to lên một cách thích thú Đó chính là những biểu hiện ban đầu của hứng thú, cần giữ gìn và nuôi dưỡng nó để nó phát triển liên tục, mạnh mẽ đến mức say mê
Ta thử hình dung chưa thích văn học, thiếu sự say mê cần thiết, nhất định em đó chưa thể đọc lưu loát và diễn cảm bài văn hay, chưa thể xúc động thực sự với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả qua bài văn ấy Chính vì thế, khi nhớ lại quãng đời đi học thuở nhỏ, giáo sư văn học Lê Trí Viễn đã rút ra một nhận xét quý báu “Trong thơ văn hay, chữ nghĩa ngoài cái gọi là nội dung giao tiếp thông thường của
nó, còn có vốn sống của cuộc đời nghìn năm bồi đắp lại Nừu không
“ làm thân” với văn thơ thì không thể nghe được tiếng lòng chân thật của nó.” Muốn làm thân với thơ văn, chính ta cũng phải có tấm lòng chân thật, có tình cảm tha thiết yêu quý thơ văn
Có hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, các em sẽ vượt qua được khó khăn trở ngại, cố gắng luyện tập để cảm thụ văn học tốt và học giỏi môn tiếng Việt Tập đọc diễn cảm một bài thơ, đoạn văn, chăm chú quan sát, lắng nghe để tìm hiểu cái đẹp của thiên nhiên và cuộc sống quanh ta; tập dùng từ ngữ cho dúng, cho hay, nói viết thành câu cho rõ ý, sinh động và gợi cảm…Tất cả đều giúp các em phát triển
về năng lực cảm thụ văn học
Trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn cũng chính là tự rèn luyện mình để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một cách tự giác, say mê- yếu tố quan trọng để viết được một bài văn hay
2.2 Tích lũy vốn hiếu biết về thực tế cuộc sống và văn học
Trang 14Để viết được một bài văn hay phụ thuộc vào “vốn sống” của mỗi người Cái “ vốn” ấy trước hết được tích lũy bằng những hiểu biết và cảm xúc của bản thân qua sự hoạt động và quan sát hàng ngày trong cuộc sống
Có những cảnh vật, con người, sự việc diễn ra quanh ta tưởng chừng như rất quen thuộc, nhưng nếu ta không chú ý quan sát, nhận xét để có cảm xúc và ghi nhớ( hoặc ghi chép lại) thì chúng sẽ không thể làm giàu thêm vốn hiểu biết về cuộc sống của ta Chính vì vậy, tập quan sát thường xuyên, quan sát bằng nhiều giác quan (mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi…) là một thói quen rất cần thiết của người học sinh giỏi
Nhưng quan sát như thế nào mới có kết quả tốt và phục vụ cho việc tích lũy vốn sống? Nhà văn Tô Hoài, người nổi tiếng về tài quan sát và miêu tả đã mách giùm các em kinh nghiệm như sau:
“Quan sát giỏi phải tìm ra nét chính, thấy được tính riêng, móc
được những ngóc ngách của sự vật, của vấn đề Nhiều khi chẳng cần dàn đủ sự việc, chỉ cần chép lại các đặc điểm mà mình cảm nhận như: một câu nói nột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng tháI tư tưởng do mình đã khổ công ngắm,nghe, nghĩ mới bật nên được thì thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được.”
Quan sát nhiều, quan sát kĩ chẳng những giúp cho các em viết
được bài văn hay mà còn tạo nhiều điều kiện cho các em cảm nhận
được vẻ đẹp của thơ văn một cách tinh tế và sâu sắc
Bên cạnh vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống, các em còn cần tích lũy cả vốn hiểu biết về văn học thông qua việc đọc sách thường xuyên Hỗu hết các nhà văn hồi nhỏ, các bạn học sinh giỏi môn tiếng Việt ở tiểu học đều chăm đọc sách, đọc sách đến say mê Mỗi cuốn sách có biết bao điều bổ ích và lý thú Nó góp phần giúp ta mở rộng tầm nhìn cuộc sống, khơi sâu những suy nghĩ và cảm xúc, góp phần khơi dạy năng lực viết văn ở mỗi chúng ta