11 Chương 2 : THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG TẠO CƠ HỘI ĐỂ KHUYẾN KHÍCH TÍNH SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC DẠNG TOÁN TÌM GIÁ TRỊ LỚN NHẤT VÀ GIÁ TRỊ NHỎ NHẤT CỦA BIỂU THỨC ....
Trang 1Tác giả xin trân trọng cảm ơn các cán bộ của trường Đại học Tây Bắc và các thầy giáo, cô giáo tham gia giảng dạy tại Trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã giúp
đỡ, động viên để tác giả có được kết quả như ngày hôm nay
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót, tác giả mong được lượng thứ và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn
Sơn la, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Vũ Văn Nam
Trang 2ii
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Đề tài luận văn này chưa được công bố ở đâu và dưới bất kì hình thức nào Nếu
có vấn đề gì không phải tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm
Sơn la, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Vũ Văn Nam
Trang 3iii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ H IỆU
HS : Học Sinh KSHS : Khảo sát hàm số
Trang 4iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ H IỆU iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 2
5 Mẫu khảo sát 2
6 Giả thuyết khoa học 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 3
Chương 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học 4
1.2 Vai trò của bài tập toán học 4
1.3 Tính sáng tạo trong học tập của học sinh 6
1.4 Những tri thức liên quan đến bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của biểu thức 8
1.5 Một số thực tiễn dạy và học về “Tìm giá trị lớn nhất hoặc giá trị nhỏ nhất của biểu thức” ở lớp 12 Trung học phổ thông 10
Tóm tắt chương 1 11
Chương 2 : THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG TẠO CƠ HỘI ĐỂ KHUYẾN KHÍCH TÍNH SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC DẠNG TOÁN TÌM GIÁ TRỊ LỚN NHẤT VÀ GIÁ TRỊ NHỎ NHẤT CỦA BIỂU THỨC 13
2.1 Hệ thống bài toán tìm GTLN GTNN của biểu thức chỉ chứa một biến số nhằm rèn luyện cho học sinh vận dụng đúng và nhuần nhuyễn những phương pháp thông thường, đồng thời có thể khuyến khích tính linh hoạt, sáng tạo 14
2.1.1 Hệ thống bài toán 14
Trang 5v
2.1.2 Dụng ý sư phạm 15
2.1.3 Tóm tắt lời giải các bài toán trong hệ thống 17
2.2 Hệ thống bài toán tìm GTLN (GTNN) của biểu thức chứa hơn một biến, có nhiều cơ hội sáng tạo 29
2.2.1 Những bài toán có thể quy về một biến số, ngoài việc khảo sát hàm số GV có thể khuyến khích HS tìm cách giải khác hay hơn, sáng tạo hơn 30
2.2.2 Những bài toán khó có thể quy về một biến số được, GV cần khuyến khích HS linh hoạt, mềm dẻo hơn trong cách giải quyết vấn đề 33
2.3 Hệ thống bài toán có cách giải độc đáo do nhìn bài toán ở dạng lượng giác hoặc hình học và những bài toán có nhiều cách giải để chọn ra cách giải độc đáo 49
Tóm tắt chương 2 62
Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích, nội dung, tổ chức thực nghiêm sư phạm 63
3.2 Giáo án thực nghiệm sư phạm 63
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 77
3.3.1 Đề kiểm tra (45 phút ) và kết quả làm bài của HS: 77
3.3.2 Kết quả đánh giá của các giáo viên, giáo sinh dự giờ TNSP 82
3.3.3 Ý kiến của học sinh về kết quả giờ dạy thực nghiệm 82
Tóm tắt chương 3 82
KẾT LUẬN 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6“Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”, “bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn tư duy sang tạo vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Từ những năm 1980 đến nay, việc dạy và học ở nhiều nước trên thế giới tập trung vào người học – lấy người học làm trung tâm Thay vì người giáo viên truyền thụ, giảng giải tri thức cho học sinh, người giáo viên có vai trò là người tổ chức, động viên, khuyến khích người học tự chiếm lính tri thức Trong đó đặc biệt khuyến khích tính sáng tạo của người học Người học cần phải chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo trong học tập
Môn Toán là môn học công cụ, giữ một vai trò hết sức quan trọng trong chương trình THPT Trong đó các bài toán về tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất là những bài toán yêu cầu cao ở học sinh về tư duy, về kĩ năng Dạng toán này vừa đa dạng, vừa có nhiều cơ hội cho học sinh sáng tạo Mỗi bài toán dạng này có thể nhìn nhận theo nhiều phương diện, nhiều khía cạnh khác nhau, tạo ra nhiều cách giải, trong đó có thể chọn ra cách giải độc đáo, thú vị Song, đối với học sinh thì dạng toán này là một trong những dạng toán khó, cần phải chú ý và có những biện pháp
để rèn luyện kĩ năng giải dạng toán này, góp phần nâng cao chất lượng dạy học chủ
đề này
Trang 72
Từ những lí do trên, đề tài được chọn là: Khuyến khích tính sáng tạo cho học
sinh lớp 12 trong dạy học giải toán tìm giá trị lớn nhất (nhỏ nhất) của biểu thức
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là đề xuất những tình huống tạo cơ hội để khuyến khích tính sáng tạo cho học sinh lớp 12 trong dạy học giải toán tìm giá trị lớn nhất và giá
trị nhỏ nhất của biểu thức
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu hệ thống lí luận về khuyến khích tính sáng tạo cho học sinh
- Nghiên cứu các dạng toán và các phương pháp tìm giá trị lớn nhất (giá trị nhỏ nhất)
- Nghiên cứu và đề xuất là đề xuất những tình huống tạo cơ hội để khuyến khích tính sáng tạo cho học sinh lớp 12 trong dạy học giải toán tìm giá trị lớn nhất
và giá trị nhỏ nhất của biểu thức
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài
4 Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất ở trường THPT
- Phạm vi nghiên cứu là các bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất ở trường THPT
- Khách thể nghiên cứu là chương trình, nội dung môn Toán THPT
5 Mẫu khảo sát
Một số lớp 12, trường THPT Mường Luân Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
6 Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở lí luận của phương pháp dạy học môn Toán và hệ thống bài toán về tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của biểu thức, nếu thiết kế được những tình huống tạo cơ hội để khuyến khích tính sáng tạo cho học sinh lớp 12 trong dạy học dạng toán này, thì học sinh sẽ có hứng thú hơn và có khả năng sáng tạo hơn trong quá trình giải dạng toán này, nâng cao hiệu quả dạy học môn toán ở trường THPT
Trang 83
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu lí luận về khuyến khích tính sáng tạo trong học tập của học sinh
- Phương pháp điều tra quan sát: Sử dụng những mẫu phiếu điều tra về tình hình dạy và học nội dung tìm giá trị lớn nhất (GTLN) và giá trị nhỏ nhất (GTNN) của một biểu thức, về kĩ năng tìm GTLN, GTNN của một biểu thức ở một số lớp 12 THPT
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Soạn và dạy thực nghiệm một số giáo án
về tìm GTLN, GTNN của một biểu thức ở một số lớp 12 THPT, trong một số giờ thuộc nội dung tự chọn để đánh giá tính khả thi và hiệu qủa của đề tài
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Thiết kế một số tình huống tạo cơ hội để khuyến khích tính sáng tạo cho học sinh lớp 12 trong dạy học dạng toán tìm giá trị lớn nhất (nhỏ nhất) của biểu thức
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 9“Người học (étudiant) là người mà với năng lực cá nhân của mình tham gia vào một quá trình để thu lượm một tri thức mới Người học trước hết là người tìm cách học và tìm cách hiểu Người học trước hết là người đi học mà không phải là người được dạy Người dạy hướng dẫn người học, chỉ cho người học cái đích phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu”
Năm 2007, Tổng thống Pháp Sarkozy, trong thư gửi giáo viên, cha mẹ học
sinh nhân ngày khai trường 04/ 9/ 2007, đã viết: “Giáo dục truyền dẫn lòng tự trọng vào tất cả con trẻ và người lớn trên đất nước chúng ta bằng cách giúp họ phát hiện
ra mình có tài và khích lệ họ đạt được những gì họ vẫn tin rằng mình có thể làm được Theo quan điểm của tôi, đó là triết lí cơ bản trong cuộc cải cách triệt để hệ thống giáo dục của chúng ta”
Trong Luật giáo dục Việt Nam, năm 2005, điều 28, cũng đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Những điều trình bày ở trên thể hiện rõ vai trò của người giáo viên là khuyến khích, động viên học sinh học tập một cách tính tích cực
1.2 Vai trò của bài tập toán học
Theo Nguyễn Bá Kim [6]: Bài tập có vai trò quan trọng trong bộ môn toán Thông qua việc giải bài tập học sinh phải thực hiện những hoạt động nhất định bao gồm cả nhận dạng và thể hiện định nghĩa, định lí những hoạt động toán học phức
Trang 105
hợp, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học, những hoạt động trí tuệ chung
và những hoạt động ngôn ngữ Những bài tập cũng thể hiện những khả năng khác nhau hướng đến việc thực hiện các mục tiêu dạy học môn toán: Hình thành, củng cố tri thức kĩ năng kĩ xảo ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học, kĩ năng ứng dụng toán học vào thực tiễn ; phát triển năng lực trí tuệ ; Bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng Thông qua bài tập, giáo viên có thể hoàn chỉnh hay bổ sung những tri thức nào đó đã được trình bày trong phần lý thuyết Điều quan trọng hơn
cả là thông qua bài tập giáo viên sẽ rèn luyện cách tư duy sang tạo trong giải toán cho học sinh
Cần đặt cho học sinh câu hỏi gợi ý đúng tình huống để học sinh dần biết sử dụng những câu hỏi này như công cụ kích thích sự tìm tòi, phát hiện để thực hiện từng bước của phương pháp chung giải toán
Việc đi sâu vào tìm hiểu nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán có vai trò
to lớn trong việc rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức, rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo cho học sinh Có thể thấy rõ điều đó trong các tác dụng sau:
- Những cách giải khác nhau của một bài toán góp phần hình thành và củng
cố cho học sinh về tính chất của các phép tính số học, về quan hệ giữa các phép tính số học
- Trong quá trình tìm ra những cách giải khác nhau, học sinh có dịp suy nghĩ đến những khía cạnh khác nhau của bài toán, từ đó sẽ hiểu sâu hơn về các mối quan hệ trong bài toán đó, nắm vững và củng cố các kiến thức có liên quan
- Việc tìm ra nhiều cách giải khác nhau sẽ giúp học sinh có dịp so sánh các cách giải đó, chọn ra được cách hay hơn và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm để giải toán
- Việc tìm ra nhiều cách giải cũng góp phần rèn luyện đức tính kiên trì, tiết kiệm, vì từ nhiều cách giải ấy học sinh có thể chọn ra được con đường ngắn nhất để
đi tới đích, không vội bằng lòng với việc tìm ra con đường đầu tiên
- Quá trình tìm tòi những cách giải khác nhau của bài toán cũng là quá trình rèn luyện trí thông minh, óc sáng tạo và khả năng suy nghĩ linh hoạt cho học sinh
Trang 116
1.3 Tính sáng tạo trong học tập của học sinh
Theo từ điển Triết học: Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị mới về vật chất, tinh thần (Dẫn theo [4, tr 7])
Theo giáo trình Tâm lí học đại cương: “Năng lực sáng tạo là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định”
Trong thực tiễn, các kỹ năng sáng tạo là điều thiết yếu Người ta cần có chúng
để đề xướng và thiết kế sản phẩm, để tiếp thị, đóng gói, quản lý, chăm sóc trẻ, dạy học, chế tạo, trang trí và chăm sóc nhà cửa, kiến trúc, nấu nướng, viết, nghiên cứu
và phát triển, thực hiện phát triển có tính đột phá, trang trí cửa hiệu, bày biện cửa hàng… Tính sáng tạo cần thiết cho bất kỳ ai dự định đưa ra những ý tưởng mới, kỹ thuật mới, hay vào việc giải quyết khó khăn Tính sáng tạo là công cụ nhận thức thiết yếu chứ không phải một môn học, và nó luôn cần được thực hành Trong hầu hết các hoạt động học tập, người học sẽ tiếp nhận kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật và ý kiến của người khác Công việc sáng tạo là một ngoại lệ quan trọng, song nó cũng thường bị ngay cả giáo viên cũng như những người khác hiểu lầm và đánh giá thấp [10, tr 296]
Công việc sáng tạo là quan trọng đối với giáo viên thuộc bất kỳ lĩnh vực nào,
vì ba lí do chính sau đây:
- Để phát triển khả năng suy nghĩ sáng tạo cho người học
- Để tăng cường động cơ, thỏa mãn nhu cầu của con người muốn tạo nên điều
gì đó và được thừa nhận về điều đó
- Để tạo cơ hội thăm dò cảm xúc và phát triển các kỹ năng tự biểu hiện
Tri thức (bao gồm các khái niệm, định lí, thuật giải, phương pháp) và kĩ năng
là cơ sở của sự sáng tạo Cần phải có kiến thức để hiểu được mục đích của hành động, biết được điều kiện, cách thức để đi đến kết quả, để thực hiện hành động Cần phải có kĩ năng để hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau
Trang 12- Làm thành thạo: giải nhanh, ngắn gọn, chính xác bài toán theo cách giải đó biết, trong những hoàn cảnh mới, điều kiện mới tương tự như bài đó biết; giải được những bài tập tổng hợp, phức tạp, đa dạng
- Mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo: đưa ra được những cách giải ngắn gọn, cách chuyển hóa vấn đề khéo léo, cách giải quyết vấn đề độc đáo
Tính sáng tạo là một trong những mucjt iêu học tập Theo Nguyễn Bá Kim [ ], mục tiêu dạy học môn Toán là:
- Trang bị cho HS những tri thức, kĩ năng, phương pháp toán học phổ thông,
cơ bản, thiết thực
- Góp phần phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng phẩm chất trí tuệ cho HS
- Góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên
- Tạo cơ sở để HS tiếp tục học Cao đẳng, Đại học, Trung cấp chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sồng lao động
Các mục tiêu thể hiện sự toàn diện, thống nhất và có quan hệ mật thiết, hỗ trợ,
bổ sung cho nhau: tri thức là cơ sở để thực hiện các mục tiêu khác; trong các mục tiêu thì mục tiêu phát triển trí tuệ là quan trọng nhất; thông qua hoạt động mà rèn luyện kĩ năng, củng cố tri thức
Việc rèn luyện tính sáng tạo trong giải toán nhằm đạt được các yêu cầu cần thiết sau: Giúp học sinh hình thành và nắm vững những mạch kiến thức cơ bản trong chương trình; giúp học sinh phát triển các năng lực trí tuệ Cụ thể là phát triển:
- Tư duy lôgic và ngôn ngữ chính xác
- Khả năng suy đoán, tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng trong không gian
Trang 138
- Những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp khái quát hóa
- Các phẩm chất trí tuệ như tư duy độc lập, tư duy linh hoạt và sáng tạo
+ Thể hiện rõ những đặc điểm của tư duy toán học
Theo Viện sĩ B.V Gờ-nhe-den-cô (1964), những đặc điểm của tư duy toán học là:
- Năng lực nhìn thấy sự không rõ ràng của quá trình suy luận, thấy được sự thiếu sót của những điều cần thiết trong chứng minh
- Sự cô đọng
- Sự chính xác của các kí hiệu
- Phân chia rõ ràng tiến trình suy luận
- Thói quen lí lẽ đầy đủ về lôgic
Theo A.Ia Khin-chin (1961), những nét độc đáo của tư duy toán học, là:
- Suy luận theo sơ đồ lôgic chiếm ưu thế
- Khuynh hướng tìm con đường ngắn nhất dẫn đến mục đích
- Phân chia rành mạch các bước suy luận
- Sử dụng chính xác các kí hiệu
- Tính có căn cứ đầy đủ của lập luận
1.4 Những tri thức liên quan đến bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của biểu thức
Để tìm GTLN, GTNN của hàm số y = f(x) trên một đoạn [a; b], SGK Giải tích
12 hiện hành đã giới thiệu quy tắc:
Bước 1 Tìm các nghiệm của y’
Bước 2 Tính giá trị của hàm số tại các nghiệm của y’ và tính f(a), f(b);
Bước 3 Tìm GTLN và GTNN trong các giá trị ở bước 2 và kết luận
Để tìm GTLN, GTNN của hàm số y = f(x) trên một tập K không phải là một đoạn, ta phải xét sự biến thiên của hàm số trên từng khoảng thuộc D, từ đó mới có kết luận
Để tìm GTLN, GTNN của biểu thức chỉ chứa một biến số ta có thể dựa vào cách tìm GTLN, GTNN của hàm số, ngoài ra có thể tìm tập giá trị của hàm số hoặc dựa vào bất đẳng thức Giả sử cần tìm GTLN, GTNN của biểu thức y = f(x) với x
Trang 149
thuộc tập số D, ta tìm các giá trị của y làm cho phương trình f(x) – y = 0 có nghiêm
x thuộc D Từ tập giá trị này ta chỉ ra được GTLN, GTNN của biểu thức
Ngoài ra có một số phương pháp khác có thể dùng trong bài toán tìm GTLN, GTNN của biểu thức là phương pháp Hình học hóa hoặc phương pháp Lượng giác hóa
Những bất đẳng thức thường dùng trong bài toán tìm GTLN, GTNN là BĐT:
+ Bất đảng thức tam giác: Với ba điểm A, B, C bất kỳ ta có:
ABACBC Dấu " " xảy ra khi và chỉ khi A thuộc đoạn BC
ABAC BC Dấu " " xảy ra khi và chỉ khi A, B, C thẳng hàng và hoặc B thuộc đoạn AC hoặc C thuộc đoạn AB
Với hai số thực bất kì a b; ta có: a b a b ; a b a b
Dấu bằng xảy ra khi và chỉ khi ab ≥ 0
+ BĐT giữa trung bình cộng và trung bình nhân
+ BĐT Trê-bư-sép:
Cho hai dãy số cùng tăng ( hoặc cùng giảm ): a1a2 a n ; x1x2 x n
Trang 152 2
z y x c
z b
y a
Nội dung phiếu điều tra xin xem phụ lục 1, phụ lục 2
Kết quả điều tra được phân tích như sau:
Về câu hỏi “Có những cách nào tìm GTLN hoặc GTNN của biểu thức”: đa số
HS chỉ biết tới hai quy tắc đã trình bày trong SGK, số HS biết thêm những cách
Trang 16Mặc dù hầu hết các GV và HS được hỏi (85%) đều cho rằng dạng toán tìm GTLN hoặc GTNN của biểu thức là dạng toán hay; tuy nhiên còn nhiều GV chưa quan tâm đầy đủ đến việc khuyến khích HS sáng tạo trong giải dạng toán này (76%) Lí do cơ bản là học lực của HS trong trường chỉ là trung bình và trung bình khá (86%) nên nếu giành nhiều thời gian cho việc này sẽ tốn nhiều công sức và thời gian, dẫn đến tình trạng không thiết thực, thiếu hiệu quả
Từ kết quả phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng cần phải sắp đặt các bài toán về tìm GTLN hoặc GTNN của biểu thức một cách hợp lí, có sự phân bậc để tạo nên niềm tin vào khả năng giải được của HS; phải có một quá trình rèn luyện từng bước
đề HS có thể giải dạng toán này theo các cấp độ từ nhuần nhuyễn, linh hoạt đến sáng tạo
Tóm tắt chương 1
Chương này trình bày một số vấn đề thuộc về lí luận liên quan đến tính sáng tạo trong giải toán nói chung và trong tìm GTLN, GTNN của biểu thức nói riêng Những vấn đề đó là: Quan niệm về sáng tạo điều kiện để có sáng tạo; Nhiệm vụ khuyến khích sáng tạo giải toán cho HS ở trường THPT; Vai trò của bài tập toán học
Chương này cũng tóm tắt những tri thức liên quan đến bài toán tìm giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của biểu thức, gồm: Những phương pháp thông thường tìm GTLN, GTNN của biểu thức; Những phương pháp thường dùng trong bài toán tìm GTLN, GTNN của biểu thức
Trang 1712
Chúng tôi đã thiết kế phiếu điều tra từ 24 giáo viên và 150 học sinh thuộc hai trường THPT trên địa bàn tình Điện Biên để nắm bắt một số tình hình về dạy và học
về “Tìm giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của biểu thức”
Kết quả cho thấy đây là dạng toán khó đối với HS, nên cần phải tạo ra niềm tin
và cần khuyến khích HS nâng cao khả năng giải dạng toán này thông qua hệ thống bài toán có phân bậc và dụng ý sư phạm rõ rệt
Đó là những căn cứ lí luận và thực tiễn để chúng tôi đề xuất giải pháp sẽ trình bày trong chương 2
Trang 1813
Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ TÌNH HUỐNG TẠO CƠ HỘI ĐỂ
KHUYẾN KHÍCH TÍNH SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 12
TRONG DẠY HỌC DẠNG TOÁN TÌM GIÁ TRỊ LỚN NHẤT
VÀ GIÁ TRỊ NHỎ NHẤT CỦA BIỂU THỨC
Một trong những vai trò của giáo viên trong quá trình hoạt động sáng tạo là phải giúp học sinh kiểm soát được quá trình suy nghĩ khi gặp những khó khăn ở họ Điều này được thực hiện thông qua sự lựa chọn những hoạt động của GV nhằm giúp HS vượt qua được những trở ngại, thông qua hoạt động khuyến khích, giải
thích và thảo luận với HS
Trong chương trình này chúng tôi trình bày kết quả thiết kế một số tình huống tạo cơ hội để khuyến khích tính sáng tạo cho học sinh lớp 12 trong dạy học dạng toán tìm giá trị lớn nhất (nhỏ nhất) của biểu thức Những cơ hội được thể hiện ở chỗ: sau mỗi bài toán, HS thường gặp trở ngại trong cách giải quyết vấn đề, trong cách suy nghĩ; khi đó giáo viên cần khuyến khích HS vượt qua chướng ngại và cần
có sự sáng tạo
Trên cơ sở nghiên cứu các dạng toán và các phương pháp giải những dạng toán
đó, chúng tôi chọn lọc và thiết kế thành những hệ thống bài toán có dụng ý rèn luyện một hoặc một số thành tố nào đó của tư duy sáng tạo cho học sinh Chúng tôi tập trung vào ba hệ thống bài toán sau đây:
- Hệ thống bài toán tìm GTLN GTNN của biểu thức chỉ chứa một biến số nhằm rèn luyện cho học sinh vận dụng đúng đắn, nhuần nhuyễn và vận dụng linh hoạt những phương pháp thông thường
- Hệ thống bài toán tìm GTLN, GTNN của biểu thức chứa hơn một biến số với những dạng khác nhau, song không thể rập khuôn máy móc cách làm từ dạng này sang dạng khác, mà cần có sự uyển chuyển trong suy nghĩ
- Hệ thống bài toán tìm GTLN (GTNN) của biểu thức có nhiều cách giải nhằm tạo ra nhiều cơ hội sáng tạo trong giải toán cho học sinh
Trang 1914
2.1 Hệ thống bài toán tìm GTLN GTNN của biểu thức chỉ chứa một biến số nhằm rèn luyện cho học sinh vận dụng đúng và nhuần nhuyễn những phương pháp thông thường, đồng thời có thể khuyến khích tính linh hoạt, sáng tạo
x y x
trên đoạn 0;1 Bài 1.3 Tìm GTLN, GTNN củ a hàm số
2
11
x x y
1sinsin
x x
trên R
Bài 1.6 Tìm GTNN của y 2sinxcos2x-3. trên (0; ]
Bài 1.7 Tìm GTLN, GTNN của hàm số y 3 sinx c osx-x., trên [0; ]
Bài 1.9 Tìm GTNN của hàm số
x x
y
cos
1 sin
x x
x x
cos
3 cot
2 3
Trang 20Hệ thống này được chúng tôi xây dựng theo dụng ý sau:
Trước hết là những bài toán rèn luyện tính nhuần nhuyễn tìm GTLN GTNN
của biểu thức một biến số trên một đoạn Loại này có hai dạng: Dạng hàm số liên
tục trên đoạn (ở bài 1.1 với y = x3
– x2 – x + 3 trên đoạn [– 2; 2] và bài 1.2
với
2
31
x x y
x trên đoạn [– 2; 2] là dạng hàm số gián đoạn trên đoạn đã cho
Với dạng thứ nhất HS chỉ cần áp dụng quy tắc tìm GTLN GTNN của hàm số
như đã trình bày trong SGK Giải tích 12 Nhưng với dạng thứ hai, HS không thể áp
dụng quy tắc này được, mà phải khảo sát hàm số Đây là một sự vận dụng linh hoạt
Trang 2116
Tiếp theo là những bài toán rèn luyện tính nhuần nhuyễn tìm GTLN, GTNN
của biểu thức một biến số trên một khoảng (bài 1.4 22
để suy ra GTLN và GTNN Tuy nhiên từ bài 1.4 đến bài 1.5 mức độ khó sẽ tăng lên,
đòi hỏi sự sáng tạo hơn: Vừa phải đặt ẩn phụ, vừa cần tập giá trị của y để phương
trình có nghiệm trên R mà là có nghiệm trên đoạn [– 1; 1]
Từ bài 1.7 chuyển sang các bài 1.8:
2
1 4 cos 2 sin 1
và bài 1.9:
x x
y
cos
1 sin
Trong hệ thống bài toán trên, chúng tôi đã thiết kế để:
- HS phải linh hoạt trong vận dụng;
- Vận dụng xen kẽ giữa cách này và cách khác;
- Linh hoạt chuyển từ hàm số này sang hàm số khác;
- Hoặc giải bài toán bằng nhiều cách khác nhau
Trang 2217
2.1.3 Tóm tắt lời giải các bài toán trong hệ thống
Bài 1.1 Tìm G TLN, GTNN củ a hàm số y f x ( ) x3 x2 x 3 trên đoạn [– 2; 2]
x y x
Vậy GTLN của y là 10khi x = 1/3 và GTNN của y là 2 2khi x = 1
Bài 1.3 Tìm GTLN, GTNN củ a hàm số
2
11
x x y
x trên đoạn [– 2; 2]
Trang 232( 1)
x
x x
x x
Vậy GTLN của hàm số là 7/3, khi x = 2 và GTNN của hàm số là – 3, khi x = – 2
Lời giải trên sai vì đoạn [– 2; 2] đã cho trong yêu cầu bài toán chứa điểm
không xác định hàm số là x = – 1, nên HS không thể giải như bài 1.1
Lời giải đúng như sau:
Khi x → – 1 từ bên trái thì y → – ∞, khi x → – 1 từ bên phải thì y → + ∞, nên
hàm số không có GTLN và cũng không có GTNN trên đoạn [– 2; 2]
Trang 2419
Do đó, với y0 [ 1;3]( y0 2), phương trình (1) có nghiệm (**)
Từ (*) và (**) ta suy ra phương trình (1) có nghiệm khi và chỉ khi y0 [ 1;3].Kết luận: vậy GTLN của y là 3 khi x = 2, GTNN của y là (– 1) khi x = 0
Bài 1.5 Tìm GTLN, GTNN củ a hàm số y =
1sinsin
1sinsin
x x
t t
Bài toán trở thành tìm y để PT y =
1
12
t t
(*) có nghiệm trên đoạn [–1 ; 1]
1
0 ) 1
(
.
0 )
f
a
f
a
Kết quả : GTLN của y bằng 2 khi x = π/2 và GTNN của y là 0 khi x = - π/2
Bài 1.6 Tìm GTNN của y 2sinxcos2x-3. trên (0; ]
6 sinx
2
5 6
Trang 25-2
3 2
-2
Dựa vào bảng biến thiên ta có:
3maxy=
6
56
x
x y
Trang 26+KL: y x x k
4 1
2 sin 5
k x
k x
x
x y
12712
4
2
12
sin
12sin1
min
Bài 1.9 Tìm GTNN của hàm số
x x
y
cos
1 sin
2 cos
x x
x t
1 4
sin 2
1 4
3
; 4 4
2 ,
t f t
t t
Trang 27- Có phát hiện gì đặc biệt liên hệ giữa hai biểu thức xuất hiện trong bài toán?
- Khai thác mối liên hệ giữa hai biểu thức có dạng (a2 + b2) và (a + b)?
Dấu bằng xảy ra khi x = 0 Vậy t thuộc [2; + ∞)
Hàm só y = t2 – 3t – 2 đồng biến trên [2; + ∞), nên f(t) ≤ f(2) = - 4
Vậy GTNN của T là (- 4) khi x = 0
Cũng có thể tìm điều kiện của t theo cách sau :
Trang 28x x
x x
cos
3 cot
2 cot
x x
1 3
2 2
3 2
sin 2
1 3
; 6
Trang 32Cách 1: Phương trình ẩn x x : 2 tx 1 0 luôn có nghiệm t
Trang 34c x
x x
Trang 3530
2.2.1 Những bài toán có thể quy về một biến số, ngoài việc khảo sát hàm số
GV có thể khuyến khích HS tìm cách giải khác hay hơn, sáng tạo hơn
Bài 2.1 Cho x, y > 0 và xy = 1 Tìm GTNN của biểu thức T = x 2 + 16y
Hướng dẫn
Rút y = 1/x quy về hàm số một biến:
3
16( ) x
) 1 ( 5 5
x A
x
Trang 3631
12)1(5
x x
x x
x
Nên A 2 5 5 dấu đẳng thứ c xảy ra khi và cbir khi
x
x x
1 1
1 11
x
1
221
x x
x x
x
Nên có B 2 2 3 dấu đẳng thứ c xảy ra khi và chỉ khi
x
x x
x
1 1
2
hay x = 2 1
Trang 3732
Vậy GTNN của B là 2 2 3khi x = 2 1
Bài 2.4 Cho x, y > 0 và x + y = 1 Tìm GTNN của biểu thức T =
y x
1 1
T = x2 + ( 25 30 25 )
16
1 4
x
Dựa vào đồ thị hoặc bảng biến thiên
với x thuộc đoạn [0 ; 5/3] ta có :
Trang 39 Vậy max A 16 khi x = y = ½
Bài 2.8 Cho x, y không nhỏ hơn 1 và 3x + 4y ≤ 5 Tím GTLN và GTNN của
biểu thức T = x2
+ y2 Khác với bài trước, ở bài này, với giả thiết 3x + 4y ≤ 5 ta không thể rút y theo
x được ; cũng không thể sử dụng bất đẳng thức Bunhiacopski để tìm GTNN của T vì đẳng thức xảy ra khi x, y không thuộc điều kiện đã cho trong giả thiết Điều này đòi hỏi HS phải có sự sáng tạo nhất định
Vẽ đường thẳng có phương trình 3x + 4y = 5 trên hệ tọa độ Đề Các, với miền
x, y không nhỏ hơn 1, các điểm M(x ; y) thoả mãn giả thiết thuộc các đoạn AB và
; 3
; 3
3 1
và y = 1;
Trang 40y x
y x xy
Tìm GTNN của P: 4 4
P x yHướng dẫn:
Do vai trò bình đẳng giữa x và y , ta dự đoán đẳng thức xảy ra khi x y
4
2 2 8 2 124 2 1 3024 2 x y 2 1