1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo thực tập Quy trình cấp GCN ĐKKD Hộ Kinh Doanh cá thể tại Quận 10

46 618 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 759 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục tiêu nghiên cứuThông qua việc nghiên cứu đề tài này giúp cho tác giả thấy được cơ chếhoạt động liên quan đến quá trình đăng ký thành lập hộ kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật

Trang 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Những người tham gia thương trường đầu tiên có lẽ là những cá nhânmong muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa dịch

vụ Giống như các chủ thể khác của Bộ Luật Dân Sự, những cá nhân này phảichịu trách nhiệm vô hạn, hay nói cách khác, bằng toàn bộ tài sản của mình đốivới các khoản nợ, có nghĩa là họ phải chịu trách nhiệm đến cùng với những hành

vi thương mại của họ Đây là tính chất điển hình của thương nhân mà có lẽ saunày người ta vì thế đã tìm kiếm các giải pháp khắc phục bằng các loại hình công

ty thông qua chế độ trách nhiệm Cá nhân kinh doanh thường được gọi là thươngnhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể (sole trade or sole proprietorship) Về mặthọc thuật người ta thường gọi đó là thương nhân thể nhân để phân biệt với cáccông ty mà thường được gọi là thương nhân pháp nhân Thực tế ở Việt Nam môhình điển hình nhất cho thương nhân thể nhân đó là “Hộ kinh doanh”.[1]

Xuất phát từ thực tiễn, bất cứ một loại hình kinh doanh nào trước khimuốn đi vào hoạt động đều phải thực hiện những thủ tục đăng ký với cơ quanquản lý Nhà nước về kinh tế Hộ kinh doanh cũng không là ngoại lệ, để hộ kinhdoanh có thể được hình thành và đi vào hoạt động thì phải tuân thủ quy trìnhđăng ký tại cơ quan có thẩm quyền cấp đăng ký kinh doanh Theo quy định củapháp luật Việt Nam, cơ quan đăng ký kinh doanh thuộc UBND cấp Quận,Huyện, Thành phố thuộc tỉnh là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhậnĐKKD hộ kinh doanh Trong bài báo cáo này, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu vànghiên cứu quy trình cấp đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh và thực tiễn tronghoạt động cấp đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh tại Phòng kinh tế - UBNDQuận 10, TP HCM.[2] Từ những nghiên cứu đó sẽ cho chúng ta thấy được mộtcái nhìn khái quát nhất về các vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn các thủ tụchành chính liên quan đến việc đăng ký “Hộ kinh doanh ”

1[] Ngô Huy Cương (Tháng 04 /2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập” Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học số 25, tr 234-245.

ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Phòng Kinh tế Quận 10.

Trang 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu đề tài này giúp cho tác giả thấy được cơ chếhoạt động liên quan đến quá trình đăng ký thành lập hộ kinh doanh theo quy địnhcủa pháp luật và những ưu điểm, hạn chế của những thủ tục hành chính đang ápdụng, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chínhliên quan tới việc đăng ký thành lập “Hộ kinh doanh”

1.3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về quy trình cấp đăng ký kinh doanh hộ kinhdoanh theo thẩm quyền được pháp luật quy định của Phòng kinh tế - UBNDQuận 10, TP.HCM

1.4 Phương pháp nghiên cứu

So sánh đối chiếu, nghiên cứu định tính, phân tích – tổng hợp…

Trang 3

HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1 Khái quát về chủ thể “Hộ kinh doanh”

2.1.1 Khái quát chung

Kể từ khi sự tư hữu xuất hiện trong xã hội và những hoạt động kinh doanh,mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời được thực hiện thì

mô hình sơ khai nhất chính là hình thức kinh doanh của cá nhân hoặc hình thứckinh doanh của gia đình Trải qua quá trình hình thành và phát triển kinh tế xãhội dưới nhiều hình thái khác nhau và sự ra đời của các hệ thống pháp luật trênthế giới, xuất phát từ nhu cầu quản lý kinh tế của các hệ thống Nhà nước thì hìnhthức “thương nhân thể nhân” cũng dần dần được các nhà làm luật đưa vào hệthống quy định của mình

Theo pháp luật của Mỹ, hình thức thương nhân thể nhân được gọi là doanhnghiệp cá thể (sole proprietorship) được định nghĩa như sau: “ Hình thức sở hữuduy nhất là cấu trúc đơn giản và phổ biến nhất được chọn để bắt đầu một doanhnghiệp Đó là một doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân Việc sở hữu vàđiều hành do một cá nhân chịu trách nhiệm hoàn toàn, được hưởng tất cả lợinhuận và chịu trách nhiệm cho tất cả các khoản nợ và thiệt hại của doanh nghiệp

mà không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp và cá nhân chủ sở hữu”.[3] Còn theoquan điểm của hệ thống pháp luật Anh thì hình thức thương nhân thể nhân đượcxác định là thương nhân đơn lẻ (sole trader) “Là hình thức đơn giản nhất của cấutrúc kinh doanh Nó tương đối dễ dàng và không tốn kém để bắt đầu và duy trì.Không có sự phân chia giữa các tài sản kinh doanh hoặc các tài sản cá nhân, baogồm những tài sản chia sẻ của cá nhân chủ sở hữu với bất kỳ tài sản thuộc sở hữuchung của người khác Trách nhiệm của cá nhân chủ sở hữu là không giới hạn cónghĩa là tài sản cá nhân chủ sở hữu có thể được sử dụng để thanh toán các khoản

nợ kinh doanh”.[4] Nhưvậy việc xác định hình thức thương nhân thể nhân chính

3[] U.S Small Business Administration (SBA), “Article Sole Proprietorship”, Starting a Business, được download tại địa chỉ http://sba.gov/content/sole-proprietorship-0 vào ngày 22/03/2013.

4[] Small Business Development Corporation (SBDC), “Sole Trader”, Business Structures, được download tại địa chỉ http://smallbusiness.wa.gov.au/sole-trader/ vào ngày 22/03/2013

Trang 4

là bước quan trọng trong việc phân biệt với thương nhân pháp nhân mà đại diệncho hình thức này chính là các loại hình Công ty

Ở Việt Nam quá trình hình thành của thương nhân thể nhân không rõ ràng.Vào thời kì còn đang là một nước thuộc địa và sau đó là hàng loạt cuộc khángchiến đấu tranh giành độc lập, nền kinh tế tương đối lạc hậu kém phát triển vì

vậy gần như các hình thức kinh doanh không được chú ý đến (mặc dù trước năm

1975 ở miền Nam đã có nền kinh tế thị trường nhưng do không có sự thống sự giữa nền kinh tế miền Bắc XHCN và miền Nam TBCN) Giai đoạn sau

30/04/1975 đến trước năm 1985, khi thống nhất dưới sự quản lý của Nhà nướcCHXHCN Việt Nam và bắt đầu quá trình cải tạo công thương nghiệp xây dựng

mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa theo hướng kế hoạch hóa tập trung, quan liêubao cấp, với chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất, tầng lớp thương nhân mớichập chững hình thành không có cơ hội để phát triển Trong giai đoạn này, sảnxuất xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế dựa vào 2 thành phần kinh tế cơ bản: quốcdoanh (trong công và thương nghiệp) và tập thể (trong nông nghiệp - với hợp tác

xã cấp cao là nòng cốt).[5] Tuy nhiên, việc xây dựng nền kinh tế với cơ cấu nhưtrên đã làm nảy sinh nhiều vấn đề nan giải và hậu quả là nền kinh tế rơi vào tìnhtrạng trì trệ cục bộ Trước tình hình cấp bách đó Đảng đã đã phân tích nguyênnhân và xây dựng đường lối, chính sách để khắc phục Những thực tiễn “xé rào”

và lý luận mới trong Nghị quyết Đại hội VI của Đảng chính thức đặt nền móngđầu tiên cho chương trình Đổi mới tư duy quản lý kinh tế Trong giai đoạn từnăm 1986 – 1999, đây là giai đoạn kinh tế tư nhân được Đảng và Nhà nước thừanhận là khu vực kinh tế tồn tại khách quan và cần thiết trong cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần, được tạo điều kiện để phát triển Đến Đại hội đại biểu toàn quốc củaĐảng lần thứ X (2006) đã chính thức xác định 5 thành phần kinh tế cơ bản nước

ta bao gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể tiểu chủ

-tư bản -tư nhân), kinh tế -tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu -tư nước ngoài.Như vậy, chính thức từ đây hình thức thương nhân thể nhân được thừa nhận vàquy định theo pháp luật

5 [] Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam”, Văn kiện Đảng toàn tập (1976), NXB Sự thật, Hà Nội, 1977.

Trang 5

Căn cứ đặc điểm tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Hình thứcthương nhân thể nhân có tên gọi là “Hộ kinh doanh” và thuộc thành phần kinh tế

tư nhân Tuy nhiên, nội hàm của “Hộ kinh doanh” mang nghĩa hẹp hơn, nhấnmạnh tới hoạt động kinh doanh của những cơ sở hoạt động trong lĩnh vực côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ

Hình thức hộ kinh doanh lần đầu tiên được quy định quy định trong pháp

luật Việt Nam với tên gọi Hộ cá thể “Tư liệu sản xuất và các vốn khác là sở hữu

của người chủ đứng tên đăng ký kinh doanh Chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu là người thân thì phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của người chủ đăng ký kinh doanh Thu nhập sau khi đã đóng thuế thuộc sở hữu của chủ hộ”.[6] Đến khi Luật Doanh nghiệp 1999 được Quốc Hội thông qua, tên gọi “Hộ

cá thể” cũng được thay đổi thành “Hộ kinh doanh cá thể” và được ghi nhận tạihai Nghị định của Chính phủ về đăng ký kinh doanh là Nghị định 02/2000/NĐ-

CP của Chính phủ ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ- CP của

Chính phủ ngày 02/4/2004 Theo Nghị định số 109/2004/NĐ-CP: “Hộ kinh

doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”.

Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời đánh dấu một sự thay đổi lớn trong phápluật về doanh nghiệp ở Việt Nam, đồng thời phản ánh được tư tưởng và mục tiêunổi bật của luật Doanh nghiệp năm 2005 là hình thành một khung pháp lý chung,bình đẳng áp dụng thống nhất cho mọi loại hình doanh nghiệp Theo Luật Doanhnghiệp 2005 thêm một lần nữa tên gọi “Hộ kinh doanh cá thể” được thay đổithành “Hộ kinh doanh” và tên gọi đó được sử dụng tới thời điểm hiện nay Theonghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/08/2006 quy định về Đăng ký

kinh doanh thì: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là người Việt Nam, một nhóm

người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm về

6 [] Nghị định 27/HĐBT ngày 09/03/1988 ban hành bản quy định về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ, công nghiệp xây dựng, vận tải

Trang 6

toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh Hộ gia đình sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh Những hộ cá thể sử dụng hơn 10 lao động hoặc có hơn 1 địa điểm kinh doanh phải chuyển đổi thành doanh nghiệp” Mới nhất là Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp” So sánh, đối chiếu

giữa hệ thống pháp luật Anh - Mỹ và hệ thống pháp luật Việt Nam ta thấy rằnggiữa “Hộ kinh doanh” và “Thương nhân thể nhân”có thể đưa ra một khái niệm

chung cho Hộ kinh doanh (thương nhân thể nhân) như sau:

- Là một chủ thể trong quan hệ kinh tế, hoạt động độc lập, tự chủ trong sảnxuất kinh doanh

- Cấu trúc đơn giản, không có tư cách pháp nhân, do cá nhân hoặc 1 nhóm

cá nhân sở hữu và tự chịu trách nhiệm hoàn toàn bằng tài sản của mình

2.1.2 Đặc điểm pháp lý

 Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhómngười hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địađiểm.[7]

- Trong trường hợp hộ kinh doanh do một cá nhân duy nhất là công dânViệt Nam làm chủ sở hữu thì cá nhân này có quyền hưởng toàn bộ lợi nhuận

(sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính, thanh toán theo qui định của pháp

doanh nghiệp

Trang 7

luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ đối với nhà nước, chịu mọi rủi ro đối với tất cả

các hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra, cá nhân chủ hộ kinh doanh cótoàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến quá trình hình thành và hoạt

động của hộ kinh doanh (quyết định ĐKKD, thực hiện các hoạt động kinh

doanh hoặc tạm ngừng, chấm dứt hoạt động)

- Trong trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ thì nhữngngười này sẽ cùng nhau quyết định các vấn đề liên quan tới hộ kinh doanh.Những cá nhân này có thể cử ra một đại diện thay mặt cho họ thực hiện cáccông việc của hộ kinh doanh Tuy nhiên, cũng như việc có một cá nhân duynhất là chủ hộ kinh doanh thì tất cả lợi nhuận và rủi ro vẫn thuộc về toàn bộnhững cá nhân làm chủ hộ và họ vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh

- Trong trường hợp hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ thì hộ giađình phải có trách nhiệm cử ra một đại diện (chủ hộ), chủ hộ là đại diện của hộgia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ gia đình[8] và thaymặt hộ gia đình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cả hộ Lợi nhuận sau khi

đã thực hiện những nghĩa vụ được pháp luật quy định cũng như rủi ro sẽ chiacho thành viên trong hộ gia đình theo sự thỏa thuận thống nhất của họ Xuấtphát từ bản chất là hộ gia đình thực hiện hoạt động kinh doanh nên việc xácđịnh trách nhiệm sẽ áp dụng Bộ luật Dân sự 2005: “hộ gia đình chịu tráchnhiệm bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiệnnghĩa vụ chung thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sảnriêng của mình” [9]

 Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân

- Có thể thấy rằng bản chất của hộ kinh doanh là do một cá nhân thành lậpkinh doanh, do đó không thể là pháp nhân bởi vì hộ kinh doanh không phải làmột thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó Mọi tài sản của hộ kinhdoanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó như vậy hộ kinh doanh do không

8 [] Khoản 1 điều 107 Bộ luật Dân sự 2005.

9 [] Khoản 2 điều 110 Bộ luật Dân sự 2005.

Trang 8

độc lập về tài sản nên không thể đáp ứng đủ các điều kiện để có tư cách pháp

nhân (qui định tại Điều 84 BLDS 2005) Cá nhân, nhóm cá nhân hay hộ gia đình

tạo lập hộ kinh doanh được hưởng toàn bộ lợi nhuận và chịu mọi nghĩa vụ.Trường hợp hộ kinh doanh được tạo lập bởi hộ gia đình, thì hộ kinh doanh cóbản chất là hộ gia đình kinh doanh.[10] Do đó hộ kinh doanh cũng không phải làpháp nhân

 Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của hộkinh doanh

- Chủ hộ kinh doanh được hiểu ở đây là cá nhân trong trường hợp hộ kinhdoanh do một cá nhân làm chủ sở hữu hoặc là tất cả cá nhân góp vốn kinhdoanh trong trường hợp hộ kinh doanh do nhóm cá nhân thành lập hoặc là tất cảthành viên của hộ gia đình trong trường hợp một hộ gia đình đầu tư kinh doanh

- Hộ kinh doanh không tách biệt với cá nhân tạo lập ra nó Vì vậy, xét theonguyên tắc thì chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đốivới khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phảichịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vàokinh doanh Trong trường hợp nếu hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ, thìngoài việc đưa tài sản kinh doanh ra để trả nợ, việc xác định trách nhiệmcủa từng thành viên hộ gia đình phải cần liên hệ tới các qui định của Bộ luậtDân sự 2005.Theo Bộ luật này, hộ gia đình chịu trách nhiệm bằng tàisản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực hiện nghĩa

vụ chung thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản riêngcủa mình.[11]

2.1.3 Quản lý Nhà nước về họat động kinh doanh hộ kinh doanh.

 Mục đích của hoạt động quản lý Nhà nước đối với hộ kinh doanh:

QLNN là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực Nhà nước, là tổng thểcác biện pháp về thể chế, pháp luật, quy tắc về tổ chức cán bộ của bộ máy Nhànước có trách nhiệm quản lý các công việc của Nhà nước do các cơ quan Nhànước tiến hành bằng các văn bản QPPL tiến hành để thực hiện các chức năng

10 [] Điều 106, 107, 108, 109, 110 Bộ luật Dân sự 2005.

11 [] Khoản 2 điều 110 Bộ luật Dân sự 2005.

Trang 9

nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnhcác quan hệ xã hội và hành vi của công dân.

Quản lý Nhà nước đối với hộ kinh doanh là sự tác động bằng pháp luật củaNhà nước thông qua hệ thống chính sách và các văn bản QPPL về kinh tế hướngđến các hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh nhằm điều chỉnh các hoạt độngkinh doanh theo mục tiêu và định hướng hoạt động đã được Nhà nước quy định

Từ khi bắt đầu công cuộc Đổi Mới, Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựngnền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xácđịnh thành phần kinh tế tư nhân mà hộ kinh doanh là một bộ phận cấu tạo nênthành phần đó, chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường do đó việc quản lýhoạt động của hộ kinh doanh là một sự cần thiết nhằm tạo khung pháp lý chohoạt động kinh doanh hộ kinh doanh Chính từ khung pháp lý chung đó sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, thu ngân sách nhà nước và tạo môitrường cạnh tranh lành mạnh giữa các hộ kinh doanh với nhau Ngoài ra hộ kinhdoanh còn đóng vai trò:

- Là thành phần kinh tế có tính chất tự phát cao và có tiềm lực phát sinh, tồntại rất mạnh Do việc thành lập đơn giản cũng như các nhu cầu đòi hỏi trongnhân dân mà hộ kinh doanh dễ đáp ứng về các sản phẩm thiết yếu trong cuộcsống Vì thế hộ kinh doanh được thành lập và hoạt động rộng rãi ở cả thành thị

và nông thôn và ngày càng mở rộng số lượng hộ tham gia cũng như số lượng vàchất lượng mặt hàng sản phẩm, nâng cao đời sống vật chất của người dân, gópphần phát triển kinh tế Quốc gia

- Là nơi mọi công dân có thể tham gia quản lý kinh tế và thực hành kinhdoanh trên thực tiễn Đây là môi trường khởi nghiệp cho tất cả mọi người từ đó

họ sẻ động viên, thúc đẩy và nuôi dưỡng tính sáng tạo, tính tự lực của nhân dân,khuyến khích họ tham gia kinh doanh, từ những cơ sở kinh doanh nhỏ sẽ pháttriển thành doanh nghiệp lớn hơn

- Góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh thuận lợi, lành mạnh Các hộ kinhdoanh có rất nhiều thuận lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh mà các thành

Trang 10

phần kinh tế khác không có, chẳng hạn: cách thức và thủ tục thành lập dể dàng,địa điểm kinh doanh linh hoạt, ưu đãi về thuế, thói quen mua bán hàng hóa củangười dân tại các điểm bán lẻ Thời gian gần đây hệ thống các siêu thị, cáctrung tâm thương mại phát triển mạnh tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh pháthuy mạnh lợi thế cạnh tranh của mình.

- Góp phần giải quyết việc làm Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần không nằm ngoài mục đích tạo công ăn việc làm cho người dân và hộ kinhdoanh đã làm tốt nhiệm vụ này

 Điều kiện đăng ký kinh doanh

Quy trình thành lập hộ kinh doanh tương đối đơn giản Nhìn chung, hiệnnay pháp luật về vấn đề đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh rất rõ ràng phùhợp với quy mô, bản chất pháp lý của hộ kinh doanh từ quyền thành lập hộ kinhdoanh và nghĩa vụ đăng ký của hộ kinh doanh cho đến Trình tự, thủ tục đăng ký

hộ kinh doanh.[12]Tuy nhiên vẫn có một số điều kiện được đặt ra như:

Chủ thể thành lập hộ kinh doanh là: ”công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, cónăng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyềnthành lập hộ kinh doanh”[13]và ”cá nhân, hộ gia đình chỉ được đăng ký một hộkinh doanh trong phạm vi toàn quốc”[14] Như vậy người nước ngoài không đượcthành lập hộ kinh doanh Do đặc điểm chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vôhạn trong hoạt động kinh doanh nên chủ hộ kinh doanh cũng không được phépđồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh của công ty hợpdanh Đối với các đối tượng đặc biệt khác như cán bộ công chức, Luật Doanhnghiệp 2005 chỉ cấm cán bộ công chức thành lập và quản lý doanh nghiệp[15] nên

có thể hiểu là cán bộ công chức cũng được thành lập hộ kinh doanh, tuy nhiênviệc thành lập vẫn bị hạn chế một vài lĩnh vực cũng như ngành nghề cụ thể theoquy định của Luật cán bộ công chức; Luật phòng, chống tham nhũng và nhữngquy định khác có liên quan

12 [] Chương 6 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.

13 [] Khoản 1 điều 50 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.

14 [] Khoản 2 điều 50 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.

15 [] Khoản 2 điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005

Trang 11

Ngoài ra ngành, nghề kinh doanh của hộ kinh doanh phải không thuộcdanh mục ngành nghề cấm kinh doanh Ngành nghề cấm, hạn chế kinh doanhđược quy định cụ thể trong Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm

2006 của Chính phủ về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh

và kinh doanh có điều kiện và các Nghị định hướng dẫn cụ thể từng ngành nghềkhác Tên hộ kinh doanh cũng phải phù hợp theo pháp luật như: “tên riêng phảiđược viết bằng tiếng Việt có thể kèm theo chữ số ký hiệu và phát âm được”.[16]

Như vậy có thể thấy quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh đối với hộkinh doanh và các điều kiện đặt ra khá đơn giản, phù hợp với quy mô, bản chấtpháp lý của hộ kinh doanh như đã trình bày ở trên

 Quá trình cải cách thủ tục hành chính trong trong hoạt động quản lý Nhànước đối với việc cấp đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh

Thủ tục hành chính được thực hiện đối với việc cấp đăng ký kinh doanh hộ kinhdoanh bao gồm: ĐKKD, thay đổi nội dung kinh doanh Và trường hợp đăng kýtạm ngừng kinh doanh Giai đoạn trước khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, việccấp đăng ký kinh doanh tương đối khó khăn và nhiêu khê thể hiện rõ bản chấtcủa cơ chế xin cho Để khắc phục những tồn tại, bất cập đó Chính phủ đã lần lượtban hành những văn bản nhằm mục tiêu cải cách thủ tục hành chính

Ví dụ: Trong khâu cấp đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh, đã có 4 Nghị định lần

lượt được ban hành nhằm tạo sự thông thoáng, dễ dàng hơn:

- Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 03/02/2000

về đăng ký kinh doanh

- Nghị định số 109/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 02/04/2004

về đăng ký kinh doanh

- Nghị định số 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/08/2006

về đăng ký kinh doanh

- Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15/04/2010

về đăng ký kinh doanh

- Nghị định số 05/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09/01/2013

về sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của nghị

16 [] Điểm b khoản 1 điều 56 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.

Trang 12

định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2013 của Chính phủ về đăng ký kinhdoanh.

2.2 Quy trình cấp đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh theo pháp luật Việt Nam

2.2.1 Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) cho hộ kinh doanh

2.2.1.a Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh [17]

 Để tiến hành đăng ký kinh doanh cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đạidiện hộ gia đình chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định bao gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh (theo mẫu)

b) Bản photo Giấy chứng minh nhân dân (kèm bản chính để đối chiếu).c) Bản sao hợp lệ Chứng chỉ hành nghề (đối với những ngành nghề phải cóchứng chỉ hành nghề)

d) Bản sao hợp lệ văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan tổ chức cóthẩm quyền (đối với những ngành nghề phải có vốn pháp định)

 Đầu tiên, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy

đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan Đăng ký kinh doanh cấp Quận,huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh Nội dung Giấy đề nghị đăng ký hộ kinhdoanh gồm:

a) Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh;

b) Ngành, nghề kinh doanh;

c) Số vốn kinh doanh;

d) Họ, tên, số và ngày cấp Giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi cư trú

và chữ ký của các cá nhân thành lập hộ kinh doanh đối với hộ kinh doanh donhóm cá nhân thành lập, của cá nhân đối với hộ kinh doanh do cá nhân thành lậphoặc đại diện hộ gia đình đối với trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình thànhlập

Kèm theo Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh phải có bản sao Giấychứng minh nhân dân của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại

17 [] Điều 52 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp

Trang 13

diện hộ gia đình và Biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanhđối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập.

Đối với những ngành, nghề phải có chứng chỉ hành nghề, thì kèm theo cácgiấy tờ được quy định phải có bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của cá nhânhoặc đại diện hộ gia đình

Đối với những ngành, nghề phải có vốn pháp định thì kèm theo các giấy

tờ quy định ở trên thì phải có bản sao hợp lệ văn bản xác nhận vốn pháp định của

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

 Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Quận, huyệntrao Giấy biên nhận và sẽ tiến hành cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanhcho hộ kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu

có đủ các điều kiện sau đây:

a) Ngành, nghề kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinhdoanh;

b) Tên hộ kinh doanh dự định đăng ký phù hợp quy định tại Điều 56 Nghịđịnh này;

c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định

 Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần sửađổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh doanh

 Nếu sau năm ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh

mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhậnđược thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thì ngườiđăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếunại, tố cáo

2.2.1.b Thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh

 Việc đăng ký thay đổi nội dung kinh doanh đăng ký kinh doanh được thực

hiện theo quy định tại Điều 55 Nghị định 43/2010/NĐ-CP: “Khi thay đổi nội

dung kinh doanh đã đăng ký, hộ kinh doanh thông báo nội dung thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đã đăng ký” Thông báo về việc thay đổi

Trang 14

nội dung đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh thực hiện theo mẫu quy định tại Phụlục III-3 ban hành kèm theo Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp.[18]

 Sau khi tiếp nhận hồ sơ thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh bao gồm :a) Thông báo về việc thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh(theo mẫu );

b) Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

 Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp Quận, huyện sẽ trao giấy biên nhận vàtiến hành cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh trongthời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ

2.2.2 Tạm ngừng kinh doanh (TNKD) cho hộ kinh doanh [19]

 Hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh phải tiến hành việc thông báo bằngvăn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh nơi hộ kinh doanh đã đăng ký và cơquan thuế ít nhất mười năm ngày (15 ngày) trước khi tạm ngừng kinh doanh Nộidung thông báo gồm:

c) Tên, địa chỉ trụ sở chính, mã số doanh nghiệp và ngày cấp Giấy chứngnhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác đối với doanhnghiệp; Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với hộ kinh doanh

d) Ngành, nghề kinh doanh

e) Thời hạn tạm ngừng kinh doanh, ngày bắt đầu và ngày kết thúc thời hạnngừng Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không được quá mộtnăm Sau khi hết thời hạn đã thông báo, hộ kinh doanh vẫn tiếp tục tạm ngừngkinh doanh thì phải thông báo tiếp cho cơ quan đăng ký kinh doanh Tổng thờigian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá hai năm (02 năm)

19 [] Điều 57 Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp

Trang 15

PHẦN 3: QUY TRÌNH CẤP ĐĂNG KÝ KINH DOANH

HỘ KINH DOANH TẠI PHÒNG KINH TẾ - UBND QUẬN 10 3.1 Sơ lược về Phòng Kinh tế - UBND Quận 10, TP HCM

Sự hình thành và phát triển:

Phòng Kinh tế được thành lập theo Quyết định số: 4465/QĐ-UBND ngày11/6/2008 của Ủy ban nhân dân quận về việc thành lập Phòng Kinh tế trực thuộcUBND Quận 10

Vị trí và Chức năng:[20]

Phòng Kinh tế quận 10 là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dânquận; chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện về tổ chức, biên chế và côngtác của Ủy ban nhân dân quận 10; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra vềchuyên môn nghiệp vụ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở CôngThương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư Phòng Kinh tếquận 10 có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng

Phòng Kinh tế quận 10 có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dânquận thực hiện quản lý nhà nước về các lĩnh vực: tiểu thủ công nghiệp; khoa học

và công nghệ; công nghiệp; thương mại; dịch vụ; quản lý năng lượng; đăng kýkinh doanh; tổng hợp, thống nhất quản lý về kinh tế hợp tác xã, kinh tế tập thể,kinh tế tư nhân; nông nghiệp và phát triển kinh tế hộ

Nhiệm vụ và Quyền hạn: [21]

Phòng Kinh tế Quận 10 có nhiệm vụ và quyền hạn thuộc các nhóm lĩnh vựcsau đây:

1 Nhiệm vụ và quyền hạn chung thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước được giao

2 Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân

3 Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về khoa học - công nghệ và năng lượng

4 Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về nông nghiệp và phát triển nông thôn

5 Thực hiện một số nhiệm vụ khác

hoạt động của Phòng Kinh tế Quận 10.

hoạt động của Phòng Kinh tế Quận 10.

Trang 16

Bộ máy nhân sự:

Biên chế Phòng Kinh tế hiện nay gồm 09 đồng chí gồm:

+ Lãnh đạo phòng: 04 đồng chí

- Đồng chí Vũ Anh Khoa- Trưởng phòng

- Đồng chí Nghiêm Minh Huấn - Phó trưởng phòng

- Đồng chí Nguyễn Chiến Quốc - Phó trưởng phòng

- Đồng chí Lê Thị Bảo Anh - Phó trưởng phòng

+Chuyên viên: 05 người:

- Năm 2007: Cờ thi đua “Đơn vị xuất sắc” của UBND Thành phố Hồ Chí Minh;

- Năm 2009: Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ;

- Năm 2010: Huân chương Lao động - Hạng III;

- Năm 2011: Chứng nhận “Tập thể lao động xuất sắc”

Thông tin liên hệ:

Địa chỉ: (Phòng 14) 474 đường Ba Tháng Hai, P.14, Q10 TP.HCM

Là một đô thị lớn nhất Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh mang đầy đủ dấu ấn của

sự bất cập và chịu ảnh hưởng nặng nề từ những cơ chế vận hành của nền kinh tếbao cấp, kế hoạch hóa tập trung cả một thời gian dài, thể hiện ở nhiều lĩnh vực,trong đó có vấn đề tổ chức bộ máy, nguyên tắc hoạt động, hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức Sự yếu kém trong hoạt động quản

Trang 17

lý nhà nước ở một số ngành và địa phương đã tạo ra những hạn chế cho phát triểnkinh tế, thậm chí còn gây cản trở, kìm hãm, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dânđối với chính quyền Trước yêu cầu, đòi hỏi bức xúc của đời sống xã hội và sựphát triển nền kinh tế Thành phố, Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhândân Thành phố Hồ Chí Minh đã sớm có chủ trương và chỉ đạo tiến hành cải cách

hệ thống bộ máy nhà nước và phương thức hoạt động, nhằm tìm giải pháp từngbước và đồng bộ cho công cuộc cải cách hành chính của Thành phố, với mục tiêu

cơ bản là xây dựng một bộ máy hành chính nhà nước có năng lực, hiệu lực vàhiệu quả

Dưới góc độ quản lý chất lượng hành chính công, hoạt động “Cải cách hànhchính” đã thể hiện hiệu lực và hiệu quả bằng chính chất lượng của công việc vàcách thức làm việc của cán bộ công chức trong cơ quan nhà nước Đây chính là

sự gặp nhau giữa yêu cầu bức thiết của cải cách hành chính với giải pháp về quản

lý chất lượng trong dịch vụ hành chính công Chính từ việc nhận thức rõ quản lýchất lượng là cần thiết đối với quá trình cải cách hành chính mà trong những nămqua, một số cơ quan hành chính của Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu coi việc

áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 và sau này là ISO 9001 vào dịch

vụ hành chính công là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho cải cáchhành chính thành công

Trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, việc áp dụng hệ thống quản lýchất lượng này tuy còn rất mới mẻ, song qua thực tiễn thí điểm ở một số đơn vị

có thể khẳng định rằng việc ứng dụng ISO 9001:2008 trong hoạt động quản lýnhà nước và phục vụ công là có hiệu quả thiết thực và cần thiết, hơn nữa nó cũngphù hợp với đòi hỏi thực tế và xu thế của nền hành chính phát triển hiện đại.Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 của Thủ tường Chính phủ

về việc áp dụng hế thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước được xem nhưbước đi đầu tiên từ cấp lãnh đạo cao nhất trong việc hiện thực hóa công tác cảicách hành chính công Trên tinh thần chung đó, UBND Quận 10 Tp Hồ ChíMinh đã quyết định lựa chọn và áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến vào công tácquản lý của mình Đây được coi như một bước đột phá thực sự để cam kết đi đến

Trang 18

cùng 2 tôn chỉ: “hướng vào khách hàng” (công dân và tổ chức), “đúng luật” trongquá trình cung cấp dịch vụ công tại UBND Quận 10 nói riêng và hệ thống dịch

vụ công tại Tp Hồ Chí Minh nói chung Ngày 06/07/2009, Chủ tịch UBNDQuận 10 ký Quyết định số 3622/QĐ-UBND về việc ban hành hệ thống tài liệu vàtiếp tục áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 Sau đó nhằm kịpthời cập nhật bổ sung thêm những bước cải tiến mới, Quyết định số 1044/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND Quận 10 về ban hành hệ thống tài liệu của

hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 được banhành và áp dụng cho đến nay

Việc Cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, đăng ký thay đổi nộidung đăng ký hộ kinh doanh là 1 trong 18 hoạt động hành chính của UBNDQuận 10 được quy định áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 vớiphương châm:

“CÔNG KHAI, MINH BẠCH VÀ CẢI CÁCH

VÌ NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN” [22]

Như vậy, có thể khẳng định rằng quy trình Cấp giấy chứng nhận đăng ký hộkinh doanh, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký hộ kinh doanh tại UBND Quận

10 hiện nay đang triển khai được áp dụng hoàn toàn dựa trên hệ thống quản lýchất lượng ISO 9001:2008

3.2.1.a Cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh

Quy trình các bước thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh (TCVN ISO 9001:2008 ).

Bước 1: Nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng Ủy ban

nhân dân Quận (trong giờ hành chính từ thứ hai đến thứ sáu và sáng thứ bảy hàng

tuần) : (01 ngày)

a) Khi nhận hồ sơ cán bộ tiếp nhận kiểm tra tính đầy đủ và hợp lệ của cácgiấy tờ trong hồ sơ, đối chiếu với bản chính chứng minh nhân dân, đối với trườnghợp đi thay phải có giấy ủy quyền hợp lệ theo quy định của pháp luật

UBND Quận 10).

Trang 19

- Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, hợp lệ hoặc kê khai không rõ ràng, chínhxác phải giải thích lý do và yêu cầu chủ hộ kinh doanh thực hiện bổ sung đầy đủ,

rõ ràng, chính xác mới nhận hồ sơ

- Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân Quậntiếp nhận hồ sơ xem xét ngành nghề đăng ký kinh doanh có thuộc ngành nghề bịtạm ngưng, cấm kinh doanh Nếu thuộc diện bị cấm kinh doanh, Bộ phận tiếpnhận và trả kết quả có trách nhiệm giải thích và từ chối nhận hồ sơ của ngườiđăng ký kinh doanh

- Khi hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ thì Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộcVăn phòng Ủy ban nhân dân Quận ghi biên nhận cho người nộp

- Thành phần hồ sơ:

+ Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh (theo mẫu)

+ Bản photo Giấy chứng minh nhân dân (kèm bản chính để đối chiếu).+ Bản sao hợp lệ Chứng chỉ hành nghề (đối với những ngành nghề phải cóchứng chỉ hành nghề)

+ Bản sao hợp lệ văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan tổ chức cóthẩm quyền (đối với những ngành nghề phải có vốn pháp định)

Nếu sau 05 ngày làm việc kể từ ngày hồ sơ được nhận mà người đăng ký kinh doanh không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc không nhận được thông báo, yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký kinh doanh thì người đăng ký kinh doanh có quyền khiếu nại theo Luật Khiếu nại, Tố cáo.

Bước 2: Thụ lý và giải quyết hồ sơ (phòng Kinh tế): (02 ngày)

Trang 20

a) Cán bộ phòng Kinh tế thụ lý hồ sơ (được giao nhiệm vụ cấp GCNĐKKD

Hộ kinh doanh) tiếp nhận và kiểm tra nội dung hồ sơ từ cán bộ tiếp nhận hồ sơchuyển qua (trong ngày)

- Cán bộ phòng Kinh tế thụ lý hồ sơ thẩm tra hồ sơ, căn cứ pháp luật hiệnhành quy định về việc cấp GCN ĐKKD; quy định về điều kiện kinh doanh đốivới ngành nghề kinh doanh có điều kiện; quy hoạch của Thành phố và Quận vềmột số ngành nghề dịch vụ thương mại, văn hóa – xã hội dễ phát sinh tện nạn xãhội trên địa bàn

b) Đối chiếu các quy định pháp luật liên quan Nếu cần thiết trao đổi chuyênmôn với phòng ban chuyên môn thì phải lập phiếu trao đổi ghi rõ nội dung cụ thểtrình Trưởng phòng ký phát hành, sau đó trực tiếp theo dõi đôn đốc việc phúcđáp trong 01 ngày Nếu quá thời gian quy định 01 ngày mà chưa có phúc đáp thìbáo cáo Trưởng phòng xử lý tiếp

c) Hồ sơ đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cán bộthụ lý lập tờ trình, dự thảo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh thông quaTrưởng phòng ký “nháy”, trình Ủy ban nhân dân Quận ký ban hành giấy chứngnhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc nếu hồ sơ không đủ điều kiện thì lập dự thảocông văn trả lời thông qua Trưởng phòng ký “nháy”, trình Ủy ban nhân dân quận

ký công văn trả lời người đăng ký kinh doanh

Bước 3: Trình Lãnh đạo UBND Quận ký ban hành: (02 ngày)

Phòng Kinh tế chuyển toàn bộ hồ sơ gồm tờ trình, dự thảo Giấy chứng nhậnđăng ký hộ kinh doanh hoặc dự thảo công văn trả lời về việc không cấpGCNĐKKD Hộ kinh doanh cho tổ Thư ký của lãnh đạo quận để lãnh đạo Quận

ký ban hành

Bước 4: Trả kết quả - Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả:

a) Sau khi GCN ĐKKD Hộ kinh doanh hoặc văn bản trả lời về việc khôngcấp GCN ĐKKD Hộ kinh doanh đã được lãnh đạo Quận ký, tổ thư ký chuyển trả

hồ sơ về cho Cán bộ phòng Kinh tế thụ lý hồ sơ

Trang 21

b) Cán bộ phòng Kinh tế thụ lý hồ sơ tiến hành tiếp nhận hồ sơ từ tổ thư kýsau đó tiến hành lưu trữ vào hệ thống dữ liệu quản lý hành chính về đăng ký kinhdoanh.

c) Sau đó, Cán bộ phòng Kinh tế thụ lý hồ sơ chuyển toàn bộ hồ sơ đã giảiquyết về cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dânQuận Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả kiểm tra lần cuối các hồ sơ phải trả, pháthành Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, biên bản tiếp nhận Giấy chứngnhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc thông báo kết quả giải quyết hồ sơ cho chủ hộkinh doanh, hướng dẫn chủ hộ kinh doanh đóng lệ phí, kiểm tra biên lai đóng lệphí, thu lại giấy biên nhận đồng thời yêu cầu chủ hộ kinh doanh ký tên vào sổtheo dõi theo quy định

d) Tổng thời gian giải quyết là 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ

đầy đủ và hợp lệ.[23]

Mô tả quy trình theo sơ đồ:

23 [] Điều 9 Quy chế hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 ban hành kèm theo QĐ số 1044/ QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND Quận 10.

Tiếp nhận hồ sơ tại

Lãnh đạo UBND Quận xem xét và ký ( 2 ngày )

Phòng Kinh tế tiếp nhận lại hồ sơ; tiến hành lưu trữ vào hệ thống dữ liệu quản lý hành chính về

Trang 22

Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 vào quy trình cấp

GCN ĐKKD Hộ kinh doanh rõ ràng đã thể hiện rõ phương châm “Vì dân phục vụ” trong việc nâng cao chất lượng trong dịch vụ hành chính công Ngoài ra, tạo

điều kiện cho cấp lãnh đạo Quận và phường kiểm soát được quá trình giải quyếtcông việc trong nội bộ cơ quan, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả củacông tác quản lý và cung cấp cách hoạt động hành chính Tuy nhiên, thực tế saukhi chủ hộ kinh doanh tiến hành thực hiện các thủ tục và nhận được GCN ĐKKD

Hộ kinh doanh thì chủ hộ kinh doanh phải tiếp tục thực hiện việc qua cơ quanThuế để tiến hành đăng ký cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế (GCN ĐKT) và để

được cấp mới mã số thuế (đối với trường hợp chưa có mã số thuế) và khi đã có

GCN ĐKT bao gồm mã số thuế và GCN ĐKKD thì hộ kinh doanh mới chính

thức đi vào hoạt động ( Trừ một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện như kinh

doanh rượu, thuốc lá…, sau khi được cấp GCN ĐKKD và GCN ĐKT thì chủ hộ kinh doanh phải tiến hành xin cấp phép kinh doanh Phòng Kinh tế Quận sẽ tiến hành thẩm định điều kiện kinh doanh, nếu đáp ứng đầy đủ thì sẽ tiến hành cấp

Trang 23

giấy phép kinh doanh Lúc đó, những ngành nghề kinh doanh có điều kiện mới được phép đi vào hoạt động ) Thời gian cơ quan Thuế tiến hành xem xét và cấp

GCN ĐKT theo quy định là 10 ngày như vậy chủ hộ kinh doanh phải mất 15ngày để hộ kinh doanh mình đi vào hoạt động

Xuất phát từ bất cập về thời gian hộ kinh doanh có đầy đủ điều kiện để đivào hoạt động và những khó khăn trong việc thống kê phân tích số liệu tình trạngđang hoạt động, ngưng nghỉ theo từng loại ngành nghề, từng khu vực Đứngtrước yêu cầu đẩy mạnh công tác cải cách hành chính nhằm xây dựng nền hànhchính “phục vụ”, cung cấp các “dịch vụ công” văn minh hiện đại đến với ngườidân và nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT vào công tác quản lý Nhà nước gópphần thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển Để hiện thực hóa những vấn đềtrên bắt đầu từ tháng 4/2010 [24] Phòng Kinh tế - UBND Quận phối hợp với Bộphận tiếp nhận và trả kết quả và Chi Cục Thuế Quận 10 tiến hành thực hiện cơchế “một cửa liên thông”[25] trong việc cấp GCN ĐKKD hộ kinh doanh và GCNĐKT Cơ chế này được thực hiện liên thông theo hướng toàn diện, nghĩa là khitrả kết quả cho người dân thì đó là kết quả cuối cùng, người dân không phải tiến

hành thực hiện thêm bất cứ một khâu thủ tục nào nữa (trong trường hợp ngành

nghề kinh doanh không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện).

Quy trình phối hợp thực hiện “Một cửa liên thông” trong cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh (TCVN ISO 9001:2008) và Giấy chứng nhận đăng ký thuế

“một cửa liên thông” trong hoạt động cấp GCN ĐKKD Hộ kinh doanh và GCN Đăng ký thuế.

ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước

ở địa phương.

Ngày đăng: 18/04/2017, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam”, Văn kiện Đảng toàn tập (1976), NXB Sự thật, Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, “Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam”, Văn kiện Đảng toàn tập
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1976
4. Ngô Huy Cương (Tháng 04 /2009), “Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập” Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học số 25, tr. 234-245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích pháp luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập
5. Hệ thống tài liệu của hệ thống quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2008 - Ủy ban nhân dân Quận 10, TP.HCM (Documentation of ISO 9001:2008 Quality Management System).Các văn bản pháp luật:6. Luật doanh nghiệp 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật
16. U.S Small Business Administration (SBA), “Article Sole Proprietorship”, Starting a Business, được download tại địa chỉ http://sba.gov/content/sole- proprietorship-0 vào ngày 22/03/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Article Sole Proprietorship
17. Small Business Development Corporation (SBDC), “Sole Trader”, Business Structures, được download tại địa chỉhttp://smallbusiness.wa.gov.au/sole-trader/ vào ngày 22/03/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sole Trader
1. Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại (tập 1), Nhà xuất bản công an nhân dân Khác
3. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10 của Đảng cộng sản Việt Nam (2006) Khác
7. Nghị định số 05/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09/01/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2013 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh Khác
8. Nghị định 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp Khác
9. Thông tư 14/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 04 tháng 6 năm 2010 hướng dẫn hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp Khác
10. Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế về việc đăng ký thuế Khác
11. Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29 tháng 4 năm 2009 của Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình quản lý đăng ký thuế Khác
12. Thông tư số 176/2012/TT-BTC ngày 22 tháng 5 năm 2012 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh và phí cung cấp thông tin doanh nghiệp Khác
13. Nghị định 59/2006-NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Khác
14. Nghị định số 40/2008/NĐ-CP ngày 7 tháng 4 năm 2008 của Chính phủ về sản xuất kinh doanh rượu.Trang Khác
15. Nghị định 14/2008/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 12/2010/NĐ- CP của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnhTiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w