BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 LÊ THU THẢO PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THU THẢO
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN
Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LÊ THU THẢO
PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN
Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2
Chuyên ngành : Giáo dục học (tiểu học)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Hiền Lương
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Hiền Lương - người cô đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Phòng Sau Đại học, các Phòng – Ban chức năng đã hỗ trợ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp Giáo dục học (bậc tiểu học), những thầy cô đã truyền dạy cho em bao kiến thức bổ ích
Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các em học sinh ở trường thực nghiệm cùng tất cả bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Lê Thu Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, căn cứ, kết quả có trong luận văn là trung thực
Đề tài này chưa được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thu Thảo
Trang 5
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
VD : Ví dụ
Trang 6
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Những đóng góp của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận 5
1.1.1 Khái niệm văn bản và các thể loại văn bản 5
1.1.2 Tạo lập văn bản 10
1.1.3 Khái niệm sáng tạo và sáng tạo trong tạo lập văn bản 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Chuẩn kĩ năng môn Tiếng Việt và yêu cầu tạo lập văn bản đối với học sinh lớp 2 14
1.2.2 Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và nội dung dạy học tạo lập văn bản 17
1.2.3 Thực trạng và kết quả dạy học tạo lập văn bản ở lớp 2……23
Chương 2: BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 30
2.1 Một số biện pháp giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo trong viết văn miêu tả 30
Trang 72.1.1 Biện pháp giúp học sinh sáng tạo trong việc hình thành phát
triển ý tưởng 30
2.1.2 Biện pháp giúp học sinh sáng tạo trong tạo lập văn bản 34
2.1.3 Xây dựng một số bài tập giúp học sinh sáng tạo trong tạo lập văn bản miêu tả 43
2.2 Một số biện pháp giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo trong viết văn kể chuyện 51
2.2.1 Biện pháp giúp học sinh sáng tạo trong việc hình thành phát triển ý tưởng 51
2.2.2 Biện pháp giúp học sinh sáng tạo trong tạo lập văn bản 56
2.2.3 Xây dựng một số bài tập giúp học sinh sáng tạo trong tạo lập văn bản kể chuyện 62
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 71
3.2 Đối tượng và phạm vi thực nghiệm sư phạm 71
3.3 Kế hoạch và cách thức thực nghiệm 72
3.4 Nội dung thực nghiệm 73
3.5.Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 73
3.5.1.Những căn cứ để đánh giá kết quả thực nghiệm 73
3.5.2.Kết quả thực nghiệm 74
3.6 Kết luận về thực nghiệm 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, khi thế giới bắt đầu chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức thì tư duy sáng tạo là một năng lực quan trọng của con người hiện đại Nước ta khi bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tất yếu đòi hỏi nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của thời đại Trong bối cảnh đó, ngành Giáo dục có trách nhiệm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó năng lực tư duy sáng tạo cũng được các nhà giáo dục xác định đó là một trong những năng lực cần phát triển cho
HS ở mọi cấp học
Tiểu học là cấp học đầu tiên của bậc phổ thông, là cấp học nền tảng cho
hệ thống giáo dục quốc dân, là tiền đề cho quá trình đào tạo và phát triển năng lực của những công dân tương lai Điều 27, Luật Giáo dục quy định: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cở sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng
cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cở sở” Trong nhiều năm qua giáo dục Việt Nam coi dạy học lấy HS làm trung tâm là một trong những phương pháp cơ bản nhất để đổi mới phương pháp dạy học Theo đó, GV là người gợi
mở, nêu vấn đề để HS chủ động, tự chiếm lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống từ đó tạo
ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Chính vì vậy mục tiêu giáo dục ngày nay chú trọng đến vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, đặc biệt quan tâm đến phát triển năng lực sáng tạo Luật giáo dục
2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học theo
hướng tích cực: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tự giác, tích cực,
chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật giáo dục 2005,
chương I, điều 5)
Trang 9Theo K.A.Usinxki “Trẻ em đi vào đời sống tinh thần của mọi người
xung quanh nó duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đẻ và ngược lại, thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong nó chỉ thông qua công cụ này”
Chính vì vậy tiếng mẹ đẻ là môn học chính ở trường Tiểu học Trong đó phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếng Việt Dạy Tập làm văn là dạy các em tạo lập văn bản, biết diễn đạt ý nghĩ, tình cảm, nhận thức… của mình về cuộc sống, con người và mọi vật xung quanh Việc dạy học sinh tạo lập văn bản giúp các em có ý thức nói và viết gãy gọn, có sức thuyết phục người đọc
Tạo lập văn bản là năng lực giao tiếp quan trọng trong tiếng Việt Trong Chương trình môn Tiếng Việt cấp Tiểu học, nội dung này HS được chính thức học từ lớp 2 Lâu nay, đối với việc Tập làm văn các GV thường hướng dẫn HS làm bài theo một mô típ quen thuộc làm giảm khả năng sáng tạo, trí tưởng tượng của mỗi HS Sau này, mặc dù tinh thần cốt lõi trong chủ trương đổi mới giáo dục là phát huy tính tích cực của người học nhưng trong hoạt động dạy tiếng Việt cũng như hoạt động hướng dẫn tạo lập văn bản vẫn chưa được quan tâm đầy đủ, vẫn chỉ đi vào tái hiện kiến thức mà chưa đi vào phát huy tính sáng tạo của người học Cách dạy như vậy cùng với sự lúng túng của người GV khi định hướng về cách tạo lập sáng tạo chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS có thể viết một văn bản đủ nội dung, đúng trình tự nhưng đó đơn thuần chỉ là những bài tạo lập khô cứng, máy móc
Đối với học sinh lớp 2, phân môn Tập làm văn là môn học mới, khả năng tìm hiểu đề bài của các em còn yếu, câu văn các em viết còn sai ngữ pháp, dùng từ chưa chính xác, ý văn rời rạc, thiếu chặt chẽ, không thể hiện được cảm xúc của mình trong bài
Xuất phát những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển khả năng sáng tạo của học sinh trong tạo lập văn bản ở môn Tiếng Việt lớp 2” Chúng tôi hi vọng đề tài có thể góp phần vào việc nâng cao hiệu
Trang 10quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung và dạy tạo lập văn bản cho HS Tiểu học, đặc biệt là HS lớp 2 nói riêng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến vấn đề tạo lập văn bản để xây dựng cở sở lý luận cho đề tài
- Điều tra khảo sát thực trạng hướng dẫn tạo lập văn bản trong môn Tiếng Việt
- Đề xuất biện pháp phát triển khả năng sáng tạo của HS trong tạo lập văn bản
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm ở một số trường tiểu học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp dạy học tạo lập văn bản trong môn Tiếng Việt lớp 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu hai loại bài: viết đoạn văn miêu tả và kể chuyện trong môn Tiếng Việt lớp 2
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu lý luận
Tập hợp, nghiên cứu các công trình có tính lí luận có liên quan đến kĩ năng tạo lập văn bản
5.2 Nghiên cứu thực tiễn
Tổ chức điều tra khảo sát, phỏng vấn chuyên gia để tìm hiểu thực trạng tạo lập văn bản theo hướng phát huy sáng tạo của người học trong môn Tiếng Việt lớp 2
Trang 116 Giả thuyết khoa học
Nếu biên soạn được nội dung dạy học Tập làm văn và tổ chức, hướng dẫn HS tạo lập văn bản theo hướng phát huy tính sáng tạo thì sẽ giúp các em phát triển năng lực tư duy sáng tạo – một năng lực quan trọng của người công dân trong nền kinh tế tri thức Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học
7 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tạo lập văn bản theo hướng phát huy sáng tạo của người học
- Đề xuất biện pháp phát triển khả năng sáng tạo của HS trong tạo lập văn bản ở môn Tiếng Việt lớp 2
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận nội dung luận văn gồm 3 chương sau đây:
Chương1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Biện pháp giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo trong tạo lập văn bản ở môn Tiếng Việt lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm văn bản và các thể loại văn bản
1.1.1.1 Khái niệm văn bản Văn bản là một trong những đơn vị giao tiếp của con người Có ý kiến cho rằng câu là đơn vị hoàn chỉnh nhất, đơn vị cuối cùng của ngôn ngữ dùng
để giao tiếp Thực tế không phải như vậy, bởi vì đơn vị dùng để giao tiếp là văn bản Khi giao tiếp, người ta tạo ra văn bản và chính các văn bản ấy lại trở thành công cụ chuyển tải các ý tưởng, cảm xúc, làm cho hoạt động giao tiếp được xác lập Như vậy văn bản vừa là sản phẩm, vừa là phương tiện của hoạt động giao tiếp
Trong mỗi văn bản thường có một chuỗi câu Trong chuỗi câu đó, mỗi câu là một ý, nhưng các ý liên quan với nhau đều hướng đến một nội dung khái quát tạo nên một thông tin trọn vẹn, logic Về hình thức, văn bản có cấu trúc rõ ràng, mạch lạc và hoàn chỉnh: có tiêu đề, có phần mở, phần thân và phần kết
Như vậy, văn bản là một tập hợp câu kết hợp theo một phương thức nhất định nhằm xác lập một thông tin trọn vẹn
Hiện tại, khái niệm văn bản được hiểu theo nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, văn bản chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ở cả hai hình thức nói và viết, còn theo nghĩa hẹp, văn bản chỉ sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ tồn tại ở dạng viết Liên quan đến văn bản còn có các khái niệm ngôn bản, diễn ngôn, v.v…
Hiện có khá nhiều định nghĩa về văn bản, như:
Trang 13- “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức,
bên ngoài ngữ cảnh” (Cook, 1989 - dẫn theo Diệp Quang Ban)
- “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và
có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp” (W Koch, 1966)
- “Văn bản là điều thông báo viết có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về ý
và cấu trúc và thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo…
Về phương diện cú pháp, văn bản là một hợp thể gồm nhiều câu (có khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng – ngữ pháp” (L.M Loseva, 1980)
- “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hình thức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp Dạng tồn tại điển hình của văn bản là dạng viết” (Nguyễn Quang Ninh, 1994)
Trong phạm vi đề tài luận văn, chúng tôi quan niệm rằng văn bản là
một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định
1.1.1.2 Các thể loại văn bản Dựa vào hình thức tồn tại, có 2 loại văn bản: văn bản dạng nói và văn
bản dạng viết
- Văn bản dạng nói (văn bản hội thoại) bao gồm các cuộc trò chuyện hàng ngày, đàm phán, thảo luận, giảng bài, phát biểu ý kiến, v.v Ngôn ngữ dạng nói ngắn gọn, tỉnh lược, nói lửng, không liên tục, sử dụng ngữ điệu tự nhiên, sinh động, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ bổ trợ (cử chỉ điệu bộ, nét mặt, ánh mắt, tư thế cơ thể, v.v.)
- Văn bản dạng viết (văn bản diễn thoại) bao gồm các loại văn bản được viết, in ấn trên các chất liệu có mặt phẳng, trên vi tính, v.v… Đặc điểm
Trang 14ngôn ngữ: từ ngữ sách vở, trau chuốt văn vẻ, câu văn thường mở rộng, thường xuyên sử dụng các phương tiện liên kết, v.v
Dựa vào phong cách chức năng, có các loại: văn bản hành chính, văn
bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản báo chí, văn bản nghệ thuật Cụ
thể là:
- Văn bản hành chính là loại văn bản dùng trong các hoạt động tổ chức,
quản lí, điều hành xã hội, phục vụ giao tiếp trong lĩnh vực hành chính - công
vụ (giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, giữa các tổ chức với nhau, và với nhân dân, v.v.) Văn bản hành chính gồm có các loại: văn bản quy phạm pháp luật (hiến pháp, các bộ luật, nghị định, chỉ chị, thông tư, v.v.), văn bản chuyên môn (gắn với các lĩnh vực, các ngành), văn bản hành chính thông thường (đơn từ, biên bản, đề án, hợp đồng, báo cáo, công văn, văn bằng, chứng chỉ, v.v…) Đặc điểm cơ bản của văn bản hành chính: tính quy phạm, khuôn mẫu, tính chính xác, minh bạch và nghiêm túc, tính hiệu lực cao Về đặc điểm ngôn từ, văn bản hành chính sử dụng phổ biến các danh từ riêng, các tổ hợp từ chỉ tên riêng (chỉ người, tổ chức, địa danh, tên người gọi theo chức trách trong quan hệ hành chính - công
vụ, v.v.), sử dụng thường xuyên các quán ngữ, những từ ngữ thuộc thể thức công vụ, sử dụng phổ biến lớp từ Hán - Việt Từ ngữ được sử dụng trong văn bản hành chính đòi hỏi chính xác, chặt chẽ, đơn nghĩa, trung hòa biểu cảm
Về cú pháp và diễn đạt, chỉ sử dụng câu tường thuật và câu cầu khiến, có thể
sử dụng kết hợp câu đơn và câu phức, dùng câu không đầy đủ thành phần ngữ pháp, có thể có những quy định về chữ viết, cách bố trí văn bản Văn bản hành chính thường trình bày theo lối diễn dịch, hoặc quy nạp
- Văn bản khoa học là những văn bản phản ánh hoạt động trí tuệ, nhận
thức, có chức năng chủ yếu là thông báo và chứng minh, dùng trong lĩnh vực hoạt động khoa học Văn bản khoa học gồm có các loại: các văn bản chuyên
Trang 15sâu (công trình khoa học, chuyên luận, luận án, luận văn, v.v.), các văn bản giáo khoa (giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu dạy học, tài liệu tham khảo trong nhà trường, v.v.) các văn bản phổ cập khoa học (bài báo, tài liệu phổ biến, thông báo khoa học, v.v.) Văn bản khoa học có tính trừu tượng - khái quát, bởi chức năng của nó là thông báo, chứng minh chân lí, những tính quy luật phát hiện bằng tư duy khoa học Văn bản khoa học còn có tính chính xác
- khách quan và tính logíc nghiêm ngặt (duy lí) vì nó được xây dựng bằng những phán đoán, suy lí chính xác, logíc Về đặc điểm ngôn từ, các từ ngữ có nghĩa chính xác, đơn nghĩa, trung hòa về biểu cảm, sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành, những từ công cụ, từ có nghĩa trừu tượng Từ loại được dùng phổ biến là danh từ (xu hướng định danh hóa các sự kiện, hoạt động, tính chất, v.v.) và đại từ (thường mang ý nghĩa khái quát, dùng chủ yếu ngôi ba và ngôi nhất số nhiều) Về cú pháp, câu văn trong văn bản khoa học có kết cấu chặt chẽ, rõ ràng (có thể dùng cả câu khuyết chủ ngữ hoặc chủ ngữ không xác định), sử dụng chủ yếu câu tường thuật Loại câu phức hợp, đặc biệt loại câu ghép chính phụ có các cặp quan hệ từ hô ứng (chỉ quan hệ nguyên nhân, nhượng bộ, tăng tiến, v.v.) cũng được sử dụng rộng rãi Về kết cấu và diễn đạt, văn bản khoa học thường được xây dựng theo một thể thức nghiêm ngặt (chẳng hạn, một bài báo có các phần: 1/ tính thời sự của vấn đề, 2/ trình bày
hệ thống nội dung vấn đề kèm theo phân tích, lí giải, nhận xét, 3/ đưa ra những kết luận (hệ quả của phần thứ hai) Diễn đạt trong văn bản khoa học
phải mạch lạc, khúc chiết, logíc
- Văn bản chính luận là loại văn bản trình bày, giải thích, đánh giá, bày
tỏ thái độ đối với những vấn đề nảy sinh trong đời sống chính trị - xã hội (chiến tranh, hòa bình, lẽ sống, hạnh phúc, lao động, môi trường, v.v.) Văn bản chính luận có chức năng thông tin, tuyên truyền, thuyết phục, đem lại cho người tiếp nhận một cách nhìn, một thái độ Văn bản chính luận gồm có: các
Trang 16văn bản hiệu triệu (báo cáo chính trị, cương lĩnh của một tổ chức, tuyên ngôn độc lập, lời kêu gọi, v.v.); các văn bản bình giá (bình luận, xã luận trên các phương tiện truyền thông, các ý kiến tham luận đại hội, hội nghị, mít tinh, v.v.) Văn bản chính luận có các đặc điểm là tính bình giá công khai (tính khuynh hướng), tính lập luận chặt chẽ (thuyết phục người đọc/người nghe bằng những lí lẽ sắc bén, những dẫn chứng xác thực, sắp xếp bằng một trình
tự mạch lạc) và tính biểu cảm (người viết/nói bộc lộ cảm xúc chân thành, sâu sắc qua các cách diễn đạt sinh động, giàu hình ảnh) Về đặc điểm ngôn từ, ngoài lớp từ toàn dân, còn dùng phổ biến lớp từ chính trị, lớp từ có tính chất thuật ngữ của các ngành khoa học, có thể sử dụng lớp từ ngữ giàu màu sắc tu
từ (từ khẩu ngữ, từ sách vở) Về cú pháp và diễn đạt, văn bản chính luận dùng nhiều câu tường thuật và câu cầu khiến (không dùng câu hỏi và câu cảm thán), kết hợp linh hoạt câu ngắn và câu dài (khẳng định, đánh giá dùng câu ngắn, còn trình bày, bàn luận dùng câu dài) Về cách diễn đạt, văn bản chính luận, một mặt, đòi hỏi trình bày vấn đề mạch lạc, logíc, mặt khác, có thể sử dụng các phương tiện biểu cảm (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ tu từ, v.v.), các biện pháp tu từ (lặp cú pháp, sóng đôi, v.v.)
- Văn bản báo chí là loại văn bản có chức năng cung cấp thông tin thời
sự (cung cấp tin tức, phản ánh công luận, thông tin - quảng cáo) và điều chỉnh
dư luận xã hội Như vậy, văn bản báo chí hướng đến giao tiếp lí trí và tác động trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo viết (ấn phẩm), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình), báo mạng (trực tuyến) Đặc điểm nổi bật của văn bản báo chí là tính thời sự (tin giờ chót, tin cuối ngày, bản tin không giờ, nhật báo, v.v.), tính đại chúng (dành cho số đông, dành cho mỗi tầng lớp người, từng lứa tuổi, v.v.), tính hấp dẫn (bắt mắt bằng nhiều hình thức) Ngôn ngữ báo chí cũng hướng đến những đặc điểm này Về đặc điểm ngôn từ, văn bản báo chí sử dụng phổ biến các danh từ riêng (chỉ người, địa danh) thường sử dụng lớp từ ngữ có cấu tạo đặc biệt thể hiện cảm xúc, có màu
Trang 17sắc biểu cảm rõ rệt (đứng chân, trừng phạt kinh tế, thời cơ và thách thức, dính líu, tiếp tay, trả đũa, thiện chí hòa bình, v.v.) lớp từ nghề nghiệp (giật tít, săn tin, kênh thông tin, hãng tin, đưa tin, tiết lộ, hãng thông tấn, v.v.) Về cú pháp
và diễn đạt, văn bản báo chí sử dụng linh hoạt nhiều kiểu câu cho từng kiểu loại văn bản (VD: câu khuyết chủ ngữ cho văn bản tin) Sử dụng cỡ chữ, kiểu chữ, màu sắc, hình nền khác nhau, sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như
tranh, ảnh, bảng biểu, đồ thị để thể hiện thông tin
- Văn bản nghệ thuật (văn bản văn chương) là loại văn bản thực hiện
chức năng thẩm mĩ thông qua hình tượng văn học nhằm phục vụ cho như cầu nâng cao đời sống tinh thần, bồi dưỡng vẻ đẹp tâm hồn của con người Các loại văn bản nghệ thuật gồm trữ tình (thơ, trường ca), tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, v.v.), kịch, kí Đặc điểm cơ bản của văn bản nghệ thuật: tính hình tượng, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể, tính biểu cảm và thẩm mĩ Do vậy, ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật cũng có tính hình tượng, cụ thể, sinh động
và mang phong cách cá nhân Về đặc điểm ngôn từ, văn bản nghệ thuật sử dụng rộng rãi các lớp từ và các biến thể của từ (từ địa phương, từ thông tục, từ nghề nghiệp, biệt ngữ…), triệt để khai thác tính đa nghĩa của từ, các biện pháp tu từ Về cú pháp, văn bản nghệ thuật sử dụng hết sức linh hoạt các loại, kiểu câu, sử dụng rộng rãi câu đặc biệt, câu bất quy tắc (chệch chuẩn), khai thác tối đa phép biến đổi câu (tách câu, chuyển đổi thành phần câu, v.v.) Cấu trúc câu (cả đoạn văn, văn bản) đều có tính linh hoạt, tất cả hướng đến ý đồ sáng tạo của nhà văn
Trong trường học, HS được tiếp nhận (đọc hiểu) và tạo lập (nói /viết) nhiều kiểu loại văn bản trong số những văn bản nói trên
1.1.2 Tạo lập văn bản
1.1.2.1 Khái niệm tạo lập văn bản
Trong đời sống, mỗi khi cần trình bày ý kiến, nguyện vọng, trao đổi…thì người ta có nhu cầu tạo lập văn bản
Trang 18VD: khi viết thư cho ai đó, điều thôi thúc người ta phải viết thư là do một trong hai người ( hoặc cả hai) có nhu cầu trao đổi tình cảm, công việc hoặc vấn đề nào đó mà chủ thể ( người viết thư) hoặc đối tượng ( người nhận thư) quan tâm
Trong các tiết tập làm văn HS đã tạo ra những văn bản về miêu tả quê hương mình để bạn bè thấy cái đẹp, cái đáng nhớ nơi sinh ra và lớn lên của mình Có những văn bản giãi bày tình cảm của những con người với quê hương nơi đang sống và trăn trở với bao nỗi buồn, vui…
Hay người mẹ dùng lời hát ru để truyền vào hồn bé thơ của bằng lời kể
về công ơn cha mẹ Lời hát ru vừa truyền tải ý tình của người mẹ vừa làm cho con dễ đi vào giấc ngủ ngon
Như vậy có thể hiểu tạo lập văn bản là tạo ra một văn bản (tự sự, miêu
tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh,…) ở dạng nói hoặc viết, hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, thể hiện cách tổ chức, xây dựng văn bản đúng quy cách và có ý nghĩa
1.1.2.2 Quy trình tạo lập văn bản
Khi có nhu cầu tạo lập văn bản, người ta phải tiến hành theo quy trình sau:
a) Định hướng tạo lập văn bản Đây là khâu quan trọng, có ý nghĩa tiên quyết đối với việc tạo lập một văn bản Để định hướng cho quá trình tạo lập văn bản, cần phải xác định các vấn đề xoay quanh những câu hỏi sau:
- Viết cho ai? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được đối tượng giao tiếp cần hướng tới
- Viết để làm gì? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được mục đích của việc tạo lập văn bản, chủ đề cần hướng tới
Trang 19- Viết về cái gì? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được đề tài, nội dung cụ thể của văn bản
- Viết như thế nào? Câu hỏi này giúp cho người tạo lập văn bản xác định được cách thức tạo lập, các phương tiện biểu đạt gắn với nội dung cụ thể
đã được định hình, hình thức ngôn ngữ để biểu đạt nội dung ấy một cách hiệu quả nhất
b) Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý
Từ những nội dung đã xác định được trong bước định hướng, đến đây, người tạo lập văn bản tiến hành thiết lập hệ thống các ý, sắp xếp chúng theo
bố cục hợp lí, đảm bảo liên kết nội dung, mạch lạc văn bản
c) Viết thành văn bản hoàn chỉnh Đây là khâu trực tiếp cho ra "sản phẩm" Người tạo lập văn bản dùng lời văn của mình diễn đạt các ý thành câu, đoạn, phần hoàn chỉnh Ở bước này, các phương tiện liên kết hình thức được huy động để triển khai chủ đề, thể hiện liên kết nội dung, đảm bảo mạch lạc cho văn bản Việc viết thành văn cần đạt được tất cả các yêu cầu: đúng chính tả, đúng ngữ pháp, dùng từ chính xác, sát bố cục,
có tính liên kết, mạch lạc, kể chuyện hấp dẫn, lời văn trong sáng
d) Kiểm tra lại văn bản
Đây là khâu cuối cùng của quá trình tạo lập văn bản "Sản phẩm" phải được kiểm tra lại, điều chỉnh những nội dung, cách diễn đạt chưa hợp lí, sửa các lỗi về dùng từ, đặt câu, viết đoạn, chuyển ý,
Như vậy, một bài làm văn nói chung gắn liền với bao nhiêu yếu tố: xa gần, trực tiếp, gián tiếp về văn hóa, về tính cách, về cá tính của mỗi con người, là một thử thách toàn diện con người về vốn sống, vốn văn hóa, năng lực tư duy, nhân cách Và muốn tạo lập một văn bản cũng phải trải qua những giai đoạn cụ thể Nắm được điều này người GV cần có những biện pháp dạy học tạo điều kiện cho HS thực sự được sáng tạo, được bộc lộ con người cá
Trang 20nhân và biết tự nhìn thấy những yếu kém, hạn chế cũng như khả năng, năng lực của bản thân để ngày một tự hoàn thiện mình
1.1.3 Khái niệm sáng tạo và sáng tạo trong tạo lập văn bản
1.1.3.1 Khái niệm sáng tạo
“Sáng tạo” là vấn đề được nhiều ngành khoa học nghiên cứu trên các góc độ khác nhau Trước đây, các nhà khoa học thường gắn “sáng tạo” với những thiên tài và tài năng trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật
Theo định nghĩa trong từ điển thì sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết vấn đề mới không bị gò bó và phụ thuộc vào cái đã có Nội dung của sáng tạo gồm hai ý chính có tính mới (khác cái cũ, cái đã biết) và có lợi ích (giá trị hơn cái cũ)
Theo từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô tập 42 thì sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất, có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị
Theo từ điển triết học sáng tạo là quá trình, hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất
Như vậy sự sáng tạo cần thiết cho bất kì hoạt động nào của xã hội loài người Sáng tạo thường được nghiên cứu trên nhiều phương diện như là một quá trình phát sinh cái mới trên nền tảng cái cũ, như một kiểu tư duy, như là một năng lực của con người
Qua tìm hiểu các khái niệm về sáng tạo của các nhà nghiên cứu, theo chúng tôi sáng tạo có thể là: tất cả những gì được viết ra bằng suy nghĩ, bằng cảm xúc, bằng vốn từ, bằng cách diễn đạt của mình mà không sao chép từ người khác đều được gọi là sáng tạo
1.1.3.2 Quan niệm về sáng tạo trong tạo lập văn bản Hiện nay, sáng tạo là một trong các yêu cầu của dạy học tạo lập văn bản Viết sáng tạo cũng như nói sáng tạo nhằm góp phần hình thành cho HS
Trang 21năng lực chung là năng lực sáng tạo, một năng lực cốt lõi rất cần cho HS trong giai đoạn phát triển của cuộc sống hiện đại Từ trước đến nay chúng ta thường chú ý đến bài văn hay Nhưng thế nào là hay thì phụ thuộc khá nhiều vào cách nghĩ, cách cảm nhận hay “cái gu” thưởng thức của từng cá nhân mỗi người nên nhiều khi chúng ta đánh giá bài văn vẫn nặng về cảm tính, chủ quan Vì vậy mà yêu cầu sáng tạo khi tạo lập văn bản được thể hiện rõ hơn
Đó là phải có cái mới, phải có yếu tố mới cho dù nhỏ: mới về ý tưởng (nội dung), mới về cách biểu đạt (hình thức) Tuy nhiên để có sáng tạo là rất khó, cần phải tập dần, yêu cầu sáng tạo dần, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
*
* * Những điều đã trình bày ở phần cơ sở lí luận cho thấy những kiến thức
về văn bản, tạo lập văn bản, kiến thức về sáng tạo, sáng tạo trong tạo lập văn bản là những nhân tố quan trọng khi rèn luyện HS viết Việc làm này không chỉ bắt đầu từ bài dạy tập làm văn mà phải bắt đầu ở cả các bài luyện ở nhiều môn học khác Phải tập cho các con không chỉ tạo lập được những văn bản đúng, đủ câu…mà còn phải biết viết những văn bản hay, sáng tạo, độc đáo…
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Chuẩn kĩ năng môn Tiếng Việt và yêu cầu tạo lập văn bản đối với học sinh lớp 2
Theo Chuẩn kiến thức – kĩ năng môn Tiêng Việt lớp 2 HS cần đạt được
các yêu cầu tối thiểu về kĩ năng sử dụng tiếng Việt như sau:
- Đọc đúng và trôi chảy một đoạn văn, bước đầu biết đọc thầm và hiểu
ý chính của đoạn văn
- Viết đúng và đều nét chữ thường, chữ hoa, các tiếng, từ, cây Viết đúng chính tả và tự viết được một đoạn văn ngắn
Trang 22- Nghe và hiểu những văn bản ngắn, biết cách đối đáp trong giao tiếp,
kể lại được một câu chuyện ngắn
- Nói rõ ràng và mạch lạc, biết tự giới thiệu về mình, biết cách chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi…
Trong các kĩ năng nói trên, kĩ năng tạo lập văn bản là kĩ năng quan trọng Một văn bản tạo lập được cần đạt được những yêu cầu sau:
- Văn bản phải đảm bảo tính mạch lạc và liên kết
+ Mạch lạc: là sự thống nhất, liên kết về nội dung, về nghĩa của văn bản Tính mạch lạc thể hiện ở sự thống nhất về đề tài, nhất quán về chủ đề và
sự chặt chẽ về lôgic Trong văn bản, sự chặt chẽ lôgíc thường được đảm bảo bằng hệ thống các từ quan hệ, từ ngữ chuyển tiếp và sự sắp xếp trật tự từ, trật
tự câu trong văn bản đó Sự thống nhất đề tài, chủ đề và sự chặt chẽ lôgíc sẽ tạo thành tính mạch lạc cho văn bản
VD: Sau trận mưa rào, mọi vật đều sáng và tươi (1) Những đoá hoa râm bụt thêm màu đỏ chói (2) Bầu trời xanh bóng như vừa được gội rửa (3) Mấy đám mây bông trôi nhởn nhơ, sáng rực lên trong ánh mặt trời (4)
+ Tính liên kết: Văn bản muốn có tính liên kết phải dựa vào các phương tiện liên kết và phép liên kết trong văn bản Liên kết các câu trong đoạn văn: Văn bản thường bao gồm nhiều câu tạo thành một chỉnh thể Tuy nhiên đây không phải là sự ghép nối theo phép cộng đơn giản của các câu rời rạc mà đòi hỏi giữa các câu có sự liên kết Nếu từng câu có cấu tạo ngữ pháp đúng, thể hiện hợp lý nội dung thông báo nhưng giữa chúng không có mối liên hệ nào thì không thể tạo thành văn bản được Liên kết chủ đề chung và chủ đề bộ phận: Chủ đề chung phải được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ văn bản thông qua các chủ đề bộ phận Chủ đề bộ phận là sự cụ thể hóa chủ
đề chung (mối quan hệ giữa khái quát và cụ thể)
Trang 23VD: Từ trong quả bầu, những con người bé nhỏ nhảy ra (1) Người Khơ-mú nhanh nhảu ra trước (2) Tiếp đến, người Thái, người Tày, người Nùng, người Mường, người Dao, người Hmông, người Ê-đê, người Ba-na, người Kinh,…lần lượt ra theo (3) Đó là tổ tiên của các dân tộc anh em trên đất nước ta ngày nay (4)
- Văn bản phải có mục đích giao tiếp thống nhất Văn bản tạo ra đều hướng vào mục đích nhất định như:
+ Nhận thức trao đổi thông tin
+ Biểu lộ tình cảm quan hệ thái độ
+ Thống nhất hành động, điều khiển hoạt động
Văn bản luôn phải hướng vào mục đích nhất quán Do vậy khi viết người viết phải xác định thật rõ mục đích giao tiếp, đối tượng giao tiếp để từ
đó hình thành nội dung, phong cách viết (Viết để làm gì? viết cho ai? Viết cái gì? Viết như thế nào?)
- Văn bản phải có một kết cấu rõ ràng Văn bản thường kết cấu gồm 3 phần:
+ Phần mở đầu: có nhiệm vụ giới thiệu đề tài để xác lập mối quan hệ giữa tác giả với đối tượng giao tiếp Phần này thường là một số nhận định khái quát những vấn đề sẽ được trình bày, nêu lên chủ đề chung và chủ đề bộ phận, nêu vắn tắt phương hướng hay nguyên tắc được chọn làm cơ sở để giải quyết vấn đề
+ Phần phát triển: Là phần trọng tâm của văn bản có nhiệm vụ triển khai chi tiết cụ thể và đầy đủ những nội dung được nói tới Phần này phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức Đặc biệt đối với các văn bản khoa học, chính luận việc xây dựng các hệ thống luận điểm đóng vai trò hết sức quan trọng
Trang 24+ Phần kết thúc: Tóm lược, tổng kết lại những ý chính đã được triển khai ở phần phát triển
- Văn bản phải có một phong cách ngôn ngữ nhất định
+ Cùng một sự kiện, hiện tượng người ta có thể có nhiều cách thông báo, trình bày khác nhau Mỗi cách như vậy có những đặc điểm riêng thuộc phong cách của mình, ta gọi đó là phong cách chức năng Có nhiều cách phân loại phong cách chức năng Cách phân loại phổ biến trong phong cách học tiếng Việt là cách chia phong cách chức năng theo hai bậc: Bậc một chia ra phong cách khẩu ngữ và phong cách ngôn ngữ văn hoá, đến bậc hai chia phong cách ngôn ngữ văn hoá thành các phong cách nhỏ như: Phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí – công luận, phong cách văn học nghệ thuật và phong cách hành chính – công vụ
1.2.2 Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và nội dung dạy học tạo lập văn bản
So với trước đây sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học nói chung và sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 nói riêng đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến việc phát huy tính sáng tạo của người học Nội dung dạy học ở ở môn học này đã rất chú trọng đến việc khuyến khích HS được nói, viết bằng cách hiểu, cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt của bản thân và đặc biệt hơn là tạo cho các em cơ hội được nói, viết về những vấn đề mình quan tâm và yêu thích
Ở kĩ năng viết, sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 biên soạn nhiều bài tập thực hành, luyện tập để HS thực hiện trong mỗi giờ học Một số bài tập đã chú ý tới việc tạo cơ hội cho các em vận dụng hoặc bộc
lộ những hiểu biết, vốn sống đã được tích lũy trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ học tập, khuyến khích HS được bộc lộ cách hiểu, cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt của bản thân, được trình bày những vấn đề mình quan tâm hoặc yêu thích
Trang 25VD:
- Viết 2, 3 câu về một loài chim em thích
(Tiếng Việt 2, tập hai) Sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 được thiết kế theo hệ thống chủ
đề, chủ điểm, vì vậy, sách dễ dàng lựa chọn được những vấn đề, chủ đề, chủ điểm gắn bó mật thiết với đời sống thực tế và tạo được những cơ hội để HS liên hệ và đưa ra ý kiến phản hồi về cuộc sống thực tế
Môn Tiếng Việt là môn công cụ, do đó sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 thể hiện khá rõ sự hỗ trợ cho môn học khác và tích hợp kiến thức của một số môn học trong nội dung của sách Nhiều chủ điểm học tập của sách thể hiện rõ ý tưởng tích hợp các vấn đề giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản, bảo vệ môi trường,
a) Thời lượng dạy tạo lập văn bản
Theo yêu cầu của Chương trình Tiếng Việt tiểu học, nội dung dạy học tạo lập văn bản được bắt đầu từ lớp 2 trong các tiết Tập làm văn, HS được bộc
lộ kĩ năng nói, viết ở cả nội dung ý tưởng và hình thức thể hiện
Dưới đây là bảng thống kê:
Tuần Tập làm văn (số tiết/tuần và nội dung dạy học) Tuần 1 1 tiết (tự giới thiệu câu và bài)
Tuần 2 1 tiết (chào hỏi, tự giới thiệu) Tuần 3 1 tiết (sắp xếp câu trong bài, lập danh sách học sinh) Tuần 4 1 tiết (cảm ơn, xin lỗi)
Tuần 5 1 tiết (trả lời câu hỏi, đặt tên cho bài, luyện tập về mục lục sách) Tuần 6 1 tiết (khẳng định, phủ định, luyện tập về mục lục sách) Tuần 7 1 tiết (kể ngắn theo tranh, luyện tập về thời khóa biểu) Tuần 8 1 tiết (mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị, kể ngắn theo câu hỏi) Tuần 9 Ôn tập
Trang 26Tuần 10 1 tiết (kể về người thân) Tuần 11 1 tiết (chia buồn, an ủi) Tuần 12 1 tiết (gọi điện)
Tuần 13 1 tiết (kể về gia đình) Tuần 14 1 tiết (quan sát tranh, trả lời câu hỏi, viết nhắn tin) Tuần 15 1 tiết (chia vui, kể về anh chị em)
Tuần 16 1 tiết (khen ngợi, kể ngắn về con vật, lập thời gian biểu) Tuần 17 1 tiết (ngạc nhiên, thích thú, lập thời gian biểu)
Tuần 18 Ôn tập Tuần 19 1 tiết (đáp lời chào, lời tự giới thiệu) Tuần 20 1 tiết (tả ngắn về bốn mùa)
Tuần 21 1 tiết (đáp lời xin lỗi, tả ngắn về loài chim) Tuần 22 1 tiết (đáp lời xin lỗi, tả ngắn về loài chim) Tuần 23 1 tiết (đáp lời khẳng định, viết nội quy) Tuần 24 1 tiết ( đáp lời phủ định, nghe - trả lời câu hỏi) Tuần 25 1 tiết (đáp lời đồng ý, quan sát tranh, trả lời câu hỏi) Tuần 26 1 tiết (đáp lời đồng ý, tả ngắn về biển)
Tuần 27 Ôn tập Tuần 28 1 tiết ( đáp lời chia vui, tả ngắn về cây cối) Tuần 29 1 tiết (đáp lời chia vui, nghe - trả lời câu hỏi) Tuần 30 1 tiết (nghe - trả lời câu hỏi)
Tuần 31 1 tiết (đáp lời khen ngợi, tả ngắn về Bác Hồ) Tuần 32 1 tiết (đáp lời từ chối, đọc sổ liên lạc)
Tuần 33 1 tiết (đáp lời an ủi, kể chuyện được chứng kiến (viết)) Tuần 34 1 tiết (kể ngắn về người thân (nói, viết))
Tuần 35 Ôn tập
31 tiết
Trang 27b) Nội dung dạy tạo lập văn bản
Nội dung dạy tạo lập văn bản thuộc nội dung dạy học của phân môn Tập làm văn Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 hiện nay, phân môn Tập làm văn vẫn giữ thời lượng dạy học là 1 tiết/tuần và đã có sự đổi mới khá rõ rệt, chú trọng hơn đến việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong nội dung dạy học tạo lập văn bản so với sách Tiếng việt của chương trình Cải cách Giáo dục
Dưới đây là những điểm kế thừa và đổi mới trong từng kiểu bài:
- Kiểu bài Quan sát tranh – trả lời câu hỏi hầu hết các bài tập quan sát
tranh đều mang nội dung mới gắn với chủ điểm của tuần học chứ không phải tranh minh họa bài tập đọc (gồm: tranh vẽ kèm câu hỏi gợ ý, tranh vẽ kèm một số lời thoại, tranh vẽ không lời) Bên cạnh đó thì sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 còn có bài tập vẽ tranh minh họa nội dung bài tập đọc nhưng đã đảo trật tự các tranh để HS sắp xếp lại rồi mới kể lại câu chuyện theo trật tự đúng của các tranh hoặc HS phải chuyển lời kể bằng thơ của bài tập đọc thành
lời kể bằng văn xuôi của các em (Tập làm văn – tuần 3)
- Kiểu bài Trả lời câu hỏi dựa vào tranh hoặc dựa vào văn bản được
đọc hoặc được nghe sách giáo khoa Tiếng việt 2 không yêu cầu HS trả lời các
câu hỏi xoay quanh việc tìm hiểu nội dung bài tập đọc mà yêu cầu các em đọc – hiểu một đoạn văn có nội dung gắn với chủ điểm tuần học sau đó viết một
đoạn văn với những yêu cầu riêng
VD: Tập làm văn – Tả ngắn về loài chim (bài Tập làm văn tuần 21, sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tập hai, trang 30)
HS đọc xong đoạn văn rồi trả lời các câu hỏi:
a) Tìm những câu tả hình dáng của chích bông
b) Tìm những câu tả hoạt động của chích bông
Trang 28Sau khi tìm hiểu đoạn văn HS luyện viết đoạn văn: Viết 2, 3 câu về một loài chim em thích
- Đối với kiểu bài Tạo lập các văn bản thông thường sách giáo khoa đã
đưa ra những những yêu cầu, tình huống rất cụ thể
VD:
Bà đến đón em đi chơi
Hãy viết một vài câu nhắn lại để bố mẹ biết
(Tập làm văn – tuần 14) Một nội dung nữa đó là ở lớp 2 HS bắt đầu được luyện kĩ năng tạo lập các văn bản tả, kể đơn giản Yêu cầu HS kể một sự việc đơn giản mình đã chứng kiến, tham gia hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh các em những sự việc, những đối tượng các em có điều kiện gần gũi, quen biết hay gắn bó thân thiết trong cuộc sống
VD:
Viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu về ảnh Bác Hồ
(Tập làm văn - tuần 31) Hay:
VD: Tính liên kết trong đoạn văn kể chuyện:
Trang 29Dưới đây là 4 câu trong câu chuyện Kiến và Chim Gáy Em hãy sắp xếp lại các câu ấy cho đúng thứ tự:
a) Chim Gáy đậu trên cây, thấy Kiến bị nạn, vội bay đi gắp một cành khô thả xuống dòng suối để cứu
b) Một hôm, Kiến khát quá bèn bò xuống suối uống nước
c) Kiến bám vào cành cây, thoát chết
d) Chẳng may trượt ngã, Kiến bị dòng nước cuốn đi
(Tập làm văn - tuần 3)
VD: Tính liên kết trong đoạn văn miêu tả Các câu dưới đây tả con chim gáy Hãy sắp xếp lại thứ tự của chúng để tạo thành một đoạn văn:
a) Cổ chú điểm những đốm cườm trắng rất đẹp
b) Một chú chim gáy sà xuống chân ruộng vừa gặt
c) Thỉnh thoảng, chú cất tiếng gáy “cúc cù…cu”, làm cho cánh đồng quê thêm yên ả
d) Chú nhẩn nha nhặt thóc rơi bên từng gốc rạ
( Tập làm văn - tuần 22) Trên đây là những nội dung của sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và nội dung dạy học tạo lập văn bản Bên cạnh những ưu điểm thể hiện một bước đổi mới tích cực của môn học thì vẫn còn một số bài học bộc lộ một số vấn đề gây tranh cãi Đó là đối với yêu cầu tạo lập văn bản kể, tả sách giáo khoa thường đưa ra những đoạn văn mẫu với mục đích giúp cho HS đỡ tốn thời gian và công sức tìm kiếm tài liệu tham khảo, cũng như giúp các con dễ dàng hơn trong việc tạo lập văn bản theo mẫu Tuy nhiên cách làm này đôi khi bộc
Trang 30lộ một số vấn đề bất cập làm hạn chế khả năng chủ động, cũng như sáng tạo của HS Cụ thể:
- Những đoạn văn mẫu thường là các đoạn văn của các nhà văn, nhà thơ…Những đoạn văn này được bên tập một cách cô đọng, hàm súc khiến cho
HS cảm thấy lúng túng khi phải tự tạo lập văn bản vì không thể viết hay như đoạn văn mẫu
- Ngoài ra, vì có sẵn đoạn văn mẫu nên HS thường tập trung vào việc bắt chước văn mẫu mà không chịu động não suy nghĩ để tạo lập văn bản
1.2.3 Thực trạng và kết quả dạy học tạo lập văn bản ở lớp 2
Sách Tiếng Việt hiện nay với quan điểm đổi mới là lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hướng cơ bản, tích hợp theo cả nội dung và kĩ năng, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đã tạo điều kiện phát huy tính sáng tạo, chủ động của người học đồng thời tạo điều kiện thuận lợ cho việc đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung
Tuy nhiên trên thực tế qua việc dự giờ một số lớp ở các địa bàn khác nhau có thể thấy việc dạy và học tạo lập văn bản ở trường Tiểu học hiện nay còn rất nhiều vấn đề bất cập
Xin mô tả một trích đoạn tiết dạy của một giờ học Tập làm văn lớp 2 ở một trường Tiểu học mà tôi đã trực tiếp dự giờ
Tên bài học: Tả ngắn về bốn mùa (bài Tập làm văn tuần 20, sách
Tiếng Việt 2 tập hai trang 21)
Trang 31Nội dung bài học được bắt đầu như sau:
Nội dung bài học Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- Hướng dẫn HS làm bài
tập 2
- GV yêu cầu HS đọc nội dung bài tập
-GV gọi 1 HS nêu gợi ý thứ nhất của bài tập
- GV gọi 2HS trả lời và
GV ghi đáp án lên bảng lớp
GV nêu gợi ý thứ hai của bài tập: Mặt trời mùa hè như thế nào ?
- Gọi 2HS trả lời và GV ghi đáp án lên bảng lớp
- 2HS đọc
1 Hãy viết một đoạn
văn từ 3 đến 5 câu nói
về mùa hè
Gợi ý:
a) Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ? b) Mặt trời mùa hè như thế nào ?
c) Cây trái trong vườn như thế nào ?
d) Học sinh thường làm
gì vào dịp nghỉ hè ?
- 1HS nêu : Mùa hè bắt đầu từ tháng nào trong năm ?
- 2HS trả lời gợi ý thứ nhất
- HS lắng nghe
- 2HS trả lời gợi ý thứ 2
Trang 32- GV gọi 1 HS nêu gợi ý thứ ba của bài tập
- 2 HS trả lời và GV ghi đáp án phù hợp lên bảng lớp
- GV hỏi thêm HS : Mùa
hè thường có hoa gì ?
(GV ghi đáp án lên bảng lớp)
- GV hỏi HS : Học sinh
thường làm gì vào dịp nghỉ hè ? (GV ghi một
số đáp án lên bảng lớp)
- GV hỏi HS: Con có
mong mùa hè đến không? Mùa hè con sẽ làm gì?
- GV gọi 2 HS đọc đáp
án gợi ý trên bảng lớp
- Sau đó, GV yêu cầu
HS viết đoạn văn vào
vở
- Trong khi HS viết bài
GV nói to với cả lớp : “ Các con viết 3 đến 5 câu theo đáp án gợi ý trên
Trang 33bảng hoặc học tập cách
viết đoạn văn Xuân về ở
bài tập 1 nhé.”
- GV đến gần và hướng dẫn một số HS
- GV thu và chấm bài một số HS làm xong trước
Kết quả bài làm của HS trong lớp:
- Hầu hết HS đều viết theo những gợi ý GV viết trên bảng lớp, rất ít HS viết được đoạn văn theo sự quan sát và cảm nhận của riêng mình
Những hạn chế của GV trong việc tổ chức hoạt động học tập cho HS:
- Rất ít HS được tham gia vào hoạt động học tập (chỉ một vài em được gọi trả lười câu hỏi của GV)
- GV không kiểm soát được quá trình HS làm việc cá nhân
- Thiếu đồ dùng trực quan (GV cần chuẩn bị tranh ảnh về mùa hè để
HS quan sát, miêu tả Hoặc GV có thể yêu cầu HS sưu tập ở nhà và mang đến lớp)
- Chưa trưng bày được sản phẩm của HS trước lớp
Trang 34Về phía HS, qua khảo sát một số bài văn có thể thấy hạn chế khá rõ ở
hầu hết các bài là khả năng sáng tạo trong việc hình thành ý tưởng, dùng từ, viết câu cho đến việc hình thành ý của đoạn
- Các em viết theo kiểu tả thực, có gì nói nấy một cách sơ sài, máy móc
- Từ ngữ nôm na như văn nói
- Viết văn như theo công thức toán học, diễn đạt không cảm xúc
Một số nguyên nhân:
- Những dạng bài tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2
phần lớn là có sẵn hệ thống câu hỏi gợi ý cho HS trả lời Với dạng bài này ưu điểm của nó là giúp cho HS dễ dàng hơn trong quá trình làm bài, nhưng khi bắt đầu với những bài tập không có câu hỏi hợi ý thì phần lớn HS rất lúng túng khi viết, có HS khi đọc đề bài lên, không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, viết cái gì trước, cái gì sau,
- Kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế còn rất nhiều lỗ hổng Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng được đến công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác… Nhiều HS ở thành phố chưa hề được nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng, hoặc được ngắm nhìn những đêm trăng sáng, hoặc quan sát cánh đồng lúa khi thì xanh mướt, lúc thì vàng óng, trĩu bông… Một HS lớp 2 khi tả về con vật
mà em yêu thích đã tả như sau: “Nhà em có nuôi một con trâu Nó đáng yêu lắm Hàng ngày, mẹ xích nó ở góc hiên Trên cổ nó có đeo một cái nơ màu hồng thật xinh xắn Nó ăn rất ít cơm Nó có khuôn mặt trái xoan thanh tú.”
- Qua đó có thể thấy, khi thực hành tạo lập nhiều HS không hề nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả, kể và đã viết không chân thực Do vậy bài văn khó có thể truyền cảm cho người đọc Việc học tập trên lớp, vì thiếu tập trung và chưa có phương pháp học nên cũng có những hạn chế nhất định Hơn nữa, hiện nay, trên các cửa hàng sách giáo dục có bày bán rất nhiều
Trang 35sách tham khảo, văn mẫu từ các luồng khác nhau nên đã tạo điều kiện cho HS chép văn mẫu
- Ngoài ra có thể kể đến các nguyên nhân khác, như sự hấp dẫn của các trò chơi hiện đại Ngoài giờ học, các em thường bị thu hút vào các trò chơi game hoặc các trang web hấp dẫn khác trên internet mà quên đi rằng thế giới thiên nhiên xung quanh các em thực sự hấp dẫn khác Trẻ em ngày nay đang
bị lãng quên một thế giới thơ mộng ở xung quanh, cái thế giới mà không phải chỉ nhà văn Tô Hoài mới có Đó là thế giới của ruộng đồng, cây cỏ, côn trùng, của mưa, của gió Đây là thế giới có khả năng làm phong phú tâm hồn tuổi thơ và rèn luyện óc quan sát, nhận xét,
- Việc đọc sách của các em hiện nay cũng đang bị xem nhẹ Phần lớn
HS tiểu học ít quan tâm đến việc đọc và có đọc thường là truyện tranh, thậm chí có những truyện tranh không mang tính giáo dục Việc trò chuyện, tiếp xúc với bố mẹ, với những người thân trong gia đình và cộng đồng cũng rất hạn chế bởi những lí do: người lớn thì bận công việc còn các em thì ở trường
cả ngày, tối về lại ôn bài Cho nên vốn liếng về cuộc sống, về văn học của HS tiểu học rất hạn chế Chính điều này đã tác động không nhỏ đến việc học văn
và tập làm văn của HS
Trang 36Kết luận chương 1
1.1 Sáng tạo và việc phát triển khả năng sáng tạo của HS là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Song vấn đề phát triển khả năng sáng tạo của HS trong việc tạo lập văn bản ở môn Tiếng Việt lớp 2 là một vấn đề cụ thể và cần thiết nhưng chưa được quan tâm đầy đủ
1.2 Trong phần lí thuyết luận văn đã xác định, tổng hợp ý kiến về khái niệm văn bản, tạo lập văn bản, khái niệm về sáng tạo, các thể loại văn bản, quy trình tạo lập văn bản và quan niệm về sáng tạo trong tạo lập văn bản
1.3 Để có cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài, luận văn còn khảo sát yêu cầu môn Tiếng Việt ở tiểu học và yêu cầu tạo lập văn bản, khảo sát sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và nội dung dạy học tạo lập văn bản Bên cạnh đó là khảo sát thực trạng và kết quả dạy học tạo lập văn bản ở trường Tiểu học qua giờ dạy cụ thể tại một trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Tất cả những vấn đề đó là cơ sở để chúng tôi thiết kế bài học sau này
Trang 37CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO
TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN Ở MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 2.1 Một số biện pháp giúp học sinh phát triển khả năng sáng tạo trong viết văn miêu tả
2.1.1 Biện pháp giúp học sinh sáng tạo trong việc hình thành phát triển ý tưởng
Đối tượng trong văn miêu tả rất gần gũi và thân thuộc Nhưng không phải vì nó thân quen mà việc hình thành hay phát triển ý tưởng trở nên dễ dàng Ý tưởng giống như hạt giống, hạt nào được nuôi dưỡng thì lớn lên Việc chúng ta cần làm là quan sát và nhận thức để nó được trưởng thành và lan tỏa Quá trình hình thành ý tưởng như là quá trình kết nối tới đối tượng, kết hợp với những điều kiện cần thiết để phát triển nó Muốn có một ý tưởng hay, sáng tạo cần phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố là cách khai thác đối tượng, cách tìm hiểu về đối tượng, cách nhìn về đối tượng và cách cảm nhận về đối tượng
Ở lớp 2, các con bắt đầu được làm quen với những bài đơn giản như tả ngắn
về bốn mùa, tả một con vật gần gũi như con chim, tả ngắn về cây cối, tả về Bác Hồ hay tả lại một cảnh theo tranh như cảnh biển buổi sáng sớm…tất cả đều là những đối tượng gần gũi trong cuộc sống hiện nay Vấn đề được đặt ra
là làm thế nào để có thể biến những đối tượng tưởng như đơn giản đó trở nên sáng tạo độc đáo trong bài viết, đây là một câu hỏi?
Dưới đây, chúng tôi đề xuất biện pháp giúp GV khi dạy văn miêu tả dẫn dắt HS cảm nhận và đến với đối tượng một cách tự nhiên, khai thác nội dung khéo léo, sáng tạo, tinh tế, tránh đơn điệu, khô cứng
- Khi bắt đầu tiến hành tổ chức các hoạt động học tập, đầu tiên GV tổ chức trò chơi “vẽ tranh” trong thời gian từ 10 đến 15 phút Muốn tả đối tượng
ta cho HS vẽ đối tượng đó ra trước, cho HS nhận thức trước bằng hội họa theo
Trang 38cái gu của riêng mình Hoạt động này thay cho bước hướng dẫn HS đọc đề, tìm hiểu và phân tích đề trong quy trình dạy học phân môn Tập làm văn chương trình hiện hành
+ Trò chơi có thể sử dụng màu sắc để vẽ hoặc dùng ngôn ngữ (nói, viết) để tái hiện bức tranh của mình Mỗi nhóm HS sẽ vẽ lại một bức tranh theo nội dung yêu cầu của đề bằng cách vẽ, tô màu trực tiếp lên giấy hoặc liệt
kê (viết ra) những hình ảnh sẽ vẽ và sắp xếp hình ảnh một cách hợp lí
Từng HS trong nhóm sẽ tự lựa chọn cho mình những đối tượng, cảnh vật, con vật yêu thích để đưa vào bức tranh và chuẩn bị nội dung để giới thiệu (mô tả) về hình ảnh, đối tượng đã lựa chọn
+ Sau khi các nhóm HS thuyết trình về bài vẽ của mình, GV nhận xét phần trình bày của các nhóm, khen ngợi HS vẽ sáng tạo, nổi bật hay biết diễn đạt trôi chảy, dùng từ hay…, cuối cùng chốt nội dung kiến thức sau trò chơi
về đối tượng miêu tả
VD: Đối với đề bài Tả cây mít
Kể cho HS nghe về cây mít để các con có ấn tượng ban đầu về cây Yêu cầu HS hãy vẽ vào giấy hình ảnh của cây hoặc một sơ đồ hình cái cây đơn giản, giống như cây trong tranh vẽ của các con HS có thể tự do dùng các nét vẽ hoặc hãy dùng các từ để miêu tả những điều bản thân định vẽ Ví
dụ cho HS: chỗ của lá mít, con có thể ghi: lá hình bầu dục, màu xanh đậm….tương tự như thế chỗ của thân cây, cành cây, và quả (người GV hãy theo sát các con trong từng bước của hoạt động)
+ Trò chơi là hoạt động khởi động nhằm giảm bớt căng thẳng, tạo hứng thú cho HS trong học tập song lại là bước chuẩn bị quan trọng cho phần bài viết nên GV phải hướng tập trung HS vào vấn đề cần tả theo yêu cầu của đề Sau khi đã có bức vẽ việc viết văn đối với các con trở nên dễ dàng và hứng thú sáng tạo hơn
Trang 39+ Chỉ đưa ra đề bài hoàn chỉnh khi kết thúc hoạt động một để HS thực hiện việc tìm hiểu đề một cách tự nhiên như đang tham gia trò chơi, không bị
áp lực bởi bài văn viết
+ Trong phần trình bày kết quả thảo luận có thể để mỗi HS trình bày một nội dung tức là mỗi HS sẽ nêu miệng câu văn tả về cảnh đẹp mình thích hoặc một HS đại diện nhóm trình bày tất cả nội dung theo sự thảo luận của nhóm
+ Khi HS trình bày GV cần chú ý sửa cách dùng từ, diễn đạt để hạn chế lỗi trong bài văn viết ở hoạt động tiếp theo
+ Đối với biện pháp này chúng ta có thể áp dụng khi tiến hành tổ chức hoạt động nhóm và cả hoạt động cá nhân GV có thể cho HS vẽ trước ở nhà
để các con có nhiều thời gian sáng tạo ra những đối tượng, những bức tranh giàu hình ảnh, màu sắc cũng như âm thanh
- Ngoài ra, chúng ta có thể hướng dẫn HS tìm ý tưởng bằng biện pháp
sử dụng bộ câu hỏi 5W1H Phương pháp tư duy 5W1H rất đơn giản nhưng lại rất hiệu quả nếu sử dụng nó đúng đắn, khéo léo và thông minh Việc sử dụng hợp lí kĩ thuật 5W1H sẽ khiến công việc đầy đủ, ít gặp thiếu sót, có thể phát triển ý tưởng của bản thân
+ Cách tiến hành:
Khi dạy tạo lập văn bản miêu tả chúng tôi chú ý vận dụng kĩ thuật 5W1H để HS bước đầu hình thành phát triển ý tưởng từ đó tiến hành tìm ý cho bài văn Cụ thể là:
Cái gì: Bài yêu cầu tả về đối tượng nào? Tả người, tả cảnh hay tả con vật…?
Ở đâu: Đối tượng miêu tả đó ở đâu?
Khi nào: Đối tượng đó mình nhìn thấy khi nào?
Tại sao: Tại sao nói đối tượng đó có ý nghĩa quan trọng?
Như thế nào: Đối tượng đó có đặc điểm như thế nào?
Trang 40Có thể khái quát các câu hỏi trên bằng sơ đồ ví dụ sau:
VD: Chúng ta đi tìm ý tưởng để tả một con gà Hãy bắt đầu bằng một hình ảnh trung tâm là chú gà Sử dụng bộ câu hỏi:
- Các con nhìn thấy cái gì nhỉ?
Một chú gà, một đàn gà, là một chú gà con đi bên mẹ hoặc bố, hay là chú gà đã trưởng thành…
- Các con nhìn thấy chú gà đó ở đâu, khi nào?
Gia đình mình trực tiếp nuôi, trong một lần đi thăm trại gà giống, một lần về quê chơi hay khi đi chợ cùng với mẹ,…
- Chú gà đó trông thế nào?
Hình dáng to hay nhỏ, lông chú màu gì,…
- Chú gà này lớn hơn hay nhỏ hơn hay bằng các chú gà anh, chị,
em nó xung quanh nhỉ?
Khi đứng bên cạnh bố mẹ, trông chú thế nào – có giống như mình đứng cạnh bố mẹ không?