1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la

161 309 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nghiên cứu sinh đã thu thập, tập hợp, hệ thống hóa và xử lí tài liệu, dữ liệu có liên quan đến đề tài luận án, bao gồm: Các nghiên cứu về CQ và sinh th

Trang 1

PHẠM ANH TUÂN

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG CHUYÊN CANH CÂY LÂU NĂM TẠI TỈNH SƠN LA

DỰ THÁO LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

PHẠM ANH TUÂN

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG CHUYÊN CANH CÂY LÂU NĂM TẠI TỈNH SƠN LA

CHUYÊN NGÀNH: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, khách quan và được trích dẫn đúng quy định Những kết quả nghiên cứu của đề tài luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Phạm Anh Tuân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,

dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Phạm Hoàng Hải Tác giả xin bày tỏ

lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy - Người đã luôn tận tâm dạy bảo, đồng hành và

động viên tác giả trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận án

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến

quý báu của các thầy cô, các nhà khoa học trong khoa Địa lí, trường Đại học Sư

phạm Hà Nội và các cơ quan khoa học như: Viện Địa lí - Viện Hàn lâm Khoa học

và Công nghệ Việt Nam; Khoa Địa lí - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học

Quốc gia Hà Nội; Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên;

Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, Bộ Quốc Phòng; Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi

toàn cầu, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trung

tâm Thông tin và Thư viện, Bộ môn Địa lí Tự nhiên, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lí,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả thực hiện

và hoàn thành luận án

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hỗ trợ kinh phí thực hiện đề tài khoa học, mã số

B-2012-25-54 Đề tài có nội dung liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La đã cung cấp tài liệu, dữ liệu phục vụ

nghiên cứu Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến người dân trong tỉnh đã hợp

tác, giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực địa

Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Sử - Địa

Trường Đại học Tây Bắc, đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận án

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

đã động viên rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận án

Phạm Anh Tuân

Trang 5

MỤC LỤC TRANG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 6

1.1.3 Các công trình nghiên cứu cảnh quan liên quan đến vùng chuyên canh 15

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN 23

1.3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU 31

2.1 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ CỦA CÁC NHÂN TỐ THÀNH TẠO CẢNH QUAN 42

Trang 6

2.1.5 Khí hậu 54

2.5 ĐẶC ĐIỂM CÁC TIỂU VÙNG CẢNH QUAN TỈNH SƠN LA 94

Trang 7

2.5.8 Tiểu vùng cảnh quan núi thấp và thung lũng Sông Mã (D2) 103

2.6 PHÂN LOẠI CHỨC NĂNG CÁC TIỂU VÙNG CẢNH QUAN TỈNH SƠN LA 105

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG CHUYÊN CANH … 113

3.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN ĐỐI VỚI CÂY LÂU NĂM 113

3.2 ĐÁNH GIÁ THÍCH NGHI SINH THÁI ĐỐI VỚI CÂY LÂU NĂM TẠI SƠN LA 116

3.3 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP THÍCH NGHI SINH THÁI ĐỐI VỚI CÂY LÂU NĂM 131

3.4 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC VÙNG CHUYÊN CANH CÂY LÂU NĂM 136

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.19 : Một số vị trí ghi nhận lũ quét xảy ra thường xuyên tại Sơn La 109

Trang 10

Bảng 3.3 : Kết quả đánh giá TNST đối với cây nhãn theo huyện 119

Bảng 3.11 : Kết quả đánh giá TNST đối với cây cà phê chè theo TVCQ 127

Bảng 3.17 : Định hướng tổ chức không gian phát triển các vùng chuyên

canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

140

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Cảnh quan học ra đời, phát triển do sự đòi hỏi của thực tiễn trong nghiên cứu, khám phá tự nhiên, quản lí lãnh thổ và sử dụng tài nguyên cho phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) Bộ môn khoa học này được xác lập từ khá sớm và được nghiên cứu, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Cảnh quan học với hệ thống phân loại và phân vùng có khả năng áp dụng vào mọi lãnh thổ với quy mô khác nhau, bảo đảm tính logic theo trình tự từ lớn đến nhỏ Mỗi cấp phân vị đều có chỉ tiêu chẩn đoán rõ ràng, thể hiện được các quy luật phân hóa, động lực và chức năng của các thể tổng hợp địa lí Nghiên cứu cảnh quan (CQ)

là hướng tiếp cận toàn diện trong phân tích đặc trưng và đánh giá tiềm năng của lãnh thổ Những kết quả nghiên cứu CQ là cơ sở khoa học đầy đủ và tin cậy, phục

vụ định hướng không gian sử dụng hợp lí và bền vững cho từng lãnh thổ cụ thể Tỉnh Sơn La có diện tích lớn thứ 3 cả nước, nằm ở trung tâm vùng Tây Bắc Tỉnh có vị trí địa lí quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng an ninh cấp Vùng và Quốc gia Đồng thời, với vị trí đầu nguồn của Sông Đà

và Sông Mã, đây là địa bàn phòng hộ xung yếu cho Vùng Đồng bằng Bắc Bộ và 2 công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam Với địa hình núi thấp, cao nguyên và thung lũng chiếm ưu thế, tài nguyên đất, khí hậu phong phú cùng với tri thức bản địa đặc sắc trong sản xuất của người dân, làm cho Sơn La có nhiều triển vọng để trở thành tỉnh có vị thế cao hơn trong nền kinh tế nông, lâm nghiệp công nghệ cao theo hướng chuyên canh bền vững, có hiệu quả về KT - XH và môi trường

Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng tài nguyên ở Sơn La còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có, không những gây lãng phí mà còn ảnh hưởng xấu đến các địa phương khác thuộc hạ du Sông Đà và Sông Mã Trong 10 năm qua, biến đổi

sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Sơn La diễn ra mạnh mẽ Năm 2015, tỉnh Sơn La có khoảng 200.000 héc ta (ha) đất trống [78], chủ yếu do diện tích trồng ngô giảm, có khoảng 45.000 ha đã quy hoạch trồng cao su cần nghiên cứu chuyển đổi mục đích Trên địa bàn tỉnh, thoái hóa đất ngày càng trầm trọng, tài nguyên

Trang 13

nước suy giảm, ô nhiễm do mất rừng và sử dụng hóa chất nông nghiệp, tai biến thiên nhiên xảy ra nhiều hơn, gây thiệt hại ngày càng nặng nề

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế nói trên, song nguyên nhân cơ bản là thiếu những dẫn liệu, luận cứ khoa học, nguồn lực cho tổ chức sử dụng hợp lí lãnh thổ ở các cấp hành chính Tỉnh còn lúng túng trong xác định không gian lãnh thổ để phát triển các mô hình kinh tế nông, lâm nghiệp theo hướng chuyên canh công nghệ cao, sản xuất hàng hóa tập trung, phân phối theo chuỗi giá trị

Xuất phát từ những lí do trên, nghiên cứu sinh (NCS) đã lựa chọn và thực hiện

đề tài luận án “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La” Với mong muốn

góp phần bổ sung và làm phong phú thêm cơ sở lí luận nghiên cứu cảnh quan ứng dụng Đồng thời, xác lập được căn cứ khoa học cho định hướng tổ chức không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Xác định được các quy luật phát sinh, đặc điểm phân hóa, cấu trúc, chức năng của cảnh quan và xác lập căn cứ khoa học cho định hướng tổ chức không gian phát

triển vùng chuyên canh cho 5 loài cây lâu năm điển hình, có ưu thế tại tỉnh Sơn La

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các nhiệm vụ chủ yếu được đặt ra:

(i) Xây dựng cơ sở lí luận và các phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng tổ chức không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

(ii) Nghiên cứu đặc trưng, vai trò các nhân tố thành tạo, xây dựng hệ thống phân loại và thành lập Bản đồ cảnh quan tỉnh Sơn La

(iii) Phân tích đặc điểm đơn vị phân loại, phân vùng cảnh quan tỉnh Sơn La (iv) Đánh giá thích nghi sinh thái đối với cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

(v) Xác lập không gian phát triển vùng chuyên canh cây lâu năm tại Sơn La

Trang 14

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

chính cấp huyện và 204 đơn vị hành chính cấp xã [12]

4.2 Nội dung nghiên cứu

Với mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, luận án giới hạn những nội dung chủ yếu sau: (i) Nghiên cứu cảnh quan tỉnh Sơn La ở tỉ lệ 1:50.000

(ii) Nghiên cứu, đặc điểm, cấu trúc, chức năng của cấp phân vị: lớp, phụ lớp, tiểu vùng (TV) cảnh quan

(iii) Phân loại, định hướng chức năng tự nhiên của các tiểu vùng cảnh quan (iv) Đánh giá thích nghi sinh thái cho 5 cây lâu năm, đơn vị cơ sở là dạng CQ (v) Định hướng phát triển vùng chuyên canh theo dạng cảnh quan, theo đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và tiểu vùng cảnh quan

5 CƠ SỞ TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Nghiên cứu sinh đã thu thập, tập hợp, hệ thống hóa và xử lí tài liệu, dữ liệu có liên quan đến đề tài luận án, bao gồm:

Các nghiên cứu về CQ và sinh thái CQ; các nghiên cứu phục vụ tổ chức lãnh thổ; các nghiên cứu phục vụ trồng cây lâu năm và phát triển vùng chuyên canh; các nghiên cứu về tỉnh Sơn La, số liệu thống kê ở tỉnh Sơn La giai đoạn 2005 - 2015 Một đề tài cấp cơ sở, 1 đề tài cấp tỉnh, 1 đề tài cấp bộ và 20 bài báo liên quan được nghiên cứu sinh thực hiện trong quá trình công tác và thực hiện đề tài luận án Các bản đồ: Bản đồ hành chính, Bản đồ địa hình, Bản đồ hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất từ Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Sơn La Bản đồ địa chất từ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam Bản đồ thổ nhưỡng từ Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp Bản đồ hiện trạng rừng, Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng từ

Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 15

6 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ CỦA LUẬN ÁN

Luận điểm 1: Tỉnh Sơn La nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Bắc Việt

Nam Tỉnh có điều kiện tự nhiên phân hóa đa dạng, quy luật đai cao và kiến tạo địa mạo hướng tây bắc - đông nam đóng vai trò chủ đạo, quyết định quy luật phân hóa, vận chuyển vật chất và năng lượng trong tự nhiên

Luận điểm 2: Ở tỉ lệ nghiên cứu 1:50.000, tỉnh Sơn La phân hóa thành 3 lớp,

6 phụ lớp, 2 kiểu, 6 phụ kiểu, 187 loại, 639 dạng thuộc 4 vùng và 9 tiểu vùng cảnh quan Các quy luật phát sinh, phân hóa lãnh thổ ở tỉnh Sơn La thể hiện qua đặc điểm, cấu trúc, chức năng các đơn vị cảnh quan

Luận điểm 3: Tích hợp kết quả đánh giá tổng hợp thích nghi sinh thái với 6

tiêu chí nhận diện vùng chuyên canh theo hướng định lượng là cơ sở khoa học tin cậy cho định hướng tổ chức không gian ưu tiên phát triển (vùng lõi và mở rộng) chuyên canh đối với 5 loài cây lâu năm điển hình, có ưu thế tại tỉnh Sơn La

7 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

(i) Phân tích quy luật, đặc điểm, vai trò của các nhân tố thành tạo CQ Với mỗi

nhân tố, lí giải sự hình thành đặc điểm chung nổi bật, sự phân hóa không gian và vai trò của chúng đối với đặc điểm, sự phân hóa các đơn vị cảnh quan tỉnh Sơn La (ii) Thiết lập hệ thống phân loại 6 cấp trên Bản đồ cảnh quan tỉnh Sơn La tỉ lệ 1:50.000, gồm 639 dạng cảnh quan, 187 loại cảnh quan, 6 phụ kiểu, 2 kiểu thuộc 3 lớp, 6 phụ lớp cảnh quan Các quy luật phát sinh, phân hóa lãnh thổ ở tỉnh Sơn La thể hiện qua đặc điểm, cấu trúc, chức năng của các đơn vị phân loại cảnh quan

(iii) Thành lập Bản đồ phân vùng cảnh quan tỉnh Sơn La, phân chia 4 vùng với

9 tiểu vùng Cơ sở phân chia các tiểu vùng, đặc điểm, cấu trúc cảnh quan mỗi vùng, tiểu vùng được phân tích đầy đủ, rõ ràng và định lượng Luận án đã xác định được 3 tiểu vùng với 165 dạng cảnh quan có chức năng phòng hộ, bảo tồn và phục hồi rừng Có 6 tiểu vùng với 474 dạng cảnh quan có chức năng phục hồi rừng và sản xuất nông, lâm nghiệp

(iv) Đánh giá thích nghi sinh thái của 474 dạng cảnh quan cho phát triển 5

loài cây lâu năm điển hình, có ưu thế ở tỉnh Sơn La, lí giải sự phân cấp của 8 chỉ

tiêu dựa trên đặc điểm sinh thái của mỗi loài cây Xác định trọng số cho mỗi chỉ tiêu

Trang 16

bằng phương pháp Ma trận tam giác Thành lập Bản đồ đánh giá thích nghi sinh thái đối với từng cây lâu năm Xây dựng tiêu chí lựa chọn loài cây ưu thế cho mỗi dạng cảnh quan, thành lập Bản đồ đánh giá tổng hợp thích nghi sinh thái đối với 5 loài cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

(v) Xác lập 6 tiêu chí nhận diện vùng chuyên canh cây lâu năm ở tỉnh Sơn La Thành lập Bản đồ ưu tiên (vùng lõi và vùng mở rộng) phát triển vùng chuyên canh cho 5 loài cây lâu năm tại tỉnh Sơn La gồm: cây nhãn, cây xoài, cây mận hậu, cây cà phê chè, cây chè Đồng thời, thống kê diện tích ưu tiên phát triển vùng chuyên canh theo tiểu vùng cảnh quan, theo dạng CQ, theo đơn vị hành chính cấp huyện và xã Luận án cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà quản lí ở tỉnh Sơn La tham khảo để lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm

8 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

8.1 Ý nghĩa khoa học

Luận án góp phần dần làm sáng tỏ lí luận, nội dung nghiên cứu cảnh quan, cảnh quan ứng dụng trong nông, lâm nghiệp và vùng chuyên canh cây trồng

Luận án đã làm sáng tỏ các quy luật phát sinh, phân hóa lãnh thổ ở tỉnh Sơn

La thể hiện qua đặc điểm, cấu trúc, chức năng các đơn vị cảnh quan

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà quản lí ở tỉnh Sơn La tham khảo để lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm Luận án có thể làm tài liệu tham khảo tin cậy trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập phần địa lí địa phương ở tỉnh Sơn La

9 CẤU TRÖC CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Luận án bao gồm phần mở đầu, kết luận, 4 phụ lục, 85 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và 44 tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Nội dung chính luận án được trình bày trong 3 chương với 150 trang đánh máy cùng 40 bảng số liệu in khổ giấy A4 và 16 bản đồ chuyên đề in khổ giấy A3

Chương 1 Cơ sở khoa học và các phương pháp nghiên cứu

Chương 2 Nghiên cứu cảnh quan tỉnh Sơn La

Chương 3 Định hướng phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cảnh quan và sinh thái cảnh quan

1.1.1.1 Giai đoạn trước chiến tranh thế giới lần thứ 2

Đến đầu thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu về tổng hợp thể địa lí tự nhiên không còn mang tính quan sát, mô tả mà đã khái quát thành những quy luật Khái niệm về tổng hợp thể địa lí tự nhiên được hình thành nhờ tiến bộ trong phương pháp nghiên cứu, từ phân tích đến tổng hợp của khoa học tự nhiên Các nhà Sinh vật học

và Thổ nhưỡng học là những người đầu tiên đề cập đến mối quan hệ tương hỗ, phức tạp giữa giới vô sinh và giới hữu sinh Điều đó, là tiền đề làm cho các khoa học bộ phận tiến dần đến khoa học địa lí tự nhiên tổng hợp, hay cảnh quan học

Trên cơ sở của nghiên cứu của Docutraev, học thuyết về đất của Ông là nhân

tố khởi đầu về Tổng hợp thể địa lí tự nhiên [97] Berg (1913), đã kế thừa và phát triển học thuyết về đới tự nhiên của Docutraev để đưa ra khái niệm cảnh quan, Ông coi CQ như một miền Trong đó, đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu, thực vật và lớp phủ thổ nhưỡng hợp nhất với nhau thành một tổng hợp thể toàn vẹn, cân đối và lặp lại điển hình trong phạm vi đới ấy trên Trái Đất Đây là cơ sở nền tảng cho những nghiên cứu về cơ sở lí luận và hình thái học của cảnh quan [89]

Ngoài ra, một số hướng nghiên cứu cơ bản của cảnh quan học cũng được đề cập tới: các nguyên tắc về phát sinh trong nghiên cứu CQ học; xây dựng các chỉ số hình thái cơ bản của CQ, Larin (1937) [115]; phát triển các cách tiếp cận về vùng hoặc địa hình của CQ, Ramensky (1938) [120] Trong giai đoạn này, cơ sở lí luận

về CQ chưa thống nhất do sự ra đời, phát triển của các trường phái khác nhau

1.1.1.2 Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến năm 1991

Thời kì này, chứng kiến sự ra đời của các Bản đồ CQ tỉ lệ lớn trên cơ sở dữ liệu ảnh hàng không tại khu vực đồng bằng trung tâm của nước Nga, Xontxev (1948) Các kết quả nghiên cứu đã xác định khái niệm “cảnh quan” chính xác hơn trên cơ sở những đơn vị hình thái học và thuộc tính được giải đoán của chúng Hình thái học của CQ được xác định trực tiếp thông qua quá trình khảo sát ngoài thực địa, tạo điều kiện nền tảng cho sự hình thành các nghiên cứu ứng dụng của CQ

Trang 18

Các hướng nghiên cứu chính như: những nguyên lí cơ bản về động lực biến đổi của CQ, Xontxev (1948); địa hóa CQ, Perelman (1961); động lực biến đổi của

CQ, Sochava (1978) [124] Các nghiên cứu này trở thành công cụ hữu hiệu phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng hợp lí lãnh thổ ở một số vùng của nước Nga, thiết kế các địa điểm giải trí hay phục vụ các ngành khoa học khác Trong giai đoạn này, Ixatsenko trở thành người đầu tiên xác lập cơ sở lí luận trong nghiên cứu, thành lập Bản đồ CQ và phân vùng địa lí tự nhiên [106], [107], [108] Giai đoạn này cũng ưu tiên hướng nghiên cứu cấu trúc, động lực và biến đổi của CQ Đồng thời, nghiên cứu các tác động nhân sinh và giải quyết các vấn đề quản lí tài nguyên thiên nhiên (TNTN) Sư phân hóa lãnh thổ được xác lập dựa trên các hệ thống phân loại và phân vùng CQ Tuy nhiên, cách thức xác định được thực hiện khác nhau: phương pháp sắp đặt có hệ thống, Sochava (1978) [124]; Krauklis (1979) [113]; phương pháp xác định các địa khối, Beruchashvili (1986) [90]; phương pháp toán học, Viktorov (1986), phương pháp địa vật lí, Armand (1975) [86]; phương pháp CQ tổng hợp, Mamay (2005) [116] Đây là tiền đề cho các nghiên cứu các tác động của con người tới sự hình thành CQ nhân sinh

Trên cơ sở hệ thống phân loại CQ của Ixatsenko (1985) và học thuyết CQ học của Armand (1975) [86]; Xontxev (1981) [dẫn theo 108] Bản đồ CQ Liên bang Xô Viết và thế giới, tỉ lệ 1:4.000.000 được thành lập trên cơ sở giải đoán dữ liệu ảnh viễn thám Ngoài ra, các hướng nghiên cứu mới được ứng dụng như đánh giá đất nông nghiệp, định hướng quản lí TNTN cho một số khu vực cụ thể

Ở Việt Nam, đầu tiên là công trình “Việt Nam” của Seglova (1957) Tác giả

đã sử dụng hệ thống phân vị gồm có 2 cấp là Vùng và Á vùng để phân chia các khu vực địa lí tự nhiên Việt Nam Tuy nhiên, tác giả không nêu chỉ tiêu chẩn đoán cho từng cấp phân vị, nên người khác không thể áp dụng được Sau công trình này,

“Thiên nhiên Miền Bắc Việt Nam” của Fridlan (1961) được xuất bản [dẫn theo 40] Nguyễn Đức Chính và Vũ Tự Lập (1970), trong công trình “Về sự cần thiết nghiên cứu tổng hợp đất nước bằng phương pháp cảnh quan” Kết quả nghiên cứu

đã khẳng định sự cần thiết phải phát triển ứng dụng của khoa học cảnh quan vào sự nghiệp phát triển đất nước Cũng trong năm này, 2 tác giả tiếp tục cho ra đời công trình “Địa lí Tự nhiên Việt Nam” Trong đó, đề cập đến hệ thống phân vị gồm 6

Trang 19

cấp: Đới - Xứ - Miền - Khu - Vùng - Cảnh Đây là hệ thống phân vị được xây dựng trên quan điểm kết hợp cả quy luật địa đới và phi địa đới, cơ bản đã phản ánh được

sự phân hóa của thiên nhiên Việt Nam

Tổ Phân vùng Địa lí tự nhiên thuộc Uỷ ban Khoa học Nhà Nước (1970), đã biên soạn cuốn sách “Phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam - Tập 1” Trong tác phẩm này, các tác giả sử dụng hệ thống phân vị gồm 7 cấp: Á lục địa - Xứ - Đới

- Á đới - Miền - Á miền - Vùng Hệ thống phân vị này có đầy đủ cơ sở khoa học, ngắn gọn, có các chỉ tiêu chẩn đoán cụ thể cho từng cấp Kết quả phân vùng cũng

đã cơ bản phản ánh được sự phân hóa tự nhiên Việt Nam [40], [51]

Vũ Tự Lập (1976), với công trình “Cảnh quan Địa lí Miền Bắc Việt Nam” Kết quả nghiên cứu đã xác lập những cơ sở khoa học quan trọng trong nghiên cứu, thành lập Bản đồ cảnh quan Tác giả đã xây dựng hệ thống phân loại CQ, gồm 16 cấp phân vị, mỗi cấp có chỉ tiêu chẩn đoán rõ ràng Bên cạnh đó, tác giả xây dựng Bản đồ cảnh quan Miền Bắc Việt Nam theo quan niệm cá thể và đề cao quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu các đơn vị địa lí tự nhiên [40]

Lê Bá Thảo (1977), hoàn tất công trình “Thiên nhiên Việt Nam” Sự phân hóa

tự nhiên Việt Nam trong công trình này được trình bày khác với những công trình trước đó Mỗi vùng đều được phân tích những đặc trưng, tiềm năng tự nhiên, nguồn tài nguyên và đặc trưng văn hóa quan trọng nhất Đồng thời, tác giả nêu định hướng

sử dụng từng vùng, miền dựa trên các đặc trưng tự nhiên và nhân văn [58], [59]

1.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2016

Giai đoạn này, thông tin về cấu trúc không gian và thời gian của lãnh thổ đã tạo điều kiện cho sự hình thành các chủ đề nghiên cứu mới của cảnh quan học ứng dụng gồm: nghiên cứu các trạng thái của CQ, Dyakonov và cộng sự (2004) [98], [99]; các vấn đề liên quan tới biến đổi, tiến hóa CQ, Mamay (2005) [116], [117]; phân tích đa biến và hình học của CQ trên cơ sở dữ liệu viễn thám, Puzachenko và Aleshchenko (2004) [119]; nghiên cứu tiến hóa CQ dựa trên dữ liệu định tuổi bằng Carbon phóng xạ và mẫu thực vật Cổ sinh, Dyakonov (2004) [98], [99]

Vì vậy, nghiên cứu cảnh quan học chuyển dần sang tiếp thu những thành tựu theo định hướng sinh thái học hay sinh thái CQ, tạo tiền đề để sinh thái CQ thành lĩnh vực nghiên cứu mới Ngoài ra, hướng đi này đã tạo điều kiện phát triển các phương pháp mới phục vụ khảo sát, xác định các biến động và xây dựng các hệ

Trang 20

thống thông tin phục vụ cho nghiên cứu cảnh quan, Mamay (2005) [116] Đồng thời, các nghiên cứu về sinh thái học và sinh thái CQ đã tạo điều kiện xây dựng các

dự án quan trắc những thay đổi về mối tương quan giữa đa dạng sinh học và động lực CQ, Dovers và Bunce (1998) Điều này, tạo cơ hội cho sự hình thành những đánh giá CQ trên cơ sở phân loại đất đai, phục vụ định hướng phục hồi điều kiện sinh thái của lãnh thổ, sử dụng hợp lí TNTN và tái tạo cảnh quan

Cũng trong giai đoạn này, lí thuyết về Sinh thái cảnh quan của Forman và Gordon đã trở thành nền tảng của sinh thái CQ hiện đại, phục vụ đắc lực cho quá trình khôi phục các CQ bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học [102] Ngoài ra, xu hướng ứng dụng các phương pháp định lượng trong đánh giá CQ, giúp đạt được các giá trị chính xác về dữ liệu địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật được ứng dụng, Olaf Bastian (2002) [88]; Turner và cộng sự, (2001); Wu (2008)

Trên cơ sở này, nghiên cứu CQ tiếp tục phát triển với những phân tích về chức năng của CQ, Groot (1992) [96]; phân tích mối liên hệ trong cấu trúc và chức năng

CQ, Troy và Wilson (2006); phân tích tính đa dạng và đánh giá giá trị sử dụng của các đơn vị CQ, Meyer và Grabaum (2008); Sanderson và Harris (2000) [118] Trong khi đó, quá trình phát triển về lí thuyết sinh thái CQ hiện nay đều nhấn mạnh mối quan hệ giữa mô hình hóa không gian và sự biến đổi của CQ Đây là căn cứ để xác định mối quan hệ giữa CQ và các ngành sản xuất cho mục tiêu bảo tồn CQ, bảo

vệ môi trường, Ryszkowski (2002); Sheppard và Harshaw (2001) [121]

Jeffrey Sayer và cộng sự (2013), nghiên cứu về các khái niệm, công cụ trong phân bổ tài nguyên và quản lí đất đai Dựa trên cách tiếp cận CQ, nghiên cứu không chỉ xác định được phương thức quản lí đất đai bền vững mà còn giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình khai thác tài nguyên Đồng thời, nghiên cứu đã xây dựng 10 nguyên tắc tiếp cận CQ trên cơ sở kết quả tham vấn cộng đồng nhằm điều chỉnh mục tiêu bảo tồn sang mục tiêu xóa đói giảm nghèo Với việc áp dụng các nguyên tắc này trong quá trình quản lí CQ, nghiên cứu cho thấy các thách thức của CQ được giải quyết hiệu quả hơn phương thức tiếp cận truyền thống [111]

Zausko và Lubica (2014), đã tiến hành nghiên cứu sức chứa sinh thái CQ phục

vụ đánh giá sử dụng đất tối ưu cho hệ sinh thái rừng và nông nghiệp Kết quả điều tra ngoài thực địa cung cấp các đánh giá quan trọng về khả năng sử dụng phù hợp với tiềm năng của CQ, tôn trọng các giới hạn CQ trong quy hoạch sử dụng đất rừng

Trang 21

và nông nghiệp Nghiên cứu đã tận dụng ưu điểm tiếp cận đa ngành, thời gian triển khai ngắn, sử dụng thường xuyên các kết quả điều tra nhằm đề xuất giải pháp sử dụng đất tối ưu cho từng lưu vực Cách tiếp cận toàn diện này trở thành tiền đề quan trọng cho nhà quản lí giải quyết các mâu thuẫn về sử dụng tài nguyên (nguồn nước - rừng - nông nghiệp) trong lưu vực [129]

Belen Martin và cộng sự (2016), đã tiến hành đánh giá các đặc trưng của cảnh quan trên cơ sở kết hợp phân tích dữ liệu Hệ thống thông tin địa lí (GIS) về giao thông và các chỉ số cảnh quan Nghiên cứu đã hướng tới mục tiêu đề xuất phương pháp đánh giá đặc trưng và chất lượng hình ảnh của cảnh quan dưới tác động của đường giao thông tại Madrid, Tây Ban Nha Kết quả đánh giá chất lượng phong cảnh giúp hỗ trợ công tác quy hoạch và giám sát cảnh quan nhằm đảm bảo những thay đổi về tài nguyên và môi trường của lãnh thổ do đường giao thông không ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng cảnh quan [91]

Cũng trong năm này, Jian Xu và cộng sự (2016), đã đưa ra mô hình biến động

có tính hệ thống về quá trình công nghiệp hóa và đặc trưng sinh thái cảnh quan tại hành lang công nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn 2005 - 2009 Dựa trên 5 tiêu chí (công nghiệp, dân số, kinh tế đô thị, môi trường và cảnh quan sinh thái), một hệ thống được hình thành nhằm kết nối các yếu tố này thành chuỗi các dự báo theo kịch bản phát triển khác nhau Từ đây, các chỉ số cảnh quan được tính toán trên cơ

sở dữ liệu GIS không chỉ đánh giá được sự thay đổi của 4 kịch bản mà còn xác định được tiến trình phát triển tối ưu cho mục tiêu bảo vệ sinh thái CQ thông qua kết quả

dự báo mô phỏng trong giai đoạn 2015 - 2020 [112]

Corrado Diamantini (2016), đã đưa ra những cơ sở quy hoạch nông nghiệp ven đô, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững tại thành phố Alpine Nghiên cứu đã cung cấp những lí luận trong xác định chức năng của CQ đô thị cũng như các yếu tố làm suy yếu mối quan hệ đô thị - tự nhiên Điều này không chỉ đe dọa mục tiêu phát triển bền vững của thành phố mà còn đe dọa tới bản sắc truyền thống của khu vực Dựa trên cách tiếp cận hiệu quả trong quy hoạch CQ, một lãnh thổ ưu tiên phát triển nông nghiệp được hình thành nhằm duy trì các đặc trưng của cộng đồng sản xuất nông nghiệp truyền thống trước sự bành trướng của quá trình đô thị hóa [93]

Young (2016), đưa ra khung lí thuyết về quy hoạch CQ trên cơ sở đánh giá tiềm năng trí tuệ về sinh thái Những phê bình dựa trên kiến thức và lịch sử đối với

Trang 22

tính thích ứng của sinh thái cho phép kết nối các giá trị đương đại của Trung Quốc với triết lí phương Đông, cộng hưởng với tư tưởng hiện đại của phương Tây nhằm đưa ra cái nhìn phổ quát nhất về hệ thống sinh thái - xã hội Kết quả của nghiên cứu giúp con người can thiệp khôn ngoan vào tự nhiên thông qua các quy hoạch CQ có tính đối xứng cao, giữa một bên là ảnh hưởng chi phối và bên kia là cách mạng tiến

bộ của hệ thống sinh thái - xã hội Thông qua quá trình đánh giá những hiểu biết về sinh thái, mô hình lí thuyết này hứa hẹn trở thành hướng nghiên cứu có giá trị nhằm phát huy sự gắn kết của con người và sinh thái trong cảnh quan [122]

Tại Việt Nam, Trung tâm Địa lí tài nguyên - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (1992), đã xây dựng hệ thống phân vùng cảnh quan Việt Nam gồm: Đới -

Á đới - Miền - Á miền - Vùng Nguyễn Ngọc Khánh và cộng sự (1996) đã “Nghiên cứu các đơn vị phân loại cảnh quan Việt Nam tỉ lệ 1:1.000.000” Phạm Hoàng Hải

và cộng sự (1997), đã xuất bản cuốn sách “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” [20] và công trình “Nghiên cứu các nguyên tắc và hệ thống phân vị cảnh quan Việt Nam”,

để tiến đến “Phân vùng cảnh quan Việt Nam” thành 2 Á đới, 8 Miền và 66 Vùng cảnh quan trên bản đồ tỉ lệ 1:1000.000 Nguyễn Cao Huần (2005), với công trình

“Đánh giá cảnh quan theo tiếp cận kinh tế sinh thái” [32] Phạm Quang Tuấn (2006), đã “Đánh giá kinh tế sinh thái của cảnh quan đối với các loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” [71]

Cũng theo hướng này, Nguyễn An Thịnh (2007), đã hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc Sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp và

du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” [60] Bùi Thị Mai (2010), hoàn thành luận án

“Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ sử dụng hợp lí lãnh thổ lưu vực sông Ba” Trương Quang Hải (2010), có nghiên cứu “Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tỉnh Ninh Bình” Đỗ Văn Thanh (2011), hoàn thành luận án “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang” Trương Thị Tư (2011), hoàn thành luận án “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình” Trần Anh Tuấn (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí phục vụ phát triển kinh tế và sử dụng hợp lí tài nguyên huyện Quảng Ninh, tỉnh

Trang 23

Quảng Bình” Dương Thị Nguyên Hà (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi” Nguyễn Minh Nguyệt (2014), hoàn thành luận án “Cơ sở cảnh quan học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh” Nguyễn Ánh Hoàng (2016), hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái”

Mặt khác, xu hướng nghiên cứu về cấu trúc, chức năng, động lực của cảnh quan trong giải quyết các vấn đề sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững KT - XH ngày càng được quan tâm Đồng thời, với cách tiếp cận của cảnh quan học và sinh thái cảnh quan, khả năng ứng dụng trong thực tiễn không chỉ phát huy điểm mạnh “liên ngành” trong giải quyết mâu thuẫn nội tại mà còn cho phép kết nối các giá trị trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong hệ thống tự nhiên và nhân văn

Tóm lại, CQ học được hình thành và phát triển ở Nga và Đông Âu từ cuối thế

kỉ XIX với các nghiên cứu phân vùng địa lí tự nhiên, nghiên cứu các nhân tố thành tạo, thành lập Bản đồ cảnh quan Từ đây, sự phát triển của CQ học tại Châu Âu và Bắc Mĩ với xu hướng sinh thái hóa đã hình thành trường phái nghiên cứu mới phù hợp với đặc thù của các quần xã sinh vật phổ biến tại khu vực này Cho đến nay,

CQ học và sinh thái CQ đã phát triển nhanh chóng không chỉ về lí luận, phương pháp nghiên cứu mà còn có những đóng góp to lớn trong việc sử dụng hợp lí và bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường ở nhiều vùng lãnh thổ khác nhau

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về cảnh quan phục vụ tổ chức lãnh thổ

Veerle và Antrop (2000), đã đưa ra những phân tích về sự thay đổi đối với CQ truyền thống tại Miền Nam nước Pháp Dựa trên những tính toán về chỉ số hình dạng và cấu trúc của CQ Nghiên cứu đã đánh giá được những thay đổi trong động lực biến đổi của khu vực (đô thị hóa, thay đổi diện tích đất nông nghiệp ) Từ đây, nghiên cứu đã chứng minh sự thay đổi về hình thái và cấu trúc là tiền đề cho sự thay đổi về chức năng của CQ Điều này, thực sự có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động điều chỉnh và đề xuất quy hoạch của vùng [127] Cũng trong năm này, Bastian Olaf đưa ra hệ thống phân loại CQ phục vụ quy hoạch tổng thể lãnh thổ tại Đức [87]

Trang 24

Bastian (2000), đã đánh giá về sự phù hợp của đơn vị CQ đối với hoạt động của con người về chức năng cân bằng của tự nhiên cũng như sức chứa của chúng Đây là tiền đề cho việc xây dựng các mục tiêu quản lí CQ theo từng khu vực Dựa trên những đánh giá về chức năng, sự chuyển đổi qua lại giữa tự nhiên và con người

và các mục tiêu môi trường Nghiên cứu trở thành cách tiếp cận toàn diện trong đánh giá sinh thái CQ phục vụ quy hoạch phát triển tổng thể lãnh thổ [88]

Schlaepfer và cộng sự (2002), cung cấp cách tiếp cận mới dựa vào hệ sinh thái trong đánh giá đa mục đích sử dụng tài nguyên rừng, dựa vào đánh giá tầm quan trọng của cảnh quan Nghiên cứu đã tiến hành xác định mức độ duy trì chất lượng

và tiềm năng sản xuất của tài nguyên rừng Đồng thời, nghiên cứu đã tích hợp các mục tiêu sinh thái, KT - XH trong các đánh giá đa chỉ tiêu mục đích sử dụng và phát triển bền vững tài nguyên rừng [123]

Fujihara và Kikuchi (2005), quan tâm đến sự thay đổi cấu trúc CQ của lưu vực sông Nagara, Miền Trung Nhật Bản Trên cơ sở xây dựng lại cấu trúc cũ kết hợp với việc phân tích các bản đồ thành phần, nghiên cứu xác định những thay đổi CQ ở lưu vực sông theo những thay đổi trong mô hình sử dụng đất Đây là cơ sở để quy hoạch bảo tồn và duy trì đa dạng sinh học cho quản lí các lưu vực sông [103] Cũng dựa trên những phân tích sự thay đổi về cấu trúc cảnh quan, Matsushita

và cộng sự (2006), đưa ra những nhận định dựa trên dữ liệu GIS tại lưu vực hồ Kusumigaura [dẫn theo 107] Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, xu hướng phân mảnh

và bất đồng nhất của cảnh quan xuất phát từ sự suy giảm diện tích che phủ rừng, đất nông, lâm nghiệp và gia tăng tỉ lệ đất đô thị

Ngoài ra, hướng nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng các loại tài nguyên: tài nguyên đất, Su Shiliang và cộng sự (2011), rừng Katsue và cộng sự (2000), nông nghiệp, Xi và cộng sự (2009), Thông qua sự phát triển qua các hệ thống sinh thái

xã hội Quá trình đánh giá dựa trên mô tả (i) các giai đoạn sử dụng TNTN; (ii) phân chia không gian và các áp lực của CQ; (iii) phân tích hậu quả đối với nguồn vốn tự nhiên và xã hội, Angelstam và cộng sự (2013)

Fuseini và Kemp (2015), đã đánh giá quy hoạch không gian tới chiến lược phát triển KT - XH tại Ghana theo các nguyên tắc của phát triển bền vững Các quy hoạch không gian theo thời gian đã bị lu mờ vai trò đối với hoạt động KT - XH Do

đó, các mục tiêu phát triển bền vững được thực hiện tại các khu vực đô thị thông

Trang 25

qua chính sách sử dụng đất đai và dự luật quy hoạch không gian Điều này đã khắc phục được những hạn chế trước đây của quá trình sử dụng đất không theo quy hoạch, đối mặt với hàng loạt vấn đề KT - XH nảy sinh Khi đó, hệ thống phân cấp quản trị sử dụng đất không thể đảm bảo quy hoạch được thực hiện thành công Do vậy, những nỗ lực tái cấu trúc không gian sẽ hỗ trợ chính phủ đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong tương lai [109]

Carolin Gallera và cộng sự (2016), đã đưa ra kiến nghị giải quyết những thách thức khi thực hiện vấn đề quy hoạch môi trường dựa trên quá trình tích hợp các dịch

vụ hệ sinh thái ở quy mô khu vực Quá trình áp dụng khái niệm dịch vụ hệ sinh thái

đã cho phép cân nhắc vấn đề đánh đổi chức năng và đa chức năng của hệ sinh thái trong ra quyết định Những tác động tiềm năng cho phép quy hoạch và quản lí các đối tượng có tính tương tác liên ngành dựa trên những tác động mang tính cá nhân hay xã hội hoặc có sự tham gia của cộng đồng Đồng thời, quá trình đánh giá tích hợp này cho phép hình thành khung tham chiếu đánh giá và giám sát môi trường thông qua sự phân biệt lợi ích kinh tế của cộng đồng, cá nhân với những rủi ro có thể mang lại Kết quả nghiên cứu cho phép đánh giá các đối tượng trong quá trình quy hoạch theo phương thức định giá kinh tế [92]

Ở Việt Nam, các Chương trình Khoa học cấp Nhà nước phục vụ định hướng

sử dụng hợp lí lãnh thổ bao gồm:

Chương trình Tây Nguyên I, đã tập trung điều tra cơ bản các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và KT - XH đồng thời tiến hành công tác phân vùng địa lí tự nhiên vùng Tây Nguyên

Chương trình Tây Nguyên II, tập trung nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững toàn vùng Tây Nguyên nói chung và một số khu vực trọng điểm nói riêng Đồng thời, đánh giá thực trạng tài nguyên môi trường tự nhiên và kinh tế, văn hóa,

xã hội của Tây Nguyên sau hơn 20 năm khai thác nhằm đề xuất và xây dựng luận

cứ phát triển bền vững Tây Nguyên

Chương trình Tây Nguyên III, tập trung cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ quy hoạch phát triển KT - XH Tây Nguyên; Đề xuất chuyển giao công nghệ tạo ra các sản phẩm hàng hóa và công nghệ xử lí môi trường nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển tiềm lực KHCN Tây Nguyên; Cảnh báo thiên tai nguy

Trang 26

hiểm thường xảy ra trên Tây Nguyên, đồng thời xây dựng giải pháp phòng tránh giảm nhẹ thiệt hại do các dạng thiên tai này gây ra

Chương trình Khoa học Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc giai đoạn (2013 - 2018), với mục tiêu cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ điều chỉnh, xây dựng chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển bền vững, góp phần

đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Tây Bắc; Đề xuất các mô hình sinh kế, phát

triển kinh tế phù hợp cho một số tiểu vùng, liên vùng, góp phần cải thiện và từng bước nâng cao mức tăng trưởng kinh tế của vùng Tây Bắc; Đề xuất, chuyển giao các giải pháp khoa học và công nghệ phù hợp nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; Xác định nhu cầu đào tạo và đề xuất giải pháp phù hợp phát triển nguồn nhân lực vùng Tây Bắc

Các công trình nghiên cứu phục vụ tổ chức không gian lãnh thổ của các nhà khoa học cũng được tiến hành, tiểu biểu là nghiên cứu của Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (1998), “Phân vùng khí hậu Việt Nam” [46]; Trương Quang Hải (2008), “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và phát triển bền vùng vùng núi đá vôi Ninh Bình” [25]; Nguyễn Cao Huần, Nguyễn An Thịnh và cộng sự (2003), “Tiếp cận địa lí trong nghiên cứu phát triển nông nghiệp miền núi (nghiên cứu mẫu tại xã Mường Vi, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai)” [29]; Đỗ Văn Thanh (2011), “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang” [56]; Vũ Quốc Đạt (2013), “Thiết lập cơ sở địa lí học phục vụ tổ chức lãnh thổ, sử dụng hợp

lí tài nguyên, bảo vệ môi trường vùng Tây Bắc Việt Nam” [15]; Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014), “Cơ sở cảnh quan học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông, lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh” [47]

1.1.3 Các công trình nghiên cứu cảnh quan liên quan đến vùng chuyên canh

Sự phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm đem lại nhiều lợi ích cho cộng đồng địa phương trên nhiều phương diện kinh tế, xã hội và môi trường

Điển hình là nghiên cứu của Chunlong Shi và cộng sự (2011), về phát triển cây lúa mì lâu năm trong hệ thống sinh thái nông nghiệp nhằm đối phó với vấn đề bảo vệ môi trường và an ninh lương thực Trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đang thu hẹp lại, lựa chọn phát triển các vùng chuyên canh lâu năm trở thành giải pháp lâu dài, bền vững, khắc phục được tình trạng xói mòn và thoái hóa đất Kết

Trang 27

quả của nghiên cứu nêu bật được những lợi ích sinh thái khi phát triển nông nghiệp bền vững từ phát triển vùng chuyên canh cây lâu năm [94]

Yanming Zhang và cộng sự (2011), cũng đã nhấn mạnh tính bền vững về mặt môi trường trong phát triển sản xuất cây lâu năm Sự thay thế các cây trồng hàng năm tạo điều kiện cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu cho hệ thống sản xuất (chống xói mòn, tiết kiệm nước và chất dinh dưỡng, kháng chịu sâu bệnh, )

Từ đây, tiềm năng sản xuất cây trồng lâu năm cho mục tiêu đảm bảo tính bền vững môi trường và hiệu quả nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong duy trì các lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái, bảo đảm sinh kế ở các vùng đồi núi [128]

Không những vậy, lợi ích từ quá trình sản xuất chuyên canh cây lâu năm còn đem lại nhiều hiệu quả về kinh tế Qua đối sánh của David Pimentel và cộng sự (2012) [101], tuy cây hàng năm chiếm ưu thế (70% diện tích đất canh tác và cung cấp 80% lương thực cho toàn cầu) nhưng sự phát triển của hệ thống cây lâu năm gần đây cũng có nhiều ưu điểm (i) tiết kiệm năng lượng và nhân công (cày bừa và gieo hái 1 lần trong 5 - 6 năm); (ii) giảm xói mòn đất; (iii) giảm lượng phân bón; (iv) không phải đầu tư phát triển giống cây trồng trong nhiều năm Đây là những lợi thế so sánh riêng có của chuyên canh cây lâu năm nhằm phát triển ngành nông nghiệp đa dạng, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực trong tương lai

Erickson và cộng sự (2013), tiến hành nghiên cứu về cách thức xác định, định lượng và phân loại cơ hội sản xuất nông nghiệp đối với hoạt động quy hoạch sử dụng đất tại Mĩ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình đô thị hóa đang gây ra những thiệt hại nặng nề đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp Kết quả đã đưa ra những khám phá ban đầu về khả năng cung cấp sản phẩm nông nghiệp tự túc ở cấp độ cộng đồng Đồng thời, đây là căn cứ để xác lập các không gian mở thích hợp theo nhiều mức độ sản xuất nông nghiệp [100]

Kaixian Wu và Bozhi Wu (2014), đã nghiên cứu lợi ích môi trường tiềm năng khi tiến hành trồng xen canh cây hàng năm họ đậu trong các vùng trồng cây lâu năm tại Trung Quốc Với quá trình tích hợp kĩ thuật này, hoạt động sản xuất cây lâu năm không chỉ đảm bảo tính bền vững về mặt sinh thái mà còn tạo điều kiện phát triển

về mặt kinh tế (gia tăng nguồn thu từ sản xuất xen canh theo vụ, nâng cao chất lượng giống cây trồng, tích hợp thêm nhiều hệ thống cây trồng - vật nuôi, ) Đồng

Trang 28

thời, kết quả nghiên cứu cho phép đánh giá chi tiết về tiềm năng phát triển vùng sinh thái nông nghiệp bền vững trong tương lai [114]

Niemmanee và cộng sự (2015), đã đưa ra những đánh giá về điều kiện KT -

XH và môi trường tới hệ thống quản lí nông nghiệp bền vững tại Thái Lan Nếu như những năm đầu thập niên 60 của thế kỉ XX, quá trình khuyến khích độc canh hướng tới định hướng xuất khẩu thì tới năm 1980, xu hướng thâm canh bắt đầu được áp dụng Kể từ đây, những vấn đề ô nhiễm môi trường đất, điều kiện KT - XH tác động tới sản xuất nông nghiệp đã và đang đe dọa tới hoạt động sản xuất nông nghiệp bền vững Tuy nhiên, mỗi khu vực lại phải tìm phương cách giải quyết bài toán nông nghiệp bền vững theo cách riêng trên các khía cạnh sinh thái, kinh tế và xã hội Kết quả phân tích điều kiện lãnh thổ sẽ cho phép quy hoạch hệ thống nông nghiệp bền vững với những mô hình hỗn canh, trong đó ưu tiên cây lâu năm [126]

Semporea và cộng sự (2015), đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ và vai trò của tất cả mô hình trang trại nhằm hỗ trợ hoạt động sản xuất nhỏ của nông dân trong

kế hoạch mùa của họ Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, 3 loại mô hình sử dụng trong hỗ trợ ra quyết định của người dân cho phép mô phỏng các điều kiện sản xuất nông nghiệp, xây dựng nguyên tắc trong quy trình ra quyết định và tối ưu hóa hoạt động thảo luận nhằm cải thiện thu nhập trong tương lai Do các mô hình đơn giản, những hiểu biết về nhận thức ra quyết định và so sánh điểm mạnh - yếu sẽ giúp người nông dân xác định mục tiêu ngắn hạn một cách cụ thể Đồng thời, tối ưu được chiến lược cải thiện thu nhập thực tiễn hơn [125]

Chiara Vallebona và cộng sự (2016), cũng đưa ra những bằng chứng, chứng minh lợi ích chống xói mòn tiềm năng khi phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại khu vực phía nam Tuscany, Italya Trên cơ sở phân tích trên dữ liệu GIS các yếu tố gây xói mòn (lượng mưa, độ che phủ và các động lực gây xói mòn), nghiên cứu đã chỉ ra: (i) diện tích đất canh tác tiềm năng bị ảnh hưởng do xói mòn; (ii) xác định những khu vực có nguy cơ xói mòn cao; (iii) xây dựng các kịch bản giảm xói mòn tiềm năng từ hoạt động trồng cây lâu năm Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp những thông tin hữu ích, làm cơ sở để các nhà quy hoạch sử dụng như một

công cụ phân tích định lượng hỗ trợ ra quyết định trong sản xuất nông nghiệp [95]

Trang 29

Như vậy, hướng phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm là xu hướng chính nhằm duy trì an ninh năng lượng và lương thực, đảm bảo các mục tiêu môi trường trong khi vẫn duy trì tính bền vững trong quy hoạch sử dụng đất

Tại Việt Nam, đánh giá thích nghi sinh thái CQ đối với cây lâu năm được nhiều nhà khoa học nghiên cứu: Lê Văn Thăng (1995), đã “Đánh giá, phân hạng điều kiện sinh thái tự nhiên lãnh thổ trung du Quảng Trị và Thừa Thiên Huế cho nhóm cây công nghiệp nhiệt đới dài ngày” [53]; Nguyễn Cao Huần và cộng sự (2000, 2004), nghiên cứu “Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá, quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày và tích hợp ALES - GIS trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” Trên cơ

sở Bản đồ CQ, các tác giả đã tích hợp ALES - GIS, được thực hiện bằng cách xây dựng các cây quyết định Thực chất, đây là giải pháp suy luận đa cấp với số liệu đã được phân loại, thực hiện theo cách “yêu cầu - đáp ứng” để đưa đến kết quả đánh giá cuối cùng [30]; Nguyễn Xuân Độ (2004), có nghiên cứu “Đánh giá các vùng chuyên canh cà phê, cao su tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông trên quan điểm địa lí học” Tác giả đã phân chia lãnh thổ thành 12 vùng sinh thái CQ thuộc 3 nhóm vùng: cao nguyên (5 vùng), núi (4 vùng), bán bình nguyên, thung lũng (3 vùng), trong đó lựa chọn được 4 vùng thích hợp cho phát triển tập trung cà phê và cao su, đồng thời so sánh kết quả đánh giá thích nghi sinh thái với hiện trạng sử dụng đất để khuyến nghị các phương án phát triển cây cà phê và cao su ở 2 tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông [16] Cũng theo hướng đánh giá thích nghi sinh thái CQ đối với cây lâu năm, Phạm Quang Tuấn (2006), đã “Đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan đối với các loại hình

sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” Tác giả đã xây dựng hệ thống phân loại CQ huyện Hữu Lũng gồm 4 cấp phân vị, trong đó dạng CQ

là đơn vị cơ sở để đánh giá kinh tế sinh thái và đề xuất định hướng không gian phát triển cây ăn quả lâu năm ở huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn [71]; Nguyễn Sinh Cúc (2009) đã có nghiên cứu về “Những vấn đề trong phát triển cây công nghiệp lâu năm tại Việt Nam” Nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp nhằm phát triển cây công nghiệp lâu năm dựa trên đặc điểm sinh thái và xu hướng thay đổi thị trường tiêu thụ, hướng sử dụng một số sản phẩm từ cây công nghiệp lâu năm trong tương lai [6]; Trương Quang Hải (2008), đã hoàn thành đề tài “Nghiên cứu và xác lập cơ

sở khoa học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và phát triển bền vùng vùng núi đá

Trang 30

vôi Ninh Bình” Tác giả đã xây dựng hệ thông phân loại CQ gồm 4 cấp phân vị, trong đó dạng CQ là đơn vị cơ sở để đánh giá thích nghi sinh thái cho một số cây trồng điển hình của vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình [25]; Hà Văn Hành và cộng sự (2012), đã “Đánh giá thích nghi sinh thái CQ và đề xuất quy hoạch phát triển các vùng chuyên canh hàng hóa khu vực gò đồi tỉnh Quảng Bình” [19]; Đặng Thị Huệ

và cộng sự (2013) cũng “Đánh giá cảnh quan cho phát triển cây bưởi ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ” [34]; Nguyễn Đăng Hội (2004), đã “Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên đất rừng” Kết quả đánh giá các đơn vị CQ tại tỉnh Kon Tum, tác giả đã đề xuất một số

mô hình sử dụng hợp lí tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu điểm [28]

Ở các tỉnh, dự án đi đầu nghiên cứu về vùng chuyên canh cây trồng là “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi nhằm phát triển bền vững vùng chuyên canh cây ăn quả: cam, quýt, bưởi, nhãn ở Đồng bằng sông Cửu Long” được Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam thực hiện năm 2009 Dự án này tiếp cận từ thực tiễn nhu cầu của người dân và những thế mạnh tự nhiên, tri thức bản địa vùng Đồng bằng sông Cửu Long Dự án đã xây dựng 3 mô hình tưới tiêu cho hệ thống vùng chuyên canh cây ăn quả Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã đánh giá thực trạng phát triển vùng chuyên canh và bố trí lại hệ thống cây ăn quả phù hợp với mỗi vùng Kết quả của dự án là tiền đề cho nghiên cứu phát triển vùng chuyên canh cây ăn quả lâu năm tại Đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam

Để thấy rõ hiệu quả của mô hình chuyên canh trong trồng trọt, Đặng Thị Kim Phượng (2011), đã có nghiên cứu “So sánh hiệu quả sản xuất giữa 2 mô hình độc canh lúa 3 vụ và lúa luân canh với màu tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang” Nghiên cứu được thực hiện dựa trên phân tích chi phí, lợi ích của 2 mô hình, từ đó phân tích được những yếu tố tác động tới hiệu quả của mỗi mô hình Nghiên cứu chỉ ra, mỗi

mô hình có những thế mạnh riêng về cải tạo độ phì nhiêu đất và năng suất lúa Tác giả cũng đề xuất mô hình phát triển cho mỗi đơn vị lãnh thổ nhất định tại tỉnh Tiền Giang Qua nghiên cứu này, cơ sở lí luận về vùng chuyên canh lúa bước đầu được thiết lập trên cơ sở phân tích những thế mạnh, điểm yếu mà nó mang lại

Năm 2012, tỉnh Hưng Yên đã thực hiện đề án “Bảo tồn giống nhãn và nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm vùng chuyên canh tại tỉnh Hưng Yên giai đoạn

2012 - 2015” Dự án được thực hiện trên địa bàn các huyện Kim Động, Khoái Châu,

Trang 31

Tiên Lữ và thành phố Hưng Yên với diện tích hơn 30 ha Với mô hình chuyên canh này, nhãn Lồng của tỉnh Hưng Yên đã đảm bảo về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của cả nước Đặc biệt, năm 2015, lần đầu tiên sản phẩm nhãn Lồng của Hưng Yên được xuất khẩu sang thị trường Mĩ, đánh dấu mốc quan trọng của nền kinh tế tỉnh Hưng Yên và Việt Nam Mô hình chuyên canh nhãn đang được tỉnh thúc đẩy nghiên cứu và nhân rộng ra nhiều huyện khác trên địa bàn

Năm 2014, tỉnh An Giang đã hoàn thành đề án “Quy hoạch chi tiết các vùng sản xuất chuyên canh hàng hóa đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phân tích các nguồn lực tự nhiên và KT - XH tại mỗi vùng của tỉnh Trên cơ sở so sánh với bối cảnh phát triển nông nghiệp trong nước và quốc tế, 3 vùng chuyên canh đã được tỉnh phê duyệt, bao gồm vùng chuyên canh lúa hàng hóa, vùng chuyên canh nuôi trồng thủy sản, vùng chuyên canh rau màu hàng hóa Với kết quả của nghiên cứu này, phát triển nông nghiệp tỉnh An Giang đã được hoạch định cho từng vùng với từng đối tượng chuyên canh cụ thể Đây là cơ

sở cho các tỉnh, thành phố khác của Việt Nam tiến hành nghiên cứu và quy hoạch vùng chuyên canh trong sản xuất nhằm tăng giá trị của các sản phẩm nông nghiệp Phân tích những công trình nghiên cứu trên cho thấy, nghiên cứu về cây lâu năm và vùng chuyên canh cây trồng tại Việt Nam mới được quan tâm trong những năm gần đây Do vậy, nghiên cứu đề xuất không gian phát triển vùng chuyên canh cây lâu năm trên quan điểm tiếp cận CQ tại tỉnh Sơn La là cần thiết Đây là cơ sở khoa học để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp nhằm sử dụng hợp lí các thế mạnh về tự nhiên và nhân văn của địa phương

1.1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án tại tỉnh Sơn La

Lê Thái Bạt (1995), với công trình nghiên cứu “Đất Sơn La và vấn đề sử dụng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” Nghiên cứu đã cung cấp các kết quả đánh giá về chất lượng đất, định hướng sử dụng đất trên quan điểm phát triển bền vững và sinh thái học Tác giả dựa trên các kết quả thu thập về điều kiện tự nhiên và hiện trạng sử dụng đất tại tỉnh Sơn La Lãnh thổ Sơn La được tác giả phân chia thành 4 vùng với 11 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp

Cũng trong năm 1995, Nguyễn Thế Thôn đã hoàn thành đề án “Xây dựng bộ Bản đồ tài nguyên thiên nhiên - kinh tế - xã hội và Cơ sở dữ liệu bản đồ và số liệu điều tra cơ bản tỉnh Sơn La” Đề án đã cung cấp những thông tin về điều kiện tự

Trang 32

nhiên, KT - XH của Sơn La ở tỉ lệ 1:1000.000 Trong đó, Bản đồ cảnh quan sinh thái và đánh giá cảnh quan sinh thái trên cơ sở nguyên tắc cá thể đã xác định mức

độ thuận lợi cho nhiều loại cây trồng trên cơ sở tổng hợp các điều kiện tự nhiên, làm tiền đề cho hoạt động quy hoạch nông, lâm nghiệp sau này

Vũ Tự Lập (1996), hoàn thành “Tập Bản đồ Địa lí địa phương Việt Nam” Tác giả đã xây dựng 5 bản đồ chuyên đề cho tỉnh Sơn La, tỉ lệ 1:1.000.000 Kết quả của

đề tài đã thể hiện thông tin về 52/85 Cảnh địa lí của khu vực Tây Bắc với các quy hoạch cụ thể cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, trung tâm công nghiệp và đô thị Đồng thời, do đặc trưng về địa hình bị chia cắt mạnh, phần lớn diện tích của tỉnh được định hướng trở thành các vùng chức năng khôi phục - khai thác rừng và vùng khôi phục - bảo vệ rừng Các khu vực được ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp dọc Quốc lộ 6, hiện nay nằm trong vùng kinh tế động lực của tỉnh Kết quả nghiên cứu có tính khái quát cao, dữ liệu đã cũ, song có giá trị lớn về mặt phương pháp luận cho các nghiên cứu sau này trên địa bàn tỉnh Sơn La [41] Trên cơ sở này, Lê Mỹ Phong (2002), tiến hành đánh giá quá trình sử dụng hợp lí tài nguyên lãnh thổ tại thời điểm xây dựng công trình Thủy điện Sơn La Dựa trên cách tiếp cận CQ Kết quả nghiên cứu đã xác định những biến động về tự nhiên trước và sau khi xây dựng Thủy điện Sơn La Đồng thời, xác lập được 115 loại CQ

và phân vùng chức năng của 154 tiểu vùng trên địa bàn tỉnh Sơn La Ngoài ra, các thông tin về điều kiện tự nhiên từ sau thời điểm xây dựng thủy điện được tiến hành điều chỉnh, cập nhật và thể hiện trên Bản đồ CQ ở tỉ lệ 1:250.000 [50]

Lê Quốc Thanh (2003), có nghiên cứu “Tác động của các loại hình sử dụng đất đối với phát triển nông nghiệp ở huyện Yên Châu tỉnh Sơn La” Tác giả đã đánh giá tiềm năng đất đai, khí hậu phục vụ phát triển nông nghiệp ở huyện Yên Châu, phân loại các loại hình sử dụng đất giai đoạn 1975 - 2000 Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lí cho huyện Yên Châu thông qua đánh giá các loại hình sử dụng đất và so sánh hiệu quả kinh tế của chúng

Nguyễn Cao Thịnh (2009), đã “Nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La” Tác giả đã đánh giá tổng quan tình hình và thực trạng phát triển trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La Đồng thời, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại của đồng bào

Trang 33

dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Sơn La

Đỗ Thúy Mùi (2010), hoàn thành luận án “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La” Tác giả đã đánh giá các tài nguyên du lịch, xác định được các hình thức tổ chức lãnh thổ và đưa ra các giải pháp phát triển du lịch tại tỉnh Sơn La

Nguyễn Văn Hồng (2012), hoàn thành luận án “Nghiên cứu sự thích ứng với điều kiện sống mới của dân di cư vùng Thủy điện Sơn La” Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lí luận về thích ứng, phân tích và làm sáng tỏ bản chất của sự thích ứng đối với dân di cư vùng Thủy điện Sơn La Ngoài ra, tác giả còn khảo sát thực tiễn, phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lí, xã hội đến sự thích ứng với môi trường sống và sản xuất nơi ở mới Đồng thời, đề xuất kiến nghị giải pháp nhằm giúp dân di cư thích ứng nhanh với điều kiện sống mới

Vũ Quốc Đạt (2012), đã hoàn thành luận án “Thiết lập các cơ sở địa lí học phục vụ tổ chức lãnh thổ, sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng Tây Bắc” Nghiên cứu đã phát huy các ưu điểm về tiếp cận CQ Đồng thời đề xuất không gian tổ chức lãnh thổ cho vùng Tây Bắc ở tỉ lệ 1:250.000 [15]

Lê Thị Thu Hòa (2016), đã xác định không gian trồng cây chè ở tỉnh Sơn La trên cơ sở đánh giá thích nghi sinh thái các loại cảnh quan Tác giả đã kế thừa Bản

đồ cảnh quan tỉnh Sơn La ở tỉ lệ 1:250.000 để đánh giá thích nghi sinh thái và đề xuất không gian ưu tiên trồng cây chè ở tỉnh Sơn La [27]

Như vậy, các nghiên cứu tại tỉnh Sơn La không chỉ tập trung vào từng yếu tố hợp phần của CQ mà còn hướng tới những đánh giá mang tính tổng hợp từ khá sớm Số lượng các nghiên cứu trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp có tính hoàn chỉnh, trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả công tác quy hoạch Tuy nhiên, do các nghiên cứu không được cập nhật và điều chỉnh nên tính thời sự và hiệu quả của nghiên cứu trong quy hoạch không còn đáp ứng được nhu cầu hiện tại

Mặt khác, các nghiên cứu này được thực hiện ở tỉ lệ 1:1.000.000 (Vũ Tự Lập) hoặc 1:250.000 (Lê Mỹ Phong, Vũ Quốc Đạt, Lê Thị Thu Hòa), đều mang tính khái quát cao Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá cảnh quan thực hiện ở tỉ lệ 1:50.000 là cần thiết và phù hợp nhằm đề xuất không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La trong bối cảnh hiện nay và trong tương lai

Trang 34

1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN

1.2.1 Khái niệm cảnh quan

Khái niệm cảnh quan được sử dụng lần đầu tiên vào đầu thế kỉ XX, nghĩa là phong cảnh Hiện nay, ở Nga và các nước khác thuộc Liên Xô trước đây, trong khoa học địa lí tồn tại 3 quan niệm về CQ tùy theo ý và nội dung người ta muốn diễn đạt: cảnh quan là khái niệm chung (Minkov, Armand, ), đồng nghĩa với tổng thể địa lí thuộc các đơn vị khác nhau; là khái niệm loại hình (Polunov, Gvozdetxki, ); là khái niệm cá thể (Xontxev, Ixatsenko, Vũ Tự Lập) Dù theo khía cạnh nào thì CQ vẫn được xem là tổng thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các quan niệm trên ở chỗ coi CQ là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, CQ được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải [dẫn theo 32]

Tại Việt Nam, có nhiều nhà khoa học có quan điểm cảnh quan là khái niệm loại hình Tiêu biểu như Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997) [20]; Nguyễn Kim Chương (2001) [9]; Nguyễn Cao Huần (2005) [32]; Trương Quang Hải (2008) [25]; Phạm Quang Tuấn (2006) [71]; Đỗ Văn Thanh (2011) [56]; Nguyễn An Thịnh (2014) [62]

Trong quan niệm loại hình, đơn vị phân loại CQ thể hiện được rõ nét cả 2 quy luật địa đới và phi địa đới, đồng thời là địa hệ tự nhiên cấp cơ sở có cấu trúc hình thái riêng Điều này, thể hiện một trong những đặc tính của tập hợp - đặc tính nổi bật chỉ có trong hệ thống các cấp, mà mỗi cấp có tính chất riêng cho sự liên kết tương hỗ của các yếu tố hợp thành Quan niệm này có lợi thế trong phân loại và thành lập Bản đồ CQ phục vụ các mục đích ứng dụng thực tiễn Tuy nhiên, khi có yếu tố chưa định lượng được, cần phải công nhận tính đồng nhất tương đối để có thể ghép vào một nhóm, một dạng có thể định lượng được, đưa ra các phương án khả dĩ, tính toán được nhiều vấn đề, nhiều mặt để bố trí sản xuất hợp lí [20]

Về bản chất, CQ là tổng thể tự nhiên phức tạp, vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất Tính đồng nhất của CQ được hiểu ở chỗ, một lãnh thổ mà trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi như không đổi, nghĩa là đồng nhất Tính bất đồng nhất được biểu thị ở 2 mặt: (i)

CQ bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thủy văn, đất, thực vật) tạo nên (ii) Mỗi thành phần trong CQ tồn tại ở nhiều dạng khác nhau Chính những điều nói trên, đòi hỏi các nhà địa lí khi nghiên cứu, đánh giá CQ phải

Trang 35

xuất phát từ quan điểm tổng hợp và quan điểm hệ thống [dẫn theo 32]

Trong quá trình thực hiện luận án, NCS quan niệm CQ là khái niệm loại hình Quan niệm này, thể hiện được những quy luật phân hóa trong hệ thống phân loại, có chỉ tiêu, dấu hiệu chẩn đoán từng cấp phân vị, có đầy đủ các tính chất của hệ thống

tự nhiên động lực hở phức tạp Đồng thời, đáp ứng được mục tiêu, phù hợp với nội dung, lãnh thổ và tỉ lệ nghiên cứu của đề tài luận án NCS đã kế thừa và vận dụng quan niệm này trong thành lập Bản đồ CQ; phân tích quy luật phân hóa của lãnh thổ; lựa chọn đơn vị cơ sở nghiên cứu, đánh giá, phân hạng, đề xuất định hướng không gian ưu tiên phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh Sơn La

1.2.2 Nhân tố thành tạo cảnh quan

Trong nhiều công trình nghiên cứu, các tác giả đều quan tâm phân tích đặc điểm, vai trò các nhân tố thành tạo CQ và mối quan hệ giữa chúng Vì sự phân hóa của các đơn vị phân loại CQ vừa phụ thuộc vào sự phân hóa của các nhân tố thành tạo CQ, vừa phụ thuộc và mối quan hệ và tương tác giữa các hợp phần với nhau Theo tiếp cận sinh thái, các nhân tố thành tạo cảnh quan được chia thành 2 nhóm: nhóm nguyên sinh và nhóm thứ cấp Dựa vào mức độ tác động của các nhân

tố có thể nhóm các nhân tố thành 3 nhóm: các thành phần cứng, các thành phần động và các thành phần tích cực, Krauklis (1979) [113]

Tại Châu Âu, quan điểm CQ là địa tổng thể đầy đủ được áp dụng để thành lập Bản đồ sinh thái CQ Zonneveld (1995), đã đồng nhất đất đai với CQ nhằm thể hiện tổng hợp các mối quan hệ tương tác và mối quan hệ phát sinh giữa các nhân tố và thuộc tính đất đai Ở Bắc Mĩ, quan niệm về CQ đơn giản hơn nên không phải toàn

bộ các nhân tố mà chỉ những nhân tố được quan tâm nghiên cứu mới được xem xét

Ở Việt Nam, Nguyễn An Thịnh (2012), cho rằng các nhân tố thành tạo CQ là những nhân tố không gian, thời gian trong nội tại và bên ngoài CQ có vai trò hình thành cấu trúc, chức năng và chế độ động lực trong CQ Khác với các hợp phần CQ chỉ được xem xét trong cùng một hệ thống, các nhân tố thành tạo CQ được xem xét

ở cả hệ thống được nghiên cứu và hệ thống lớn hơn CQ được cấu tạo bởi các thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt vật chất và năng lượng [61]

Nhân tố thành tạo CQ được định nghĩa là: Các thực thể địa lí độc lập tương đối nhưng tác động lẫn nhau thành tạo môi trường địa phương trong CQ, bao gồm mẫu chất (hệ tầng, đá mẹ, trầm tích), địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, lớp

Trang 36

phủ thực vật (đối với CQ tự nhiên và bán tự nhiên) hoặc lớp phủ sử dụng đất (đối với CQ văn hóa) Mối liên hệ giữa các nhân tố thông qua các quá trình hệ sinh thái trong cấu trúc đứng, câu trúc ngang và cấu trúc thời gian của CQ Theo khái niệm này thì các nhân tố thành tạo CQ bao gồm: (i) Nhóm nhân tố vùng: bao gồm 3 nhân

tố có ảnh hưởng trực tiếp tới hình thành các nhân tố cảnh quan là địa chất - kiến tạo, kiểu khí hậu và khu hệ sinh vật; (ii) Nhân tố con người [61]

Đối với tỉnh Sơn La, luận án đã phân tích đặc điểm phân hóa, vai trò của các nhân tố thành tạo CQ và mối quan hệ, tác động giữa chúng Đồng thời, sắp xếp các nhân tố thành tạo CQ thành từng nhóm Nhóm nhân tố vô sinh bao gồm: nền địa chất, địa hình và các quá trình địa mạo, khí hậu, thủy văn Nhóm nhân tố hữu sinh gồm: thổ nhưỡng và thế giới sinh vật, thời gian và hoạt động của con người

1.2.3 Hệ thống phân loại cảnh quan

Nghiên cứu sử dụng hợp lí các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên không thể tiến hành trên phạm vi rộng lớn, mà phải chia thành các lãnh thổ nhỏ hơn

Hệ thống phân vị cảnh quan được ra đời cùng với sự xuất hiện các quan niệm

về CQ Kết quả phân loại CQ sẽ là những căn cứ quan trọng để thành lập Bản đồ

CQ cho một vùng lãnh thổ được xác định Tùy theo quan niệm của mỗi người và lãnh thổ nghiên cứu mà các hệ thống phân loại được hình thành như: Hệ thống phân loại của các đơn vị đồng phụ thuộc, Ixatsenko (1976), với 8 cấp phân vị: Nhóm kiểu

- Kiểu - Phụ kiểu - Lớp - Phụ lớp - Loại - Phụ loại - Thể loại; Hệ thống phân loại của Gvozaexki (1961), gồm 5 cấp phân vị: Lớp - Kiểu - Phụ kiểu - Nhóm, Loại Ngoài ra, có nhiều hệ thống phân loại khác như: hệ thống phân loại cảnh quan của Nhicolaev, Polunov, Mitchell và Howard,… [dẫn theo 20]

Ở Việt Nam, nhiều hệ thống phân loại cảnh quan khác nhau được xây dựng phù hợp với mục tiêu và lãnh thổ nghiên cứu Vũ Tự Lập (1976), đã đưa ra hệ thống phân loại CQ Địa lí Miền Bắc Việt Nam gồm 16 cấp phân vị, lớn nhất là “địa lí quyển”, cấp nhỏ nhất là “điểm địa lí” Mỗi đơn vị đều có chỉ tiêu xác định, rất thuận lợi trong phân vùng ở mọi tỉ lệ trên mọi quy mô lãnh thổ [40] Hệ thống phân loại của Hoàng Đức Triêm với 6 cấp phân vị, ứng dụng xây dựng Bản đồ CQ tỉnh Quảng Trị, tỉ lệ 1:200.000 gồm: Hệ CQ - Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Phụ lớp CQ - Kiểu

CQ - Loại CQ Nguyễn Cao Huần (2003), đã sử dụng hệ thống phân loại gồm 6 cấp phân vị: Hệ CQ - Phụ hệ CQ - Lớp CQ - Kiểu CQ - Hạng CQ - Loại CQ [29] Phạm

Trang 37

Hoàng Hải và cộng sự (1997), xây dựng hệ thống phân loại cảnh quan áp dụng cho lãnh thổ Việt Nam ở tỉ lệ bản đồ 1:1.000.000 gồm 7 cấp phân vị: Hệ CQ - Phụ hệ

CQ - Lớp CQ - Phụ lớp CQ - Kiểu CQ - Phụ kiểu CQ - Loại CQ [20]

Hệ thống phân loại CQ có nhiều cấp tương ứng mức độ phân loại các thành phần CQ theo các yếu tố cùng tỉ lệ bản đồ Đơn vị phân loại cảnh quan ở cấp càng thấp thì sự tham gia của các yếu tố của các thành phần cảnh quan càng nhiều

1.2.4 Hệ thống phân vùng cảnh quan

Theo Ixatsenko (1976), “Phân vùng cảnh quan được xem như là một phương pháp toàn năng, nhằm sắp xếp và hệ thống lại các lãnh thổ đã được sử dụng rộng rãi trong các khoa học địa lí, kể cả phân vùng tự nhiên bộ phận cũng như phân vùng địa

lí tự nhiên tổng hợp” [35]

Trên thế giới, phân vùng cảnh quan được chia thành các nhóm sau: (i) Hệ thống phân vùng sắp xếp theo tính địa đới và phi địa đới ở cấp cao (Grigogiev, XoTrava, Minkov); (ii) Hệ thống phân vùng dựa vào tính địa đới và phi địa đới (Sukin, Ixatsenko): Đới - Xứ - Miền - Vùng, hệ thống phân vùng này không có sự luân phiên giữa các đơn vị mang tính địa đới và phi địa đới; (iii) Hệ thống phân vùng dựa vào tính phi địa đới tự nhiên, hệ thống này hoàn toàn loại bỏ các quy luật địa đới trong phân hóa cảnh quan: Lục địa - Xứ - Miền - Vùng, Xontxev (1958); (iv) Hệ thống phân vùng dựa vào tổng thể các yếu tố địa lí, trên nguyên tắc đánh giá tổng hợp các nhân tố phân hóa địa lí tự nhiên (Gvozaexki, Mikhailop, Kondratxki):

Xứ - Đới - Khu - Á đới - Á khu - Vùng - Tiểu vùng [dẫn theo 40]

Ở Việt Nam, hệ thống phân vùng cảnh quan của Vũ Tự Lập (1976); Phạm Hoàng Hải và cộng sự (1997) mang tính lí luận cao, có khả năng áp dụng với các quy mô lãnh thổ khác nhau Cả 2 hệ thống phân vùng đều bảo đảm tính logic theo trình tự các cấp phân vị từ lớn đến nhỏ, mỗi cấp có chỉ tiêu xác định rõ ràng Trong khi đó, các nghiên cứu gần đây lại cho thấy xu hướng phân vùng cảnh quan theo hướng CQ ứng dụng, áp dụng cho các lãnh thổ cụ thể Khi nghiên cứu các lãnh thổ nhỏ với tỉ lệ bản đồ từ trung bình đến lớn, thường đi vào xác định các tiểu vùng cảnh quan (TVCQ) Có thể thấy, việc xây dựng hệ thống phân vị trong phân vùng phải dựa vào mức độ phân hóa lãnh thổ nghiên cứu, dựa vào Bản đồ CQ đã thành lập và dựa vào mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể

Trang 38

1.2.5 Cấu trúc, động lực cảnh quan

Cấu trúc đứng: là đặc điểm kết hợp giữa các nhân tố cảnh quan thông qua mối

liên hệ và tác động tương hỗ giữa các thành phần cấu tạo riêng biệt, gồm: địa chất - địa hình - khí hậu - thủy văn - thổ nhưỡng - sinh vật Các nhân tố này có mối liên hệ với nhau, sự biến đổi của một nhân tố kéo theo sự biến đổi của các nhân tố khác theo phản ứng dây chuyền Tác động này là động lực phát triển của các CQ địa lí

Do các nguyên nhân khác nhau, sự thay đổi cấu trúc đứng sẽ tạo ra sự thay đổi các chức năng của cảnh quan so với chức năng nguyên thủy của nó

Mỗi cấp phân vị trong hệ thống phân loại cảnh quan đều có cấu trúc thẳng đứng riêng Vì thế, xác định cấu trúc thẳng đứng của một địa tổng thể thuộc cấp phân vị nào đó không phải là nghiên cứu địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn chung chung mà phải xác định rõ đơn vị địa chất nào, đơn vị địa hình nào… tương đương với cấp phân vị của địa tổng thể đang xét [40] Phân tích cấu trúc đứng được sử dụng trong luận án thực chất là phân tích đặc điểm phân hóa và mối quan hệ giữa các nhân tố thành tạo trong hệ thống phân loại CQ tỉnh Sơn La

Cấu trúc ngang: cấu trúc ngang được hình thành từ tính chất của hệ thống tự

nhiên Theo đó, mỗi hệ thống bậc cao được cấu thành từ các hệ thống bậc thấp hơn, mỗi hệ thống bậc thấp là thành phần cấu trúc của hệ thống bậc cao hơn Các hệ thống bậc thấp hơn trong cùng một hệ thống bậc cao cũng có những mối liên quan chặt chẽ với nhau, sự biến động của một hệ thống này sẽ ảnh hưởng đến trạng thái

và tính chất của các hệ thống khác trên quan hệ nhân quả thông qua sự trao đổi vật chất và năng lượng nội tại giữa các hệ thống cùng cấp

Cùng với tác động biến đổi trong cấu trúc đứng, những biến động của cấu trúc ngang tạo nên động lực phát triển của các cảnh quan Do vậy, trong nghiên cứu cấu trúc ngang của cảnh quan, việc xác định hệ thống phân loại cùng chỉ tiêu chẩn đoán các cấp phân vị và thành lập Bản đồ CQ là các nội dung quan trọng Cũng như cấu trúc thẳng đứng của CQ, mỗi cấp phân vị có cấu trúc ngang riêng, cần tìm hiểu số lượng các cấp dưới cấp đang xét và các đặc trưng địa lí của chúng

Cấu trúc thời gian: thể hiện những nét quan trọng nhất của biến đổi trạng thái

CQ Phân tích cấu trúc thời gian thực chất là phân tích biến đổi CQ theo thời gian Tuy nhiên, đây là nội dung rộng và phức tạp, vì vậy trong phạm vi luận án chỉ đề

Trang 39

cập khái quát động lực phát triển CQ thông qua phân tích sự biến đổi CQ theo mùa

và sự biến đổi CQ dưới sự tác động của tai biến thiên nhiên và con người

Động lực cảnh quan: trong quá trình hình thành và phát triển, các CQ luôn

chịu sự tác động của nhiều yếu tố tự nhiên như: năng lượng bức xạ mặt trời, chế độ nhiệt, cơ chế hoạt động của gió mùa, và hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Tác động này, làm gia tăng các quá trình tích tụ và trao đổi vật chất - năng lượng trong CQ Tuy nhiên, yếu tố động lực có tính chất quyết định nhất đến biến đổi CQ chính là các hoạt động khai thác lãnh thổ của con người Một mặt, những tác động tích cực của con người như trồng và bảo vệ rừng, xây hồ chứa nước, tạo cân bằng tự nhiên, tăng sinh khối CQ, cải thiện tốt môi trường khu vực Mặt khác, những tác động tiêu cực như phá rừng, làm thoái hóa đất, biến đổi, suy thoái CQ theo chiều hướng xấu, phá vỡ cấu trúc CQ, xóa bỏ khả năng tự điều chỉnh của các địa hệ tự nhiên cũng như các địa hệ nhân sinh, gây mất cân bằng sinh thái

Biến đổi cảnh quan: là hiện tượng CQ bị thay đổi theo hướng đạt được cấu

trúc mới hoặc mất đi cấu trúc cũ dưới ảnh hưởng của các nhân tố ngoại cảnh hoặc nội tại Xét về cơ chế động lực, biến đổi CQ là quá trình gồm chuỗi 3 sự kiện: các yếu tố tác động đến CQ; thay đổi cấu trúc CQ; thay đổi chức năng và các quá trình trong CQ [61] Biến đổi thuận nghịch là sự biến đổi với sự trở lại trạng thái ban đầu sau lần tác động không có sự tái tạo CQ về chất lượng chỉ thực hiện chức năng biến đổi trạng thái CQ Biến đổi không thuận nghịch hay còn gọi là tiến bộ thể hiện sự biến đổi theo một hướng nhất định mà không quay trở lại trạng thái ban đầu

1.2.6 Chức năng cảnh quan

Cũng như nghiên cứu cấu trúc, chức năng của cảnh quan có nhiều quan niệm khác nhau Theo Ixatsenko (1976), chức năng cảnh quan là “ tổng hợp các quá trình trao đổi, biến đổi vật chất và năng lượng trong cảnh quan”, còn Forman (1981), lại xác định “Chức năng cảnh quan là dòng năng lượng, dinh dưỡng khoáng

và sinh vật giữa các yếu tố cảnh quan” Bên cạnh đó, chức năng của cảnh quan còn được hiểu là lợi ích mà con người thu được từ các thuộc tính và quá trình của CQ Niemann (1977), De Groot (1992)… Do đó, có nhiều hệ thống phân loại chức năng

CQ [dẫn theo 61] Các chức năng của cảnh quan gồm chức năng tự nhiên, chức năng KT - XH, chức năng bảo vệ môi trường

Trang 40

Chức năng tự nhiên được hiểu là hoạt động của CQ, là tập hợp các quá trình trao đổi, chuyển hóa vật chất và năng lượng trong CQ, Ixatsenko (1991) hay nói cách khác: chức năng tự nhiên của CQ thể hiện “mối tương tác giữa các yếu tố không gian, dòng chảy vật chất và năng lượng cùng sinh vật trong tự nhiên”, Forman và Godron (1996), là quá trình sinh địa hóa trong CQ [dẫn theo 61] Các quá trình đó giúp cảnh quan có khả năng chống đỡ với những tác động bên ngoài, tạo nên trạng thái cân bằng trong hệ thống tự nhiên của địa hệ

Chức năng KT - XH là “khả năng của các quá trình vật chất và năng lượng trong tự nhiên cùng các thành phần của chúng có thể cung cấp các hàng hóa và dịch

vụ thỏa mãn nhu cầu của con người” De Groot (1992) [96] Chỉ số cấu trúc chức năng CQ được sử dụng cho việc đánh giá CQ phục vụ quy hoạch, cung cấp thông tin về những phẩm chất hiện có của cảnh quan, giá trị và nhạy cảm đối với các tác động hiện tại và các mục tiêu, nguyên tắc đối với sự phát triển của CQ

Như vậy, tiềm năng của một đơn vị cảnh quan chính là khả năng đơn vị CQ đó phục vụ và đáp ứng đối với nhu cầu của quá trình tự nhiên khác và con người Một

CQ có thể đảm nhận nhiều chức năng khác nhau Việc sử dụng CQ phù hợp với chức năng tự nhiên cũng như chức năng KT - XH, sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững cho mối quan hệ giữa tự nhiên và con người Chức năng CQ được xác định trên cơ sở phân tích đặc điểm, cấu trúc CQ Mỗi đơn vị CQ có thể có nhiều chức năng và nhiều đơn vị CQ có thể cùng một chức năng Nếu con người sử dụng CQ phù hợp với chức năng của nó chính là hướng sử dụng hợp lí CQ và CQ có khả năng phát triển bền vững, lâu dài Nếu con người sử dụng CQ không phù hợp với khả năng đáp ứng của CQ thì CQ sẽ bị suy giảm và không bền vững [61]

1.2.7 Đánh giá cảnh quan

Đánh giá cảnh quan được nghiên cứu từ khá sớm với nhiều phương thức tiếp cận khác nhau Khởi đầu là nghiên cứu của Mukhina (1973) về nguyên tắc, phương pháp và quy trình đánh giá tổng hợp thể tự nhiên phục vụ nhiệm vụ thực tiễn Sau

đó, các kĩ thuật đánh giá CQ tiếp tục được phát triển theo nhiều mục tiêu như: đánh giá hiệu quả kinh tế dựa trên phương pháp phân tích chi phí - lợi ích, Mashall và Zvoruvkin (1968); đánh giá ảnh hưởng của môi trường, Leopold, 1972; Hudson (1984), hay những đánh giá đất đai cho hoạt động nông, lâm nghiệp trên quan điểm tổng hợp về tự nhiên, KT - XH và môi trường, FAO (1993)

Ngày đăng: 18/04/2017, 16:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu. - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Hình 1.1. Sơ đồ các bước nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 2.3. Tổng lượng mưa tháng và năm tại các trạm - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 2.3. Tổng lượng mưa tháng và năm tại các trạm (Trang 67)
Bảng 2.6. Các hồ thủy lợi trên địa bàn tỉnh Sơn La - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 2.6. Các hồ thủy lợi trên địa bàn tỉnh Sơn La (Trang 74)
Bảng 2.13. Diện tích các phụ kiểu cảnh quan ở tỉnh Sơn La - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 2.13. Diện tích các phụ kiểu cảnh quan ở tỉnh Sơn La (Trang 99)
Hình 2.9. Sơ đồ phân vùng cảnh quan tỉnh Sơn La. - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Hình 2.9. Sơ đồ phân vùng cảnh quan tỉnh Sơn La (Trang 104)
Bảng 2.18. Một số điểm trượt lở đất đá điển hình tại Sơn La - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 2.18. Một số điểm trượt lở đất đá điển hình tại Sơn La (Trang 120)
Đề xuất của Nguyễn Cao Huần, 2005, hình 3.1. - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
xu ất của Nguyễn Cao Huần, 2005, hình 3.1 (Trang 125)
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây nhãn - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây nhãn (Trang 128)
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá TNST đối với cây nhãn theo huyện - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá TNST đối với cây nhãn theo huyện (Trang 130)
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây xoài - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây xoài (Trang 131)
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây mận hậu - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.7. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây mận hậu (Trang 134)
Bảng 3.8. Kết quả đánh giá TNST đối với cây mận hậu theo tiểu vùng CQ - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.8. Kết quả đánh giá TNST đối với cây mận hậu theo tiểu vùng CQ (Trang 135)
Bảng 3.9.  Kết quả đánh giá TNST đối với cây mận hậu theo huyện - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.9. Kết quả đánh giá TNST đối với cây mận hậu theo huyện (Trang 136)
Bảng 3.10. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây cà phê chè - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.10. Kết quả đánh giá riêng thích nghi sinh thái đối với cây cà phê chè (Trang 137)
Bảng 3.12. Kết quả đánh giá TNST đối với cây cà phê chè theo huyện - Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ định hướng không gian phát triển các vùng chuyên canh cây lâu năm tại tỉnh sơn la
Bảng 3.12. Kết quả đánh giá TNST đối với cây cà phê chè theo huyện (Trang 139)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm