1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam vận động viên taekwondo lứa tuổi 14 – 15

177 762 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có những bài tập phát triển tố chất thể lực nhằm bổ sung kịp thời, cho quá trình huấn luyện góp phần nâng cao tố chất thể lực nói chung và sức bền chuyên môn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



LÊ ANH TÚ

NGHIÊN CỨU BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN CHUYÊN MÔN CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN

TAEKWONDO LỨA TUỔI 14 – 15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH



LÊ ANH TÚ

NGHIÊN CỨU BÀI TẬP PHÁT TRIỂN SỨC BỀN

CHUYÊN MÔN CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN

TAEKWONDO LỨA TUỔI 14 – 15

Chuyên ngành : Huấn luyện thể thao

Trang 3

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Lê Anh Tú

Trang 4

Trang

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.1 Phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu cầu khác nhau về

trao đổi chất của cơ thể

11

1.1.2 Phân loại sức bền dựa trên đặc điểm vận động riêng biệt

của từng môn thể thao

12

1.2 Sự phân chia các giai đoạn huấn luyện và đặc điểm huấn luyện

VĐV Taekwondo

13

1.2.1 Sự phân chia các giai đoạn huấn luyện 13

1.2.3 Đặc điểm huấn luyện môn Taekwondo ở Việt Nam 24

1.3.2 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực 25 1.3.3 Bài tập thể chất phát triển sức bền trong Taekwondo 26 1.4 Cơ sở sinh lý và phương pháp huấn luyện sức bền của VĐV

Taekwondo

28

1.4.1 Cơ sở sinh lý huấn luyện sức bền của VĐV Taekwondo 28 1.4.2 Phương pháp huấn luyện sức bền của VĐV Taekwondo 31 1.5 Đặc điểm tâm, sinh lý VĐV Taekwondo lứa tuổi 14-15 31 1.5.1 Đặc điểm giải phẫu và cấu trúc cơ thể 32

Trang 5

2.1 Phương pháp nghiên cứu 41 2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 41

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 57

3.1 Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nam VĐV

Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

57

3.1.1 Lựa chọn các test đánh giá sức bền chuyên môn của nam

VĐV Taekwondo

57

3.1.2 Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh

giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo

64

3.1.3 Xác định tương quan giữa các test thể lực với các chỉ số

chức năng đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo

67

3.1.4 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức bền chuyên môn cho

nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

3.2.1 Thực trạng công tác huấn luyện sức bền chuyên môn cho

nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

79

Trang 6

môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

3.2.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức

bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

Trang 7

THƯỜNG DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Bản tin KHKT TDTT Bản tin khoa học kỹ thuật thể dục thể thao

Trang 8

Bảng 1.2 Bảng phân chia các giai đoạn huấn luyện

(theo Kuk Hyun Chung, Kyung Myung Lee - 1996) 13 Bảng 3.1 Các yếu tố đánh giá sức bền chuyên môn

của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14-15 (n=32) 58 Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test và chỉ

số kiểm tra đánh giá sức bền chuyên môn cho VĐV

Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 (n=32)

Sau 62

Bảng 3.3 Kết quả kiểm định Wilcoxon giữa 2 lần

Bảng 3.4 Mối tương quan giữa các test đánh giá sức

bền chuyên môn với thành tích thi đấu của VĐV

Taekwondo

65

Bảng 3.5 Mối tương quan giữa hai lần lập test của

các test đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV

Taekwondo lứa tuổi 14-15

66

Bảng 3.6 Hệ số tương quan giữa các test thể lực với

các chỉ số chức năng đánh giá sức bền chuyên môn

của VĐV Taekwondo lứa tuổi 14

67

Bảng 3.7 Hệ số tương quan giữa các test thể lực với

các chỉ số chức năng đánh giá sức bền chuyên môn

của VĐV Taekwondo lứa tuổi 15

69

Trang 9

chuyên môn cho VĐV Taekwondo lứa tuổi 14-15

Bảng 3.9 Bảng điểm đánh giá sức bền chuyên môn

Bảng 3.10 Bảng điểm đánh giá sức bền chuyên môn

Bảng 3.11 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ tập

luyện sức bền chuyên môn của nam VĐV

Taekwondo lứa tuổi 14-15 (n=24)

75

Bảng 3.12 Thực trạng sức bền chuyên môn của nam

Bảng 3.13 Ý nghĩa và thực trạng huấn luyện sức bền

chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 80 Bảng 3.14 Thực trạng chương trình huấn luyện sức

bền cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh

Đồng Nai

81

Bảng 3.15 Thực trạng sử dụng bài tập huấn luyện

sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa

tuổi 14 – 15 tỉnh Đồng Nai (n=9)

Sau 83

Bảng 3.16 Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập phát

triển sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo

lứa tuổi 14 – 15 (n=32)

Sau 86

Bảng 3.17 Kết quả phỏng vấn nội dung xây dựng kế

hoạch huấn luyện sức bền chuyên môn cho nam

VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 (n=32)

90

Bảng 3.18 Tiến trình thực nghiệm 4 tháng (giai đoạn I) Sau 92 Bảng 3.19 Tiến trình thực nghiệm 4 tháng (giai đoạn II) Sau 92

Trang 10

VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh Đồng Nai

trước thực nghiệm

93

Bảng 3.21 Phân loại sức bền chuyên môn theo nhóm

của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh

Đồng Nai trước thực nghiệm

94

Bảng 3.22 So sánh sức bền chuyên môn của nam

VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh Đồng Nai sau

4 tháng thực nghiệm

95

Bảng 3.23 Nhịp tăng trưởng sức bền chuyên môn

của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh

Đồng Nai sau 4 tháng thực nghiệm

100

Bảng 3.24 So sánh sức bền chuyên môn của nam

VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh Đồng Nai sau

8 tháng thực nghiệm

101

Bảng 3.25 Nhịp tăng trưởng sức bền chuyên môn

của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 tỉnh

Đồng Nai sau 8 tháng thực nghiệm

103

Bảng 3.26 Kết quả phân loại sức bền chuyên môn

của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14-15 tỉnh Đồng

Nai sau thực nghiệm

Trang 11

Biểu

đồ

môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14-15

Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng tham

Biểu đồ 3.3 Thâm niên công tác của đối tượng tham

Biểu đồ 3.4 Thực trạng phân loại sức bền chuyên

môn của nam VĐV Taekwondo tỉnh Đồng Nai lứa

tuổi 14

77

Biểu đồ 3.5 Thực trạng phân loại sức bền chuyên

môn của nam VĐV Taekwondo tỉnh Đồng Nai lứa

tuổi 15

78

Biểu đồ 3.6 Thành tích đá trước hai chân liên tục

vào đích trong 90s (số lần) trước và sau 8 tháng thực

nghiệm

104

Biểu đồ 3.7 Thành tích di chuyển đá ngang sang hai

bên trong 90s (số lần) trước và sau 8 tháng thực

nghiệm

105

Biểu đồ 3.8 Thành tích đá vòng cầu kết hợp đá vòng

sau và lướt đá ngang vào đích trong 90s (số lần)

trước và sau 8 tháng thực nghiệm

105

Biểu đồ 3.9 Thành tích lướt đá tống ngang vào 2

đích x 3m trong 90s (số lần) trước và sau 8 tháng

thực nghiệm

106

Biểu đồ 3.10 Thành tích đá vòng cầu vào 2 đích 90s

(số lần) trước và sau 8 tháng thực nghiệm 106 Biểu đồ 3.11 Thành tích đá tống sau kết hợp di

chuyển 90s (số lần) trước và sau 8 tháng thực nghiệm 107

Trang 12

đích trong 90s (số lần) trước và sau 8 tháng thực

nghiệm

107

Biểu đồ 3.13 Thành tích di chuyển tiến lùi 4m đá

đích thời gian 90s (số lần) trước và sau 8 tháng thực

nghiệm

108

Biểu đồ 3.14 Chỉ số Dung tích sống tương đối

(ml/kg) trước và sau 8 tháng thực nghiệm 108 Biểu đồ 3.15 Chỉ số thông khí phổi tối đa (lít/phút)

Biểu đồ 3.16 Chỉ số VO2max tương đối

(ml/kg/phút) trước và sau 8 tháng thực nghiệm 109 Biểu đồ 3.17 Chỉ số Thương số hô hấp trước và sau

Biểu đồ 3.18 Kết quả test soát vòng hở Landont

Biểu đồ 3.19 Kết quả test phản xạ đơn (ms) trước và

Biểu đồ 3.20 Kết quả test phản xạ phức (ms) trước

Trang 13

MỞ ĐẦU

Trong công cuộc đổi mới, để xây dựng Đất nước ngày càng vững mạnh, ngành Thể dục Thể thao (TDTT) cũng như các ngành khoa học khác

đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển chung của nước nhà

Trên cơ sở những định hướng của Đảng và Nhà nước Ngày 01/12/2011, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết số 08-NQ/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục,

Thể thao đến năm 2020 Mục tiêu của Nghị Quyết này là nhằm tiếp tục

hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp thể dục thể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai

tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới

Trong dự án chiến lược của ngành, thể thao thành tích cao là một trong những chiến lược hàng đầu nhằm mục tiêu nhanh chóng tiếp cận với trình độ thể thao khu vực đồng thời từng bước tiếp cận với thể thao Châu Á

và thế giới Điều này đòi hỏi việc tìm tòi, sáng tạo để hoàn chỉnh quy chình đào tạo vận động viên (VĐV) mang tính khoa học với tất cả các môn thao, đặc biệt là môn thể thao xác định là mũi nhọn của ngành trong đó có võ thuật nói chung và môn Taekwondo nói riêng

Từ những năm 1962 Taekwondo đã được du nhập vào Việt nam biểu diễn, đến năm 1965 Taekwondo đã được truyền bá ở Sài gòn, năm 1988 Taekwondo đã được truyền bá ở Hà Nội cho tới nay Chúng ta đã dành được rất nhiều huy chương ở sân chơi Châu Á, như VĐV Trần Quang Hạ,

Trang 14

Trần Hiếu Ngân, Nguyễn Xuân Mai, Trương Tuấn Vũ, Hồ Nhất Thống, Nguyễn Thị Kim Nga, Khúc Liễu Châu, Nguyễn Thị Huyền Diệu, Nguyễn Văn Hùng đạt được HCV SEA Games Nhưng ở đấu trường Olympic thì chỉ có Trần Hiếu Ngân đạt HCB Olympic năm 2000

Qua khảo sát sơ bộ các VĐV Taekwondo nhận thấy, trình độ chuẩn bị thể lực của các VĐV còn hạn chế đặc biệt là tố chất sức bền chuyên môn

Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có những bài tập phát triển tố chất thể lực nhằm bổ sung kịp thời, cho quá trình huấn luyện góp phần nâng cao tố chất thể lực nói chung và sức bền chuyên môn nói riêng cho các VĐV

Để tiến hành xây dựng được một qui trình đào tạo VĐV khoa học hoàn chỉnh có tính hiệu quả cao thì bài tập thể lực chuyên môn đóng một vai trò quan trọng và được sự quan tâm đặc biệt của các nhà chuyên môn Theo quan điểm của sinh lý TDTT thì có bốn tố chất thể lực chủ yếu sức mạnh, sức nhanh, sức bền và mềm dẻo khéo léo (khả năng phối hợp động tác) Trong bất kỳ hoạt động thể lực nào các tố chất thể lực cũng không biểu hiện đơn độc mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau Đồng thời trong phần lớn các môn thể thao hoặc một vài tố chất thể lực được thể hiện rõ rệt nhất quyết định kết quả của hoạt động chung Mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái cấu tạo và chức năng của nhiều cơ quan và hệ

cơ quan trong cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là phát triển và hoàn thiện các hệ chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi một loại hoạt động cơ bắp cụ thể Huấn luyện thể lực là một trong những nhiệm vụ của quá trình huấn luyện Quá trình huấn luyện môn Taekwondo bao gồm chuẩn bị về tố chất thể lực, kỹ - chiến thuật và tâm lý của VĐV để đạt thành tích cao là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng Điều

đó cho thấy sự chuẩn bị thể lực cho VĐV một cách đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để có thể giải quyết các nhiệm vụ của quá trình huấn luyện kỹ chiến thuật, tâm lý trong qúa trình huấn luyện môn Taekwondo

Trang 15

Vấn đề phát triển tố chất thể lực cho VĐV Taekwondo đã được khá nhiều tác giả quan tâm như: Lý Đức Trường (1998), Lại Cao Kiên (1997),

Hồ Anh Tuấn (1994), Phạm Văn Đàn (1997), Nguyễn Anh Tú (2000) Xong chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu các bài tập phát triển

tố chất sức bền chuyên môn cho VĐV Taekwondo

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển sức bền chuyên môn cho nam vận động viên Taekwondo lứa tuổi 14 – 15”

Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng tố chất thể lực sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo, đề tài lựa chọn các bài tập nhằm nâng cao sức bền chuyên môn cho đối tượng nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả huấn luyện

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1 Đánh giá thực trạng sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

- Lựa chọn các test đánh giá sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo

- Xác định độ tin cậy và tính thông báo của các test đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo

- Xác định tương quan giữa các test thể lực với các chỉ số chức năng đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo

- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

- Phân loại đối tượng nghiên cứu theo bảng tiêu chuẩn xây dựng

Mục tiêu 2 Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập phát triển sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

- Thực trạng công tác huấn luyện sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

Trang 16

- Phỏng vấn lựa chọn bài tập phát triển sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

Giả thuyết khoa học của đề tài

Từ kết quả khảo sát sơ bộ sức bền chuyên môn của nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15 còn nhiều hạn chế, đề tài đặt giả thuyết rằng, dưới góc độ sư phạm đề tài sẽ lựa chọn được các bài tập thể lực thì sẽ nâng cao sức bền chuyên môn cho nam VĐV Taekwondo lứa tuổi 14 – 15

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khát quát về Taekwondo

1.1.1 Lịch sử phát triển Taekwondo

1.1.1.1 Lịch sử phát triển Taekwondo thế giới:

Taekwondo là môn võ xuất phát từ Triều Tiên, là cách thức hay nghệ thuật đấu võ bằng tay và chân, là môn võ thuật bao gồm những kĩ thuật như: Đấm (Jireugi), đá (Chagi), đỡ (Makki) và những đòn đá bay (Twieo-chagi)…

Theo lịch sử Taekwondo nguyên thủy có thể xuất hiện ở triều đại Koguryo được thành lập vào thế kỉ thứ 3 trước thiên chúa giáng sinh Sở dĩ điều này có thể khẳng định bởi vì đã khám phá được ở khu mộ hoàng gia

có vẽ hình hai người đang đối mặt với nhau trong tư thế Taekyon, họa sĩ Muyong Chong vào thời ấy minh họa, cho nên điều này làm cho các nhà sử học cho là môn Taekyon đã có vào thời kì này

Cũng có sự kiện là môn võ Taekyon cũng có từ thời Silla (668-935) Silla là vương quốc được thành lập phía Đông-Nam còn triều đại Koguryoo

73 phía Bắc

Quân đội Nhân dân Triều Tiên được thành lập vào năm 8/2/1948, tháng 1-1946 Hong Choi Hi là một trung tá bộ binh, bắt đầu dạy thái cực đạo cho quân đội tại Kwang-ji, đến 1949 Hong Choi Hi là trung tá phục vụ tại bộ tư lệnh Hàn Quốc ở Ft.Rilley gần Topek, Kansan thuộc Mỹ và nơi đây ông đã biểu diễn, trình bày môn Thái Cực Đạo cho quân đội xem và cũng là lần đầu tiên môn võ này được quảng bá ở Mỹ.[45]

Liên đoàn Taekwondo Thế Giới (The World Taekwondo Federation) viết tắt là WTF, được thành lập ngày 28-5-1973 tại Kukkiwon (Quốc kì quán) Seoul Hàn Quốc Với 53 quan chức đại diện các quốc gia trên thế giới Tiến sĩ Un Yong Kim chủ tịch hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc

Trang 18

được bầu làm chủ tịch WTF lần đầu tiên (Việt Nam là thành viên chính thức của Liên Đoàn Taekwondo Thế Giới theo quyết định của kì họp hội đồng Taekwondo Thế Giới ngày 7-10-1989) [45]

Hiện nay, WTF có gần 200 quốc gia là thành viên, 4 liên đoàn Châu Lục (Âu, Phi, Á, Liên Mỹ) hệ thống thi đấu của WTF bao gồm giải Vô Địch Thế Giới, Vô Địch Châu Lục, Vô địch Khu Vực và hệ thống thi đấu trẻ Năm 1988 lần đầu tiên Taekwondo biểu diễn tại Thế Vận Hội Seoul Hàn Quốc đã được hoan nghênh nhiệt liệt đến năm 2000 Taekwondo đã chính thức được thi đấu trong thế vận hội Sydney Úc

1.1.1.2 Lịch sử phát triển Taekwondo Việt Nam

Môn Taekwondo chính thức du nhập vào Miền Nam Việt Nam 1962, bắt đầu bằng các chuyến lưu diễn của các đoàn Taekwondo Triều Tiên và việc mở các lớp giảng dạy chính thức tại Sài Gòn do thầy Kim Boang Son đảm nhiệm Khóa học huấn luyện viên đầu tiên cho người Việt Nam được

tổ chức tại trường võ thuật Thủ Đức với sự tham gia của 63 võ sinh do võ

sư Nam Tae Hi (huyền đai thất đẳng) phụ trách Sau đó khóa 2, 3 cũng được tổ chức và lúc này con số huấn luyện viên được đào tạo lên tới vài trăm người Sau khi tốt nghiệp những huấn luyện viên này trở về địa phương mở lớp huấn luyện viên Do tính quần chúng, tính khoa học của môn võ, đồng thời do yêu cầu, điều kiện tổ chức một lớp học quá đơn giản cho nên bộ môn này đã phát triển một cách nhanh chóng và sâu rộng trong quần chúng, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh

Sau năm 1975 do tình hình an ninh quốc gia nên Taekwondo không hoạt động rộng rãi

Cho đến năm 1988 Taekwondo được truyền bá ở Hà Nội và sở TDTT Hà Nội đã nhanh chóng triển khai kế hoạch đào tạo và phát triển đội ngũ huấn luyện viên [45]

Tháng 11 năm 1989 tổ chức giải TP.HCM mở rộng, vào thời điểm này trên cả nước có hơn 20 đơn vị tỉnh, thành, có phong trào tập luyện môn

Trang 19

võ Taekwondo Cũng trong năm này được sự ủy nhiệm của Tổng cục TDTT, sở TDTT thành phố đang tổ chức giải vô địch Taekwondo quốc gia lần thứ nhất [45] Và bắt đầu từ thời điểm này trở đi những giải vô địch Taekwondo được tổ chức hằng năm nhằm mục đích tuyển chọn vận động viên xuất sắc vào đội tuyển quốc gia để tham dự các giải quốc tế như: Seagames, Asiad, vô địch thế giới…

Với sự đầu tư của nhà nước, tổng cục TDTT đã định hướng phát triển và đầu tư đúng mức cho thể thao thành tích cao và phong trào Taekwondo là một trong những môn mũi nhọn của thể thao Việt Nam Những thành tựu đáng khích lệ tại các kì Seagames và đánh dấu những mốc lịch sử của thể thao Việt Nam như: HCV Asiad của Trần Quang Hạ (1994, Hiroshima Nhật Bản), HCV Asiad Hồ Nhất Thống (1998, Thái Lan), HCB Trần Hiếu Ngân (2000, Sydney Úc) Hiện nay phong trào tập luyện môn võ Taekwondo đã được đưa vào giờ học chính khóa ở các trường phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, cao đẳng và đại học… chính những điều này làm cho phong trào Taekwondo trên cả nước phát triển rất nhanh và mạnh so với những môn khác

1.1.2 Đặc điểm thi đấu của Taekwondo

VĐV thi đấu trong môn Taekwondo được phân ra thành các hạng cân

cụ thể quy định bắt buộc của Liên đoàn thể thao thế giới cho các môn võ thuật nói chung và Taekwondo nói riêng

1.1.2.1 Luật thi đấu Taekwondo:

Cũng như bất cứ môn thể thao và các môn võ thuật, môn võ Taekwondo có những quy định, luật lệ riêng bắt buộc các vận động viên thi đấu phải tuân thủ chặt chẽ

Khu vực thi đấu: luật quy định khu vực thi đấu là sàn đấu nơi diễn ra các cuộc tranh tài, có kích thước 10m X 10m, hoàn toàn bằng phẳng, không

có bất kỳ vật cản nào

Trang 20

Lứa tuổi thi đấu: trong thi đấu Taekwondo, giới hạn tuổi chỉ được quy định cho các giải trẻ từ 14-17 tuổi và chỉ phụ thuộc vào năm sinh, không phụ thuộc vào ngày giải thi đấu diễn ra Ví dụ: nếu giải thi đấu được tổ chức vào ngày 29/2/2016, các VĐV sinh từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 đến ngày 31 tháng 12 năm 2002 đều được tham dự

Thời gian thi đấu: thời gian thi đấu cho các hạng cân nam và nữ tại các giải trẻ quốc tế là 3 hiệp, mỗi hiệp 1 phút 30 giây có 1 phút nghỉ giữa mỗi hiệp Nếu thi đấu xong 3 hiệp mà tỷ số hòa thì các vận động viên được nghỉ

1 phút, sau đó đấu tiếp 1 hiệp phụ trong thời gian 1 phút 30 giây và áp dụng luật bàn thắng vàng (VĐV nào ghi điểm trước sẽ thắng)

Phân chia các hạng cân trong thi đấu Taekwondo:

Trước khi vào thi đấu, các đấu thủ được phân chia theo từng hạng cân bao gồm: giải trẻ có 10 hạng cân cho các VĐV nam; Thế vận hội Olympic trẻ có 5 hạng cân cho các VĐV nam

1.1.2.2 Đặc điểm thi đấu:

Các kỹ thuật:

Kỹ thuật đấm thẳng (Jumeok): là hình thức đơn giản nhất của đòn đấm với các ngón tay khép sát và cuộn chặt lại trong lòng bàn tay và chỉ sử dụng đốt xương thứ nhất của ngón trỏ và ngón giữa để thực hiện đòn đánh

Những điều cần chú ý khi thực hiện đòn Jumeok:

- Cổ tay phải giữ thẳng và phải tạo thành một đường thẳng từ cườm tay đến mặt trong của cẳng tay

- Đốt xương thứ nhất của ngón trỏ và ngón giữa phải cùng nằm trên một mặt phẳng với mặt ngoài của cẳng tay và phải vuông góc với lưng bàn tay (phần trên đốt xương thứ nhất của ngón trỏ và ngón giữa) [45]

Kỹ thuật đòn đá: Đòn đá là sử dụng các vũ khí trên bàn chân thông qua chuyển động của chân để tác động một lực vào các mục tiêu tấn công trên cơ thể đối phương Trong môn Taekwondo đòn đá được thực hiện bằng lực bật của khớp gối, lực duỗi của chân và lực xoay của thân người

Trang 21

Đòn đá có thể được phân loại dựa vào chuyển động của chân bàn chân và lực tác dụng sẽ thay đổi phụ thuộc vào vũ khí được lựa chọn để thực hiện

kỹ thuật Trên thực tế đòn đá còn được phân loại theo hình thức thực hiện như đá đơn, đá phối hợp, tóm giữ đối phương để đá hay phương thức sử dụng lực khi thực hiện kỹ thuật

Các vùng được phép đánh tấn công, phản công ghi điểm:

Phần thân người: cho phép các kỹ thuật đòn tay và chân tấn công trong phạm vi từ đường ngang của xương đòn đến đường ngang nối hai đỉnh xương chậu Không được tấn công vào phần lưng không có giáp bảo vệ Phần mặt: chỉ được phép tấn công bằng đòn chân vào khu vực phía trước của mặt (giới hạn bởi hai tai)

Các điểm được ghi nhận ở các vùng ghi điểm hợp lệ như sau:

Phần giữa thân người: gồm bụng và hai bên sườn

Phần mặt: các vùng được phép tấn công trên vùng mặt

VĐV chỉ được tính điểm khi thực hiện kỹ thuật hợp lệ, mạnh và chính xác vào các khu vực được phép đánh trên cơ thể đối phương

Tính điểm hợp lệ như sau: VĐV đạt 1 điểm khi tấn công hiệu quả vào phần thân người; VĐV đạt 2 điểm khi tấn công hiệu quả vào phần thân người của đối phương với các kỹ thuật đá xoay; VĐV đạt 3 điểm khi tấn công hiệu quả vào phần mặt của đối phương và VĐV đạt 4 điểm cho cú đá xoay vào đầu

1.2 Khái niệm và phân loại sức bền

Sức bền là năng lực của cơ thể nhằm khắc phục sự mệt mỏi trong hoạt động vận động với thời gian kéo dài Nếu trong tập luyện VĐV không đạt được mức độ mệt mỏi thì không thể nâng cao sức bền Mặt khác, nếu mệt mỏi kéo dài không được liên tục sẽ làm cho năng lực vận động của cơ thể giảm sút, hạn chế sự phát triển trình độ thể thao Do đó trong huấn luyện thể thao phải dùng nhiều cách để hồi phục sức lực, giảm nhanh sự mệt mỏi

[6, 11]

Trang 22

Tố chất sức bền phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực làm việc của hệ thống tim mạch và hô hấp Theo quan điểm sinh lý học có thể phân sức bền thành hai loại: sức bền yếm khí và sức bền ưa khí Năng lực khắc phục mệt mỏi khi vận động trong điều kiện cơ thể không được cung cấp đủ O2, sinh

ra hiện tượng nợ O2, gọi là sức bền yếm khí Còn năng lực khắc phục mệt mỏi khi vận động trong điều kiện đủ O2 thì gọi là sức bền ưa khí Song đối với từng môn thể thao khái niệm và phân loại sức bền vẫn cần bổ sung thêm để chuẩn xác hơn [43, 45]

Với góc độ sư phạm, sức bền chuyên môn là năng lực hoàn thành công việc và khắc phục mệt mỏi trong điều kiện quyết định kết quả hoạt động thi đấu ở từng môn thể thao cụ thể Năm 1977, Matveep L.P đã phân chia sức bền chuyên môn thể thao thành sức bền chuyên môn và sức bền thi đấu Sức bền chuyên môn trong huấn luyện là năng lực hoàn thành tổng khối lượng và cường độ của hoạt động mang tính chuyên môn trong quá trình huấn luyện một buổi tập, một chu kỳ nhỏ hoặc dài hơn Còn sức bền thi đấu là năng lực khắc phục mệt mỏi để đạt hiệu quả hoạt động thể lực, kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý trong tình huống thi đấu Sức bền chuyên môn là sức bền đặc trưng cho từng môn thể thao Sức bền chuyên môn của VĐV chạy maratông khác với sức bền chuyên môn của VĐV các môn bóng [47]

Xét về sinh lý học thể thao, sức bền chuyên môn trong Taekwondo là sức bền hỗn hợp ưa khí và yếm khí, trong đó sức bền yếm khí có vai trò chính Sức bền chuyên môn là một trong những tố chất thể lực đặc trưng hàng đầu đối với VĐV Taekwondo [55] Vì vậy, khi đánh giá sức bền chuyên môn của VĐV Taekwondo đòi hỏi phải đánh giá không những sức bền ưa khí, mà còn phải đánh giá sức bền yếm khí

Có nhiều cách phân loại sức bền khác nhau đối với từng môn thể thao Dựa trên cơ sở yêu cầu khác nhau về trao đổi chất cung cấp ATP và CP, người ta phân loại sức bền ưa khí, yếm khí và sức bền hỗn hợp ưa - yếm

Trang 23

khí Dựa vào đặc điểm vận động riêng biệt của từng môn thể thao, người ta phân loại sức bền chuyên môn và sức bền chung

1.2.1 Phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu cầu khác nhau về trao đổi chất của cơ thể

Trong sinh lý học thể thao người ta phân loại sức bền dựa trên cơ sở nhu cầu khác nhau về trao đổi chất cung cấp ATP và CP

Mức độ dự trữ và khả năng tái tổng hợp ATP phụ thuộc vào thời gian có thể cung cấp năng lượng của các vật chất năng lượng trong cơ thể vận động viên Cho nên việc phân loại sức bền không những dựa vào nhu cầu khác nhau về trao đổi chất mà còn dựa vào thời gian vận động (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Mức độ dự trữ, khả năng tái tổng hợp ATP, thời gian cung

cấp năng lƣợng (theo Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Ngọc Cừ ) [10]

Các hệ thống trao đổi chất

Lƣợng

dự trữ mmol.kg-

D

Khả năng tái tạo ATP mmol.kg-

D

Thời gian tối đa

có thể cung cấp năng lƣợng

Cường

độ cực hạn

2 - 3 min

6 – 9 min

(acid béo) 49

Không hạn chế

Nhiều giờ

Nhiều ngày

Trang 24

Trong đó:

- mmol/kg là khối lượng phân tử gam (tính theo miligam) trong một kg

trọng lượng cơ khô

- Đó là khả năng tái tạo ATP tính theo cơ thể VĐV có trọng lượng cơ bắp là 20 kg; trọng lượng mỡ là 15 kg; VO2 max 4l/min

a Sức bền yếm khí: là sức bền đòi hỏi sự cung cấp năng lượng chủ

yếu từ các quá trình trao đổi chất yếm khí để thực hiện một lượng vận động với cường độ tối đa trong khoảng thời gian ngắn từ vài giây tới 2 phút nên còn gọi là sức bền trong thời gian ngắn

b Sức bền ưa khí: là sức bền đòi hỏi cung cấp năng lượng chủ yếu từ

các quá trình trao đổi chất ưa khí để thực hiện vận động kéo dài từ 11 phút tới nhiều giờ Chính vì vậy người ta còn gọi là sức bền trong thời gian dài

c Sức bền hỗn hợp ưa khí và yếm khí: là sức bền đòi hỏi đầy đủ cả

khả năng ưa khí lẫn khả năng yếm khí để thực hiện một lượng vận động trong khoảng từ 2 đến 11 phút, hay còn gọi là sức bền trong thời gian trung bình

1.2.2 Phân loại sức bền dựa trên đặc điểm vận động riêng biệt của từng môn thể thao

a Sức bền chuyên môn: là sức bền đặc trưng riêng cho từng môn thể

thao Sức bền chuyên môn trong thi đấu Taekwondo phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ và sức mạnh của các động tác kỹ thuật trong các đòn tấn công hoặc phòng thủ tấn công

Tốc độ trong các đòn tấn công hoặc phòng thủ trong thi đấu Taekwondo chỉ diễn ra trong giây lát (1-3 giây), do vậy năng lượng cung cấp cho cơ bắp hoạt động trong động tác kỹ thuật này chủ yếu do nguồn năng lượng yếm khí Tuy nhiên Taekwondo là môn thể thao đối kháng trực tiếp giữa hai VĐV Trong suốt thời gian thi đấu của một hiệp đấu kéo dài 3 phút thì VĐV phải di chuyển liên tục và luôn tìm kiếm thời cơ để đưa ra những đòn đánh mang lại điểm số cho mình đòi hỏi cơ thể VĐV phải huy

Trang 25

động từ nguồn năng lượng hỗn hợp ưa – yếm khí để duy trì hoạt động vận động

Mặc dù, năng lượng từ nguồn dự trữ và từ quá trình đường phân được cung cấp nhanh không cần oxy, nhưng không đủ cung cấp cho cơ thể hoạt động kéo dài, phải huy động năng lượng từ các phản ứng ưa khí cung cấp ATP cho hoạt động thể lực, đặc biệt là cho những bài tập thể lực gắng sức kéo dài từ vài phút trở lên Mặt khác công suất chuyển hoá ưa khí lại có vai trò hết sức quan trọng trong các phản ứng oxy hoá axit lactic, làm cho nồng

độ axit lactic trong máu ổn định trong thời gian dài để duy trì sức bền yếm khí, nên cũng cần coi trọng đúng mức vai trò của sức bền ưa khí trong chương trình huấn luyện các tố chất thể lực của VĐV Taekwondo

b Sức bền chung: là năng lực của cơ thể nhằm chống lại mệt mỏi

trong hoạt động vận động diễn ra trong thời gian dài Năng lực vận động này phụ thuộc chủ yếu vào khả năng hấp thụ oxy tối đa và khả năng cung cấp oxy của hệ tuần hoàn, hô hấp Vì vậy sức bền chung được hiểu theo một nghĩa hẹp đó là sức bền ưa khí

Sức bền chung được hiểu là năng lực hoàn thành hoạt động với cường

độ trung bình trong thời gian dài của vận động viên (là hoạt động có đặc điểm ưa khí) Khi thực hiện bài tập với cường độ trung bình, phần lớn cơ bắp của cơ thể đều tham gia hoạt động, dù tới nay chưa có điều kiện chứng minh chính xác luận điểm này Ở một số môn thể thao cá biệt nào đó, chủ yếu dựa vào sự trao đổi chất ưa khí để đạt thành tích thi đấu cao như đua xe đường trường, chạy cự ly trung bình, bơi cự ly dài, trượt tuyết v.v

1.3 Sự phân chia các giai đoạn huấn luyện và đặc điểm huấn luyện VĐV Taekwondo

1.3.1 Sự phân chia các giai đoạn huấn luyện

Huấn luyện thể thao là một quá trình sư phạm thống nhất được tiến hành theo các quy luật chung về sự phát triển nhân cách thể thao và phát triển năng lực thể thao Ngoài yếu tố di truyền, các yếu tố ảnh hưởng nhiều

Trang 26

nhất đến hiệu quả huấn luyện thể thao là các yếu tố luyện tập, môi trường

và xã hội Dưới đây, xem xét quan điểm của nhiều tác giả về phân chia giai đoạn trong quá trình huấn luyện nhiều năm đối với các môn thể thao nói chung [13]

Theo quan điểm Harre.D, quá trình đào tạo VĐV được phân chia thành hai giai đoạn: giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao Mục đích giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ là tạo nên các tiền

đề chung và chuyên môn cho thành tích thể thao cao nhất sau này Các tiền

đề đó diễn ra với sự tăng dần tính chất chuyên môn hoá trong tập luyện Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ lại được chia thành hai giai đoạn nhỏ là giai đoạn huấn luyện ban đầu và giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá Mục đích của giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao là tạo nên thành tích thể thao cao nhất trong suốt quá trình huấn luyện chuyên môn hoá [13]

Theo Novicôp.A.D, Matveep.L.P chia quá trình huấn luyện thể thao nhiều năm thành bốn giai đoạn lớn:

- Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ Giai đoạn chuyên môn hoá thể thao bước đầu hoặc chuẩn bị cơ sở giai đoạn hoàn thiện sâu và giai đoạn

“tuổi thọ thể thao” [34]

- Giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ thường bắt đầu từ tuổi học sinh tiểu học (và sớm hơn nữa trong một số môn thể thao), chuyển sang giai đoạn tiếp theo khi lựa chọn được môn chuyên sâu thể thao Mục tiêu của giai đoạn chuyên môn hoá bước đầu là tạo nền tảng đầy đủ và có chất lượng cho những thành tích tương lai

- Giai đoạn hoàn thiện sâu là thời gian tập luyện thể thao tích cực nhất, tiền đề phát triển thành tích thể thao Giai đoạn hoàn thiện sâu có thể chia

ra hai giai đoạn nhỏ: giai đoạn thứ nhất kết thúc đồng thời với thời điểm được gọi là “tuổi thành tích cao”, tức là thời kỳ thuận lợi nhất để đạt thành tích trong môn thể thao lựa chọn; tiếp theo là giai đoạn duy trì những thành tích đã đạt được

Trang 27

- Giai đoạn tuổi thọ thể thao là giai đoạn duy trì theo lứa tuổi những khả năng chức phận và khả năng thích ứng của cơ thể

Theo Nabatnhicova.M.I (1985) chia quá trình đào tạo VĐV trẻ làm bốn giai đoạn: giai đoạn huấn luyện ban đầu; giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá; giai đoạn huấn luyện chuyên sâu môn thể thao lựa chọn; giai đoạn hoàn thiện thể thao [29]

Philin.V.P (1987) chia quá trình huấn luyện nhiều năm VĐV thành 4 giai đoạn: giai đoạn huấn luyện ban đầu; giai đoạn chuyên môn hoá thể thao ban đầu (từ 9 - 10 tuổi); giai đoạn huấn luyện chuyên sâu trong môn thể thao chính (từ 11 - 15 tuổi); giai đoạn hoàn thiện thể thao (16 tuổi trở lên) [43]

Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn (2000) đã chia quá trình huấn luyện VĐV nhiều năm làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn đào tạo ban đầu, giai đoạn thực hiện tối đa khả năng thể thao và giai đoạn duy trì thành tích thể thao [53]

Phân chia giai đoạn trong huấn luyện nhiều năm đối với VĐV Taekwodo đã được thực hiện ở nước ta, đồng thời được đề cập tới trong công trình nghiên cứu của một số tác giả ngoài nước

Ở Việt Nam việc tổ chức đào tạo VĐV Taekwondo được nhiều chuyên gia, huấn luyện viên thống nhất thời gian đào tạo khoảng từ 8 đến

10 năm, được chia làm bốn giai đoạn: giai đoạn tập luyện ban đầu, giai đoạn chuyên môn hoá thể thao, giai đoạn hoàn thiện thể thao, giai đoạn nâng cao thành tích thể thao Kết quả điều tra quá trình đào tạo Taekwondo

ở các tỉnh, thành, ngành trên toàn quốc cho thấy, quá trình này gồm ba tuyến: tuyến VĐV đẳng cấp, tuyến VĐV năng khiếu, tuyến VĐV nghiệp

dư. [12]

Theo các chuyên gia huấn luyện Taekwondo thì quá trình huấn luyện

có thể chia thành các giai đoạn sau:

Trang 28

- Giai đoạn 1: giai đoạn huấn luyện ban đầu, thời gian khoảng 2 năm Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là trang bị kỹ thuật cơ bản

- Giai đoạn II: giai đoạn huấn luyện cơ sở từ 9 – 10 tuổi đến 12 – 13 tuổi Nhiệm vụ chính là trang bị kỹ chiến thuật chuyên môn, phát triển thể lực toàn diện

- Giai đoạn III: từ 13 – 15 tuổi Giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu Nhiệm vụ chính là củng cố nâng cao kỹ chiến thuật chuyên môn, phát triển thể lực chuyên môn

- Giai đoạn IV: chuyên môn hoá sâu (từ 16 – 18 tuổi) Nhiệm vụ chính

là hoàn thiện kỹ chiến thuật và đạt thành tích cao, hoàn thiện yếu tố tâm lý, xây dựng phong cách kỹ thuật riêng

- Giai đoạn V: giai đoạn duy trì thành tích (từ 19 – 25 tuổi), duy trì thành tích đỉnh cao

Ở Hàn Quốc, Kuk Hyun Chung, Kyung Myung Lee (1996) kế hoạch huấn luyện nhiều năm đối với Taekwondo có thể chia thành 4 giai đoạn (xem bảng 1.2) [28]

Trang 29

Bảng 1.2 Bảng phân chia các giai đoạn huấn luyện (theo Kuk Hyun Chung, Kyung Myung Lee - 1996 )

1 Năng lực nhịp điệu, năng lực vận động cơ bản

2 Kỹ thuật cơ bản nhiều môn

3 Phẩm chất tâm lý chung

4 Tố chất vận động cơ bản

Nâng dần lượng vận động và có tính cơ động Giai đoạn

Từ 4 – 6 năm 1 Tố chất vận động chuyên môn

2 Kỹ - chiến thuật chuyên môn

3 Phẩm chất tâm lý chuyên môn

4 Tri thức lý luận huấn luyện

1 Kỹ - chiến thuật chuyên môn

2 Tố chất vận động chuyên môn

3 Phẩm chất tâm lý chuyên môn

4 Tri thức lý luận huấn luyện

Từng năm tăng dần đến cực hạn

và dao động

ở trình độ cao

Giai đoạn

thể thao tối

ưu

Lập thành tích xuất sắc của môn chuyên

môn

Từ 4 – 8 năm

Giai đoạn

duy trì thể

thao

Cố gắng duy trì được trình độ thể thao chuyên môn

Từ 2 – 5 năm

4 Tri thức lý luận huấn luyện

Duy trì cường độ, giảm lượng vận động rõ rệt

Trang 30

Theo Vũ Chung Thủy và cộng sự (2014), HLTT được xây dựng như một quá trình nhiều năm bao gồm các thời kỳ lứa tuổi của VĐV Đương nhiên, nội dung và hình thức cấu trúc huấn luyện sẽ thay đổi để phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và Logic quá trình hoàn thiện TT

Có thể phân chia tương dối quá trình huấn luyện nhiều năm thành bốn giai đoạn lớn :

1 Giai đoạn huấn luyện sơ bộ

2 Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu (HL cơ bản)

3 giai đoạn hoàn thiện sâu

4 Giai đoạn tuổi thọ TT

* Giai đoạn 1 : Huấn luyện sơ bộ

Thường được bắt đầu từ tuổi học sinh cấp 1 (trong một số môn TT có thể sớm hơn, ví dụ : thể dục thi đấu, trượt băng nghệ thuật …)

Tuổi hợp lý để tiến hành chuyên môn hóa thể thao trước nhất phụ thuộc vào đặc điểm của từng môn thể thao

Giai đoạn này thường được kéo dài từ 1 – 2 năm

Kết thúc giai đoạn này và chuyển sang giai đoạn tiếp theo khi lựa chọn được một môn thể thao chuyên sâu

* Giai đoạn 2 : Chuyên môn hóa ban đầu

Điều cơ bản của giai đoạn này là đặt nền móng cho thành công trong tương lai, nhưng phải đảm bảo phát triển toàn diện cân đối cơ thể, nâng cao khả năng chức phận chung, trang bị cho trẻ em kỹ năng kỹ xảo vận động đa dạng phong phú

Giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu thực hiện theo xu hướng huấn luyện chung là chủ yếu Giai đoạn nà kéo dài 3 – 4 năm, tùy thuộc vào đặc điểm môn thể thao chuyên sâu và đặc điểm cá nhân mà thời hạn này có thể dao động

Trang 31

* Giai đoạn 3: Hoàn thiện sâu (phát huy khả năng tối đa)

Khung tuổi của giai đoạn này trong đa số các trường hợp ở khoảng từ

17 – 20 đến 30 – 40 (không kể có trường hợp có thể chuyên môn hóa thể tao sớm) đây là giai đoạn hưng thịnh nhất cho tập luyện thể thao, cho tiếp cận đỉnh cao của tài nghệ đối với mỗi VĐV

* Giai đoạn 4 : Tuổi thọ thể thao: Ở giai đoạn này công tác huấn

luyện nhằm hướng tới sự duy trì thành tích thể thao

Tóm lại: Ở VĐV Taekwondo lứa tuổi 14-15 là giai đoạn chuyên môn hoá ban đầu Nhiệm vụ chính là củng cố nâng cao kỹ chiến thuật chuyên môn, phát triển thể lực chuyên môn trong đó cần đặc biệt ưu tiên đến phát

triển tố chất sức bền chuyên môn

1.3.2 Huấn luyện tố chất thể lực cho VĐV

Huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là vấn đề được quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, các chuyên gia, các HLV

Các khả năng về kỹ - chiến thuật, sinh lực và hoạt động đồng tâm lý, ý trí, tri thức cuả VĐV là những yếu tố quyết định đến thành tích thể thao Trong đó khả năng hoạt động thể lực là nhân tố quan trọng nhất

Hiện tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho các VĐV

hệ thống các quan điểm của Giáo sư - HLV Công Huân CHLB Nga N.G OZolim cho rằng: "Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việc hướng đến củng cố các hệ thống cơ quan của cơ thể" nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời là việc phát triển các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo) [35],[41] Qúa trình huấn luyện thể lực cho VĐV bao gồm: Huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn

1.3.2.1 Huấn luyện thể lực chung

Là một quá trình nhằm phát triển toàn diện các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau không đặc trưng cho một hoạt động riêng biệt nào và nó tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của qúa

Trang 32

trình huấn luyện thể lực chuyên môn Dưới góc độ lý luận và phương pháp TDTT trình độ thể lực là kết quả của việc chuẩn bị, thể hiện ở năng lực hoạt động đã đạt được ở các kỹ năng, kỹ xảo vận động nhất định hoặc giúp cho việc nắm vững hoạt động đó

1.3.2.2 Huấn luyện thể lực chuyên môn

Là quá trình giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện những năng lực, thể chất tương ứng với đặc điểm của môn thể thao chuyên sâu, nó có nhiệm

vụ phát triển đến mức tối đa những năng lực đó của VĐV Huấn luyện thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn

Huấn luyện thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm hai phần:

+ Huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở: Là hướng đến việc xây dựng

các nền tảng cơ bản, phù hợp với đặc thù chuyên môn thể thao nhất định

+ Huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản: Mục đích của nó là việc

phát triển một cách rộng rãi các tố chất vận động thoả mãn những đòi hỏi của môn thể thao

Có thể nói rằng thành tích thi đấu của VĐV Taekwondo phụ thuộc rất nhiều vào thể lực chuyên môn Chính vì vậy, sự hình thành và phát triển mnột cách đầy đủ các tố chất thể lực chuyên môn là điều hết sức cần thiết

Từ đây cho thấy sự tác động một cách không khoa học (nôn nóng, gò ép, hoặc lệch lạc) sẽ dẫn đến sự mất mát không bù đắp nổi trong quá trình huấn luyện - thi đấu của VĐV Cũng chính vì vậy việc lựa chọn các nhân tố giáo dục và phát triển các tố chất thể lực chuyên môn luôn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong công tác huấn luyện thể lực của mỗi HLV

Có quan điểm cho rằng, thể lực chuyên môn luôn gắn liền với các hoạt động chuyên môn Chúng tôi cho rằng viẹc giáo dục phát triển các tố chất thể lực chuyên môn của VĐV Taekwondo là một quá trình toàn diện với các phương pháp đa dạng và với việc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau Song cần ghi nhận rằng mọi phương pháp, biện pháp và phương tiện lựa chọn đều phải tính đến các đặc thù của môn thể thao này Sự phát triển

Trang 33

đúng đắn và toàn diện các tố chất thể lực chuyên môn phải là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố về mặt thể lực - kỹ thuật và sử dụng chúng một cách có hiệu quả trong mỗi kỹ thuật động tác đó

Huấn luyện thể lực chuyên môn là việc hướng đến củng cố và nâng cao khả năng làm việc của các cơ quan chức phận các tố chất phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao lựa chọn

- Thể lực chuyên môn cơ sở: Được hình thành và phát triển thể lực

chung Tác giả N.Ia Covleva trong công trình nghiên cứu của mình (1995)

đã chỉ ra rằng: sức bền chuyên môn của VĐV sẽ cao hơn trên cơ sở nâng cao sức bền chung cho VĐV và như vậy có thể nói rằng: huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc lựa chọn biện pháp thích hợp mang những đặc trưng của môn thể thao là tiêu đề hình thành nên các tố chất thể lực chuyên môn sau này

Cũng theo Ozolin, việc hình thành thể lực chuyên môn cơ sở của các môn thể thao không chu kỳ là tương đối khó khăn Theo ông ở đây có hai cách lựa chọn

+ Thứ nhất: Bằng cách lập lại nhiều lần các hoạt động chính đặc trưng

của môn thể thao lựa chọn

+ Thứ hai: Sự lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của chính môn

thể thao đó

Nếu lựa chọn và thực hiện không đúng các bài tập hình thành và phát triển các tố chất thể lực chuyên môn cơ sở sẽ dẫn đến các sai lầm chuyên môn trong các cơ quan chức phân và điều này làm ảnh hưởng đến việc phát triển thành tích thể thao của VĐV Chính vì vậy các bài tập được lựa chọn làm phương tiện giáo dục tố chất thể lực chuyên môn cơ sở còn phải được thực hiện với cường độ nhỏ Mặt khác khối lượng thực hiện các bài tập đó cũng phải được tăng một cách từ trong những điều kiện dễ đến khó Bằng cách khác chúng ta có thể hiểu rằng việc chọn lựa các bài tập trong quá trình giáo dục tố chất thể lực chuyên môn cơ sở Phải là sự kết hợp giữa

Trang 34

những yếu tố nêu trên với cường độ của các bài tập và phải mang những nét đặc trưng của môn thể thao nhất định

- Thể lực chuyên môn cơ bản:

Mục đích chính của quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ bản đó

là việc nâng cao đến mức cần thiết sự phát triển của các tố chất vận động và khả năng chức phận của các cơ quan nội tạng, trước những đòi hỏi của môn thể thao lựa chọn Trước tiên là sự phát triển ở mức độ phù hợp của các tố chất vận động, mà sự phát triển của các tố chất này phụ thuộc chủ yếu vào các bài tập riêng của mình Các bài tập của chính môn thể thao được thực hiện trong những điều diện giảm nhẹ hoăc khó khăn hơn

Nguyên tắc chung trong chọn lựa các bài tập nhằm giáo dục các tố chất thể lực chuyên môn là các bài tập phải được thực hiện cường độ thi đấu, hoặc giảm chút ít hoặc cao hơn chút ít bởi sự kết hợp các điều kiện để thực hiện bải tập đó đề tài của qúa trình huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản thông thường là từ 1 đến vài tháng, Nghĩa là nó kéo dài trong suốt thời

kỳ thi đấy của mỗi chu kỳ chuẩn bị

Giáo dục các tố chất thể lực là một bộ phận quan trọng trong quá trình đào tạo VĐV Mỗi tố chất thể lực cần thiết phải tuân thủ những quy luật riêng với những phương pháp và biện pháp giáo dục riêng

Một điều cần ghi nhận là "Việc huấn luyện một tố chất thể lực chung

là một quá trình liên tục, nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo VĐV Tuỳ thuộc vào mục đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng giữa huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp" [40],[41]

Trên đây là quan điểm của các chuyên gia nước ngoài về vấn đề huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia trong nước chúng tôi thấy:

Các chuyên gia đầu đàn trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn

Trang 35

luyện thể thao như: Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Phạm Trọng Thanh, Phạm Danh Tốn, Phạm Thế Truyền, Dương Nghiệp Chí; Phạm Văn Xem; Nguyễn Toán; Trương Anh Tuấn [9, 21, 63] đều cho rằng: "Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việc hướng đến củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống các cơ quan trước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác động đến quá trình phát triển các tố chất vận động" Đây có thể coi là các quan điểm có xu hướng sư phạm trong qúa trình giáo dục các tố chất vận động Một số quan điểm khác theo xu hướng

Y - sinh học mà chúng tôi ghi nhận của các nhà khoa học Việt Nam: Nguyễn Ngọc Cừ; Phạm Hồng Minh; Lưu Quang Hiệp; Trịnh Hùng Thanh; Nguyễn Kim Minh; Lê Nguyệt Nga Các tác giả cho rằng " Nói đến huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong luyện tập thể thao là nói tới những biến đổi thích nghi về mặt sinh học (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp" Đồng thời chúng tôi cũng ghi nhận một số các chuyên gia đề cập vấn đề này dưới góc độ tâm lý: Phan Ngọc Viễn, Lê Văn Xem cho rằng: "Quá trình chuẩn bị thể lực chung và chuyên môn cho VĐV là quá trình giải quyết những khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật là sự phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của vận động viên" [21, 67, 68] Theo chúng tôi quá trình chuẩn bị thể lực chuyên môn cho VĐV là sự tác động có hướng đích của lượng vận động (bài tập thể chất) đến VĐV nhằm hình thành phát triển một mức độ mới của khả năng vận động này biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo là việc nâng cao khả năng hoạt động của các cớ quan chức phận tương ứng với các năng lực vận động của VĐV và sự phù hợp với các yếu tố tâm lý trước hoạt động đặc trưng của mỗi môn thể thao

1.3.2.3 Huấn luyện tố chất sức bền

Sức bền đảm bảo cho VĐV đạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ,

Trang 36

dùng lực, nhịp độ thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận động kéo dài của thi đấu tương ứng khả năng huấn luyện của mình Sức bền còn đảm bảo chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ - chiến thuật tốt cuối cuộc đấu và khi vượt qua một khối lượng vận động lớn trong tập luyện Do đó sức bền không những là một nhân tố xác định và ảnh hưởng lớn đến thành tích thi đấu, mà còn là một nhân tố xác định thành tích tập luyện và khả năng chịu đựng lượng vận động của VĐV Sức bền phát triển tốt là một điều kiện quan trọng để hồi phục nhanh sức bền gồm: sức bền chung và sức bền chuyên môn

Sức bền chung có khả năng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác, tức là khi được nâng cao trong một loại bài tập nào đó, nó có khả năng biểu hiện trong các loại bài tập khác có cùng tính chất Điều này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng Để nâng cao sức bền chung của VĐV ở một môn nào đó có thể sử dụng nhiều hình thức bài tập khác nhau

- Sức bền chuyên môn: là năng lực duy trì khả năng vận động cao

trong những loại hình bài tập nhất định

Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào những nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật Do đó, khi nâng cao sức bền chuyên môn trong một loại bài tập xác định nào đó thì hầu như không có tác dụng làm tăng sức bền chuyên môn trong một loại bài tập khác tức là ở đây hầu như không có sự chuyển của sức bền Sự chuyển của sức bền có thể xẩy ra hay không tùy thuộc vào cơ chế cung cấp năng lượng trong vận động đặc điểm các tố chất vận đồng của bài tập, tác dụng tương hỗ của kỹ năng, kỹ xảo vận động sức bền nói chung rất cần thiết cho con người, đối với VĐV Taekwondo nó là một thành phần trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt, thực sự trước tiên có hệ thống thần kinh Trung ương cũng như các hệ thống tim mạch, hô hấp Sức bền chung của nam võ sinh Taekwondo là cơ sở để họ

có thể chịu đựng được các lượng vận động lớn Sức bền chuyên môn cần

Trang 37

thiết cho VĐV Taekwondo tùy theo đặc điểm của từng nội dung thi đấu khác nhau Sức bền chung là cơ sở vững chắc của VĐV Taekwondo trong huấn luyện chuyên môn, trong phát triển sức bền chuyên môn

Vì sức bền luôn luôn là thành phần của nhân tố thành tích thể lực, nên

nó quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh sức nhanh Những mối quan hệ này thể hiện bằng các tố chất như : Sức mạnh bền, sức nhanh bền Như vậy có thể nói rằng sức bền rất đa dạng nó đặc trưng cho các môn thể thao nói chung và môn Taekwondo nói riêng

1.3.3 Đặc điểm huấn luyện môn Taekwondo ở Việt Nam [12, 31, 32, 51]

Thể thao thành tích cao thể hiện sự khát vọng vươn lên cao nhất của con người Vì vậy tiềm năng của con người đã và đang được khai thác triệt

để nhằm đạt thành tích thể thao cao nhất tại các cuộc thi đấu

Đặc điểm cơ bản của huấn luyện Taekwondo là luôn hướng vào giành thành tích thể thao cao Trong các cuộc thi đấu Taekwondo có sự tranh đua quyết liệt để giành phần thắng thì sự chênh lệch về trình độ sẽ quyết định đến sự thắng lợi của trận đấu Bởi vậy, điều quyết dịnh là phải sử dụng và phát huy đầy đủ nguồn năng lực dự trữ của con người đúng lúc thông qua hoạt động tập luyện Việc có được những thành tích thể thao cao đòi hỏ

ấn luyện phải diễn ra một cách có khoa học, chặt chẽ và nghiêm túc bởi thành tích thể thao của môn Taekwondo là tổng hoà kết quả của nhiều yếu tố tạo thành nên không thể coi nhẹ bất cứ yếu tố nào mà phải phát triển đồng bộ, toàn diện…

Một đặc điểm nổi trội nữa trong huấn luyện Taekwondo là đảm bảo cho VĐV khả năng nắm bắt nhanh chóng và có chất lượng các kỹ thuật cơ bản của môn thể thao này Do đặc thù môn Taekwondo là môn thể thao đối kháng cá nhân trực tiếp vì vậy đòi hỏi VĐV có một khả năng thích ứng và năng lực vận động cao hơn Do vậy, việc tuyển chọn VĐV ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng và là một khâu không thể thiếu trong quá trình đào tạo VĐV

Trang 38

Hiện nay, ở Việt Nam, công tác huấn luyện ngày càng được chú trọng nhiều hơn Các lớp phong trào được mở liên tục nhằm tăng số lượng người tập; các giải thi đấu học sinh và sinh viên được tuyển chọn vào đội tuyển thi đấu của tỉnh, thành… tuy nhiên mới chỉ có ở Hà Nội và Tp.HCM, còn các tỉnh, thành khác vẫn chưa được áp dụng rộng rãi; hệ thống huấn luyện còn tản mạn, thiếu thống nhất và chưa có chuẩn mực rõ ràng Taekwondo

là môn thể thao có tính khoa học, do đó phải có hệ thống huấn luyện mang tính chất thống nhất, có chuẩn mực cao và bước đầu chuyên nghiệp Nên việc sử dụng các phương pháp huấn luyện, hệ thống các bài tập huấn luyện, các test kiểm tra và đặc biệt là hệ thống các tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV là một điều hết sức cần thiết và cấp bách để phát triển Taekwondo lên một tầm cao mới

1.4 Bài tập thể chất trong huấn luyện sức bền

1.4.1 Khái niệm về bài tập thể chất

Để đạt hiệu quả của giáo dục thể chất người ta sử dụng nhiều

phương tiện giáo dục thể chất Các phương tiện này bao gồm các bài tập thể chất (còn gọi là bài tập TDTT), các yếu tố của tự nhiên, môi trường như nước, ánh nắng mặt trời, khí hậu, thời tiết, các yếu tố vệ sinh Trong đó bài tập thể chất được coi là phương tiện chủ yếu và chuyên biệt

1.4.2 Bài tập thể chất phát triển tố chất thể lực

Bài tập thể chất là phương tiện huấn luyện chủ yếu trong các môn thể thao Tuỳ thuộc vào các môn thể thao khác nhau mà các bài tập đó được

Trang 39

chuyên môn hoá cho phù hợp với yêu cầu tập luyện của môn thể thao chuyên sâu

Bài tập thể chất là phương tiện chủ yếu để huấn luyện thể lực Các bài tập được thực hiện lặp lại nhiều lần mới có thể phát triển toàn diện các tố chất thể lực chung và phát triển tố chất thể lực chuyên môn cho từng môn thể thao Căn cứ vào nội dung huấn luyện thể lực, phương thức của bài tập thể chất có thể phân chia thành bài tập phát triển thể lực toàn diện (bao gồm các bài tập với dụng cụ, không có dụng cụ, các bài tập khác) bài tập mang tính chuyên môn để phát triển thể lực cho môn chuyên sâu Phương pháp thực hiện các bài tập thể lực cũng rất đa dạng, tác dụng tới một tố chất thể lực đơn lẻ hoặc nhiều tố chất thể lực, tuỳ theo mục đích sử dụng của HLV

[34, 35, 36, 40, 43]

1.4.3 Bài tập thể chất phát triển sức bền trong Taekwondo

Một trong những đặc điểm quan trọng của phương pháp huấn luyện hiện đại là huấn luyện với lượng vận động lớn Huấn luyện với lượng vận động lớn là cơ sở để đạt được thành tích xuất sắc của các môn thể thao Song tiến hành huấn luyện với lượng vận động lớn phải dựa trên cơ sở trình

độ thể lực nhất định Trình độ thể lực càng cao, thì tố chất thể lực chuyên môn càng phát triển tốt, có lợi cho việc nắm vững kỹ thuật các môn thể thao, thúc đẩy sự phát triển và duy trì trạng thái thi đấu tốt cho VĐV trong những cuộc thi đấu lớn Sức bền là một trong những yếu tố cơ bản của năng lực thể thao trong thi đấu và cũng được coi là một thành phần quan trọng của sức khoẻ con người

Bài tập phát triển sức bền cho VĐV Taekwondo bao gồm:

- Bài tập sức bền chung là quá trình sử dụng hợp lý các phương tiện (bài tập thể chất) để phát triển khả năng chịu đựng lượng vận động của

cơ thể

- Bài tập sức bền chuyên môn là quá trình tập luyện được tiến hành một cách chặt chẽ, phù hợp với đặc điểm kỹ - chiến thuật chuyên môn của

Trang 40

Taekwondo

- Bài tập kỹ thuật là những bài tập với mục đích xây dựng kỹ thuật cơ bản, bước đầu xây dựng lối đánh của từng cá nhân và duy trì kỹ thuật trong quá trình tập luyện, thi đấu

Tổng quan các tài liệu liên quan tới các bài tập phát triển sức bền cho VĐV Taekwondo, chưa tìm thấy những số liệu, tài liệu, dẫn chứng nào đề cập tới lượng vận động sinh lý khi thực hiện bài tập Điều đó chứng tỏ, các công trình nghiên cứu về các bài tập phát triển sức bền trong môn Taekwondo còn hạn chế

Trong huấn luyện Taekwondo, tập luyện là một quá trình diễn ra theo từng giai đoạn, từng năm, mà còn diễn ra hàng ngày Mỗi ngày không chỉ thực hiện một bài tập, mà phải sử dụng nhiều bài tập Do đó, tập luyện đã trở thành quá trình luân phiên liên tục Trong từng thời kỳ khác nhau, tính chất và yêu cầu của bài tập cũng mang ý nghĩa khác nhau

Các bài tập phát triển sức bền nhằm chuẩn bị thể lực cho VĐV, cũng là cơ sở để phát triển thể lực chuyên môn Trong các bài tập huấn luyện sức bền có thể trùng hợp hoặc không trùng hợp với bài tập huấn luyện chuyên môn

Khi lựa chọn các bài tập huấn luyện sức bền cho VĐV Taekwondo cần chú ý:

- Phải sử dụng các phương tiện giáo dục các tố chất một cách toàn diện

- Quá trình huấn luyện cho VĐV phải phản ánh được đặc điểm của các tố chất đặc thù trong Taekwondo Các phương tiện huấn luyện sức bền chung, cần phải gắn chặt với yêu cầu về tố chất sức bền chuyên môn

Khi bố trí sắp xếp các bài tập sức bền cho VĐV Taekwondo thiếu niên cần chú ý đảm bảo sự phát triển đồng bộ các kỹ năng, kỹ xảo vận động, hỗ trợ tích cực cho các kỹ thuật Taekwondo và thúc đẩy nhanh sự hồi phục Bài tập huấn luyện sức bền chuyên môn thường là tổ hợp các động tác dùng để thi đấu, mang những nét đặc trưng gần giống hoặc giống yêu cầu

Ngày đăng: 18/04/2017, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. B.A.A.Smarin (1978), Lý luận và phương pháp thực nghiệm sư phạm trong TDTT , Nxb TDTT; Dịch: Đoàn Thế Hiển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp thực nghiệm sư phạm trong TDTT
Tác giả: B.A.A.Smarin
Nhà XB: Nxb TDTT; Dịch: Đoàn Thế Hiển
Năm: 1978
3. Lê Khánh Bằng (1993), Tổ chức quá trình dạy học Đại học, Nxb Viện nghiên cứu Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quá trình dạy học Đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Nxb Viện nghiên cứu Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1993
5. Khúc Văn Bốn (1989), Phương pháp giảng dạy Taekwondo, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy Taekwondo
Tác giả: Khúc Văn Bốn
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1989
6. Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền (1991), Lý luận và phương pháp thể thao trẻ, Nxb TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp thể thao trẻ
Tác giả: Lê Bửu, Nguyễn Thế Truyền
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1991
8. Chaeles A. Stepan (2000), Hướng dẫn tập luyện Taekwondo bằng hình ảnh, Nxb Mỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tập luyện Taekwondo bằng hình ảnh
Tác giả: Chaeles A. Stepan
Nhà XB: Nxb Mỹ thuật Hà Nội
Năm: 2000
9. Dương Nghiệp Chí (1991), Đo lường thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1991
13. Die Trich. Harre (1995), Học thuyết huấn luyện, Nxb TDTT; Dịch: Trương Anh Tuấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: Die Trich. Harre
Nhà XB: Nxb TDTT; Dịch: Trương Anh Tuấn
Năm: 1995
14. Lý Trung Di, Trần Thiện Tài, Đỗ Trường Chi (1987), Tuổi trẻ và võ thuật, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuổi trẻ và võ thuật
Tác giả: Lý Trung Di, Trần Thiện Tài, Đỗ Trường Chi
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1987
16. Vũ Cao Đàm (1995), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb giáo dục Hà Nội
Năm: 1995
17. Goikhơman. P. N (1978), Các tố chất thể lực của VĐV, Dịch: Nguyễn Quang Hưng, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tố chất thể lực của VĐV
Tác giả: Goikhơman. P. N
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1978
18. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (1995), Sinh lý học thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học thể dục thể thao
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1995
19. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (2003), Sinh lý học TDTT, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2003
20. Lưu Quang Hiệp (2005), Sinh lý bộ máy vận động, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý bộ máy vận động
Tác giả: Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2005
21. Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sỹ Hà (1994), Huấn luyện thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huấn luyện thể thao
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sỹ Hà
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1994
22. Trần Yến Hòa (2000), Sinh lý thể thao cho mọi người, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý thể thao cho mọi người
Tác giả: Trần Yến Hòa
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2000
23. Lê Hữu Hưng (2013), Kiểm tra y học thể dục thể thao, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra y học thể dục thể thao
Tác giả: Lê Hữu Hưng
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 2013
25. I.A.Côp lep (1962), Biến đổi sinh hoá khi vận động, Nxb TDTT Hà Nội; Dịch: Trần Quốc Tiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi sinh hoá khi vận động
Tác giả: I.A.Côp lep
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội; Dịch: Trần Quốc Tiệp
Năm: 1962
27. Kim Yong Choi (1990), Kỹ thuật Taekwondo, Nxb Korea Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật Taekwondo
Tác giả: Kim Yong Choi
Nhà XB: Nxb Korea
Năm: 1990
28. Kuk Hyun Chung, Kyung Myung Lee (1996), Taekwondo huấn luyện nâng cao, Nxb TDTT Hà Nội; Dịch: Vũ Xuân Thành, Vũ Xuân Long, 29. Nabatnhicova. M.I (1985), Quản lý và đào tạo VĐV trẻ, Nxb TDTTHà Nội; Dịch: Phạm Trọng Thanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taekwondo huấn luyện nâng cao", Nxb TDTT Hà Nội; Dịch: Vũ Xuân Thành, Vũ Xuân Long, 29. Nabatnhicova. M.I (1985), "Quản lý và đào tạo VĐV trẻ
Tác giả: Kuk Hyun Chung, Kyung Myung Lee (1996), Taekwondo huấn luyện nâng cao, Nxb TDTT Hà Nội; Dịch: Vũ Xuân Thành, Vũ Xuân Long, 29. Nabatnhicova. M.I
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội; Dịch: Vũ Xuân Thành
Năm: 1985
30. Phạm Xuân Ngà (1996), Một số vấn đề tuyển chọn và đào tạo VĐV trẻ, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tuyển chọn và đào tạo VĐV trẻ
Tác giả: Phạm Xuân Ngà
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w