Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)Chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG THỊ TRANG
CHẾ ĐỊNH QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
HIẾN PHÁP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hùng Hải
(Ghi rõ họ tên, chức danh khoa học, học vị)
Phản biện 1:………
………
Phản biện 2:………
………
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp … , Nhà - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành chính Quốc gia Số:… - Đường……… - Quận……… - TP………
Thời gian: vào hồi …… giờ …… tháng …… năm 201
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luâ ̣n văn
Quyền con người là yếu tố cơ bản, ta ̣o nên nền tảng của mô ̣t xã hô ̣i dân chủ, văn minh
Tư tưởng về quyền con người (nhân quyền) đã hình thành rất sớm trong li ̣ch sử nhân loa ̣i; nhưng không phải trong bất cứ hình thái kinh tế-xã hô ̣i nào, trong bất cứ kiểu nhà nước nào nó cũng được thừa nhâ ̣n mô ̣t cách đầy đủ Vì thế, quyền con người là mô ̣t pha ̣m trù li ̣ch sử và là kết quả của cuô ̣c đấu tranh không ngừng của toàn nhân loa ̣i, vươn tới những lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm xây dựng mô ̣t xã hô ̣i thâ ̣t sự công bằng, dân chủ
Giai cấp tư sản khi tiến hành cách ma ̣ng tư sản đã coi quyền con người như mô ̣t vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến và để tâ ̣p hợp các lực lượng xã
hô ̣i; do đó, từ thế kỷ XVIII, vấn đề nhân quyền đã được giai cấp tư sản đề câ ̣p đến như Tuyên ngôn đô ̣c lâ ̣p của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả nhà nước xã hô ̣i chủ nghĩa và nhà nước tư bản chủ nghĩa nên ngay từ khi tổ chức Liên Hiệp Quốc ra đờ i, vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ chức này đó là vấn đề nhân quyền Quyền con người đã trở thành vấn đề quan tro ̣ng, thường xuyên được đề câ ̣p đến trong các quan hê ̣ quốc tế Liên Hiệp Quốc đã ban hành hàng loa ̣t các văn kiê ̣n khẳng đi ̣nh các quyền và tự do của tất cả mo ̣i người Đă ̣c biê ̣t là Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, vấn đề nhân quyền đã chuyển sang mô ̣t bước ngoa ̣t mới trong li ̣ch sử nhân loa ̣i, trở thành mô ̣t quan hê ̣ cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luâ ̣t quốc tế Đến nay, quyền con người đã được khẳng đi ̣nh và ghi nhâ ̣n trong Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới
Có thể nói, quyền con người là thành tựu chung của cả loài người, là kết tinh của nền văn minh nhân loa ̣i Li ̣ch sử loài người cho thấy tri thức về quyền con người có ý nghĩa quan tro ̣ng cho sự phát triển và tiến bô ̣ của các xã hô ̣i cũng như là tiền đề cho sự phát triển đầy đủ về nhân cách và năng lực của mỗi cá nhân, Ở pha ̣m vi rô ̣ng hơn, tri thức về quyền con người là tiền đề cho hòa bình và thi ̣nh vượng của nhân loa ̣i
Ở Viê ̣t Nam, tư tưởng về quyền con người gắn liền với cuô ̣c cách ma ̣ng giải phóng dân tô ̣c Kể từ khi giành đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn tro ̣ng quyền con người Tuyên ngôn đô ̣c lâ ̣p của nước Viê ̣t Nam Dân chủ Cô ̣ng hòa do Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh đo ̣c ta ̣i quảng trưởng Ba Đình, Hà Nô ̣i ngày 02/9/1945 được coi là mô ̣t văn kiê ̣n có tính li ̣ch sử trên phương diê ̣n quốc tế về quyền con người Trên cơ sở đó, quyền con người đã được ghi nhâ ̣n trong Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013
Đă ̣c biê ̣t, với quy đi ̣nh của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người đã ta ̣o bước tiến quan tro ̣ng về mă ̣t pháp lý cho viê ̣c thực hiê ̣n quyền con ngưới trên thực tế Có thể nhâ ̣n thấy, cùng
Trang 4cho ̣n đề tài: “Chế đi ̣nh quyền con người trong Hiến pháp Viê ̣t Nam” làm luâ ̣n văn tha ̣c sỹ
chuyên ngành Luâ ̣t Hiến pháp và luâ ̣t Hành chính của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luâ ̣n văn
Quyền con người đã được Liên Hiệp Quốc, các nhà khoa ho ̣c pháp lý trong nước và thế giới quan tâm nghiên cứu Vì thế, thời gian qua, ở nước ta có rất nhiều các công trình nghiên cứu về quyền con người
+ Các bài viết như: Vũ Công Giao-Lê Thi ̣ Thúy Hương (2014), Nguyên tắc giới hạn
quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, trong cuốn “Bình luâ ̣n Khoa
ho ̣c Hiến pháp nước CHXHCN Viê ̣t Nam năm 2013” của Viê ̣n Chính sách công và pháp luâ ̣t,
Nxb Lao đô ̣ng-Xã hô ̣i; Nguyễn Trung Tín (2009), “Quyền con người và nhà nước pháp
quyền”, Quyền con người-tiếp câ ̣n đa ngành và liên ngành khoa ho ̣c xã hô ̣i; Vũ Công Giao
(2011), Ba ́ o báo tổng quan đề tài nghiên cứu khoa học: Quyền con người trong Hiến pháp Viê ̣t Nam và một số nước trên thế giới, Khoa Luâ ̣t, ĐHQG Hà Nô ̣i; Các nguyên tắc của chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp sửa đổi của
PGS.TS Phạm Hữu Nghị, đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật năm 2013; Quyền con
người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 của PGS.TS Nguyễn Thanh Tuấn đăng
trên Tạp chí Cộng sản năm 2013; Vũ Công Giao (2014), Chế định quyền con người, quyền
công dân trong Hiến pháp năm 2013, trong cuốn “Bình luận Khoa học Hiến pháp nước
CHXHCN Việt Nam năm 2013” của Viện Chính sách công và Pháp luật, NXB Lao động –
Xã hội;…
+ Luận văn thạc sỹ của Giáp Mạnh Huy (2008) về đề tài “Ba ̉ o đảm pháp lý về quyền con người ở Việt Nam hiện nay”; luâ ̣n án tiến sỹ luâ ̣t ho ̣c của Đă ̣ng Công Cương (2013) về đề
tài “Vai tro ̀ của Tòa án trong viê ̣c bảo vê ̣ quyền con người ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay”;luâ ̣n văn
tha ̣c sỹ luâ ̣t ho ̣c của Trương Thi ̣ Dung (2014) về đề tài “Vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ
quyền con người ở Việt Nam”;luâ ̣n văn tha ̣c sỹ luâ ̣t ho ̣c của Trần Thi ̣ Phương Hảo(2014) về
đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình
sự Viê ̣t Nam”; luâ ̣n văn tha ̣c sỹ chuyên ngành pháp luâ ̣t về quyền con người của Nguyễn
Ma ̣nh Hùng (2014)về đề tài “Vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con
người ở Việt Nam”; luâ ̣n văn tha ̣c sỹ chuyên ngành pháp luâ ̣t về quyền con người của Hoàng
Lan Anh (2014)về đề tài “Ba ̉ o đảm quyền con người trong Hiến pháp Viê ̣t Nam”; luâ ̣n văn
tha ̣c sỹ chuyên ngành pháp luâ ̣t về quyền con người của Nguyễn Thùy Dương(2014) về đề
tài“Chế đi ̣nh quyền con ngươ ̀ i, quyền công dân trong Hiến pháp Viê ̣t Nam”
Trang 53
Những công trình nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin khá lớn về vấn đề quyền con người trong các bản Hiến pháp của Việt Nam Mặc dù vậy, chưa có công trình nào nêu trên phân tích một cách toàn diện những tiến bộ, hạn chế và cơ chế bảo đảm thực thi những quy đi ̣nh về quyền con người trong các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 Vì vậy, việc nghiên cứu về vấn đề này có ý nghĩa lý luận, thực tiễn
3 Mu ̣c đích và nhiê ̣m vu ̣ của luâ ̣n văn
3.1 Mục đích
Mu ̣c đích của luâ ̣n văn này là phân tích những cơ sở lý luâ ̣n, thực tiễn và nô ̣i dung của chế đi ̣nh quyền con người trong các bản Hiến pháp Viê ̣t Nam nhằm đánh giá mô ̣t cách tổng quan những thành tựu, ha ̣n chế của Hiến pháp Viê ̣t Nam về vấn đề quyền con người Từ đó, đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế đi ̣nh này
3.2 Nhiê ̣m vụ
Để đa ̣t được mu ̣c đích nêu trên, luâ ̣n văn có những nhiê ̣m vu ̣ cơ bản sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luâ ̣n nền tảng về mối quan hê ̣ giữa quyền con người và Hiến pháp
- Phân tích chế đi ̣nh quyền con người trong các bản Hiến pháp Viê ̣t Nam (1946,1959,
1980, 1992, 2013), chỉ ra sự phát triển của chế đi ̣nh này qua từng bản Hiến pháp
- Phân tích những sửa đổi, bổ sung của chế đi ̣nh quyền con người trong Hiến pháp năm 2013
- Phân tích chỉ ra những điểm tiến bô ̣ và ha ̣n chế của chế đi ̣nh quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở so sánh với các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Viê ̣t Nam đã gia nhập, Hiến pháp của các nước trên thế giới và các bản Hiến pháp trước đó của Viê ̣t Nam
- Đưa ra một số quan điểm về quyền con người trong Hiến pháp và đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam
4 Đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu của luâ ̣n văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luâ ̣n văn nghiên cứu về quyền con người trong Hiến pháp Viê ̣t Nam
4.2 Pha ̣m vi nghiên cứu
Quyền con người là nô ̣i dung được ghi nhâ ̣n không chỉ trong Hiến pháp – đa ̣o luâ ̣t cơ bản của quốc gia, mà còn được cu ̣ thể hóa trong các văn bản pháp luâ ̣t của nhiều ngành luâ ̣t khác nhau Tuy nhiên, trong pha ̣m vi luâ ̣n văn này, tác giả chỉ đi sau nghiên cứu các quy đi ̣nh về quyền con người trong các bản Hiến pháp Viê ̣t Nam: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013 Trong đó, tâ ̣p trung vào chế đi ̣nh quyền con người của Hiến pháp hiê ̣n hành năm
2013
Trang 64
5 Phương pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu của luâ ̣n văn
5.1 Phương pha ́ p luâ ̣n
Luâ ̣n văn được thực hiê ̣n trên cơ sở vâ ̣n du ̣ng cơ sở lý luâ ̣n, phương pháp luâ ̣n duy vâ ̣t biê ̣n chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của nhà nước ta về pháp luâ ̣t, xây dựng pháp luâ ̣t và quyền con người
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử du ̣ng trong luâ ̣n văn bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
6 Ý nghĩa lý luâ ̣n và thực tiễn của luâ ̣n văn
Luâ ̣n văn cung cấp cái nhìn tổng thể về chế đi ̣nh quyền con người trong các bản Hiến pháp Viê ̣t Nam từ trước đến nay, đồng thời cho thấy sự phát triển của chế đi ̣nh này qua các thời kỳ
Công trình nghiên cứu này có giá tri ̣ tham khảo đối với sinh viên, các nhà nghiên cứu pháp lý, cũng như viê ̣c nghiên cứu giảng da ̣y của các cơ sở đào ta ̣o luâ ̣t
7 Kết cấu của luâ ̣n văn
Ngoài phần Mở đầu phần Kết luâ ̣n, Danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo, luâ ̣n văn gồm 3 chương sau:
CHƯƠNG 1 Cơ sở lý luận về chế định quyền con người trong Hiến pháp
CHƯƠNG 2 Quá trình phát triển của chế đi ̣nh quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam CHƯƠNG 3 Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chế định quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013
Trang 75
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP
1.1.Quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
1.1.1.1 Các quan niệm về quyền con người
Quyền con người là vấn đề có lịch sử lâu đời, có nội dung rộng lớn, liên quan tới nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý,… Do vậy, trong lịch sử nhân loại, có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về vấn đề quyền con người Mỗi một quan điểm
là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề quyền con người Tuy nhiên, tổng hợp lại có thể chia thành ba nhóm quan điểm chủ yếu về quyền con người như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên,
nên quyền con người là quyền “bẩm sinh”, là “đặc quyền”, nghĩa là quyền con người, quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với cá nhân con người, không thể tách rời Quan điểm này được các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVII, XVIII) như: Crotius, Thomas Hobbes, Kant, Locke, Paine, Spinoza, Rousseau hoàn thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên
Nhóm quan điểm thứ hai: Trái với nhóm quan điểm thứ nhất, nhóm quan điểm này lại
chỉ đặt con người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội Quan điểm này cho rằng, con người chỉ là một thực thể xã hội nên quyền của nó chỉ được xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà nước, pháp luật điều chỉnh, bảo vệ Với những đại diện như học giả Edmund Burke (1727- 1797) và Jeremy Bentham (1748-1832)
Nhóm quan điểm thứ ba: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề quyền con
người Xuất phất từ quan điểm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của
xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng vấn đề quyền con người “về bản chất bao hàm cả hai
mặt tự nhiên và xã hội”
1.1.1.2 Khái niệm quyền con người
Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người” còn có thuật ngữ “nhân quyền”
Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “human rights”, mà nếu dịch trực tiếp sang tiếng Việt là quyền con người; còn nếu dịch qua Hán - Việt là nhân quyền Xét về mặt ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa
Theo một tài liệu năm 1994 của Liên Hiệp Quốc, United Nations Human rights: Question anh Answer, có đến gần 50 khái niệm về quyền con người đã được công bố Mỗi khái niệm tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định nhưng không khái niệm nào cũng bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người Mỗi khái niệm là một sự biểu hiện khác nhau ở góc độ nhìn nhận về vấn đề quyền con người
Trang 86
Ở cấp độ quốc tế, khái niệm của văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu Theo khái niệm này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân
và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entit lements) và sự tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người
Có thể thấy, khái niệm quyền con người là một khái niệm năng động và được thay đổi,
mở rộng Quyền con người được nhìn nhận là những nhu cầu tự nhiên, vốn có của con người
và được pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo vệ bằng các cơ chế khác nhau
Mặc dù, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người, nhưng có một điều rõ ràng rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ Trong thời đại ngày nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển
1.1.2 Tính chất của quyền con người
Các tính chất cơ bản của quyền con người, theo nhận thức chung của cộng đồng quốc
tế thể hiện trong cuốn United Nations: UN common understanding on human rights – based approaches to development, bao gồm: tính phổ biến (universal), tính không thể chuyển nhượng (tước đoạt) (inalienable), tính không thể chia cắt (indivisiable) và tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent) Ngoài ra, theo khái niệm về quyền con người như đã trình bày ở trên thì quyền con người còn có tính pháp luật
1.1.2.1 Tính phổ biến
Tính phổ biến của quyền con người xuất phát từ nguồn gốc tự nhiên về quyền con người Theo đó, quyền con người là những giá trị vốn có và chỉ tồn tại ở loài người Thông qua bản Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, tính phổ biến của quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận, thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn
có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử bởi bất kỳ lý do nào về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, thành phần xuất thân
Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý bản chất của sự bình đẳng về quyền con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền mà là bình đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người Mọi thành viên của nhân loại đều được công nhận có các quyền con người song mức độ hưởng thụ các quyền phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, cũng như hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,… nơi người đó đang sống
1.1.2.2 Tính không thể chuyển nhượng
Bất kỳ một chủ thể nào bao gồm cơ quan công quyền hay công chức nhà nước cũng không có quyền tước đoạt một cách tùy tiện các quyền tự do ý chí, thể hiện nguyện vọng đó của mỗi cá nhân trong xã hội Sự tùy tiện tước đoạt quyền con người bởi một chủ thể nào đó
là sự vi phạm các quyền con người đã được pháp luật bảo vệ (Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế
Trang 97
giới về quyền con người năm 1948) Bên cạnh đó, bất cứ ai, không những không được quyền tước đoạt mà còn không được quyền hạn chế hoặc xâm phạm một cách tùy tiện các quyền con người của mỗi cá nhân
Như vậy, tính không thể tước đoạt của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người không thể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế một cách tùy tiện bởi bất kể chủ thể nào
sự đánh giá về giá trị của các quyền đó
1.1.2.4 Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Quyền con người mang tính toàn diện, chúng không tồn tại độc lập, tách rời mà tồn tại trong một tổng thể có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, coi trọng như nhau, trong đó, việc đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền này là điều kiện để đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền khác và ngược lại Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm quyền khác
Tính pháp luật của quyền con người thể hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Thứ hai, quyền con người chỉ có thể bị hạn chế
bằng pháp luật
1.2 Chế định quyền con người trong Hiến pháp
Hiến pháp - được định nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lý của con người và công dân Ngay trong định nghĩa về Hiến pháp đã thể hiện mối quan hệ giữa Hiến pháp và quyền con người Mặc nhiên thừa nhận rằng, quyền con người được quy định cụ thể trong Hiến pháp
Chế định quyền con người trong Hiến pháp là hệ thống những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định các quyền con người Chế định quyền con người trong Hiến pháp được ghi nhận theo những cách thức khác nhau và được điều chỉnh ở phạm vi khác nhau tùy thuộc vào sự xác định của mỗi quốc gia
Trang 108
1.2.1 Cách thức xác định quyền con người trong Hiến pháp
Cách thức xác định quyền con người trong Hiến pháp là hình thức pháp điển hóa quyền con người vào Hiến pháp Tại mỗi quốc gia đều có những cách thức hiến định quyền con người khác nhau, nhưng tựu chung lại, có ba cách thức chủ yếu Đó là:
- Thứ nhất, quyền con người được quy định thành chương, điều trong nội dung Hiến
pháp: Tức là nó được đề cập trực tiếp thành các điều trong một chương riêng hoặc nằm rải rác
trong một số chương của Hiến pháp
- Thứ hai, chế định quyền con người được quy định một văn bản riêng và được thừa nhận như một bộ phận của Hiến pháp: Điều này có nghĩa là chế định quyền con người tách
hẳn với Hiến pháp, không nằm trong cấu trúc của Hiến pháp mà nằm ở một văn bản riêng, có mối liên hệ với Hiến pháp khi được thừa nhận như một bộ phận của Hiến pháp
- Thứ ba, chế định quyền con người được xác định như là những điều bổ sung của Hiến pháp:Theo cách thức hiến định này, chế định quyền con người không được quy định
trực tiếp trong nội dung của Hiến pháp cũng như không nằm trong một văn bản riêng mà có hình thức như những điều bổ sung của Hiến pháp
1.2.2 Phạm vi điều chỉnh chế định quyền con người trong Hiến pháp
Tùy từng cách ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp mà phạm vi điều chỉnh quyền con người trong Hiến pháp ở các nước khác nhau cũng có sự khác nhau Có thể chia thành hai loại: Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh quyền con người hẹp và Hiến pháp có phạm
vi điều chỉnh quyền con người rộng
1.3 Mối quan hệ giữa quyền con người và Hiến pháp
1.3.1 Vai trò của quyền con người đối với sự ra đời Hiến pháp
Lý do để ra đời Hiến pháp xuất phát từ nhu cầu quản lý xã hội mà mục đích cao nhất chính là bảo vệ quyền con người, quyền công dân, giúp cho mọi thành viên trong xã hội đều được có cơ hội thụ hưởng quyền lợi chính đáng của mình mà không có bất cứ sự xâm phạm nào Ở đây, quyền con người chính là yếu tố quyết định đến sự ra đời, hình thành và phát triển của Hiến pháp, trở thành nội dung quan trọng đến mức nếu không có chế định về quyền con người thì cũng không thể có bản thân Hiến pháp, nội dụng đó chi phối kết cấu của bản Hiến pháp nên trong Hiến pháp của nhiều nước, chế định quyền con người, quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu
1.3.2 Vai trò của Hiến pháp đối với việc bảo đảm quyền con người
Thứ nhất, Hiến pháp là công cụ để hạn chế quyền lực nhà nước: Muốn đảm bảo
quyền con người được thực hiện một cách tối ưu nhất thì vấn đề đặt ra là quyền lực nhà nước phải được hạn chế một cách phù hợp Có nhiều cách để hạn chế quyền lực nhà nước nhưng cách tốt nhất là Hiến pháp - đạo luật tối cao phải ghi nhận các quyền tự do của con người như
là một giới hạn để quyền lực nhà nước không thể xâm phạm Hơn nữa, các quy định trong Hiến pháp, cụ thể như các quy định về cách thức tổ chức, giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà
Trang 119
nước cũng nhằm tới mục tiêu cao nhất là bảo vệ nền dân chủ, quyền con người, quyền công dân; tránh việc quyền con người, quyền công dân bị lạm dụng và xâm phạm một cách tùy tiện
Thứ hai, xuất phát từ mục đích ra đời Hiến pháp Về nguồn gốc ra đời Hiến pháp như
đã phân tích ở trên, Hiến pháp ra đời là do nhu cầu hạn chế quyền lực nhà nước và để bảo vệ các quyền con người, quyền công dân Do vậy, Hiến pháp chính là công cụ pháp lý cơ bản để bảo vệ quyền con người ở các quốc gia
Thứ ba, xuất phát từ bản chất của Hiến pháp: Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp
lý tối cao, được coi là đạo luật gốc, do cơ quan có thẩm quyền cao nhất hoặc do chính nhân dân thông qua Hiến pháp, với tư cách là đạo luật cơ bản của các quốc gia, luôn có các quy định khẳng định rõ các quyền và tự do của cá nhân dưới hình thức các quyền con người hoặc quyền công dân Điều này trực tiếp nhấn mạnh rằng quyền con người là những quyền thiêng liêng, không thể bị xâm phạm Như vậy, Hiến pháp có ảnh hưởng rất to lớn trong việc điều chỉnh vấn đề quyền con người Với hiệu lực tối cao của mình, Hiến pháp đóng vai trò là công
cụ pháp lý cơ bản để hiện thực hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người ở các quốc gia
1.4 Chế định quyền con người trong Hiến pháp của một số quốc gia
1.4.1 Chế định quyền con người trong Hiến pháp Hoa Kỳ
Không phải ngay từ đầu Hiến pháp Hoa Kỳ đã có những quy định trực tiếp về quyền con người bởi theo các nhà soạn thảo Hiến pháp, trong tâm trí của họ, luôn cho rằng, toàn văn kiện đó đã hàm chứa một đạo luật về quyền con người, vì nó hạn chế một cách nghiêm ngặt quyền hạn của chính phủ Trước thực tế, phe chống liên bang đòi hỏi một bản Hiến pháp cô đọng hơn, chắc chắn hơn, đầy đủ hơn và có thể nêu bật được quyền con người của dân chúng cũng như những giới hạn quyền lực của chính quyền Cùng với sự thay đổi nhận thức của những nhà lãnh tụ phe liên bang (Wilson và Madison) Đến ngày 15/12/1791, các cơ quan lập pháp ở ba phần tư số bang đã phê chuẩn mười tu chính án bổ sung sửa đổi Mười tu chính án này được gọi là “Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ” Các tu chính án này có tác dụng hạn chế quyền lực của chính quyền liên bang, giới hạn khả năng xâm phạm của chính phủ đối với các quyền và tự do của từng cá nhân, những người sinh sống và khách trên lãnh thổ Hoa kỳ Hiến pháp Hoa Kỳ và bản phụ văn của nó - Tuyên ngôn nhân quyền là bản văn Hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất, là mô hình tham khảo của nhiều quốc gia khi xây dựng Hiến pháp Nhiều nguyên tắc của Hiến pháp Hoa Kỳ phản ánh những đòi hỏi của bối cảnh mới khi các thuộc địa giành được độc lập
1.4.2 Chế định quyền con người trong Hiến pháp Cộng hòa Pháp
Không giống như Hiến pháp Hoa Kỳ, Hiến pháp của Cộng hòa Pháp xác định quyền con người thông qua một văn bản riêng mà nó được thừa nhận là một bộ phận của Hiến pháp,
đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 Thực chất, dù không nằm trong Hiến pháp nhưng cho đến nay, Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1958 đang hiện hành của Cộng hòa
Pháp đã trịnh trọng tuyên bố: “Nhân dân Pháp trung thành với bản Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền năm 1789” Điều đó có nghĩa là bản tuyên ngôn này như một nội dung chính
Trang 1210
của Hiến pháp và những ghi nhận về quyền con người trong bản tuyên ngôn này cũng chính là tinh thần mà Hiến pháp muốn truyền tải
1.4.3 Chế định quyền con người trong Hiến pháp Liên bang Nga
Ngày 12 tháng 12 năm 1993, theo điều khoản về việc toàn dân biểu quyết đối với dự thảo Hiến pháp Liên bang Nga được phê chuẩn bởi Sắc lệnh của Tổng thống Nga Cuộc trưng cầu dân ý nhằm thông qua Hiến pháp đã được tổ chức Kết quả là 54,8% số cử tri có tên trong danh sách tham gia cuộc trưng cầu và 58,4% số cử tri tham gia bỏ phiếu đã ủng hộ bản dự thảo Hiến pháp Đến ngày 25 tháng 12 năm 1993, Hiến pháp Liên bang Nga chính thức có hiệu lực Cũng giống như nhiều nước trên thế giới, Hiến pháp Liên bang Nga xác định các quyền con người trong một chế định nằm trong nội dung của Hiến pháp Thể hiện tầm quan trọng của các quyền con người, Hiến pháp Liên bang Nga đặt chế định quyền con người trong
Phần thứ nhất của Hiến pháp tại Chương 2 với tên gọi “Các quyền và tự do của con người và
công dân” Khoản 1 Điều 55 khẳng định rằng, việc liệt kê các quyền và tự do cơ bản trong
Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hoặc xem nhẹ các quyền và tự do khác của con người
và công dân đã được thừa nhận rộng rãi Nguyên tắc hàng đầu của cơ quan lập pháp hiện hành
là sự thừa nhận con người, các quyền và tự do của con người như các giá trị tối cao, vốn có, không thể chuyển nhượng, thay đổi và thuộc về con người ngay từ khi được sinh ra
Trang 1311
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỊNH QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM 2.1 Chế định quyền con người trong các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001)
2.1.1 Chế định quyền con người trong Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua ngày 09/11/1946 Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập dân chủ Hiến pháp năm 1946 tuy chưa sử dụng trực tiếp thuật ngữ “quyền con người”nhưng đã đề cập
cụ thể đến các quyền của con người Đó đồng thời cũng là quyền công dân theo cách hiểu của chúng ta ngày nay Nội dung quyền con ngườitrong Hiếp pháp năm 1946 được xuyên suốt bởi
quan điểm đã được ghi nhận ở Điều thứ 1: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa
Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”
Điểm nổi bật của Hiến pháp năm 1946 là ở chỗ, mặc dù ra đời ngay trong những năm đầu tiên của chính quyền nhân dân còn non trẻ, đang còn phải tập trung lo toan, ứng phó với các công việc chính trị trong nước cũng như việc ngoại giao với nước ngoài nhưng vẫn dành
sự quan tâm đặc biệt to lớn đối với vấn đề quyền con người - được thể hiện thông qua quyền
và nghĩa vụ công dân Điều này được thể hiện ở chỗ, mặc dù bản Hiến pháp năm 1946 chỉ có
70 điều nhưng đã dành hẳn một chương bao gồm 18 điều để quy định một cách tương đối đầy
đủ, toàn diện và bao quát về các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân
Ưu điểm của Hiến pháp năm 1946 là các quy định về quyền con người được diễn đạt rất ngắn gọn Điều này phù hợp với tình hình lúc đó, khi chính sách cai trị ngu dân hàng trăm năm của chế độ thực dân, phong kiến đã dẫn đến trên 90% dân ta không biết chữ, đảm bảo tính phổ quát của văn bản quy phạm pháp luật được phổ biến rộng rãi tới người dùng, mang tính thực tế và tính khả thi cao
Việc ghi nhận các quyền con người và cơ chế đảm bảo thực hiện trong Hiến pháp năm
1946 có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu
cơ quan soạn thảo Hiến pháp năm 1946 đã nói: “Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân
tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam
đã đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm kiết, công bình của các giai cấp”
2.1.2 Chế định quyền con người trong Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp năm 1959 được thông qua khi đất nước vẫn còn chia cắt, đã kế thừa, bổ sung các quy định về quyền con người Quyền con người tiếp tục được thể hiện thông qua quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Trên cơ sở kế thừa các quy định về quyền và nghĩa