Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC
Công trình tham gia hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học trường Đại học Sư
phạm Đà Nẵng năm 2011
Tên công trình:
THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI VIỆC CHẤP HÀNH LUẬT GIAO THÔNG
KHI ĐI MÔ TÔ, XE MÁY CỦA SINH VIÊN Ở MỘT SỐ
TRƯỜNG TRONG ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG.
Sinh viên thực hiện : Vũ Ngọc Duy (07CTL)
Đặng Lai Thao (09CTL) Người hướng dẫn : Th.S Tô Thị Quyên
Đà Nẵng, năm 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
- Hiện nay an toàn giao thông là một vấn đề lớn, được cả xã hộiquan tâm
- Tuy nhiên, hàng năm số vụ tai nạn giao thông vẫn không hềsuy giảm, ngược lại nó còn tăng lên rất nhiều mà phần lớn nguyênnhân chính gây ra các vụ tai nạn là do ý thức , thái độ chấp hành luậtlệ giao thông của mỗi người còn hạn chế như: uống rượu bia vượtquá nồng độ cho phép khi lái xe, không đội mũ bảo hiểm ở phầnđường bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm, chở trên ba người phóngnhanh vượt ẩu…
Trang 3- Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ngân hàngthế giới (WB) thì mỗi năm, thế giới có hơn 1,2 triệu người chết vì tainạn giao thông đường bộ.
- Ở Việt Nam, hằng năm có 12.000 người thiệt mạng vì an toàngiao thông và 30.000 người khác tổn thương sọ não, chủ yếu là do tainạn xe máy, mô tô, theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tổn thấtvật chất hàng năm ở Việt Nam do tai nạn giao thông khoảng 885 triệuUSD Con số này còn cao hơn cả giá trị tiền thuốc sử dụng cho cả 84triệu dân Việt Nam trong năm 2005 (817 triệu USD) Nếu so sánh vớitổng thu ngân sách cả nước thì con số 885 triệu USD chiếm hơn 5,5%tổng thu ngân sách cả nước/năm Và nếu so với tổn thất toàn cầu dotai nạn giao thông đường bộ khoảng 518 tỷ USD/năm (số liệu của Tổchức Y tế thế giới, WHO) thì con số tổn thất gần 1 tỷ USD/năm củaViệt Nam là quá nghiêm trọng
Trang 4Lứa tuổi thanh niên trong đó có sinh viên là lứa tuổi mới lớn,không ít người trong đó có tư tưởng muốn khẳng định bản thân, cátính của mình Họ thể hiện cả điều đó khi tham gia giao thông nhưnghọ không lường hết được hậu quả của nó gây nên những tai nạnthương tâm làm thiệt hại nặng nề về người và tài sản, tạo nên gánhnặng cho gia đình và cho xã hội Trong tổng số 10.140 vụ tai nạn giaothông, có 37% vụ liên quan đến đối tượng dưới 24 tuổi Tại Đà Nẵng,
từ năm 2003-2008 có tới gần 2.000 trường hợp học sinh, sinh viên viphạm an toàn giao thông, trong đó 1.300 trường hợp bị xử phạt hànhchính và 7 trường hợp bị khởi tố do vi phạm luật an toàn giao thônggây hậu quả nghiêm trọng
Xuất phát từ những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Thái độ
đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng ” để nghiên
cứu
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ thái độ của sinh viên ở một số trường trong Đại học Đà Nẵng đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy, chỉ ra thực trạng của vấn đề.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông.
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK thuộc Đại học Đà Nẵng.
- Khách thể khảo sát: 306 sinh viên thuộc trường ĐHSP và ĐHBK.
- Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi tham gia giao thông.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Trường ĐHSP – ĐHĐN.
Trường ĐHBK – ĐHĐN.
+ Thời gian: Tháng 4/ 2011
Trang 64 Giả thuyết khoa học
4.1 Khi tham gia giao thông, thái độ đối với việc chấp hành luậtgiao thông khi đi mô tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trongĐHĐN còn chưa cao, có sự khác nhau giữa các trường, nam và nữ Cụthể chúng tôi đặt giả thuyết là những sinh viên Trường ĐHSP –ĐHĐN sẽ chấp hành luật giao thông tốt hơn sinh viên Trường ĐHBK– ĐHĐN vì họ được học tập, đào tạo để sau này là những người cótrách nhiệm trong giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Vì vậy, ngay từ khicòn là sinh viên họ đã phải ý thức được trách nhiệm tuân thủ các quyđịnh của mình cao hơn những sinh viên thuộc các trường khác
4.2 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thái độ chấp hành luật giaothông của sinh viên khi tham gia giao thông như: yếu tố thuộc về sinhviên (nhận thức, xúc cảm, hành vi, đặc điểm tâm sinh lý); yếu tố thuộc
về xã hội (các hình thức tuyên truyền, hướng dẫn, sự tác động của bạn
bè, tâm lý cộng đồng…)
Trang 75 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về thái độ và thái độ củasinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ
- Khảo sát thực trạng thái độ của sinh viên trường ĐHSP vàĐHBK về việc chấp hành luật lệ giao thông khi tham gia giao thông,ảnh hưởng của một số yếu tố đến thực trạng này
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao thái độ của sinh viênđối với việc chấp hành luật giao thông khi tham gia giao thông
6 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket)
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê toán học
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ
1.1.1 Tổng quan các nghiên cứu về thái độ trên thế giới
1.1.2 Các nghiên cứu về thái độ ở Việt Nam
1.2 Lý luận về thái độ
1.2.1 Các lý thuyết về thái độ
1.2.2 Khái niệm thái độ
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích các định nghĩa, các cách hiểu về thái độ của các nhà tâm lý học chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của
mình về khái niệm thái độ như sau: “ Thái độ là trạng thái tâm lý chủ quan của
cá nhân, sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay ngược lại) đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm – tình cảm và hành vi của chủ thể trong những tình huống, những điều kiện
cụ thể.”
Trang 91.2.3 Đặc điểm của thái độ
1.2.4 Cấu trúc của thái độ
1.2.5 Chức năng của thái độ
1.2.6 Cơ chế hình thành thái độ
1.2.7 Phân loại và các mức độ của thái độ
1.2.8 Mối quan hệ của thái độ và các khái niệm có liên quan 1.2.9 Sự thay đổi của thái độ
Trang 101.3 Lý luận về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy của sinh viên.
1.3.1 Khái niệm về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông đường bộ
* Khái niệm luật
* Khái niệm giao thông
* Khái niệm luật giao thông
* Khái niệm luật giao thông đường bộ
* Khái niệm về thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy
Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xemáy là trạng thái tâm lý chủ quan sẵn sàng phản ứng theo mộtkhuynh hướng nhất định ( tích cực hay tiêu cực) đối với việc chấphành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy
Trang 111.3.2 Thái độ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô
tô, xe máy của sinh viên ở một số trường trong ĐHĐN.
1.3.2.1 Khái niệm về sinh viên
1.3.2.2 Những đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên
1.3.2.3 Khái niệm thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
Từ những phân tích trên về thái độ chúng tôi rút ra khái niệm thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi
mô tô, xe máy: “Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật
giao thông khi khi đi mô tô, xe máy là trạng thái tâm lý chủ quan của
họ sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định ( tích cực hay tiêu cực) đối với việc chấp hành luật giao thông khi khi đi mô tô,
xe máy Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm - tình cảm và hành vi của họ trong những tình huống, những điều kiện nhất định”.
Trang 121.3.2.4 Các mặt biểu hiện của thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
1.3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy.
Trang 13Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát về khách thể khảo sát
2.1.1 Khái quát về trường ĐHSP – ĐHĐN
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tiến hành điều tra trên khách thể chính là 159 sinh viên với những chuyên ngành khác nhau của trường ĐHSP- ĐHĐN.
Sinh viên được chọn nghiên cứu bao gồm sinh viên năm thứ 1, năm thứ
2, năm thứ 3 của trường ĐHSP- ĐHĐN thuộc các ngành (địa lý, vật lý, sinh học, ngữ văn, tâm lý, toán học, tin học), phân theo giới tính nam và nữ.
2.1.2 Khái quát về trường ĐHBK – ĐHĐN
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tiến hành điều tra trên khách thể chính là 147 sinh viên với những chuyên ngành khác nhau của trường ĐHBK- ĐHĐN.
Sinh viên được chọn nghiên cứu bao gồm sinh viên năm thứ 1, năm thứ
2, năm thứ 3,4 của trường ĐHBK- ĐHĐN thuộc các ngành (môi trường, điện, xây dựng, sư phạm kĩ thuật), phân theo giới tính nam và nữ.
Trang 142.1 Quy trình nghiên cứu
- Tiến hành thu thập và nghiên cứu các vấn đề lý luận, xây dựngbảng điều tra viết và điều tra thử: thời gian từ tháng 2 đến tháng3/2011
- Tiến hành nghiên cứu thực trạng: phát phiếu điều tra trongtháng 04 năm 2011
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích, xử lý các
số liệu thu thập Trên cơ sở đó phân tích kết quả nghiên cứu thái độcủa sinh viên trường ĐHBK và ĐHSP đối với việc chấp hành luậtgiao thông đường bộ khi đi mô tô, xe máy
Trang 152.2 Các phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
2.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Angket)
Để đánh giá thái độ của của sinh viên đối với việc chấp hành luật lệgiao thông đường bộ khi tham gia giao thông chúng tôi xây dựng 15 câuhỏi Trong đó:
- Phần 1: Thái độ biểu hiện qua mặt nhận thức: câu 1, câu 5, câu 8, câu11
- Phần 2: Thái độ biểu hiện qua mặt xúc cảm: câu 3, câu 4, câu 6, câu
9, câu 14
- Phần 3: câu 2, câu 10, câu 12
- Phần 4: Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu một số vấn đề sau:Nguyên nhân sinh viên vi phạm luật (Câu 7) Các hình thức tuyên truyềnluật giao thông và hiệu quả của nó (câu 13) Những ý kiến đóng, kiếnnghị của sinh viên nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật giao thôngđường bộ của sinh viên (câu 15)
Trang 16• 2.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
• 2.2.2.3 Phương pháp quan sát
• 2.2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán toán học
• 2.3 Cách xử lý và đánh giá kết quả
• + Từ 2,33 – 3 điểm : Thái độ tích cực
• + Từ 1,66 – 2,32 điểm : Thái độ ít tích cực
• + Dưới 1,66 điểm : Thái độ tiêu cực
Trang 17Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 TĐ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi
mô tô, xe máy
3.1.1 TĐ chung của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy
Bảng 3.1: TĐ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (Kết quả xử lý chung)
Trang 183.1 Biể u đồ thể hiệ n các mức độ của thái độ
54,3 45,4
Trang 19Kết quả tại bảng 3.1 cho thấy: Đa số sinh viên trường ĐHBKvà ĐHSP được chọn nghiên cứu có TĐ tích cực đối với đối với việcchấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy Tỷ lệ sinh viên đạt
TĐ đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy loại
A (Rất tích cực) và loại B (Tích cực) chiếm tỷ lệ cao (Loại A: 166sinh viên, chiếm 54.3%; Loại B: 139 sinh viên, chiếm 45.4%) Tuynhiên, bên cạnh những sinh viên có thái độ tích cực và tương đối tíchcực đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy thìvẫn còn những sinh viên có thái độ chưa tích cực
- Về thứ bậc các thành phần của thái độ (nhận thức, tình cảm,hành vi):
+ Nhận thức xếp thứ hạng cao nhất với điểm trung bình là 2.65+ Tình cảm xếp thứ hạng 2 (2.58 điểm)
+ Hành vi xếp thứ hạng thấp nhất (2.52 điểm)
Trang 203.1.2 So sánh TĐ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy
Bảng 3.2: Bảng so sánh TĐ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (Kết quả xử lý theo trường)
TSĐ ĐTB TB
Nhận thức 105 66 54 34 0 0 159 100 423 2.66 1 Tình cảm 101 63.5 52 32.7 6 3.8 159 100 413 2.59 2 Hành vi 84 52.8 75 47.2 0 0 159 100 402 2.53 3
ĐHSP
Tổng hợp 91 57.2 68 42.8 0 0 159 100 409 2.57
ĐHBK
Tổng hợp 75 51 71 48.3 1 0.7 147 100 368 2.50
Trang 213.3 Biể u đồ thể hiệ n các mức độ của thái độ của sinh viê n SP
0,7
Mức độ A Mức độ B Mức độ C
Qua bảng 3.2 và biểu đồ 3.3; 3.4 cho thấy: Đa số sinh viên trường ĐHBK và ĐHSP được chọn nghiên cứu có TĐ tích cực đối với đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy Tuy nhiên giữa sinh viên ĐHBK và ĐHSP vẫn có sự khác biệt, thái độ của sinh viên SP tích cực hơn sinh viên BK (57.2% so với 51%).
Trang 223.2.2 So sánh TĐ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (Kết quả xử lý theo giới tính)
Bảng 3.3: Bảng so sánh TĐ của sinh viên nam trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp
hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (Kết quả xử lý theo giới)
TSĐ ĐTB TB
Nhận thức 53 66.3 27 33.7 0 0 80 100 213 2.66 1 Tình
cảm 49 61.3 30 37.5 1 1.2 80 100 208 2.60 2 Hành
vi 40 50 39 48.8 1 1.2 80 100 199 2.49 3
Nam
Tổng hợp 39 48.8 40 50 1 1.2 80 100 198 2.48
Nhận thức 49 65.3 26 34.7 0 0 75 100 199 2.65 1 Tình
cảm 46 61.3 23 30.7 6 8
75 100 189 2.52 2 Hành
75 100 190 2.53
Qua bảng 3.3 cho thấy sinh viên nam của ĐHSP có thái độ tích cực hơn (53.3%) so với nam sinh viên của ĐHBK (48.8%)
Trang 23• Bảng 3.4: Bảng so sánh TĐ của sinh viên nữ trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy (Kết quả xử lý theo giới)
cảm 39 58.2 28 41.8 0 0
67 100 173 2.58 2 Hành
cảm 55 65.5 29 34.5 0 0
84 100 223 2.65 2 Hành
Qua bảng 3.4 cho thấy sinh viên nữ của ĐHSP có thái độ tích cực hơn (60.7%) so với nữ
sinh viên của ĐHBK (53.7%)
Trang 24• 3.2 So sánh biểu hiện thái độ của sinh viên trường ĐHSP và ĐHBK đối với việc chấp hành luật giao thông khi đi mô tô, xe máy thể hiện qua các mặt
• 3.2.1 So sánh thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành đúng luật giao thông khi đi
mô tô xe máy thể hiện qua mặt nhận thức
• 3.2.1.1 Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành đúng luật giao thông khi đi mô tô xe máy thể hiện qua mặt nhận thức về việc chấp hành luật giao thông, giấy tờ phải mang theo, quy định của luật giao thông, ý nghĩa của các biển báo.
• Bảng 3.5: Thái độ của sinh viên đối với việc chấp hành đúng luật giao thông khi đi mô tô xe máy thể hiện qua mặt nhận thức (Kết quả chung)
Trang 25Nhận thức về luật giao thông
Qua bảng 3.5 và biểu đồ 3.5 ta nhận thấy:
- Đa số các bạn sinh viên trường ĐHBK và ĐHSP khi được điều tra đạt mức độ nhận thức tốt (Loại A) và nhận thức khá (Loại B), có 64.7% sinh viên đạt mức loại A và 35.3% sinh viên đạt mức loại B Trong các mặt nhận thức, sinh viên nhận thức tốt nhất sự cần thiết của việc chấp hành luật giao thông, tiếp đến là các quy định của luật, nhận thức về các loại giấy tờ phải mang theo và cuối cùng là ý nghĩa của các loại biên báo (Xem bảng phụ lục 3.3)