1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại trường PTCB nguyễn đình chiểu

91 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứuTrên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệuDosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCBNguyễn Đình Chiểu để đề ra một số

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu Thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu là một đề tài mới mẻ, có thể nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, ở

các mức độ nông – sâu khác nhau Nên khi tiến hành thực hiện chúng tôi gặprất nhiều khó khăn Đặc biệt là trong việc thu thập tài liệu về phương phápDosaho Nhưng được sự động viên, giúp đỡ của các thầy cô, đặc biệt là thầygiáo hướng dẫn và sự hợp tác nhiệt tình của các cán bộ giáo viên TrườngPTCB Nguyễn Đình Chiểu, Phòng Khoa học, sau đại học và Hợp tác Quốc tế

và các chuyên gia Nhật Bản nên chúng tôi đã hoàn thành được đề tài nàytrong thời gian cho phép

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự tồn tại của trẻ khuyết tật là một thực tế khách quan, xã hội càng pháttriển thì sự quan tâm của xã hội đến trẻ khuyết tật càng được nâng cao Ở ViệtNam, việc đảm bảo quyền cho trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng rấtđược chú trọng Điều này thể hiện trong các văn bản pháp quy mà Việt Nam

đã kí và cam kết thực hiện như Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước về Giáo dục cho mọi người Hơn nữa, trong Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học, Luật chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật giáo dục, Pháp lệnh về Người tàn tật và Luật Người khuyết tật 2010 đã đề cập đến vấn đề trẻ khuyết tật có quyền

như mọi trẻ em khác

Trong Nghị quyết TW Đảng khoá VI và Chiến lược phát triển giáo dục2001- 2010 đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục trẻ khuyết tật.Theo đó, Bộ Giáo dục và đào tạo đã áp dụng các mô hình trẻ khuyết tật khácnhau và đã thu được những kết quả nhất định Đồng thời, Bộ Lao độngThương binh và Xã hội đã có các chính sách dành cho trẻ khuyết tật và giađình có trẻ khuyết tật Tất cả những điều này đã chứng minh sự quan tâmngày càng lớn của Đảng và Nhà nước đối với những người khuyết tật nóichung và trẻ khuyết tật nói riêng

Theo Báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2008, ướctính có khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật Do đó, Việt Nam được xếp vào mộttrong những nước có số lượng trẻ khuyết tật hàng cao trên thế giới Trong mộtnghiên cứu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hợp tác với UNICEFvào năm 1998 – 1999 trong những trẻ từ 0 đến 17 tuổi cho thấy có khoảng 1triệu trẻ khuyết tật trên cả nước, chiếm khoảng 1,4% tổng dân số và khoảng3,1% tổng số trẻ em Trung bình, cứ mỗi 5,7 hộ gia đình thì có khoảng mộtgia đình có trẻ khuyết tật Khuyết tật vận động là phổ biến nhất (22,4%) sau

đó là khuyết tật ngôn ngữ (21,4%), những vấn đề về hành vi (16,2%), khiếm

Trang 3

thị (14,6 %), khiếm thính (9,7%) và thiểu năng trí tuệ (3,6%) Đa số trẻkhuyết tật đều bị đa tật.

Tính đến thời điểm hiện tại, chưa có thống kê cụ thể về số lượng trẻkhuyết tật tại Đà Nẵng Mặc dù vấn đề chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tậtcũng được quan tâm nhiều; có nhiều chương trình, dự án về trẻ khuyết tật củacác tổ chức chính phủ và phi chính phủ đầu tư Tuy nhiên, các dự án này chủyếu tập trung vào việc hỗ trợ về mặt vật chất, giáo dục cho trẻ và gia đình cótrẻ khuyết tật Còn việc điều trị và phục hồi chức năng chưa được chú ý nhiều.Người khuyết tật thường phải gánh chịu những cảm giác đau đớn, khóchịu do sự ức chế hoạt động, do di chứng của khuyết tật gây nên Do đó, việcvận dụng những phương pháp tác động đặc biệt nhằm giúp trẻ giảm bớtnhững cơn đau, sự khó chịu, sự ức chế trong cơ thể giúp trẻ có cảm giác thoảimái và dễ chịu hơn là hết sức cần thiết Từ đó, dần dần phục hồi một số chứcnăng cho trẻ trong việc di chuyển, tự phục vụ Góp phần vào việc kéo dài thờigian sống cho người khuyết tật

Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp.Đà Nẵng là một trong những cơ

sở có số lượng trẻ khuyết tật đông tại thành phố Đà Nẵng Trong nhiều nămqua, công tác chăm sóc & giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt được nhiều thành tựu.Trường cũng nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của nhiều tổ chức trong vàngoài nước, đã có nhiều chương trình, dự án được triển khai ở đây Trong sốnhững chương trình đó, có chương trình tập huấn “Phương pháp vận độnglâm sàng dành cho trẻ khuyết tật” do Nhóm chuyên gia Nhật Bản phối hợpvới Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu và Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵngthực hiện Phương pháp này bước đầu đã cho thấy những kết quả khả quanđến lĩnh vực vận động của trẻ khuyết tật

Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Thực trạng

vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp.Đà Nẵng”.

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệuDosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCBNguyễn Đình Chiểu để đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả củaphương pháp này, góp phần vào việc xây dựng mô hình trị liệu trong phục hồichức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướnglâu dài tại Nhà trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giả thuyết khoa học

Hầu hết các cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu đềunhận thức được vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho sau khi được tậphuấn Việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho để phục hồi chức năng chotrẻ khuyết tật bước đầu đã mang lại hiệu quả Tuy nhiên, do các cán bộ giáoviên chưa nắm vững kiến thức, kĩ năng của phương pháp này và thời gianthực hành còn hạn chế nên hiệu quả vận dụng của phương pháp trị liệuDosaho đạt được chưa cao, số lượng học sinh được trị liệu còn hạn chế

Nếu có những chính sách và chương trình tập huấn dài hạn để nâng caokiến thức và kĩ năng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho của cán bộ giáoviên thì phương pháp này sẽ mang lại hiệu quả cao trong phục hồi chức năngcho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 5

Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm cơ bản, lýluận về trẻ khuyết tật, về lý thuyết Dosaho và cơ sở vận dụng của phươngpháp này, các bài tập Dosaho.

Khảo sát việc vận dụng các bài tập Dosaho để điều trị và phục hồi chứcnăng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu - Tp.Đà Nẵng

Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năngcho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướng lâu dài tạiTrường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

6 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chỉ nghiên cứu việc vận dụng các bài tập Dosaho để phục hồichức năng cho trẻ khuyết tật vận động, trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ tự kỷtại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu – Tp.Đà Nẵng

7 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu sau:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệthống hoá, khái quát hoá thông tin thu được để làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cáckhái niệm công cụ của đề tài Đồng thời, tiến hành dịch một số tài liệu vềphương pháp Dosaho

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Trang 6

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy, hồ sơ trẻ được lập vào tháng9/2010

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động đểđánh giá tình trạng hiện tại của 6 trẻ điển hình Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếuvới hồ sơ trước đây

8 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, phầnnội dung chính của đề tài gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng việc vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trongphục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

- Tp.Đà Nẵng

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phục hồichức năng cho trẻ khuyết tật bằng phương pháp trị liệu Dosaho theo hướnglâu dài tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu - Tp Đà Nẵng

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu về liệu pháp tâm lý và phục hồi chức năng đượckhởi đầu bằng một phát hiện trong lĩnh vực nghiên cứu về hiện tượng ngủ ởngười bị bệnh bại não vào năm 1965 Vào thời điểm đó, người ta cho rằngngười bị bệnh bại não không thể vận động được cơ thể bởi vì một phần các tếbào não của người bệnh đã bị chết Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu vềhiện tượng ngủ đã phát hiện thấy một thanh niên bị liệt não có thể chuyểnđộng cánh tay nhờ luyện tập kĩ thuật thôi miên Giáo sư Naruse đã chú ý đếncông trình nghiên cứu này và ngay lập tức thông báo kết quả nghiên cứu khótin đó đến các đồng nghiệp của ông Nhờ có các công trình nghiên cứu lâu dàicủa giáo sư Naruse và các đồng nghiệp của ông, khoa học đã khẳng định rằngmột số người bị bệnh bại não có thể vận động cánh tay và cơ thể nhờ sử dụngbiện pháp thôi miên Điều đó có nghĩa là người ta có thể vận động cơ thể vàcác chi bằng chính nỗ lực của mình dù các tế bào não đã bị tổn thương hoặcmột bộ phận các tế bào não đã chết Kết luận này hoàn toàn ngược với các kếtluận trước đó Chắc chắn phải xảy ra một quá trình tâm lý trong các vận độngthể chất của cơ thể con người, và các quá trình tâm lý vượt ra ngoài quanđiểm thông thường về y học

Trong nhiều công trình nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng, giáo sưNaruse và các đồng nghiệp của ông đã cố gắng mô tả “hệ thống vận động củacon người” – tiếng Nhật gọi là “Dosaho” và đã thành công trong việc pháttriển một chương trình phục hồi chức năng không sử dụng thôi miên dành chonhững bệnh nhân bị bại não và bị tắc nghẽn động mạch não Chương trìnhnày có tên gọi là “phương pháp luyện tập Dosaho” Hiệu quả rõ rệt củaphương pháp tập luyện Dosaho đã được chứng minh trong nhiều trường hợp.Hơn nữa, phương pháp trị liệu Dosaho không chỉ phát huy tác dụng trong các

Trang 8

chương trình phục hồi chức năng thể chất mà còn trong các chương trìnhchăm sóc sức khỏe tâm thần và tâm lý trị liệu Trong thực tế, đã xảy ra không

ít trường hợp một số trẻ em đã được chẩn đoán sẽ nằm liệt suốt đời do nhữngtổn thương về thể chất và tâm lý, nhưng sau đó các em lại có thể đứng thẳng,

đi lại thoải mái và thậm chí theo học các lớp bình thường Cũng trong cáctrường hợp sử dụng liệu pháp tâm lý, đã có báo cáo khoa học khẳng định mộttrường hợp bệnh nhân sử dụng bài tập Dosaho nhanh chóng cải thiện triệuchứng trầm cảm Hiện nay, các chương trình chăm sóc sức khỏe dựa trênphương pháp tâm lý sử dụng hệ thống các tác động vận động Dosaho làmcông cụ được gọi là chương trình phục hồi chức năng dựa vào liệu pháp tâm

lý, và trong hơn 20 năm qua, phương pháp tập luyện vận động Dosaho đượcxem là chương trình phục hồi chức năng dựa vào liệu pháp tâm lý hiệu quảnhất ở Nhật Bản

Các chuyên gia tâm lý, các bác sĩ điều trị, các nhà nghiên cứu khoa họcquan tâm đến mối quan hệ không thể tách rời giữa thể chất và tinh thần đãứng dụng phương pháp Dosaho tại các trại huấn luyện, trong các chương trìnhđiều trị bệnh, trong các chương trình hoạt động học tập và chăm sóc sức khỏe.Hiện nay, cơ sở lý thuyết của phương pháp tập luyện Dosaho đã được khẳng

định, và các nhà khoa học đã phát hiện các phương pháp mới như: Phương pháp Dosaho thể thao cho các vận động viên thể thao chuyên nghiệp được sử dụng như là một phương pháp rèn luyện tinh thần, Phương pháp Dosaho trong giáo dục được ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục chuyên biệt Tại Nhật

Bản, số người bị mắc các chứng bệnh về tâm thần đang ngày càng tăng Vìvậy, việc sử dụng “Phương pháp chăm sóc sức khỏe Dosaho” hay “ Liệu phápDosaho” như là một phương pháp duy trì sự cân bằng của tình trạng sức khỏethể chất – tâm thần cho người bình thường đang trở thành khuynh hướng lớntrong lĩnh vực tâm lí học lâm sàng ở Nhật Bản Liệu pháp Dosaho đượcnghiên cứu nhiều nhất bởi các nhà tâm lí học trị liệu, các bác sĩ ở các trường

Trang 9

đại học và các bệnh viện thần kinh, và hiện đang phát triển rất nhanh chóng ởNhật Bản Các bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp Dosaho có thể nhậnthấy sự cải thiện nhanh chóng tình trạng: cứng vai, bệnh đau lưng, các cơnđau hông, đau đầu gối, đau đầu và các triệu chứng nhẹ của bệnh trầm cảm Những phát triển mới của phương pháp tập luyện Dosaho được ứng dụngnhiều nhất trong các điều trị được gọi chung là “Phương pháp trị liệuDosaho” Phương pháp trị liệu Dosaho phát triển hơn phương pháp tập luyệnDosaho ban đầu ở sự phong phú của kĩ thuật và ứng dụng Trong khi phươngpháp tập luyện Dosaho ban đầu được bắt nguồn từ phát hiện trong nghiên cứuhiện tượng ngủ, và chỉ dành cho những bệnh nhận bị bại bão và bệnh tắcnghẽn mạch máu não, thì phương pháp trị liệu Dosaho được dựa trên cơ sởcác công trình nghiên cứu về phương pháp tập luyện Dosaho, nó được dànhcho tất cả mọi người trong việc chăm sóc sức khỏe hằng ngày, và được ứngdụng trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, điều trị bệnh, thể dục thể thao

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ khuyết tật cao Có nhiềuyếu tố tác động tới tình hình khuyết tật ở nước ta, nhưng chủ yếu vẫn là ảnhhưởng bởi thương tật, chất độc da cam sau chiến tranh; hậu quả của các vấn

đề sức khoẻ công cộng trong giai đoạn phát triển như tai nạn thương tích, cácbệnh không truyền nhiễm, sức khỏe tâm thần v.v

Khuyết tật nếu không được phục hồi chức năng và có các can thiệp y tế, kinh

tế, xã hội kịp thời sẽ tác động tới tình trạng sức khoẻ của cơ thể, các chứcnăng sinh hoạt cần thiết trong đời sống hàng ngày, gây hạn chế khả năng thamgia các hoạt động xã hội của cá nhân người khuyết tật, kéo theo các tác độngtới gia đình và xã hội Chính vì vậy, phục hồi rất được chú trọng, thể hiện rõtrong Luật Người khuyết tật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm2011

Tại Đà Nẵng, công tác phục hồi chức năng cũng rất được chú trọng.Hầu hết các bệnh viện đều có phòng phục hồi chức năng và được trang bị cơ

Trang 10

sở vật chất tương đối hiện đại Tuy nhiên, ở các trường và cơ sở dạy trẻkhuyết tật thì vấn đề này chưa được chú trọng và đầu tư nhiều.

1.2 Một số vấn đề chung về trẻ khuyết tật

1.2.1 Trẻ khuyết tật

1.2.1.1 Khái niệm

“Người khuyết tật là người do khiếm khuyết hoặc tình trạng sức khoẻ bị giảm chức năng và/hoặc hạn chế sự tham gia sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội“

Khái niệm này cũng tương đương với khái niệm khuyết tật của WHOkhuyến cáo sử dụng theo phân loại ICF, tương đương với khái niệm khuyếttật được đề cập trong dự thảo Công ước Quốc tế về Quyền người khuyết tật

và không mâu thuẫn với tinh thần của Pháp lệnh về Người tàn tật của ViệtNam

1.2.1.2 Phân loại

Căn cứ vào tình hình khuyết tật cụ thể của Việt Nam và kế thừa nhữngphân loại cũ và phân loại chức năng theo ICF, loại khuyết tật được chia thànhcác nhóm như sau:

1 Khuyết tật (giảm chức năng) vận động

2 Khuyết tật (giảm chức năng) về nghe, hoặc nghe và nói kết hợp

3 Khuyết tật (giảm chức năng) nhìn

4 Giảm cảm giác (bao gồm giảm cảm giác do bệnh Phong gây ra, giảmvị

giác, khứu giác,… do các nguyên nhân khác nhau)

5 Rối loạn chức năng nhận thức: các dạng chậm phát triển trí tuệ,Down

Trang 11

6 Rối loạn chức năng tâm thần – hành vi: tự kỷ, các dạng bệnh tâmthần, rối loạn hành vi…

7 Các khuyết tật (giảm chức năng) khác thuộc hệ thống tuần hoàn, hôhấp, bài tiết, tiết niệu, sinh dục, sinh sản do các bệnh mạn tính gây ra

Đa khuyết tật: là người khuyết tật mắc hai khuyết tật trở lên như giảm

chức năng nghe, kèm theo giảm chức năng nhìn

1.2.2 Trẻ khuyết tật vận động

1.2.2.1 Khái niệm

Một trẻ khó khăn về tật vận dộng là trẻ yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc dođau làm trẻ không cử động được Đối với trẻ lớn không thể cầm một vật,không thể cúi xuống nhặt một vật lên, không thể đi bộ 10 mét

1.2.2.2 Nguyên nhân gây khuyết tật vận động

- Do bệnh: bại liệt, bại não, viêm khớp, viêm cơ, bệnh xương

- Do chân thương: tai nạn, sang chấn khi sinh đẻ

- Do bẩm sinh

1.2.2.3 Các loại khuyết tật vận động

- Bại, liệt 1 tay

- Bại, liệt 2 tay

- Bại, liệt 2 chân

- Bại, liệt nửa người

- Bại, liệt tứ chi

- Thiếu, thừa ngón tay

- Ngắn chi, cụt chi

- Bệnh cơ, xương, khớp

- Bàn chân khoèo

Trang 12

1.2.3 Trẻ chậm phát triển trí tuệ (CPTTT)

1.2.3.1 Khái niệm

Theo bảng phân loại của Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mỹ, trẻCPTTT liên quan đến những hạn chế cơ bản về các chức năng hiện tại vớinhững đặc điểm sau:

- Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình

- Hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng như: Giao tiếp/ liên cánhân, tự phục vụ, sống tại gia đình, xã hội, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng,

tự định hướng, kỹ năng học đường chức năng, giải trí, lao động, sức khỏe, và

an toàn,…

- Hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi

Theo Grossman, nhà bác học Mỹ: “CPTTT là tình trạng chức năng trí

tuệ tổng quát thấp hơn mức bình thường dẫn đến hành vi thích ứng kém và xảy ra trong giai đoạn phát triển Theo ông, trẻ CPTTT có đủ hai yếu tố: chức năng trí tuệ thấp và hành vi thích ứng kém.”

1.2.3.2 Nguyên nhân gây khuyết tật CPTTT

* Trước khi sinh

- Di truyền: Bố, mẹ hoặc một trong hai người CPTTT thì có thể sẽ di truyềncho các thế hệ tiếp sau

- Do sự đột biến nhiễm sắc thể làm cho cấu trúc gen bị sai lệch dẫn đến mộtsố hiện tượng như: Bệnh Tớc-nơ(nữ), Clai-phen-tơ(nam), Đao(ba nhiễm sắcthể ở cặp thứ 21),…

- Người mẹ bị mắc một số bệnh trong thời gian mang thai như: cúm, sởiRubela,…

- Thai nhi suy dinh dưỡng, thiếu i-ốt, …

Trang 13

- Yếu tố môi trường độc hại: Thai nhi bị nhiễm độc, ngộ độc, bố/ mẹ bịnhiễm phóng xạ, các chất gây nghiện ( do hút thuốc, uống rượu, sử dụng matúy),…

- Sự mệt mỏi, căng thẳng của người mẹ

* Trong khi sinh

Những rủi ro trong quá trình sinh: đẻ non, đẻ khó, trẻ bị ngạt,…có canthiệp y tế nhưng không đảm bảo dẫn đến những tổn thương não bộ

* Sau khi sinh

- Trẻ bị mắc các bệnh về não như: Viêm não, viêm màng não để lại dichứng, chấn thương sọ não do tai nạn…

- Do biến chứng từ các bệnh sởi, đậu mùa…

- Dùng thuốc không theo chỉ định,…

- Suy dinh dưỡng, thiếu Iốt…

- Tai nạn trong sinh hoạt, học tập…

- Trẻ sống cách ly cuộc sống xã hội trong thời gian dài,…

1.2.3.3 Đặc điểm vận động của trẻ CPTTT

CPTTT thường kéo theo những khó khăn về vận động cho trẻ Một trẻkhó khăn về vận động là trẻ bị yếu tay, chân, lưng, cổ hoặc do đau làm trẻkhông cử động được Đối với trẻ lớn không thể cầm một vật, không thể cúixuống nhặt vật lên, không thể đi bộ được 10 mét

1.2.4 Trẻ tự kỷ

1.2.4.1 Khái niệm

Năm 1934, Kanner đã đưa ra định nghĩa trẻ tự kỷ là những trẻ không tạolập mối quan hệ với con người, thường có thái độ bàng quan, thờ ơ với mọingười xung quanh, có biểu hiện chậm nói, chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉ

Trang 14

đôi khi có vẽ kỳ dị, cùng các hoạt động vui chơi đơn giản, mang tính lặp đilặp lại.

Năm 1969, Rutter đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của tự kỷ:

- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội

- Rối loạn ngôn ngữ: Từ mức độ không có lời đến lời nói lập dị

- Hành vi, hành động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc chođến khuôn mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép

- Khởi phát sớm trước 30 tháng

Định nghĩa theo DSM-IV-TR: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn pháttriển lan toả (PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm hộichứng được đặc trưng bởi suy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vựcphát triển: tương tác xã hội, giao tiếp và sự hiện diện của những hành vi vàcác ham thích rập khuôn

Như vậy có nhiều khái niệm về trẻ tự kỷ Tuy nhiên các khái niệm nàykhông đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hoàn chỉnh vềtrẻ tự kỷ

Theo chúng tôi, học sinh mắc rối loạn tự kỷ là những học sinh có những rốiloạn phát triển lan tỏa phức tạp ở những lĩnh vực sau: Tương tác xã hội, ngônngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác Có 5 phân nhóm chẩnđoán trong phổ tự kỷ: Tự kỷ điển hình, hội chứng Aperger, Rối loạn Rett, rốiloạn phân rã ở trẻ thơ, rối loạn phát triển lan tỏa – không điển hình

1.2.4.2 Nguyên nhân gây khuyết tật tự kỷ

* Tổn thương não hoặc não bộ kém phát triển do:

Đẻ non tháng dưới 37 tuần

Cân nặng khi sinh thấp dưới 2.500g

Ngạt hoặc thiếu ô xy não khi sinh

Trang 15

Chấn thương xọ não do can thiệp sản khoa.

Vàng da sơ sinh

Chảy máu não- màng não sơ sinh

Nhiễm khuẩn thần kinh như viêm não, viêm màng não

Thiếu ô xy não do suy hô hấp nặng

Chấn thương xọ não

Nhiễm độc thủy ngân

* Yếu tố di truyền:

Bất thường về nhiễm sắc thể

Bệnh di truyền theo gen hoặc nhóm gen

* Yếu tố môi trường:

Môi trường trẻ đang sống kích thích lên sự phát triển của trẻ trong 24tháng đầu: cho trẻ xem vô tuyến truyền hình, quảng cáo, âm nhạc, các đồ chơikhác nhau hay do sự quan tâm dạy dỗ của cha mẹ và gia đình

Một số hóa chất, kim loại nặng có thể gây tổn thương não

1.2.4.3 Đặc điểm vận động của trẻ tự kỷ

Trẻ tự kỷ thường có những vận động, hoạt động mang tính lặp lại vàrập khuôn Do đó, trẻ tự kỷ thường có dáng đi và tư thế khác trẻ bình thường.Đặc biệt, động kinh là điều thường xuyên xảy ra ở trẻ tự kỷ Nhưng mức độkhác nhau ở mỗi trẻ

1.3 Một số vấn đề chung về phục hồi chức năng

1.3.1 Khái niệm

Phục hồi chức năng (PHCN) bao gồm các biện pháp y học, kinh tế - xãhội, giáo dục và các kỹ thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động của giảm

Trang 16

chức năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật hội nhập và tái hội nhập xãhội, có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động xã hội.

Như vậy PHCN không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là tráchnhiệm của toàn xã hội, ngành y tế chỉ đảm nhiệm một mảng hẹp đó là phụchồi chức năng bằng các biện pháp y học

1.3.2 Mục đích phục hồi chức năng

Hoàn lại một cách tối đa về thể chất, tinh thần và nghề nghiệp

Ngăn ngừa các thương tật thứ phát

Tăng cường khả năng còn lại của người tàn tật để làm giảm gánh nặngcho gia đình và xã hội

Góp phần đưa người tàn tật hoà nhập xã hội và làm thay đổi thái độ củacộng đồng và xã hội đối với người tàn tật

1.3.3 Các phương pháp trị liệu trong phục hồi chức năng

1.3.3.1 Phương pháp tâm vận động: là một phương pháp giáo dục dựa vào sự

quan sát và sử dụng các giác quan một cách hợp lý để kích thích các khả năngcủa trẻ em Thông qua sự vận động trong các trò chơi, các em dần dần hoànthiện những kỹ năng còn yếu của mình

1.3.3.2 Phương pháp vật lý trị liệu: là phương pháp phòng hoặc/và chữa bệnh

bằng cách sử dụng các tác nhân vật lí tự nhiên hay nhân tạo như: nước, khôngkhí, nhiệt độ, khí hậu, độ cao, điện, tia X, tia cực tím, tia hồng ngoại, siêu âm,các chất đồng vị phóng xạ, xoa bóp, thể dục - thể thao, đi bộ, dưỡng sinh

1.3.3.3 Phương pháp mát – xa: Theo gốc Hy Lạp, từ massage có nghĩa là xoa

bóp, với quan niệm rằng cơ thể con người có một dòng chảy năng lượng còngọi là "khí" Sự lưu chuyển tốt của khí giúp cơ thể duy trì được sức khỏe vàsinh lực còn khi dòng khí này bị ngưng trệ là lúc cơ thể yếu đuối và nảy sinhnhiều bệnh tật Massage chính là cách vận khí, chuyển khí để dòng chảy này

Trang 17

lưu thông tốt nhất trong cơ thể con người, khơi thông lại nguồn năng lượngtiềm năng này trong cơ thể.

1.3.3.4 Phương pháp thôi miên: là phương có thể làm thay đổi hoặc kiểm

soát trạng thái tinh thần của một người đến mức người đó phải làm theo cácchỉ thị của người thôi miên

1.3.4 Các hình thức phục hồi chức năng

1.3.4.1 PHCN tại viện: Là hình thức PHCN nội trú hoặc ngoại trú tại các

khoa PHCN trong các bệnh viện đa khoa, tại các trung tâm hay viện PHCN

- Ưu điểm:

+ PHCN sớm

+ Có điều kiện kỹ thuật cao về trang bị máy móc và cán bộ

+ Tiến hành công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

- Nhược điểm:

+ Số lượng thu dung ít

+ Trở ngại về vấn đề đi lại của người tàn tật

+ Thời gian tiến hành PHCN ngắn

1.3.4.2 PHCN ngoại viện: Là hình thức mà cán bộ PHCN đến điều trị tận nhà

cho người tàn tật

- Ưu điểm:

+ Hạn chế đi lại cho người tàn tật

+ Có thể triển khai một số kỹ thuật cao

- Nhược điểm:

+ Tổ chức khó khăn, số người được PHCN cũng hạn chế

+ Giá thành cao, cần có sự tài trợ lớn

1.3.4.3 PHCN dựa vào cộng đồng: Là hình thức PHCN ngay tại cộng đồng

và dựa vào cộng đồng (gồm chính quyền địa phương, y tế cộng đồng, hàng

Trang 18

xóm, gia đình và bản thân người tàn tật) là chính, cán bộ PHCN chỉ đóng vaitrò hướng dẫn, chỉ đạo về chuyên môn và kỹ thuật.

- Ưu điểm:

+ Số người được PHCN cao

+ Người tàn tật được PHCN tại chỗ

+ Các phương tiện dụng cụ giản đơn để làm tại chỗ và phù hợp với từngngười

+ Có ý nghĩa kinh tế cao gắn liền với chương trình chăm sóc sức khoẻ banđầu, phù hợp với các nước nghèo và đang phát triển

- Nhược điểm:

+ Không triển khai được kỹ thuật cao

+ Khó khăn về khâu tổ chức, quản lý nên thường khó duy trì lâu dài

1.4 Phương pháp Dosaho trong trị liệu và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

1.4.1 Cơ sở lý thuyết Dosaho

Cũng giống như một số triết lý y học châu Á, lý thuyết Dosaho chorằng thể chất và tinh thần của con người có mối quan hệ không thể tách rời.Điều đó có nghĩa là một sự thay đổi tinh thần có thể dẫn đến những thay đổi

về thể chất và nguợc lại Thuật ngữ “Dosaho” trong tiếng Nhật có nghĩa là

“sự vận động” và sự vận động thường chỉ phần vận động về mặt thể chất của

cơ thể Nhưng điều đáng chú ý là thuật ngữ “Dosaho” không chỉ hàm nghĩa sựcăng thẳng hoặc sự vận động về mặt thể chất của cơ thể mà còn chỉ nhữnghiện tượng tâm lý đuợc tạo ra bởi nỗ lực của con nguời (đôi khi xảy ra mộtcách vô thức) nhằm thích nghi với cuộc sống thường ngày Nói một cáchchính xác, Dosaho được định nghĩa như là một quá trình tổng thể bao gồm ýđịng của một người, nỗ lực nhằm hiện thực hóa vận động của cơ thể, và kếtquả có thể nhìn thấy đuợc của vận động thể chất của cơ thể

Trang 19

Nguời ta cho rằng, tất cả mọi nguời đều có những phuơng thức vận độngDosaho để tiếp nhận cuộc sống từ khi mối đuợc sinh ra, nhưng những phuơngthức vận động đó không phải lúc nào cũng phù hợp với họ Loại lỗi vận độngDosaho này sớm muộn sẽ gây ra những căng thẳng có hại cho các bộ phậncủa cơ thể như gây đau mình, tê cứng, thậm chí gây ra những tình trạng bấtlợi cho cơ thể như trạng thái trầm cảm Trong các chuơng trình sử dụngphuơng pháp trị liệu Dosaho, các nhà vận động đã phát hiện thấy các phuơngthức vận động Dosaho của một số nguời không phù hợp với sự thích ứng củanguời đó đối với đời sống hàng ngày Phần lớn các lỗi Dosaho đuợc gây ra donguời bệnh không đạt những vận động thể chất phù hợp hơn Vì vậy các nhàtrị liệu Dosaho sử dụng cách tác động vào các nỗ lực Dosaho của nguời bệnh,huớng dẫn họ thay đổi phuơng thức vận động sai để chuyển sang những cáchvận động phù hợp và thoải mái hơn khi hợp tác với các chuyên gia trị liệu đểthực hiện các bài tập Dosaho

1.4.2 Cơ sở vận dụng Dosaho

Từ cơ sở lý thuyết trên cộng với những thành quả mà phương pháp trịliệu Dosaho đã đạt được, chúng ta có thể thấy được lợi ích của phương phápnày

Với trẻ khuyết tật thì ngoài những khuyết tật chính, đi kèm theo đó còn

có một số khuyết tật khác Hơn nữa, do những khuyết tật mà trẻ không cóđiều kiện để phát huy những khả năng còn lại, phục hồi những chức năng đãmất Do đó, trẻ dễ phát sinh nhiều hành vi bất thường hoặc cũng có thể bị têcứng nhiều bộ phận

Một nguyên tắc đặc biệt ở Phương pháp trị liệu Dosaho là người đượcchữa trị phải tập trung và tự mình thực hiện những thao tác theo yêu cầu củangười trị liệu Có nghĩa là người điều trị đã tác động vào bệnh nhân bằng tâm

lý trước để người bệnh thực hiện sau Và đây chính là nguyên tắc cơ bản chomọi bài tập Dosaho

Trang 20

Trong nhiều năm qua, với những thành công đạt được của Phương pháptrị liệu Dosaho, các trung tâm, trại huấn luyện Dosaho đã được mở ra ở nhiềunơi trên khắp nước Nhật Hơn thế, phương pháp này cũng đã được ngườiNhật phổ biến ra một số nước (như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Iran,Campuchia) và các nước này cũng đã cử các đoàn sang Nhật để được đào tạo

và học hỏi kinh nghiệm

Vì vậy, có thể nói phương pháp trị liệu Dosaho là một hướng mới trongviệc phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

1.4.3 Thống kê một số bài tập Dosaho

1.4.3.1 Yêu cầu chung về kĩ thuật

Cho đến nay, có khoảng 40 – 50 kĩ thuật Dosaho được phát hiện, vàchuyên gia trị liệu chọn 4 – 5 kĩ thuật cho nguời bệnh của mình, gọi là bài tậpDosaho Để điều chỉnh những phương thức vận động Dosaho không phù hợptrong quá trình điều trị Bài tập Dosaho đuợc chia làm 2 loại: Bài tập căngthẳng và bài tập thư giãn Chuyên gia trị liệu phải yêu cầu nguời tập thực hiệnmột số tư thế trong bài tập Chuyên gia trị liệu cần nghiên cứu mỗi bài tập vànhững đặc điểm cũng như những ứng dụng của nó

- Bài tập Dosaho: Bài tập tạo sự căng thẳng

Bài tập tạo sự thư giãn

- Vận dụng tư thế cho nguời tập: Tư thế ngồi (ngồi trên ghế/ bắt chéochân/ ngồi đưa chân về phía trước), tư thế nằm ( nằm ngửa/ nằm sấp/ nằmnghiêng), tư thế đứng (đứng/ quỳ)

1.4.3.2 Tiến trình chung của một bài tập Dosaho

Bước 1: Đánh giá ban đầu: chuyên gia trị liệu kiểm tra những vấn đề mà

nguời bệnh đang gặp phải, và đánh giá những phuơng thức vận động Dosahođuợc xem là không phù hợp với người ấy

Trang 21

Buớc 2: Thỏa thuận đồng ý: chuyên gia trị liệu thông báo với người bệnh về

phuơng pháp vận động Dosaho (chú ý vấn đề giới tính khi phải động chạmvào cơ thể người bệnh, đặc biệt là khi người bệnh có giới tính khác vớichuyên gia trị liệu)

Buớc 3: Xác định bài tập Dosaho: chuyên gia điều trị đề ra một phác đồ trị

liệu, chọ bài tập Dosaho trong tất cả các kĩ thuật sử dụng cho nguời bệnh

Bước 4: Kiểm tra truớc khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình

trạng cơ thể trước khi bắt đầu liệu pháp để nhằm mục đích sau này đánh giáhiệu quả của việc điều trị

Bước 5: Điều trị bằng liệu pháp Dosaho: chuyên gia trị liệu giới thiệu và

huớng dẫn người bệnh về các bài tập Dosaho, khuyến khích và phản hồi vềnhững nỗ lực của người bệnh

Bước 6: Kiểm tra sau khi điều trị: chuyên gia trị liệu hỏi người bệnh về tình

trạng cơ thể của họ và so sánh với kết quả kiểm tra trước khi điều trị Dựa trêncác câu trả lời, chuyên gia trị liệu điều chỉnh các bài tập Dosaho cho đợt điềutrị sau

1.4.3.3 Giới thiệu một số bài tập Dosaho đơn giản

Có tất cả 64 phương pháp trị liệu Dosaho, mỗi một phương pháp lại cónhiều bài tập thực hành khác nhau, nhưng tất cả các phương pháp này đều tácđộng vào 13 vị trí trên 4 vùng sau: vùng mặt, vùng thân, vùng chi trên, vùngchi dưới

Trang 22

* Thực hành xác định 13 vị trí

0 Vị trí mặt (theo đề nghị của giao sư yoshikawa)

a Trán

b Khóe mắt

c Xung quanh vùng mắt

d Xung quanh vùng miệng(vị trí khóe miệng)

Trang 24

* Các bài tập tại các vị trí

- Vị trí số 1

Người được điều trị (NĐĐT) Người điều trị(NĐT)

- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền

trước ngực

- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần)

- Nghiêng mặt sang trái

- Nới lỏng – gồng lên (nhiều lần)

- Làm nhiều lần theo yêu cầu của

NĐT

- Nghiêng đầu sang phải rồi thực hiện

lại tương tự theo yêu cầu của NĐT

- Quay đầu lại vị trí ban đầu rồi gồng

– nới

- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT

- Giữ 2 bên bắp tay

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏngtại vị trí đặt tay

- Đặt tay ở nốt cổ (trên)

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏngtại vị trí đặt tay

- Yêu cầu NĐĐT nghiêng đầu sangphải rồi đặt tay ở nốt cổ (dưới)

- Đặt hai tay giữ bắp tay và yêu cầugồng – nới

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi

- Hỏi: cảm giác thế nào?`

- Vị trí số 2, 3

Người được điều trị (NĐĐT) Người điều trị(NĐT)

- Ngồi hai tay để trên đùi

- Gồng và nới lỏng theo yêu cầu của

NĐT

- Thực hiện tương tự nhiều lần

- Tay trái cầm vai, tay phải đặt saulưng rồi yêu cầu NĐĐT thực hiện

- Khi NĐĐT nới lỏng thì ép mạnh tay

về phía trước

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi

- Hỏi: cảm giác thế nào?

- Vị trí số 4,5

Người được điều trị (NĐĐT) Người điều trị(NĐT)

- Nằm sấp, hai tay úp xuống nền

trước ngực

- Đặt 2 tay áp vào lưng

- Yêu cầu NĐĐT gồng lên – nới lỏng

Trang 25

- Nới lỏng – gồng lên

- Làm nhiều lần theo yêu cầu của

NĐT

- Kết thúc theo yêu cầu của NĐT

tại vị trí đặt tay (có đôi lúc ngắtquãng)

- Khi làm đúng thi nói: đúng rồi

- Hỏi: cảm giác thế nào?

Lần 2: Cho NĐ ĐT nằm thả lỏng sau khoảng 3 phút thì thực hiện mộtlần nữa Hỏi NĐ ĐT có cảm giác thế nào?

- Vị trí số 7

NĐĐT

Nằm duỗi thẳng

NĐT

- Ngồi bên trái NĐĐT

- Chân và tay NĐĐT cố định tay và chân NĐĐT bằng cách dùng tay phải đặt vào vai NĐĐT, chân trái NĐT đặt lên chân NĐĐT Sau đó đưa tay vào đầu gối NĐĐT, giúp NĐĐT hạ chân xuống từ từ.

Trang 26

- Hỏi cảm thấy như thế nào ?

- Ngồi phía bên trái NĐĐT NĐT tay trái áp dưới lòng bàn chân ấn tới, 2 ngón tay phải ân vào chỗ cứng ( trong khi làm, khuỷu tay phải NĐT tỳ

vào gối phải co lên của mình)

L1: Ngồi đối diện mặt NĐĐT, chân phải đặt chồng vuông góc với chân

NĐĐT, chân trái khụy xuống vuông góc với nền Tai trái đặt hờ vào vị trí số

10 NĐĐT, đồng thời tay phải nhấc cánh tai trái của NĐĐT từ từ ra phía sau ( ngược hướng NĐĐT ), ép tay sát xuống nền đến mức có thể Trong lúc thao tác khuyến khích NĐĐT “ Đúng rồi!”

L2: Đổi ngược bên

* Lưu ý: NĐĐT có cảm giác ấm, nóng thì có hiệu quả Thực hiện động tác từ

3 - 5 lần

- Vị trí số 11, 12

Bài tập 2: Đứng thẳng, thả lỏng người, hai vai cân bằng

B1: Đưa bàn tay phải lên từ từ , giữ trong 25 giây (hỏi người thực hiện

có cảm giác thế nào) Đưa xuống từ từ và giữ 15 giây

B2: Quan sát (thấy tây phải có vẻ dài hơn) Hỏi người thực hiện có cảmgiác thế nào

Trang 27

Thực hiện tương tự với tay trái Mỗi lần tập, đưa tay trái 2 lần, đưa tay phải 2lần.

Nguyên tắc: làm cho căng cơ rồi thả lỏng thư giãn Thực hiện trước lúc làm

những việc căng thẳng như: trước giờ thi, kiểm tra, phỏng vấn

- Vùng mặt

NĐĐT

Nằm duỗi thẳng, chân tay thả lỏng, nhắm mắt thư giãn

NĐT

- Ngồi khoanh chân phía trên phần đầu NĐĐT

- Mắt nhìn thẳng vào phần mặt NĐĐT

- Dùng tay cảm nhận vùng căng thẳng trên mặt NĐĐT

- Đặt 2 tay vào vùng giữa trán, dùng các đầu ngón tay kéo về 2 phía thái dương rồi dừng lại, ấn nhẹ và thả lỏng

- Dùng 2 ngón trỏ và giữa kéo nhẹ khóe mắt xếch lên phía trên rồi từ từ thả lỏng về khóe mắt

- Bàn tay trái giữ trán nằm ngang, tay phải dùng 3 ngón giữa kéo nhẹ hốcmắt xuống dưới rồi thả lỏng, làm tương tự với mắt còn lại ( bên nào thì tay đó kéo )

- Dùng ngón trỏ và giữa kéo khóe miệng thành dạng mặt cười, dừng lại, rồi từ từ thả lỏng

- Dùng lòng bàn tay áp nhẹ, kéo ngang 2 bên má ( bàn tay dọc theo chiều

má ), dừng lại rồi thả lỏng

Lưu ý: Khi làm mỗi 1 bộ phận trên khuôn mặt NĐĐT, NĐT nói “ Kéo

căng, thả lỏng “ khi làm động tác

Tiểu kết chương 1

Trang 28

Qua nghiên cứu lí luận về trẻ khuyết, chúng tôi nhận thấy trẻ khuyết tậtcòn gặp nhiều khó khăn trong vận động Vấn đề này đã được quan tâm nhiều

ở trên thế giới và cả Việt Nam Việc phục hồi chức năng cũng đã được thựchiện bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp Dosaho, chúng tôi nhậnthấy phương pháp này đã được các nhà khoa học nghiên cứu khá lâu Hiênnay, phương pháp này đang mang lại một sự chuyển biến lớn trong việc phụchồi chức năng cho người khuyết tật trên thế giới

Việc tìm hiểu thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho là cầnthiết để thấy được hiệu quả và tính ứng dụng của phương pháp này cho trẻkhuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và trẻ khuyết tậtViệt Nam nói chung

Trang 29

Chương 2: Thực trạng việc vận dụng phương pháp Dosaho trong trị liệu

và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trường PTCB Nguyễn

Đình Chiểu - Tp.Đà Nẵng 2.1 Khái quát về quá trình khảo sát

2.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát

Trường Mù Nguyễn Đình Chiểu (nay đổi thành trường Phổ thôngChuyên biệt Nguyễn Đình Chiểu) được thành lập theo quyết định số 3474/QĐngày 11/8/1992 của UBND Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ), trực thuộctrường Cao Đẳng Sư pham Đà Nẵng (nay là trường Đại Học sư phạm) Ngày9/12/1992 trường chính thức đi vào hoạt động với việc khai giảng lớp học đầutiên Đến ngày 31/01/1993, UBND thành phố Đà Nẵng có quyết định số 223/QĐUB chuyển trường Mù Nguyễn Đình Chiểu trực thuộc sở Giáo dục và Đàotạo TP Đà Nẵng Với mục tiêu:

- Đào tạo văn hoá từ Mầm non đến phỏ thông trung học

- Phục hồi chức năng, dạy nghề phù hợp để các em khuyết tật sớm hoà nhập

- Thực hiện chức năng hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật tại cộng đồng: cụ thể làchức năng giáo dục hoà nhập, can thiệp sớm, nhìn kém, tư vấn, tập huấn hỗtrợ chuyên môn cho phụ huynh, giáo viên hoà nhập ở các trường Mầm non,Tiểu học đến PT Trung học có học sinh khuyết tật học hoà nhập

Trong những năm qua, nhà trương đã đạt được nhiều thành tích, cụ thể là :được công nhận 11 năm liên tục đạt danh hiệu “Tiên tiến xuất sắc cấp thànhphố” nhận bằng khen UBND thành phố tặng, 3 bằng khen của Bộ Giáo dụcĐào tạo, 2 bằng khen của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam, năm 1997và 2001được nhận bằng khen Thủ Tướng Chính phủ, năm 2007 được nhận cờ củaLĐLĐ thành phố Đà Nẵng Đặc biệt năm học 2006- 2007 được nhận HuânChương Lao Động Hạng III

Trang 30

2.1.2 Đối tượng khảo sát

- Các giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình chiểu đã tham gia chươngtrình tập huấn Dosaho tại Đà Nẵng

- Các trẻ khuyết tật đã được phục hồi chức năng bằng phương pháp trịliệu Dosaho

2.1.3 Nội dung khảo sát

- Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên Trường PTCB NguyễnĐình Chiểu về phương pháp trị liệu để phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật

- Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên Trường PTCB NguyễnĐình Chiểu về phương pháp trị liệu Dosaho

- Thống kê số lượng giáo viên được tham gia chương trình tập huấnDosaho tại Tp.Đà Nẵng

- Những hiểu biết của giáo viên về phương pháp trị liệu Dosaho và cácbài tập vận dụng

- Kĩ năng sử dụng phương pháp trị liệu Dosaho của giáo viên

- Các bài tập Dosaho đã được vận dụng vào phục hồi chức năng chotrẻ

- Những thuận lợi và khó khăn gặp phải khi vận dụng phương pháp trịliệu Dosaho trong phục hồi chức năng cho trẻ

- Những tiến bộ của trẻ khi vận dụng các bài tập Dosaho

- Thực hành các bài tập Dosaho

Trang 31

Sử dụng phiếu quan sát để đánh giá thực trạng tiến hành thực hiệnphương pháp Dosaho Quan sát để đánh giá sự tiến bộ của trẻ.

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu các kế hoạch giảng dạy, hồ sơ trẻ được lập vào tháng9/2010

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình

Chúng tôi tiến hành quan sát và sử dụng phiếu trắc nghiệm vận động đểđánh giá tình trạng hiện tại của 6 trẻ điển hình Sau đó, lập hồ sơ và đối chiếuvới hồ sơ trước đây

2.2 Kết quả khảo sát

2.2.1 Khảo sát nhận thức của cán bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu về phương pháp Dosaho

* Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho

Số lượng cán bộ giáo viên được tham gia tập huấn Dosaho là 9, trong tổng số 52 cán bộ giáo viên của trường

Biểu đồ 1: So sánh số lượng CBGV được tập huấn với CBGV chưa được tập

Trang 32

Trong 4 đợt tập huấn Dosaho tại Đà Nẵng, Trường PTCB Nguyễn ĐìnhChiểu có 9 cán bộ giáo viên tham gia Tuy nhiên, chỉ có 4 giáo viên tham giađầy đủ 4 đợt, 1 giáo viên tham gia được 3 đợt và có tới 5 giáo viên chỉ thamgia được 2 đợt

Bảng 1: Cán bộ, giáo viên đã được tập huấn trong các đợt

Số lượng CBGV tham gia Thứ tự các đợt

Bảng 2: Vai trò của trị liệu trong PHCN ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

Mức độ Vai trò của trị liệu trong phục hồi chức năng

Trang 33

bộ giáo viên cho rằng rất quan trọng và 11,2% cán bộ giáo viên cho rằng quantrọng.

Bảng 3: Vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho trong trị liệu trong PHCN

Kết quả khảo sát vai trò của phương pháp trị liệu Dosaho cho thấy cán

bộ giáo viên Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu cũng đánh giá cao phươngpháp này Cụ thể có 77,8% cán bộ giáo viên được phỏng vấn cho rằng quantrọng và 22,2% cán bộ giáo viên cho rằng rất quan trọng

Biểu đồ 2: So sánh vai trò của trị liệu trong PHCN với vai trò của phương

Từ biểu đồ, chúng ta có thể thấy rõ, cán bộ giáo viên trường PTCBNguyễn Đình Chiểu đều đánh giá cao vai trò của trị liệu & phục hồi chứcnăng của phương pháp Dosaho Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ, điều

Trang 34

này có nghĩa là phương pháp trị liệu Dosaho là quan trọng, nhưng không phải

là tiên quyết

Bảng 4: Quan điểm của giáo viên về phương pháp Dosaho

Từ bảng 4 cho thấy, có nhiều quan điểm khác nhau về phương phápDosaho Đa số cán bộ giáo viên đều cho rằng Dosaho là một phương pháptâm vận động Một số ít lại cho rằng Dosaho là một phương pháp vật lý trịliệu Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng, đó là sự kết hợp giữa phương phápmát – xa với phương pháp vật lý trị liệu

Bảng 5: Điểm nổi bật của phương pháp Dosaho

Trang 35

* Về các bài tập đã biết và quy trình thực hiện

Bảng 6: Các bài tập đã biết

0 bài tập 1 bài tập 2 bài tập 3 bài tập

và chỉ tập trung vào một số vị trí như 1, 2, 5, 10, vùng mặt…

Các giáo viên đều cho rằng, tùy khuyết tật của từng trẻ mà thực hiệntheo những quy trình riêng

* Những khó khăn thường gặp phải khi vận dụng phương pháp Dosaho

Bảng 7: Những khó khăn thường gặp

1 Chưa nắm vững các bài tập 2

Trang 36

Hầu hết các cán bộ giáo viên đều gặp phải những khó khăn nêu trên.Ngoài ra, còn có một khó khăn khác được đưa ra là chưa xác định được chínhxác các vị trí.

Biểu đồ 3: Thể hiện những khó khăn gặp phải

2

6

8 7 2

Chưa nắm vững các bài tập

Số bà i tập ít Kĩ năng chưa vững Trẻ không hợp tác Khó khăn khác

* Nguyện vọng

Kết quả khảo sát cho thấy 100% cán bộ giáo viên đều muốn được tiếptục tham gia học Nhưng cũng có những đòi hỏi cụ thể:

- Phải đào tạo bài bản, dài hạn

- Phải được thực hành nhiều hơn

- Đào tạo ở Nhật Bản

2.2.2 Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phục hồi chức năng tại Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu

2.2.2.1 Khảo sát thực trạng vận dụng phương pháp trị liệu Dosaho trong phụchồi chức năng tại các phòng

* Các lớp học

Trang 37

Do không phải là nội dung chính khóa, nên thời gian các giáo viên tậpluyện Dosaho cho trẻ trong rất ít và số lượng trẻ được tập luyện không nhiều,được thể hiện trong bảng 8 và số liệu thống kê:

Bảng 8: Bảng thống kê thời gian

STT

Thời gianPhút/lần Lần/ngày Ngày/tuần Tuần/tháng Tổng

- Có 4 giáo viên chỉ mới áp dụng cho 1 – 2 học sinh

- Có 1 giáo viên đã áp dụng cho 3 – 4 học sinh

- Có 3 giáo viên đã áp dụng cho 5 – 6 học sinh

- Có 1 giáo viên đã áp dụng cho trên 6 học sinh

Như vậy, thời gian và số lượng trẻ được tập luyện Dosaho trong thờigian học chính khóa không nhiều Tuy nhiên, 100% giáo viên đêu tập luyệnDosaho cho trẻ ngoài giờ Kết quả cho thấy học sinh rất hứng thú khi đượctập luyện Dosaho [Phụ lục 1]

Trang 38

* Phòng y tế

Phòng y tế của Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu được trang bị nhiềuthiết bị hỗ trợ trẻ trong việc luyện tập vận động Việc tập luyện cho trẻ diễn rahằng ngày và đang mang lại hiệu quả rõ rệt

Sau khi được tham gia tập huấn phương pháp Dosaho, cán bộ y tế đãvận dụng phương pháp này đan xen với các phương pháp khác Cách làm nàyđang mang lại hiệu quả rõ cao, trẻ rất hứng thú với các bài tập kết hợp này[Phụ lục 2]

Ngoài ra, cán bộ y tế cũng thừa nhận 3 dạng biểu hiện sau của trẻ:

- Nếu chỉ tập luyện phương pháp vật lý trị liệu cho trẻ thì trẻ cảm thấymệt, nhưng vẫn hứng thú

- Nếu chỉ tập luyện phương pháp trị liệu Dosaho cho trẻ thì trẻ cảmthấy ít hứng thú và không hợp tác

- Nếu tập luyện xen kẽ phương pháp vật lý trị liệu với phương pháp trịliệu Dosaho cho trẻ thì trẻ rất hứng thú

Chính vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ và kế hoạch chữa trị của cán bộ y

tế, chúng tôi nhận thấy cán bộ y tế đã xen kẽ phương pháp vật lý trị liệu vớiphương pháp Dosaho Bảng theo dõi tiến triển cũng cho thấy sự tiến bộ ở trẻkhi vận dụng xen kẽ 2 phương pháp này

* Phòng giáo dục cá nhân

Giáo viên dạy các tiết giáo dục cá nhân đã vận dụng các bài tập Dosahotrong hầu hết các tiếp dạy Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu có 2 giáo viêndạy tại các phòng giáo dục cá nhân Trong 2 giáo viên đó, có 1 giáo viên đượctập huấn Dosaho và đã vận dụng phương pháp này cho trẻ [Phụ lục 3]

Trung bình mỗi ngày giáo viên dạy giáo dục các nhân cho 3 trẻ Trongmột tuần, mỗi trẻ được dạy 1 – 2 tiết giáo dục cá nhân Như vậy, trung bìnhmỗi tuần, 1 giáo viên giáo dục cá nhân cho 6 – 15 học sinh

Trang 39

2.2.2.2 Khảo sát hiệu quả của phương pháp trị liệu Dosaho trong để phục hồichức năng cho trẻ

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 6 trẻ đã từng được áp dụng phươngpháp trị liệu Dosaho trong các đợt tập huấn (đã lập hồ sơ)

* Trẻ thứ nhất

+) Thông tin về trẻ

- Họ và tên trẻ: Dư Nguyên Bảo

- Tuổi: 15 Giới tính: nam

- Dạng tật: Chậm phát triển trí tuệ

- Khả năng giao tiếp, truyền đạt ý nghĩ: khó khăn, ra dấu

- Di chuyển: tự đi (đôi khi cần giúp đỡ)

- Tự phục vụ: cần người giúp đỡ khi ăn uống, thay quần áo, đi vệ sinh

- Giáo viên thực hiện: Trần Thị Thanh Xuân

+) Tình trạng ban đầu

- Tình trạng sức khỏe: không bị động kinh

- Tư thế, hình dáng: có thể ngồi, đứng, lưng gù, tay thường quặp

- Vận động: có thể di chuyển, thực hiện được vận động thô, không thựchiện được vận động tinh

- Biểu hiện khác: dễ xúc động, hay cho tay vào miệng

Trang 40

- Quy trình:

Bước 1: Đánh giá ban đầu, xác định vị trí

Buớc 2: Cô giáo ra hiệu với trẻ là sẽ thực hiện phương pháp Dosaho Buớc 3: Cô giáo dựa vào các vị trí để thực hiện các bài tập

Bước 4: Cô giáo hỏi trẻ có đau không, đau ở đâu

Bước 5: Thực hiện bài tập Dosaho, khuyến khích và phản hồi về những

+ Thực hiện bài tập tại vị trí số 5, 6: đây là một bài tập tương đối khó, cần cósức khỏe mới thực hiện tốt được Trong bài tập này, cần có sự hỗ trợ của một

- Tư thế, hình dáng: thẳng người hơn

- Vận động: trẻ giơ tay dễ dàng hơn

- Biểu hiện khác: trẻ bớt cho tay vào miệng hơn

* Trao đổi với người thực hiện về kết quả và so sánh đối chiếu

Ngày đăng: 17/04/2017, 00:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w