1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN day giai toan hop lop 3 13 14

14 525 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 165,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm chung Qua tìm hiểu một số giáo viên dạy lớp3 , tìm hiểu học sinh , tài liệu tham khảo ở trường tiểu học Vĩnh Hòa 1 ,tôi nhận thấy: giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc giảng

Trang 1

MỤC LỤC Trang

I Đặt vấn đề 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

II Giải quyết vấn đề 3

1 Cơ sở lý luận 3

2 Thực trạng của vấn đề 4

3 Biện pháp thực hiện 5

3.1 Lựa chon cách trình bày tóm tắt hợp lí 5

3.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi để tìm lời giải cho bài toán 6

3.3 Trình bày bài giải 9

3.4 Các bước tiến hành giải một bài toán hợp 10

4 Kết quả đạt được 11

III Kết luận chung & đề xuất kiến nghị 11

1 Kết luận chung 11

2 Một số nhận định khái quát và khả năng vận dụng sáng kiến 12

3 Một số đề xuất, kiến nghị 12

Trang 2

ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3/5 TRƯỜNG TIỂU HỌC

VĨNH HÒA 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Lí do khách quan:

Mỗi môn học ở Tiểu học đều hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam Trong các môn học ở Tiểu học môn Toán có vị trí quan trọng vì:

Các kiến thức, kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, rất cần thiết cho người lao động và rất cần thiết cho môn học khác ở tiểu học và học tiếp các bậc học tiếp theo

Môn toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống

Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết có vấn đề Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt sáng tạo, và đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết, quan trọng của người lao động như : cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp

và tác phong khoa học

Như chúng ta đã biết, một trong bốn mạch kiến thức ở môn Toán 3 là giải bài toán có lời văn Trong sách giáo khoa Toán 3, các bài toán có lời văn (toán đơn và toán hợp) được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức khác Đây là mạch kiến thức khó, đòi hỏi khả năng phân tích, tổng hợp của học sinh khi học tập Trong chương trình Toán 3, ngoài các bài toán đơn (bài toán giải bằng 1 phép tính), học sinh còn được học các bài toán hợp, bài toán giải bằng 2 phép tính (2 bước tính) Mỗi bước tính là bước giải một bài toán đơn Kết quả phép tính ở bước tính thứ nhất sẽ là một thành phần của phép tính ở bước giải thứ hai

Số bài toán hợp chiếm một tỉ lệ lớn trong mạch kiến thức giải toán, xuyên suốt chương trình Toán 3

So với 3 mạch kiến thức còn lại (Số học, Hình học và Đo lường), khối lượng mạch Giải toán không nhiều song nó không chỉ giữ vị trí quan trọng trong việc phát triển tư duy toán học nói chung mà còn là yếu tố chính trong việc hình thành và phát triển tư duy trừu tượng, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và cách nhìn nhận thấu đáo, khúc chiết trong cách giải quyết vấn đề của học sinh

Trang 3

Với tầm quan trọng như vậy, việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 là một vấn đề không thể xem nhẹ Nhưng trên thực tế, có rất nhiều giáo viên đều lầm tưởng rằng, việc dạy giải các bài toán có 1-2 phép tính là một việc làm đơn giản, không có gì là khó khăn, cứ theo “mẫu” mà làm Nhưng nếu nghiêm túc mổ xẻ, bóc tách vào tận cốt lõi của vấn đề, có lẽ lúc đó ta sẽ thấy những suy nghĩ của mình còn hời hợt và cần phải xem xét lại Vậy cốt lõi của vấn đề có liên quan tới việc giải các bài toán hợp ở lớp 3 là ở đâu? Xuất phát

từ lí do trên tôi chọn đề tài : “Một số biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho hoc sinh lớp 3/5 trường Tiểu học Vĩnh Hòa 1.”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

2.1 Tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu có liên quan Chương trình sách giáo khoa toán 3, trao đổi với đồng nghiệp với học sinh và tự rút ra những kinh nghiệm hay phù hợp để giảng dạy cho học sinh

2.2 Khảo sát thực trạng học toán có lời văn của học sinh lớp 3 trường TH Vĩnh Hòa 1

2.3 Đề xuất giải pháp giúp học sinh lớp 3 trường TH Vĩnh Hòa 1 học tốt dạng toán có lời văn

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp đàm thoại, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp với học sinh lớp 3/5

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực hành luyện tập

- Phương pháp tổng kết

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Cơ sở khoa học

Giáo dục toán học là một bộ phận của giáo dục tiểu học Do đó, môn toán

có nhiệm vụ góp phần vào thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của bậc học, đó là: Trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tập tiếp hoặc đi vào cuộc sống Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt động thiết thực trong đời sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen phương pháp và tác phong làm việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứa tuổi Tạo tiền đề cho học sinh học tốt các môn học còn lại

Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kỹ năng, trau dồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó Đó là phẩm chất vốn

có của con người Thông qua học Toán để đức tính đó được thường xuyên phát huy và ngày càng hoàn thiện Chương trình Toán Tiểu học là một công trình

Trang 4

khoa học mang tính truyền thống và hiện đại Việc dạy Toán Tiểu học phải được đổi mới một cách mạnh mẽ về phương pháp, về cung cách lên lớp, về chấm chữa và đánh giá học sinh Nghiên cứu chương trình Toán lớp 3 chúng ta thấy rằng đó là một nội dung hoàn chỉnh sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của trẻ từ 8 tuổi trở lên Nghiên cứu để thấy rõ nội hàm của nó, bản chất của nó mới có phương pháp giảng dạy sát đúng Sáng kiến kinh nghiệm là một tập hợp

về nhận thức, cách nhận định, đánh giá, phân tích tình hình để tìm ra con đường

đi mang lại kết quả theo mong muốn Nếu chỉ dựa vào các văn bản trên, dựa vào thiết kế bài dạy và sách giáo khoa để giảng dạy theo lối áp đặt thì quả là phản khoa học, không mang tính sư phạm tí nào Như vậy dễ cho người dạy song khó cho người học Và như vậy thì vai trò của người thầy sẽ không rõ Qua

đó tính sáng tạo cũng không có Dạy toán là dạy sáng tạo là dạy cách suy luận lôgíc thì phải mở rộng ngoài sách giáo viên, sách giáo khoa, sách thiết kế của

Bộ Dạy toán là dạy cách làm việc sáng tạo, cách suy luận, cách sống nhân văn thời hiện đại Thế nên, người giáo viên phải có tầm nhìn Tầm nhìn đó vừa xa vừa thực tế, phải nắm được lý thuyết song phải có kỹ năng khái quát vừa hết sức

cụ thể Như vậy phải đọc nhiều, tích luỹ nhiều, và phải rút ra được những điều cần thiết để tận dụng

2 THỰC TRẠNG

2.1 Đặc điểm chung

Qua tìm hiểu một số giáo viên dạy lớp3 , tìm hiểu học sinh , tài liệu tham khảo ở trường tiểu học Vĩnh Hòa 1 ,tôi nhận thấy: giáo viên chưa quan tâm nhiều đến việc giảng dạy một cách có hệ thống, bài bản các bài toán hợp cho học sinh mà chỉ hướng dẫn mẫu cho hs làm theo Việc hướng dẫn bài bản cũng chỉ trong những giờ thao giảng Sở dĩ có tình trạng trên là do giáo viên chưa nhận thức được hết tác dụng của việc dạy toán hợp chi các em Vì vậy mà giờ học toán mỗi khi đụng đến toán hợp là học sinh trầm, thụ động trong học tập , một số học sinh yếu kém còn ngại học toán , đến giờ học toán các em không hứng thú dẫn đến kết quả học tập không cao

II.2 Thực trạng

Đầu năm học 2013-2014, tôi được Ban giám hiệu nhà trường giao nhiệm

vụ chủ nhiệm và giảng dạy môn Toán, Tiếng Việt cho học sinh lớp 3/5 Ngay sau khi khảo sát chất lượng đầu năm và qua việc giảng dạy, tôi đã phát hiện ra

HS lớp mình đang gặp phải một vấn đề trong môn toán, phần giải toán, các câu trả lời của HS không có sự thống nhất, em trả lời kiểu này, em trả lời kiểu kia… đặc biệt các em lúng túng không biết đặt lời giải cho phép tính thứ nhất như thế nào? Lời giải thứ hai thì đặt không chính xác Rồi danh số, đáp số cũng ghi không hợp lí

Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm môn Toán của HS lớp 3/5 như sau:

Trang 5

Trong đĩ các em đạt điểm khá, trung bình, yếu đều rơi vào việc giải bài tốn cĩ lời văn khơng đúng Qua giảng dạy và tìm hiểu tơi nhận thấy nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như sau:

2.3 Nguyên nhân của thực trạng trên:

- Học sinh đọc đề bài một cách qua loa, không cần suy nghĩ giải như thế nào?

- Đưa ra đề toán cho học sinh rất lười, không đọc đề để hiểu yêu cầu bài tập làm gì?

- Giải toán có lời văn học sinh chưa biết cách để thể hiện bài giải, khó nhận ra đâu là đơn vị , lời giải của bài toán

- Học sinh không cảm thụ được đề toán yêu cầu làm gì ? phải làm như thế nào?

Y Tóm lại học sinh không nhận ra được yêu cầu cốt lỏi ở bài toán

có lời văn và nếu thể hiện thì còn nhiều yếu tố như : trình bày bài giải, cách thể hiện bài giải, cách nhận ra phép tính cần làm để đáp ứng câu hỏi của bài, cách tìm ra đơn vị, đáp số của bài … Từ đó học sinh không giải được hoặc giải không hoàn chỉnh được bài toán có lời văn

Từ những vấn đề trên tôi thiết nghĩ cần phải có hướng dạy học sao cho phù hợp đối với từng học sinh, từng có biện pháp giúp học simh, giải toán có lời văn nói riêng và chất lượng cả môn Toán nói chung Để thực hiện điều này tôi đúc kết thành kinh nghiệm của bản thân để giúp đỡ học sinh giải toán có lời văn tốt hơn

3 BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

3.1 Lựa chọn cách trình bày tĩm tắt hợp lý:

Như chúng ta đã biết, phần tĩm tắt bài tốn khơng phải là một thành phần trong khâu trình bày bài giải, nhưng là phần quan trọng giúp học sinh cĩ cái nhìn tổng thể về tồn bộ nội dung bài tốn, từ đĩ tìm được mối liên hệ cần thiết giữa cái đã cho và cái phải tìm Qua đĩ, giúp các em biết lựa chọn phép tính thích hợp Đối với lớp 3 (cũng như đối với học sinh tiểu học nĩi chung), sử dụng

sơ đồ đoạn thẳng để tĩm tắt là hợp lí nhất Sơ đồ đoạn thẳng khơng những giúp các em cĩ một cái nhìn khái quát về bài tốn mà cịn giúp các em nhận ra cái đã biết, cái phải tìm và mối liên hệ giữa chúng Trong những trường hợp khơng thể

sử dụng được sơ đồ đoạn thẳng thì ta mới nên dùng quy ước bằng lời để tĩm tắt

Giỏi Khá Trung bình Yếu

SL % SL % SL % SL %

25 64.1 6 15.4 7 17.9 1 2.6

Trang 6

Một điều giáo viên cần ghi nhớ là để học sinh làm tốt các bài toán hợp thì giáo viên cần hướng dẫn học sinh rèn luyện tốt kĩ năng giải các bài toán đơn Vì vậy, việc rèn cho học sinh thuần thục khâu tóm tắt các bài toán đơn (chủ yếu bằng sơ đồ đoạn thẳng) là không thể thiếu Việc thuần thục khâu tóm tắt bài toán đơn không những giúp học sinh nhanh chóng tìm ra lời giải, mà nó còn là cơ sở giúp học sinh có kĩ năng tóm tắt và giải các bài toán hợp

Ví dụ, với dạng sơ đồ tóm tắt bài toán đơn loại “Nhiều hơn” như:

230 kg

Buổi sáng:

90 kg

Buổi chiều:

? kg

Ta cũng có dạng sơ đồ tóm tắt cho bài toán hợp tương ứng:

230 kg

Buổi sáng:

90 kg ? kg

Buổi chiều:

Một ví dụ khác, khi học loại toán “ Gấp một số lên nhiều lần” ta có dạng

tóm tắt kiểu như:

10 tuổi

Con:

Mẹ:

? tuổi

Thì khi học đến toán hợp, ta cũng có kiểu tóm tắt :

10 tuổi

Con:

? tuổi

Mẹ:

Khi hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ, giáo viên cần lưu ý học sinh dóng thẳng các vị trí đầu mút có giá trị so sánh Với các bài toán dạng chia phần hoặc gấp,

Trang 7

giảm, các đoạn thẳng tỉ lệ được chia đều trên sơ đồ cần đảm bảo tính chính xác tuyệt đối (sử dụng thước có chia vạch cm hoặc dòng kẻ ô li) Còn những bài toán dạng hơn, kém (nhiều hơn, ít hơn) thì các phần được chia ra chỉ mang tính ước lệ song cũng phải đảm bảo được sự chính xác tương đối (ước lượng bằng mắt)

Bên cạnh việc luyện cho học sinh kĩ năng tóm tắt đề toán, giáo viên cũng cần chú trọng luyện cách nêu bài toán theo tóm tắt rồi giải Chẳng hạn:

Nêu bài toán theo tóm tắt sau rồi giải:

50 kg

Bao gạo:

15 kg

Bao ngô:

? kg

HS có thể nêu thành bài toán:

Bao gạo cân nặng 50 kg, bao ngô cân nặng hơn bao gạo 15 kg Hỏi bao ngô cân nặng bao nhiêu ki - lô - gam ?

Khi đã hiểu được rõ gốc gác của sơ đồ như vậy thì học sinh sẽ chọn được ngay phép tính cộng để giải bài toán

Với cách dạy học như vậy, việc dạy giải bài toán hớp có 2 phép tính sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn nhiều Học sinh sẽ giải được không mấy khó khăn bài toán có dạng tóm tắt:

50 kg

Bao gạo:

15 kg ? kg

Bao ngô:

3.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi để tìm lời giải cho bài toán:

Ở lớp 3, các bài toán hợp chỉ dừng lại ở 2 bước tính Việc chọn phép tính đúng cho mỗi câu lời giải đã được học sinh thực hành nhuần nhuyễn từ khi giải các bài toán đơn Vì vậy, kĩ năng này không còn là vấn đề cốt lõi khi dạy giải các bài toán hợp Vấn đề mấu chốt khi dạy học sinh giải các bài toán này nằm ở chính đặc điểm của dạng toán Đó là làm sao cho học sinh nhận biết được đó là một bài toán hợp (bài toán phải giải bằng 2 phép tính) Thực tế cho thấy, rất nhiều học sinh sau khi đọc xong một đề toán hợp, không biết rằng bài toán cần phải giải bằng 2 bước tính Thế là tóm luôn câu hỏi để đặt câu trả lời, để rồi chẳng biết phải chọn phép tính nào cho đúng Để giúp học sinh tránh được sai

Trang 8

sót này, giáo viên cần xây dựng một hệ thống câu hỏi để giúp học sinh đi tìm lời giải của bài toán Đây chính là quá trình phân tích bài toán để tìm câu trả lời Nói chính xác là để tìm đúng thứ tự của 2 bước tính

Quá trình phân tích bài toán cho phép ta tách một bài toán hợp (mà học sinh chưa giải được) thành 2 bài toán đơn (loại toán mà học sinh quá quen thuộc) Điều này cũng giống như việc bẻ gãy cả đôi đũa thì không được nên ta phải tìm cách tách nó ra từng chiếc một

Như quan điểm ban đầu của người viết quá trình phân tích bài toán để tìm lời giải phải theo kiểu đi ngược từ câu hỏi đến cái đã cho Nhưng trong thực tế, rất nhiều giáo viên đều có chung phương pháp là hướng dẫn học sinh đi xuôi từ cái đã cho đến câu hỏi

Ví dụ, với bài toán sau:

Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu ? (Bài 2/50 sách toán 3)

GV thường hướng dẫn HS giải từng bước như sau:

- Bài toán cho biết gì ? (Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu)

- Vậy muốn biết thùng thứ hai đựng bao nhiêu lít dầu em làm thế nào ? (lấy

18 + 6 = 24 (lít))

- Bây giờ đã biết thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ hai đựng 24 lít dầu Vậy muốn biết cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu, em làm thế nào ?

(Lấy 18 + 24 = 42 (lít)).

Thực tế, cách trên rất dễ thực hiện, nó vừa làm cho bài giảng trở nên suôn

sẻ, trôi chảy, lại vừa làm cho học sinh đỡ mệt óc vì không phải động não nhiều

Đó chính là cách giải bài toán theo lối tổng hợp Ở đây, bám theo lời văn của đề bài, ta lần lượt giải 2 bài toán đơn:

Bài toán 1: ……… Tìm số lít dầu ở thùng thứ hai.

Bài toán 2: …………Tìm số lít dầu ở cả hai thùng.

Kết hợp (tổng hợp) lại ta có cách giải bài toán đã cho

Song cách làm này không đặc trưng cho phương pháp tìm cách giải của các bài toán trong toán học và trong thực tế Do đó, nó không giúp học sinh nắm được đường lối chung để giải các bài toán, không giúp học sinh giải được các bài toán khó hơn trong toán học và trong cuộc sống sau này Tuy vậy, phương pháp này lại có thể áp dụng hữu hiệu cho các học sinh yếu kém, bởi ở những học sinh này, kĩ năng phân tích và tổng hợp rất hạn chế, cần dẫn dắt từng bước nhỏ thì các em mới hiểu ra vấn đề Vì vậy, giáo viên cần có sự điều chỉnh trong cách dạy và nên nhớ chỉ nên dùng một cách rất hạn chế phương pháp trên

Trở lại vấn đề ban đầu, để giúp học sinh tìm ra lời giải của bài toán, giáo viên cần hướng dẫn học sinh suy nghĩ đi từ câu hỏi của bài toán đến những cái

Trang 9

đã cho Cách phân tích bài toán như vậy có làm cho học sinh hơi mệt óc vì phải động não, song đổi lại, các em sẽ trở nên thông minh hơn, đầu óc sẽ dần dần tinh

tế hơn Vì vậy, nên sử dụng cách đó thường xuyên Đặc biệt, với những đối tượng học sinh khá, giỏi thì đây là phương pháp hữu hiệu nhất Với những phương pháp này thì bài toán 2/50 sách toán 3 (đã nêu ở trên) ta có thể hướng dẫn học sinh suy nghĩ như sau:

- Bài toán đã cho biết gì ? (Thùng thứ nhất đựng 18 lít dầu, thùng thứ 2 đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6 lít dầu).

- Bài toán hỏi gì ? (Cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu ?).

Đây là 2 câu hỏi giúp học sinh nắm rõ đâu là điều kiện của bài toán (cái

đã biết), đâu là câu hỏi của bài toán (cái cần tìm) nên giáo viên cần cho vài học sinh nhắc lại để các em nắm chắc nội dung cũng như yêu cầu của đề

- Muốn biết cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu em làm thế nào?(Lấy số lít dầu ở thùng thứ nhất cộng với số lít dầu ở thùng thứ hai).

- Số lít dầu ở thùng thứ nhất biết chưa ? (Biết rồi: 18 lít dầu).

- Số lít dầu ở thùng thứ hai biết chưa ? (Chưa).

- Vậy muốn biết số lít dầu ở thùng thứ hai em làm thế nào? (Lấy số lít dầu

ở thùng thứ nhất cộng với 6)

- Vậy để giải bài toán này, trước hết ta phải đi tìm cái gì? (Trước hết ta phải tìm số dầu đựng ở thùng thứ hai)

Quá trình suy nghĩ trên không những giúp học sinh tách được bài toán đã cho thành hai bài toán đơn (loại toán các em đã quá quen thuộc) mà còn giúp các

em biết cần phải suy nghĩ từ đâu và thứ tự thực hiện các bước như thế nào

3.3 Trình bày bài giải:

Khi đã tìm được cách giải bài toán thì việc cuối cùng cần làm là trình bày bài giải Phần trình bày bài giải các bài toán hợp (ở lớp 3) bao gồm 2 câu lời giải, 2 phép tính và đáp số Hầu hết các bài toán có lời văn đều có chung một cấu trúc trình bày bài giải Sau mỗi câu lời giải là một phép tính tương ứng, cuối cùng ghi đáp số ở góc bên phải

Tuy nhiên, ở lớp 3 cũng có những bài toán mà câu trả lời lại phải đặt sau phép tính Chẳng hạn:

Một lớp học có 33 học sinh, phòng học của lớp đó chỉ có loại bàn hai chỗ ngồi Hỏi cần ít nhất bao nhiêu bàn học như thế? (Bài 2/71 – Toán 3).

Với loại bài như thế này, ta có thể trình bày bài giải như sau:

Thực hiện phép chia, ta có:

33 : 2 = 16 (dư 1)

Số bàn có hai HS ngồi là 16 bàn, còn 1 HS nữa cần có thêm một bàn Vậy

số bàn cần có ít nhất là:

16 + 1 = 17 ( bàn)

Trang 10

Đáp số: 17 cái bàn.

Việc đặt câu lời giải ở các bài toán đơn cũng như các bài toán hợp không

có gì khó khăn Tuy nhiên, nếu để ý một chút, ta sẽ thấy nội dung câu lời giải

thường có 2 phần: Phần 1 ghi cái cần tìm, phần 2 ghi phạm vi cái cần tìm biểu thị.

Ví dụ: Số lít dầu đựng ở thùng thứ hai

Cái cần tìm Phạm vi cái cần tìm biểu thị

Khi hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải, nhiều giáo viên không chú ý đến điều này nên không có quy định cụ thể Vì vậy mới xảy ra tình trạng học sinh trả lời theo cảm tính, lúc thế này, lúc thế khác Đương nhiên, trừ những trường hợp nội dung câu trả lời chỉ có một phần (Phần 1) thì mỗi phép tính thường có 2 cách trả lời, có thể đặt phần 2 lên trước, phần 1 để sau (hoặc ngược lại)

Để có sự nhất quán, giáo viên cần hướng dẫn học sinh (và khuyến khích các em) là đặt phần 1 (cái cần tìm) lên trước rồi mới đến phần 2 (phạm vi cái cần tìm biểu thị)

Ví dụ: Nên trả lời:

- Số lít dầu đựng ở thùng thứ hai là:

- Số học sinh ở mỗi hàng là:

Hạn chế trả lời:

- Thùng thứ hai đựng được số lít dầu là:

- Mỗi hàng có số học sinh là:

Cách trả lời nào cũng đúng, nhưng trả lời theo cách thứ nhất không những khúc chiết, rõ ràng hơn mà còn giúp học sinh ghi đúng ngay tên đơn vị (danh số) sau khi thực hiện phép tính

Khi viết câu lời giải, giáo cũng cần lưu ý học sinh không được viết tắt các đơn vị đo lường (Ví dụ: Không được viết “kg” mà phải viết là “ ki - lô - gam”, không viết “ m” mà phải viết là “ mét”,…), các đơn vị này chỉ viết tắt khi đứng sau một số thực (Ví dụ: 5 kg, 10 m,…)

Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh viết câu lời giải đúng, giáo viên cũng cần lưu ý hướng dẫn viết tên đơn vị (danh số) ở kết quả phép tính và ở đáp số cho phù hợp Các danh số thường là 1 đơn vị kép (chỉ lượng và chỉ tên) như: con

gà, cái thuyền, kg gạo,…Khi ghi danh số sau kết quả mỗi phép tính, ta chỉ cần ghi đơn vị chỉ lượng đứng trước là: con, cái, kg,…Nhưng khi ghi đáp số ta cần phải ghi đầy đủ là con gà, cái thuyền, kg gạo,…

3.4 Các bước tiến hành giải một bài toán hợp:

a Bước 1: Đọc kĩ bài toán

Ngày đăng: 16/04/2017, 20:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt là hợp lí nhất. Sơ đồ đoạn thẳng không những giúp các em có một cái nhìn khái quát về bài toán mà còn giúp các em nhận ra cái đã biết, cái phải tìm và mối liên hệ giữa chúng - SKKN day giai toan hop lop 3   13 14
o ạn thẳng để tóm tắt là hợp lí nhất. Sơ đồ đoạn thẳng không những giúp các em có một cái nhìn khái quát về bài toán mà còn giúp các em nhận ra cái đã biết, cái phải tìm và mối liên hệ giữa chúng (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w