Việc bao quát, mở rộng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộpthuế như nêu trên đã góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm khoảng cách chênhlệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng n
Trang 1PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Sự cần thiết ban hành quy định mới về giảm trừ gia cảnh tại luật thuế thu nhập
cá nhân 3
2 Nội dung giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật hiện hành 4
2.1 Giảm trừ gia cảnh 4
2.2 Mức giảm trừ gia cảnh 5
2.3 Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh 6
2.4 Người phụ thuộc 8
2.5 Các điều kiện để cá nhân được tính là người phụ thuộc 9
2.7 Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc 9
2.8 Khai giảm trừ đối với người phụ thuộc 12
PHẦN II CƠ SỞ THỰC TIỄN 1 Thực tiễn tuân thủ pháp luật thuế về giảm trừ gia cảnh 16
1.1 Những thành tựu đạt được 16
1.2 Những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn áp dụng 19
2 Ý kiến của cá nhân về khoản giảm trừ gia cảnh theo quy định mới của pháp luật hiện hành 20
3 Giải pháp hoàn thiện quy định về khoản giảm trừ gia cảnh 21
KẾT LUẬN 24
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là một trong những khoản thu ngân sách quan trọng của nhà nước Nộp thuế lànghĩa vụ, trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức xã hội khác Hiện nay, Nhà nước thôngqua việc đánh thuế để điều tiết thu nhập của người dân nhằm giảm đi khoảng cách giàunghèo, đảm bảo công bằng xã hội và tạo động lực phát triển kinh tế
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế trực thu đóng vai trò quan trọng hết sức quantrọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nó đã ra đời từ rất sớm ở các quốc giaphát triển và ngay nay phát triển rộng rãi ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới Sựphát triển của thuế thu nhập cá nhân không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của nótrong nguồn thu ngân sách và là một công cụ đắc lực góp phần đảm bảo công bằng xãhội mà còn thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Chính vì vậy, việc nghiêncứu và hoàn thiện các quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân là rất cần thiết vàmang tính cấp bách thuế thu nhập cá nhân cũng là một trong những vấn đề quan tâmcủa Nhà nước cũng như người dân
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, vào cuối năm 2012 vừaqua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành những quy định mới cụ thể và rõràng mang lại nhiều thuận lợi cho người dân và cụ thể là quy định về mức giảm trừ giacảnh trong thuế thu nhập cá nhân Đây là một vấn đề quan trọng có ảnh hưởng trực tiếpđến quyền lợi của người dân lao động Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, trong phạm
vi bài tiểu luận tôi xin phân tích và làm rõ một số nội dung xoay quanh đề tài: “Quy định pháp luật về giảm trừ gia cảnh trong thuế TNCN và thực tiễn áp dụng”.
Bài làm còn mang tính chủ quan và chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong nhậnđược sự nhận xét, đánh giá và góp ý của quý thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn.Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Sự cần thiết ban hành quy định mới về giảm trừ gia cảnh tại luật thuế thu nhập
cá nhân
Luật thuế TNCN được Quốc Hội thông qua ngày 21/11/2007 đã tạo khuôn khổ pháp
lý quan trọng cho việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tài chính của công dân, huy động
nguồn lực cho NSNN, góp phần điều tiết hợp lý thu nhập trong dân cư Qua 3 năm
thực hiện luật Thuế TNCN, tính đến hết năm 2011 đã có trên 15 triệu cá nhân được cấp
mã số thuế (12,6 triệu cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và từ thu nhập khác;3,2 triệu cá nhân có thu nhập từ kinh doanh) Trong đó chỉ có khoảng 1,3 triệu cá nhân
có thu nhập từ tiền lương tiền công (chiếm 10,2%); 194 nghìn hộ, cá nhân kinh doanh(chiếm 6%) phải nộp thuế Việc bao quát, mở rộng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộpthuế như nêu trên đã góp phần đảm bảo công bằng xã hội, giảm khoảng cách chênhlệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.Tuy nhiên, nền kinh tế có nhiều biến động, tình hình lạm phát ngày càng cao cùng với
sự vận hành, biến động của tình hình kinh tế - xã hội, một số quy định của Pháp Luậtnói chung và Luật thuế thu nhập cá nhân nói riêng đã bộc lộ những hạn chế:
Thứ nhất, việc quy định mức khởi điểm chịu thuế còn chưa phù hợp Theo quy
định giảm trừ gia cảnh về mức khởi điểm chịu thuế tại luật thuế thu nhập cá nhân là
4 triệu đồng/người lao động chính và mức giảm trừ gia cảnh là 1,6 triệu đồng/ngườiphụ thuộc Thực tế từ năm 2009 đến nay, do tác động tiêu cực của cuộc khủnghoảng, suy thoái toàn cầu dẫn đến giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng cao (chỉ số CPI năm2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; 2011: 18.13%) làm ảnh hưởng đến đời sống củangười nộp thuế Vì vậy việc quy định mức giảm trừ gia cảnh như vậy là chưa đảmbảo cho đời sống tối thiểu của người lao động, nhất là ở đô thị
Thứ hai, mức giảm trừ gia cảnh hiện nay không tính đến khu vực, có nghĩa là ở
nông thôn, thành thị, đồng bằng hay miền núi đều áp dụng như nhau, nhưng thực tếcho thấy mức chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày của một cá nhân ở thành thị là lớnhơn rất nhiều so với ở nông thôn và miền núi
Thứ ba, việc cấp mã số thuế còn chưa hoàn thiện, việc kê khai số người phụ
thuộc để áp dụng giảm trừ gia cảnh còn nhiều hạn chế Theo quy định, để quản lýchặt chẽ người nộp thuế, yêu cầu đặt ra là phải cấp mã số thuế cá nhân cho mọi công
Trang 4dân Việc người nộp thuế chưa có mã số thuế sẽ gây thiệt hại cho chính người nộpthuế vì phải nộp thuế TNCN với tỷ lệ trích cao hơn Đặc biệt, việc các cá nhân phụthuộc không có mã số thuế dẫn đến khe hở và khó kiểm soát chính xác vấn đề giảmtrừ gia cảnh cho người phụ thuộc, từ đó, gây thất thu thuế TNCN Việc kê khai giảmtrừ gia cảnh chủ yếu là dựa vào ý thức của đối tượng nộp thuế Điều này đã tạo rakhe hở trong việc kê khai số người phụ thuộc.
Ngoài ra, còn một số hạn chế về việc xác định đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôidưỡng người phụ thuộc và những khó khắn gặp phải khi xin hồ sơ để xác định đốitượng phụ thuộc không có thu nhập Cùng với đó là tác động của cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu, nền kinh tế - xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn, giá cả hàng hóa, dịch
vụ tăng cao (chỉ số CPI năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; 2011: 18.13%) làm ảnhhưởng đến đời sống người nộp thuế
Qua những phân tích trên ta thấy rằng mức giảm trừ gia cảnh không còn phù hợp vàthực sự đã lạc hậu, thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi cần có sự chia sẻ của nhà nước vớingười nộp thuế qua việc điều chỉnh tăng mức giảm trừ gia cảnh Vì vậy, việc ban hànhquy định mới về giảm trừ gia cảnh trong luật thuế thu nhập cá nhân là rất cần thiết.Ngày 22/11/2012, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtThuế TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 Để triển khai thực hiện Luật ThuếTNCN và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN, Bộ Tài chính đãban hành Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013
2 Nội dung giảm trừ gia cảnh theo quy định của pháp luật hiện hành
Theo thông tư số 111/2013/TT-BTC - văn bản hiện hành mới nhất về giảm trừ giacảnh, căn cứ vào quy định tại Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân; khoản 4, Điều 1Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Điều 12 Nghị định
số 65/2013/NĐ-CP, việc giảm trừ gia cảnh được thực hiện như sau:
2.1 Giảm trừ gia cảnh
Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đốivới thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cánhân cư trú
Trang 5Trong trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từtiền lương, tiền công thì tính giảm trừ gia cảnh một lần vào tổng thu nhập từ kinhdoanh và từ tiền lương, tiền công.
2.2 Mức giảm trừ gia cảnh
Mức giảm trừ gia cảnh gồm 2 phần, phần đối với người nộp thuế và phần đối vớimỗi người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, như sau:
2.2.1 Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế.
Phần đối với người nộp thuế (thực chất là ngưỡng thu nhập tính thuế) để đảm bảo nguyên tắc chỉ điều tiết một phần thu nhập của những người có thu nhập trên mức bình quân xã hội Mức giảm trừ nộp thuế được xác định là 9 triệu đồng/tháng,
108 triệu đồng/năm (cao hơn so với mức quy định cũ là 4 triệu đồng/tháng, 48 triệu đồng/năm)
Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh tại một thời điểm (tính đỉ theo tháng) thì người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân ở một nơi
Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừ giacảnh cho bản thân từ tháng 01 hoặc từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhânlần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời ViệtNam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng)
Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiện quyết toán thuế
2.2.2 Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc
Phần đối với những người phụ thuộc là có tính đến gia cảnh của cá nhân người nộp thuế Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng
Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, người nộp thuế được tính giảm trừ giacảnh cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã sốthuế
Trang 6Khi người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc sẽ được cơquan thuế cấp mã số thuế cho người phụ thuộc và được tạm tính giảm trừ gia cảnhtrong năm kể từ khi đăng ký Đối với người phụ thuộc đã được đăng ký giảm trừ giacảnh trước ngày Thông tư 111/2013/TT-BTC có hiệu lực thi hành thì tiếp tục đượcgiảm trừ gia cảnh cho đến khi được cấp mã số thuế.
Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộctrong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phátsinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng
ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc
Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuếtrong năm tính thuế Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộcphải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thoả thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vàomột người nộp thuế
2.3 Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh
Nguyên tắc tính giảm trừ gia cảnh theo qui đinh mới này khá rõ ràng với 3 trườnghợp được áp dụng cụ thể như sau:
Đối với bản thân người nộp thuế, người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từtiền lương, tiền công, từ kinh doanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng)người nộp thuế lựa chọn tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi;
Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừgia cảnh cho bản thân từ tháng 01 hoặc từ tháng đến Việt Nam trong trườnghợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồnglao động và rời Việt Nam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng);
Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặcgiảm trừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khithực hiện quyết toán thuế theo quy định
Căn cứ theo điểm b khoản 1 điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC mức giảm trừ giacảnh được tính theo nguyên tắc như sau:
Giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế:
Trang 7Người nộp thuế có nhiều nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinhdoanh thì tại một thời điểm (tính đủ theo tháng) người nộp thuế lựa chọn tínhgiảm trừ gia cảnh cho bản thân tại một nơi.
Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam được tính giảm trừgia cảnh cho bản thân từ tháng 01 hoặc từ tháng đến Việt Nam trong trườnghợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng laođộng và rời Việt Nam trong năm tính thuế (được tính đủ theo tháng)
Trường hợp trong năm tính thuế cá nhân chưa giảm trừ cho bản thân hoặc giảmtrừ cho bản thân chưa đủ 12 tháng thì được giảm trừ đủ 12 tháng khi thực hiệnquyết toán thuế theo quy định
Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc:
Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu ngườinộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế
Khi người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc sẽ được
cơ quan thuế cấp mã số thuế cho người phụ thuộc và được tạm tính giảm trừgia cảnh trong năm kể từ khi đăng ký Đối với người phụ thuộc đã được đăng
ký giảm trừ gia cảnh trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì tiếp tụcđược giảm trừ gia cảnh cho đến khi được cấp mã số thuế
Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộctrong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ thángphát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế
và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc Riêng đối với ngườiphụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều 9 thời hạnđăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế,quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tínhthuế đó
Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuếtrong năm tính thuế Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ
Trang 8thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừgia cảnh vào một người nộp thuế.
2.4 Người phụ thuộc
Quy định về giảm trừ gia cảnh có nhắc đến người phụ thuộc, vậy phải hiểu như thếnào là người phụ thuộc để có thể áp dụng và thực thi đúng quy định của pháp luật? Người phụ thuộc là người mà đối tượng nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng, baogồm:
Thứ nhất, người phụ thuộc là con: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú,
con riêng của vợ, con riêng của chồng, cụ thể gồm: Con dưới 18 tuổi (tính đủ theo
tháng); Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động; Con đangtheo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc phổ thông (tính cả trongthời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thunhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhậpkhông vượt quá 1.000.000 đồng
Theo hướng dẫn tại tiết đ.1.1, điểm đ, khoản 1 Điều 9 của thông tư BTC người khuyết tật, không có khả năng lao động là những người thuộc đối tượngđiều chỉnh của pháp luật về người khuyết tật, người mắc bệnh không có khả nănglao động như: bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn,…
111/2013/TT-Thứ hai, người phụ thuộc là vợ hoặc chồng của người nộp thuế đáp ứng điều kiện
tại điểm đ, khoản 1, Điều 9 thông tư 111/2013/TT-BTC
Thứ ba, người phụ thuộc là cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ
chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế đáp ứngđiều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều 9 C
Thứ tư, người phụ thuộc là các cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp
thuế đang phải trực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều
9 thông tư 111/2013/TT-BTC bao gồm: Anh ruột, chị ruột, em ruột của người nộpthuế; Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cô ruột, dì ruột, cậu ruột, chú ruột, bác,
Trang 9ruột của người nộp thuế; Cháu ruột của người nộp thuế bao gồm: con của anh ruột,chị ruột, em ruột;
Ngoài ra tại điểm d4.4 khoản 1 Điều 9 TT111/2013/TT-BTC còn quy định một
điều khoản mang tính lường trước là người phụ thuộc còn là người phải trực tiếpnuôi dưỡng khác theo quy định của pháp luật
2.5 Các điều kiện để cá nhân được tính là người phụ thuộc
Theo điểm đ Khoản 1 Điều 9 thông tư 111/2013/TT-BTC Cá nhân để được coi làngười phụ thuộc theo hướng dẫn tại các tiết d.2, d.3, d.4, điểm d, khoản 1, Điều 9 thìcầm phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, đối với người trong độ tuổi lao động thì phải đáp ứng đồng thời các
điều kiện sau đây: Bị khuyết tật, không có khả năng lao động; Không có thu nhậphoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập khôngvượt quá 1.000.000 đồng
Thứ hai, đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có
thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá1.000.000 đồng
2.6 Hồ sơ chứng minh người phụ thuộc
2.6.1 Đối với con:
- Con dưới 18 tuổi:
Hồ sơ chứng minh là bản chụp Giấy khai sinh và bản chụp Chứng minh nhân
dân (nếu có)
- Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động
Hồ sơ chứng minh gồm có:
Bản chụp giấy khai sinh và bản chụp chứng minh nhân dân (nếu có)
Bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật về ngườikhuyết tật
Trang 10- Con đang theo học tại các bậc học theo hướng dẫn tại tiết d.1.3, điểm d,khoản 1, Điều 9 TT 111/2013/TT-BTC, hồ sơ chứng minh gồm:
Bản chụp Giấy khai sinh
Bản chụp Thẻ sinh viên hoặc bản khai có xác nhận của nhà trường hoặc giấy
tờ khác chứng minh đang theo học tại các trường học đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông hoặc học nghề
Trường hợp là con nuôi, con ngoài giá thú, con riêng thì ngoài các giấy tờ theotừng trường hợp nêu trên, hồ sơ chứng minh cần có thêm giấy tờ khác để chứngminh mối quan hệ như: bản chụp quyết định công nhận việc nuôi con nuôi, quyếtđịnh công nhận việc nhận cha, mẹ, con của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2.6.2 Đối với vợ hoặc chồng
Hồ sơ chứng minh gồm:
Bản chụp Chứng minh nhân dân
Bản chụp sổ hộ khẩu (chứng minh được mối quan hệ vợ chồng) hoặc Bảnchụp Giấy chứng nhận kết hôn
Trường hợp vợ hoặc chồng trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ nêutrên hồ sơ chứng minh cần có thêm giấy tờ khác chứng minh người phụ thuộckhông có khả năng lao động như bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quyđịnh của pháp luật về người khuyết tật đối với người khuyết tật không có khảnăng lao động, bản chụp hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không có khảnăng lao động (như bệnh AIDS, ung thư, suy thận mãn, )
2.6.3 Đối với cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng), cha dượng, mẹ kế, cha nuôi hợp pháp, mẹ nuôi hợp pháp.
Hồ sơ chứng minh bao gồm:
Bản chụp Chứng minh nhân dân
Giấy tờ hợp pháp để xác định mối quan hệ của người phụ thuộc với ngườinộp thuế như bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu), giấy khai sinh,
Trang 11quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền
Trường hợp trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ nêu trên, hồ sơ chứngminh cần có thêm giấy tờ chứng minh là người khuyết tật, không có khả năng laođộng như bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật vềngười khuyết tật đối với người khuyết tật không có khả năng lao động, bản chụp
hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnhAIDS, ung thư, suy thận mãn, )
2.6.4 Đối với các cá nhân không nơi nương tựa mà người nộp thuế đang phảitrực tiếp nuôi dưỡng và đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này baogồm (theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều 9 TT 111/2013/TT-BTC)
Hồ sơ chứng minh bao gồm:
Bản chụp Chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh
Các giấy tờ hợp pháp để xác định trách nhiệm nuôi dưỡng theo quy định củapháp luật
Trường hợp người phụ thuộc trong độ tuổi lao động thì ngoài các giấy tờ nêutrên, hồ sơ chứng minh cần có thêm giấy tờ chứng minh không có khả năng laođộng như bản chụp Giấy xác nhận khuyết tật theo quy định của pháp luật vềngười khuyết tật đối với người khuyết tật không có khả năng lao động, bản chụp
hồ sơ bệnh án đối với người mắc bệnh không có khả năng lao động (như bệnhAIDS, ung thư, suy thận mãn, )
Các giấy tờ hợp pháp tại tiết g.4.2, điểm g, khoản 1, Điều này là bất kỳ giấy tờpháp lý nào xác định được mối quan hệ của người nộp thuế với người phụ thuộcnhư:
Bản chụp giấy tờ xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật(nếu có)
Bản chụp sổ hộ khẩu (nếu có cùng sổ hộ khẩu)
Bản chụp đăng ký tạm trú của người phụ thuộc (nếu không cùng sổ hộkhẩu)