BÀI TẬP SỐ 3 Đề bài: Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đình bao gồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bát cửu, khánh, mõ, mâm bồng, kiệu có trích d
Trang 1Môn Nghiệp Vụ
Hướng Dẫn Du Lịch
Trang 2BÀI TẬP SỐ 3
Đề bài: Giải thích ý nghĩa các đồ thờ được đặt trong chùa, đình bao gồm: trống, chuông, bia, tượng, ngữ án, bài vị, chấp kích, bát cửu, khánh, mõ, mâm bồng, kiệu ( có trích dẫn tài liệu tham khảo).
Trang 3
• Âm thanh của trống chùa được xem như
một quyền lực có chức năng mang năng
lượng cho tinh thần một cảm giác
thiêng liêng
• Tiếng trống chùa cũng là một trong
những phương tiện của pháp âm
• Tiếng trống chùa là âm thanh truyền tải
giai điệu thuần khiết cho đời sống tâm linh
Trang 4NGUỒN GỐC VÀ CẤU TẠO TRỐNG
Nguồn gốc về sự ra đời của trống, hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào ghi lại một cách rõ ràng, nhưng sự tồn tại của nó từ trước
công nguyên cho tới bây giờ, tính ra ít nhất cũng là hơn 6000 năm
Bắt nguồn từ Trung Quốc
Trống thường làm bằng đá, cây, đồng, gỗ bọc da của động vật,…Trống có âm thanh được phát ra nhờ vào việc gõ vào mặt trống, bằng tay hoặc bằng dùi…
Cấu tạo gồm 2 phần:
+ mặt trống
+ khung trống
Trang 5Phân loại trống
Trống chùa cũng có nhiều loại, nhiều
tên và những cách dùng khác nhau tùy
theo nghi thức của các nghi lễ bao
Trang 6Chuông
Trang 7Chiếc chuông được coi là “An Nam tứ đại khí” thời Lý,
Trần?
Đáp án: Chuông Quy Điền.
Trang 8Chùa có Đại Hồng Chung lớn nhất Việt Nam?
Đáp án: Chùa Bái Đính.
Trang 9Con vật thường được tạc ở quai chuông?
Đáp án: Bồ Lao
Trang 10Tại sao trong các công trình kiến trúc tôn giáo lại có
CHUÔNG?
Trang 11Có mấy loại Chuông?
Có 3 loại chuông:
• Đại hồng chung
• Bảo chúng chung
• Gia trì chung
Trang 121 Đại hồng chung
• Cũng có tên là Chuông U minh, nghĩa là
chuông lớn, thường được đánh vào lúc đầu
hôm hay lúc gần sáng
• Đánh chuông này thường đánh 108 tiếng,
tiêu biểu ý nghĩa đoạn trừ 108 phiền não
căn bản
Trang 15• Được dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh bái sám Tiếng Chuông gia trì được xử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hay câu niệm Phật.
• Chuông gia trì cũng thường đánh lên khi lạy Phật một mình Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng
3 Gia trì chung
Trang 16Cách thỉnh chuông
Thông thường có những cách đánh như: 3 tiếng, 7 tiếng, 18 tiếng, 36 tiếng, 108 tiếng.
- Tăng chúng thọ trai, tham thiền xong: Thỉnh 3 tiếng.
- Trụ trì sớm tối lên Chính điện thắp nhang, vào giảng đường: Thỉnh 7 tiếng.
- Tăng chúng vào trai đường Ngọ trai: Thỉnh 18 tiếng.
- Còn đánh 108 tiếng là tổng cộng 3 hồi mỗi hồi 36 tiếng.
Trang 17Kệ thỉnh chuông
Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới
Thiết vi u ám tất giai văn
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông
Nhất thế chúng sanh thành chánh giác
Nghĩa là:
Nguyện tiếng chuông vang rền pháp giới
Chúng sinh ngục sắt thảy đều nghe
Tiếng đời sạch, chứng được viên thông
Tất cả muôn loài đều giác ngộ
Trang 18Tại sao trong các công trình kiến trúc tôn giáo lại có
CHUÔNG?
Đáp án: Thức tỉnh và giác ngộ chúng sinh.
“Khi đánh lên tiếng chuông thì dừng hết những nỗi khổ trong các đường ác, khiến cho chúng sinh một lúc cùng lìa khổ , khiến cho người gặp nạn được giải thoát
Trang 19Ý nghĩa
Giống như Trống và Mõ, Chuông cũng là pháp khí không thể thiếu trong các nghi lễ Phật giáo tại mỗi chùa trước khi cử hành và sau khi kết thúc nghi lễ Chuông trợ giúp người con Phật biểu hiện lòng thành tán tụng, tôn kính đức Phật một cách trang nghiêm.
Kinh phật dạy: “Khi đánh lên tiếng chuông thì dừng hết những nỗi khổ trong các đường ác, khiến cho chúng sinh một lúc cùng lìa khổ, khiến cho người gặp nạn được giải thoát” Tiếng chuông giúp thức tỉnh và giác ngộ chúng sinh.
Trang 203 Bia
NGUỒN GỐC
Bia (hay còn được gọi là văn bia) là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời
sống xã hội như là nét đăc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ
cổ đại và trung cổ
Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu từ Trung
Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật
Bản (những nước sử dụng chữ khối vuông)
Tác giả: + do vua chúa ngự bút
+ do các danh nho viết
+ do các nhà sư viết
Trang 21Cấu tạo của bia
Bên phải là dòng đề hiệu bia
Phần chính văn có hai phần nhỏ: văn trường hàng, viết theo thể tứ lục; một bài minh theo thể
hành, thường gieo độc vận để tóm tắt ý trên, và nêu ý truyền đạo nêu là bia chùa; tán thán đạo
phong của vị Tổ hay vị cao tăng được đề cập.
Phần cuối là vài dòng lạc khoản
CÁCH TRANG TRÍ
Nghệ thuật trang trí bia có phần trán bia chạm hình đầu rồng lớn, với hình lưỡng long trầu nhật.
Diềm bia thường chạm hoa lá, rồng uốn lượn,…
Trang 224 Tượng
VAI TRÒ
Tượng đóng vai trò quan trọng trong các nơi thờ tự
Tượng được xem là biểu tượng hiện thân của 1 đối tượng được
thờ cúng
Trong các cơ sở thờ tự của đạo phật, tượng được coi là hiện
thân của chư phật, bồ tát,… Nhưng đối với đình thì tượng được
xem là tôn thân của vị thánh ( thành hoàng)
Trang 23Cách bố trí tượng tại các ngôi chùa
Cách bố trí tượng tại các ngôi chùa
Ở chính điện
+ Tượng Tam Thế
+ Tượng A-di-đà Tam Tôn
+ Tượng Thích-ca Mâu-ni
+ Tượng Cửu Long, Đế Thích và Phạm Vương
Trang 25Nhà Tăng
gọi là Nhà Tổ thường được xây dựng sau chính
điện nên còn gọi là hậu đường Trên cao của gian
giữa thờ hai tượng Thánh tăng A-nan-đa (có người
nói rằng Văn Thù Bồ tát) và sư tổ Bồ-đề-đạt-ma
(Bohhidharma)
Trang 265 Hương án
VAI TRÒ
Hương án là phải tạo ra một không gian để tôn thờ, là nơi
thực hiện các nghi thức giao lưu tâm linh.
Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và theo một nghĩa
nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ.
có mục đích thuộc phạm trù đạo đức, uống nước, nhớ nguồn,
đền ơn đáp nghĩa
Trang 27• Nhằm tưởng nhớ, ghi ơn của người đã khuất.
• Cầu mong sự phù hộ từ các vị được thờ cúng
Trang 29Ý nghĩa
là để thể hiện quyền uy
Trang 308 Bát bửu
Vai trò của bát bửu
chức năng làm vật dụng trong khi tế lễ, trang trí, thờ tự và bảo
hộ cho nơi được thờ, …
Nguồn gốc
Bát bửu là một trong những mô típ trang trí trong các cơ sở thờ
tự của người Trung Hoa
được truyền vào Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XVII Nhưng
phải đến thời Nguyễn, hình tượng bát bửu mới được thể hiện
nhiều ở các cơ sở thờ tự trong dân gian (đặc biệt là ở các ngôi
đình làng) và ở các kiến trúc cung đình
Trang 31Đặc điểm và phân loại
+ Loại bát bửu trong các ngôi chùa của Phật giáo
+ Bộ bát bửu có ở một số văn miếu của Nho giáo và đạo quán của Đạo giáo
Trang 3510 Mõ
Nguồn gốc và phân loại:
• Theo sách Tam Tài Đồ Hội của Vương Tích đời Minh có đoạn: “Mõ
là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó sẽ
phát ra tiếng, các hàng Phật Tử khi tán tụng đều dùng đến nó”.
• Theo sách Thích Thị Yếu Lãm ghi rằng: Chuông, khánh, bản đá, bản
gỗ, mõ đều có khả năng phát ra âm thanh một khi gõ vào và nhờ
nghe đó mà đại chúng tập họp nên các loại đó đều gọi là Kiền
Chuỳ…
Trang 36Phân loại
• Mõ hình hình bầu dục
• Mõ hình điếu
Trang 3811 Mâm bồng
Nguồn gốc
Mâm bồng là 1 trong những đồ dùng đặc sắc trong văn hóa
thờ cúng đã xuất hiện từ rất lâu đời Bản thân chúng luôn
có dáng vẻ trịnh trọng, dáng cao, uy nghiêm để bày tỏ tình
cảm, thể hiện sự thành kính của người dâng lễ vật cho nên
trong những đồ tế tự của người Việt và người Hán, mâm
bồng, bát tước luôn là đồ dùng trong thờ cúng dùng để đặt
lễ vật
Trang 4012 Kiệu
Nguồn gốc và vai trò của kiệu
Từ thời Mạc trở về trước hầu như chưa thấy bóng dáng của Kiệu thờ, cỗ
kiệu sớm nhất hiện nay có thể tìm được ở chùa Bà Tề, thuộc xã Liên Hiệp (
Quốc Oai – Hà Tây), đó là cỗ kiệu bát cống
Có nhiều loại kiệu khác nhau, ngoài bát cống còn có kiệu long đình, kiệu
võng…
Nhìn chung kiệu là một hiện vật chính trong đám rước của lễ hội, nó vượt
cao hơn hẳn dòng người, như nhằm mục đích đề cao vị thần và để neo mắt
khách hành hương dùng để rước thánh trong các dịp tế lễ, hội hè
Trang 42CẢM ƠN
CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE!
CẢM ƠN
CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE!