Hát ả đào là phường thường được các vị quan thuê biểu diễn trong các buổi lễ của triều đình, lễ thần hoặc hát ở các tư gia của quan lại.+ Ban nhạc và nhà cụ sử dụng trong ca trù + Về bài
Trang 1KHÁI LƯỢC VỀ ÂM NHẠC VIỆT NAM
Trang 3Tiền thân của ca trù là các thể loại “hát đám, hát khao, hát thờ” gọi chung là hát ả đào Hát ả đào là phường thường được các vị quan thuê biểu diễn trong các buổi lễ của triều đình, lễ thần hoặc hát ở các tư gia của quan lại.
+ Ban nhạc và nhà cụ sử dụng trong ca trù
+ Về bài bản ca trù
+ Vai trò của Ca trù trong đời sống âm nhạc Việt Nam
Trang 4Nó lan rộng ra ngoài dân gian
và được bổ sung nhiều điệu
hò, lý
+Vai trò của Ca Huế trong đời sống âm nhạc Việt Nam
Trang 5Giai đoạn mà Ca Huế phát triển rực rỡ là từ đầu thế
kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX, đây là giai đoạn huy hoàng của ca nhạc Huế, ảnh hưởng đến Quan họ, Chèo, đến Ả đào… qua miền Trung ảnh hưởng đến một số điệu lý và vào Nam thành đờn Quảng và nhạc Tài tử.
Trang 6* Tài tử Nam Bộ
+ Nguồn gốcVào đầu thế kỷ XVIII, nhất là khoảng cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, ca nhạc Huế sau khi đã tiếp thu được cả hai luồng âm nhạc cung đình và dân gian mà hình và phát triển độ chính mùi, để có giai đoạn rỡ
mà lưu truyền từ Nam ra Bắc
Đơn ca Tài tử Nam Bộ
Trang 7+ Đặc điểm bài bản:
- Trong giới Tài tử công nhạn hệ thống 20 bản Tổ với 4 hơi – điệu chính: Bắc, Hạ, Nam, Oán là nền tảng trên tổng số bài bản của nhạc mục lên đến hàng trăm bài
- Dàn nhạc tài tử thường có đàn Kìm(Nguyệt) đàn Tranh, Đàn
Cò, đàn Gáo, Đàn Bầu, Ống Tiêu…được chơi theo thẩm mỹ âm nhạc: hòa sắc không hòa thanh
Trang 83.2 ÂM NHẠC SÂN KHẤU TRUYỀN THỐNG
* Chèo
+ Đặc điểm và nguồn gốc của Chèo
Chèo phát triển ở miền Bắc, nảy nở từ thế kỷ XVII-XVIII, được nhân dân yêu thích như Tuồng đồ, Chèo nói tiếng nói của nhân dân lao động, vạch mặt bọn quan lại thối nát, đả kích thói hư tật xấu và tầng lớp ăn bám xã hội
Trang 10• Trên sân khấu Chèo xuất hiện cảnh đánh nhau có đao, kiếm, cưỡi ngựa, đi kiệu Các vai vua, tướng, đoạn đối đáp nghiêm trang giữa Vua chúa và bầy tôi trong những đoạn Chèo gây cười, châm biếm.
• Âm nhạc trong Chèo là âm nhạc dân gian Là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân
ca, dân vũ và các loại hình dân gian khác vùng Bắc Bộ
• + Thành phần nhạc khí phụ họa cho Chèo
• + Vai trò của Chèo trong đời sống âm nhạc Việt Nam
Trang 11• Tuồng
+ Đặc điểm và nguồn gốc của Tuồng
Tuồng được ra đời năm 1285, do Lý Nguyên Cất truyền dạy.
Được sự chăm sóc của nhà Nguyễn, nghệ thuật Tuồng đã phát triển rực rỡ và bước vào giai đoạn cực thịnh ở thế kỷ XIX.
Tuồng mang âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa.
Trang 12+ Âm nhạc và thành phần khí họa cho tuồng
Nhạc trong Tuồng gồm 2 thành phần chủ đạo: Khí nhạc và thanh nhạc
Dàn nhạc Tuồng phong phú về các loại trống, có thể nhạc khí
gõ chiếm ưu thế trong nhạc dàn nhạc Tuồng
+ Vai trò của Tuồng trong đời sống âm nhạc Việt Nam
Có thể nói, nhu cầu thưởng thức Tuồng diễn ra khắp mọi nơi
Từ cung đình, dinh phủ đến miếu… đâu đâu cũng có diễn Tuồng, nhất là những dịp lễ, tết
Trang 14+ Về bài bản
- Nhạc lễ gồm 7 bài lớn và 3 bài Nam
- Một số bài tiếp thu từ từ ca Huế, Quảng
- Rút từ loại hình ca nhạc dân gian địa phương như Lý, hò, nói thơ
+ Sự phân hóa của nghệ thuật cải lương
- Cải lương tuồng Tàu (Trung Quốc)
- Cải lương Quảng (Quảng Đông – Trung Quốc)
- Cải lương xã hội (Rút từ tịch truyện Việt Nam
- Cải lương tuồng Tây (phản ánh văn hóa Âu Tây)
- Cải lương kiếm hiệp (mượng cốt truyện Ấn Độ, La Mã
- Cải lương lan rộng ra Bắc vào những năm 20
Trang 15+ Đóng góp và ý nghĩa của sự ra đời và phát triển sân khấu cải
lương ở thế kỷ XX
- Về mặt âm nhạc
Đưa lên sân khấu nhiều bài bản của âm nhạc thính phòng và
cung đình cổ truyền dân tộc, cũng như nhiều làn điệu dân ca miền Trung, nhất là của Nam Bộ
Trang 162.KHÁI QUÁT NỀN TÂN NHẠC VIỆT NAM
2.1 Âm nhạc Việt Nam từ khi thực dân Pháp sang xâm lược đến cách mạng tháng 8 – 1945
- Âm nhạc Việt Nam giai đoạn giữa TK XIX đến đầu TK XX
- Âm nhạc Việt Nam giai đoạn đầu TK XX đến CM tháng 8/1945
Trang 17• Một số nhạc sĩ tiêu biểu thời tân nhạc
+ Nguyễn Xuân Khoát
Ông là một nhạc sĩ và là
Chủ tịch đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam
+ Hoàng Quý
Ông là một nhạc sĩ tiền chiến nổi tiếng,
là một trong những gương mặt tiên phong
của tân nhạc Việt Nam.
+ Văn Cao
Ông là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng,
và là tác giả của Tiến quân ca, quốc ca Việt Nam
Trang 18• 2.2.Âm nhạc Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp
Trang 19+ Nhạc sĩ Đỗ Nhuận
Ông là tổng thư ký đầu tiên của
Hội nhạc sĩ Việt Nam Khoa I
và II từ 1958 đến 1983
+ Nhạc sĩ Hoàng Vân
Ông nổi tiếng với hàng loạt ca khúc như
“Bài ca xây dựng”, “Hò kéo phép”,
Người sĩ ấy”, “Quảng Bình quê ta ơi” v.v…
Một số nhạc sĩ tiêu biểu
Trang 20• 2.3 Âm nhạc Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Mỹ
Các loại hình âm nhạc sân khấu như: Nhạc kịch, vũ kịch, và âm nhạc cho vỡ diển, điện ảnh ra đời Đánh dấu sự phát triển chưa từng thấy của âm nhạc cách mạng Việt Nam
Trang 21• Một số nhạc sĩ tiêu biểu
- Nhạc sĩ Huy Du
Ông đã từng là Tổng thư ký
Hội nhạc sĩ Việt Nam khóa III,
đại biểu quốc hội khóa VII,
và Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa
-Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn
là một nghệ sĩ ưu tú,nhạc sĩ và họa sĩ của Việt Nam
Trang 222.4 ÂM NHẠC VIỆT NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY
Chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi, cách mạng Việt Nam toàn thắng, th lực phản động bị đập tan, dòng nhạc phản cách mạng cũng chung số phận
Sự nghiệp xây dựng và phát triển âm nhạc dân tộc gồm nhạc cổ truyền và nhạc mới tiếp tục vươn lên đạt những thành tựu mới Những tinh hoa âm nhạc cổ truyền dân tộc được giới thiệu với đồng bào trong nước và nhân dân thế giới