1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong Hát phường vải Nghệ Tĩnh

27 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 322,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 Bảng 2.1: Phân loại lời hát phường vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát Bảng 2.2: Quan hệ tương tác vai giao tiếp qua các cặp từ xưng hô đầy đủ Bảng 2.3: Tổng hợp các cặp từ xưng h

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ MAI HOA

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI TÍNH TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI NGHỆ TĨNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

VINH – 2010

LỜI CAM ĐOAN

Trang 2

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các công trình nghiên cứu khác có liên quan và được trích dẫn trong Luận án có chú thích rõ ràng ở phần tài liệu tham khảo Mọi tư liệu, kiến giải, kết luận là của bản thân, không sao chép

từ bất kì một tài liệu nào Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Vinh, ngày 20 tháng 06 năm 2010

Người viết

Nguyễn Thị Mai Hoa

MỤC LỤC

trang Lời cam đoan

Mục lục

2

3

Trang 3

2.1 Vai giao tiếp trong hát phường vải

2.2 Giới tính thể hiện qua hệ thống từ xưng hô trong hát phường vải

2.3 Tiểu kết

Chương 3: NGÔN NGỮ GIỚI TÍNH THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ HÀNH

ĐỘNG NÓI TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI

3.1 Dẫn nhập

3.2 Hành động nói trong một số bước hát của cuộc hát phường vải lề lối

3.3 Tiểu kết

Chương 4: GIỚI TÍNH VAI GIAO TIẾP THỂ HIỆN QUA CÁCH SỬ DỤNG

NGÔN TỪ TRONG HÁT PHƯỜNG VẢI

4.1 Cách dùng một số lớp từ đặc trưng về giới

4.2 Cách dùng hệ thống biểu tượng nói về giới

4.3 Cách dùng hệ thống từ ngữ chỉ thời gian, không gian

4.4 Cách dùng nghệ thuật chơi chữ và dẫn ngữ

4.5 Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC NHỮNG BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Bảng 1.1: Tổng quát năm lớp hành động nói của Searle 1979 (theo Yule 1996)

Bảng 1.2: Các đặc trƣng của loại hình văn hoá gốc nông nghiệp (Theo Trần Ngọc Thêm 1977)

27

36

Trang 5

5

Bảng 2.1: Phân loại lời hát phường vải theo vai giao tiếp qua các chặng hát

Bảng 2.2: Quan hệ tương tác vai giao tiếp qua các cặp từ xưng hô đầy đủ

Bảng 2.3: Tổng hợp các cặp từ xưng hô trống từ chỉ ngôi

Bảng 3.1: Hành động nói trong hát phường vải xét theo giới tính vai giao tiếp

Bảng 4.1: Tổng hợp số liệu lớp từ ngữ về giới trong hát phường vải

Bảng 4.2: Tổng hợp lớp từ có ý nghĩa định danh nói về giới trong hát phường vải

Bảng 4.3: Tổng hợp lớp từ chỉ quan hệ thân tộc nói về giới

Bảng 4.4: Tổng hợp lớp từ chỉ ngoại hình nói về giới

Bảng 4.5: Tổng hợp lớp từ chỉ tài năng, phẩm chất, phong thái theo giới tính

Bảng 4.6: So sánh lớp từ chỉ công việc gắn với giới tính

Bảng 4.7: Tổng hợp hệ thống biểu tượng theo vai giao tiếp trong hát phường vải

Bảng 4.8: Tổng hợp từ ngữ biểu thị thời gian trong hát phường vải

Bảng 4.9: Tổng hợp từ ngữ biểu thị không gian trong hát phường vải

Bảng 4.10: Tổng hợp các phương tiện, biện pháp tu từ trong hát phường vải

Bảng 4.11: Tổng hợp các biện pháp chơi chữ trong hát phường vải

Trang 6

thần một thời của người xứ Nghệ, phản ánh sâu sắc văn hoá đặc trưng xứ Nghệ Xuất phát từ hoàn cảnh giao tiếp này, các vai giao tiếp trong HPV có thể quy về hai giới: vai nam và vai nữ Theo đó, đặc trưng ngôn ngữ giới tính cũng thường chi phối trực tiếp tới nội dung và hình thức biểu hiện lời ca của các vai giao tiếp Mặt khác, ở một mức độ nhất định, ngôn ngữ giới tính trong HPV cũng chịu ảnh hưởng của đặc trưng văn hoá xứ Nghệ

1.2 Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ca dao dân ca (CDDC) nói chung, HPV nói riêng, các nhà nghiên cứu thường tập trung quan tâm khai thác ở góc độ văn học Hướng nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ học là một hướng nghiên cứu ít được chú ý tới

Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học xã hội

và lí thuyết dụng học vào việc khai thác giá trị của thơ ca dân gian Nhờ đó, các giá trị ngôn ngữ của thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, của HPV Nghệ Tĩnh đã được soi xét trên một số bình diện từ nhiều góc độ khác nhau Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu đã có vẫn chưa đặt ra vấn đề tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ giới tính trong các loại hình văn học nghệ thuật nói chung cũng như trong HPV nói riêng; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính vẫn là một lĩnh vực mới mẻ và số công trình nghiên cứu còn khiêm tốn Chưa

có công trình nào bàn chuyên về đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong HPV Nghệ Tĩnh

Vì vậy, đây vẫn còn là một hướng đi khá mới mẻ, hấp dẫn

1.3 Với những kết quả đã đạt được, lí thuyết ngôn ngữ học xã hội và lí thuyết dụng học đang ngày càng khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, giữa ngôn ngữ giới tính và văn hoá Như vậy, việc nghiên cứu, xác định yếu tố giới tính trong ngôn ngữ đối đáp nam nữ của HPV cũng sẽ góp phần tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ, văn hoá và con người xứ Nghệ Và công việc này càng có ý nghĩa hơn khi đây vẫn là một mảng đề tài chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu

Chính ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu yếu tố giới tính trong HPV và tính

mới mẻ, hấp dẫn của vấn đề này là cơ sở để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: "Đặc

điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải Nghệ Tĩnh"

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Về vấn đề quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ

Trang 7

7

Quan hệ giữa giới tính và ngôn ngữ đã và đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực chuyên môn trong xã hội Nó không còn là lĩnh vực riêng của các nhà ngôn ngữ học và những nhà chuyên môn về ngôn ngữ mà còn được nhìn rộng ra theo cách tiếp cận ngôn ngữ - xã hội liên quan đến hàng loạt vấn đề khác như sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội của mỗi giới Tính xã hội của vấn đề còn thể hiện ở sự đông đảo, đa dạng của giới chuyên môn đã và đang quan tâm nghiên cứu yếu

tố giới tính trong ngôn ngữ như: các nhà ngôn ngữ học, các phóng viên, công chức, biên tập viên, các nhà quản lí, các nhà giáo dục học, tâm lí học, sử học, xã hội học, luật sư Theo đó, phương pháp nghiên cứu và trọng tâm phân tích cũng khác nhau Những người nghiên cứu không chuyên về ngôn ngữ có thiên hướng tập trung vào một số hiện tượng như sự định kiến về giống, sự thiếu cân đối trong việc sử dụng từng cặp, lối diễn

tả nam giới và nữ giới, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, hoặc tập trung vào kết cấu của những diễn ngôn mang tính kì thị giới Ngược lại, các nhà ngôn ngữ học lại sử dụng các phương pháp tiếp cận chuyên ngành (phương pháp ngôn ngữ học so sánh, phương pháp ngôn ngữ học lịch sử, phương pháp phân tích diễn ngôn ) để khảo sát, nghiên cứu những biểu hiện giới tính trong ngôn ngữ thể hiện trên một số phương diện:

âm vị, từ vựng, ngữ pháp, phong cách ngôn ngữ [55, tr 27, 28] Để có căn cứ lí luận cho việc triển khai các nội dung của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu về vấn đề quan hệ gữa giới tính và ngôn ngữ trong lĩnh vực ngôn ngữ

học

Những phát hiện về sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam và nữ đã có từ lâu, nhưng phải đến đầu thế kỉ XX, ấn tượng về sự khác biệt này mới thực sự hình thành rõ nét nhờ môt số công trình nghiên cứu chuyên sâu Đó là sự khác nhau xét về mặt âm vị, cách dùng từ, phát âm mới được phát hiện qua kết quả quan sát, khảo cứu của E.d.Sapir đối với hiện tượng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và

nữ trong tiếng Yana Inndian; của O.Jesperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và nữ khi giao tiếp bằng tiếng Anh; của Yuan RenZhao, Chen Songling khi nghiên cứu về tiếng Trung Quốc Sự khác nhau xét về mặt ngữ pháp phải kể đến các nghiên cứu của Mary Haas (tiếng Koasati - Mĩ), Ralph Fasold (tiếng Kurux - Ấn

Trang 8

Độ)… Theo từng mức độ nhất định, các nghiên cứu đều khẳng định những biểu hiện khác biệt rõ rệt trong ngôn ngữ của giới nam và giới nữ trên các bình diện: từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn tập trung khảo sát và chỉ ra sự phân biệt đối xử về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ như: sự định kiến về giống, tính

vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, kết cấu của những diễn ngôn mang tính phân biệt

đối xử về giới tính, sự phân biệt đối xử về giới tính trong xã hội theo quan niệm “nam tôn nữ ti” Có thể kể đến công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học như: Allen

Nilsen, B Thorne, C.Kramarac và N Henley (Dẫn theo [93, tr 146-155])

Một khía cạnh khác cũng được quan tâm là vấn đề phong cách ngôn ngữ mang yếu tố giới tính Người có công đóng góp đáng kể trong nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nữ giới là nhà ngôn ngữ học Mĩ Robin Lakoff Từ những khảo sát về cách sử dụng tiếng Anh của phụ nữ trung lưu trong môi trường bà sống, Lakoff (1975) đã đưa ra giả thuyết về ngôn từ của phụ nữ trung lưu: về âm, có khuynh hướng lên giọng ở cuối câu khẳng định và thường sử dụng những biến thể ngữ âm uy tín; về từ vựng, nữ dùng những từ làm nhẹ ý/hoặc nhấn mạnh nhiều; về cú pháp, thường dùng những câu hỏi kèm theo câu khẳng định và những câu cực kì lịch sự Theo Lakoff, phong cách ngôn

từ mà phái nữ có khuynh hướng sử dụng để duy trì bản sắc nữ giới đã tạo cho người nghe một cái nhìn không hay về khả năng của người nói và làm cho phái nữ bị thiệt thòi trong giao tiếp xã hội (dẫn theo [89, tr.14, 15]) Những giả thuyết của bà đã đưa đến nhiều cuộc tranh luận sôi nổi và nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong hơn hai thập

kỉ theo tinh thần hoặc tiếp thu, phát triển, hoặc chỉ ra những điểm cần phải tiếp tục bàn luận để có cái nhìn toàn diện và sâu sát hơn Ngoài ra phải kể đến một số kết quả nghiên cứu của W.Labov (1970), P Trudghill (1972) với những kết luận quan trọng về phong cách ngôn ngữ giới tính: "Ở phong cách thận trọng phụ nữ ít dùng biến thể phi chuẩn hơn nam, và mẫn cảm với mô hình uy tín hơn nam" [100, tr.187]; "Mô hình khác biệt theo giới tính khác với chuẩn mực thông thường cho thấy một sự biến đổi ngôn ngữ đang xảy ra: nữ trung lưu đi tiên phong trong việc dùng các dạng thức chuẩn mực còn nam công nhân đi tiên phong trong việc dùng các dạng thức quy chuẩn" [162, tr 207]

Trang 9

9

Ở Việt Nam, thời gian gần đây, lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ giới tính đã bắt đầu

được các nhà ngôn ngữ học quan tâm Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn

đề cơ bản (1999), từ những khác biệt trong ngôn ngữ giới tính xét trên hai mặt: tiền đề

lí thuyết và kết quả khảo sát thực tế, tác giả Nguyễn Văn Khang đề cập tới vấn đề ngôn ngữ và giới tính trên cơ sở xem xét và phân tích các vấn đề cụ thể: sự phân biệt đối xử

về giới tính thể hiện trong ngôn ngữ; phong cách ngôn ngữ của mỗi giới, v.v… và đưa

ra một số kết luận: Cùng một vấn đề nhưng cách diễn đạt của nam giới thường "mạnh mẽ”,“khẳng định/phủ định một cách dứt khoát”, nữ giới thường chọn cách diễn đạt

"dài" và "uyển chuyển hơn”; nam giới "thích dùng các câu khẳng định, yêu cầu, ra lệnh" một cách “thẳng thắn”, “công khai” và do đó “mệnh lệnh của nam giới thường chứa đựng cả quyền lực bắt phải phục tùng” thì nữ giới lại "ưa dùng những câu phối hợp xin - yêu cầu - ra lệnh”, thể hiện yêu cầu một cách “lịch sự”, “kín đáo”, “bỏ ngỏ

sự khẳng định”… chính vì vậy, "cách diễn đạt của nữ giới lại gây ấn tượng mạnh và trong nhiều trường hợp đạt hiệu quả cao hơn nam giới” Đồng thời khẳng định rằng

"yếu tố giới tính là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ” từ hai chiều: chiều tác

động của giới tính đến sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp và chiều thông qua giao

tiếp yếu tố giới tính được bộc lộ [93, tr 144-168] Trước đó, trong bài "Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ” (1996), tác giả đã xem xét yếu tố giới tính thông qua

ứng xử giao tiếp trên cơ sở hai góc độ: ngôn ngữ nói về mỗi giới và ngôn ngữ của mỗi giới Khi đề cập tới ngôn ngữ nói về mỗi giới, tác giả chỉ đưa ra một nhận xét duy nhất

là những từ nhất định chỉ dùng cho giới này hoặc giới kia mà thôi [92, tr 176-186]

Từ góc độ nghiên cứu hiện tượng phân biệt giới tính của người sử dụng ngôn ngữ trong tiếng Nhật, tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) đã đưa ra 5 tiêu chí phân biệt ngôn ngữ của nam giới và nữ giới dựa trên đặc điểm quan trọng là ngôn ngữ nữ giới Nhật có tính mềm mại và tính chuẩn mực, cụ thể là: (1) Sự khác biệt trong sử dụng từ

để gọi giữa nam giới và nữ giới mà đặc quyền sử dụng thuộc về giới nam, nếu nữ giới dùng sẽ bị đánh giá là xấc xược; (2) Sự "mềm mại" trong ngôn ngữ nữ giới được thể hiện trong việc sử dụng vốn từ vựng tiếng Nhật, cụ thể là nữ giới hay dùng từ thuần Nhật dễ hiểu, còn nam giới lại thường dùng từ Hán - Nhật có tính trang trọng; (3) Việc

Trang 10

sử dụng thán từ ở cuối câu cũng có sự phân biệt về giới tính thể hiện qua hiện tượng nam giới thường thêm vào cuối câu những từ cảm thán, tình thái từ tạo nên cảm giác mạnh mẽ, dứt khoát; (4) Nữ giới tuân thủ các quy định về sử dụng kính ngữ chặt chẽ hơn nam giới; (5) Cách phát âm của nữ giới Nhật được người Nhật coi là chuẩn hơn nam giới Hay nói cách khác, nữ giới phát âm rõ ràng, không nuốt âm, biến âm trong lời nói (Dẫn theo [149, tr 57-59])

Trong một công trình nghiên cứu yếu tố giới tính trong cách xưng gọi của trẻ em trước tuổi đến trường ở Hà Nội, Hà Tây, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đi đến kết luận: trẻ em nữ dùng nhiều biến thể chuẩn hơn trẻ em nam, trẻ em xưng và gọi không

"nhầm giới" Còn các tác giả Vũ Thị Thanh Hương (1999), Vũ Tiến Dũng (2002) lại quan tâm nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ giới tính trên cơ sở chỉ ra ngôn ngữ đặc trưng của từng giới cũng như mối quan hệ giữa giới tính và lịch sự, và cùng chung nhận định: mối quan hệ giữa giới tính và ứng xử lịch sự không đơn giản mà là tương liên phức tạp với các tham số xã hội tình huống khác, trong đó không chỉ có giới, mà cả tuổi tác, nghề nghiệp của người nói, mối tương liên về quyền và khoảng cách xã hội giữa người

nói và người nghe; từ đó rút ra kết luận: xu hướng chung là nữ lịch sự hơn nam; và nữ giới thường nhấn mạnh đến quan hệ quyền lực hơn nam giới, ngược lại, nam giới thường nhấn mạnh đến quan hệ thân hữu nhiều hơn [44, tr 172; 85, tr 17-30]

Từ phương diện nghiên cứu sự kì thị giới tính trong ngôn ngữ qua cứ liệu tiếng

Anh và tiếng Việt, Trần Xuân Điệp (2005) lại tập trung phân tích khía cạnh phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính trong ngôn ngữ Đối với nữ giới, sự kì thị giới tính được xem xét qua các vấn đề: phạm trù giống trong ngữ pháp và quan hệ của nó với phạm trù giới (về mặt sinh học); thói quen đánh dấu về giống, đặc biệt là đối với danh từ tác nhân chỉ người; sự thiếu cân đối về mặt ngữ nghĩa giữa các từ chỉ nam giới và các từ chỉ nữ giới; sự kì thị giới tính trong các tập quán gọi tên/xưng hô và sự rập khuôn về giới tính trong ngôn ngữ Đối với nam giới, sự kì thị giới tính được đề cập tới thông qua việc phân tích 3 hình thức thể hiện: những cách sử dụng thể hiện tính loại trừ giống, những cách sử dụng thể hiện tính hạn chế giống, sự rập khuôn tiêu cực về nam giới [55, tr 57-162]

Trang 11

data error !!! can't not

read

Trang 12

data error !!! can't not

read

Trang 13

data error !!! can't not

read

Trang 14

data error !!! can't not

read

Trang 15

data error !!! can't not

read

Trang 17

data error !!! can't not

read

Trang 18

data error !!! can't not

read

Trang 19

data error !!! can't not

read

Trang 20

data error !!! can't not

read

Trang 21

data error !!! can't not

read

Trang 22

data error !!! can't not

read

data error !!! can't not

read

Trang 23

data error !!! can't not

read

data error !!! can't not

read

Trang 24

data error !!! can't not

read

data error !!! can't not

read

Ngày đăng: 15/04/2017, 21:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w