1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam

178 701 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Việt Nam đã từng trải qua thời kỳ lạm phát phi mã của giai đoạn 1989 - 1991 (lạm phát trung bình hàng năm ở mức 57%), song Việt Nam cũng đã vượt qua giai đoạn này bằng các giải pháp tiền tệ phù hợp, và lạm phát đã hạ nhiệt kể từ năm 1995 xuống mức 12,9%. Đây được xem là một thành tựu nhất định của Việt Nam. Tuy nhiên đánh giá khách quan, những chính sách chống lạm phát trong giai đoạn này phát huy hiệu lực tức thời là do nền kinh tế lúc đó còn nhỏ, độ mở kinh tế thấp. Trong giai đoạn 2005 đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhờ vậy mà kinh tế đất nước đã có những thay đổi lớn cả về vị thế và tiềm lực, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng GDP (bình quân hàng năm hơn 6% trong giai đoạn 2005 - 2015). Cũng như các nền kinh tế mới nổi, các chính sách kinh tế của Chính phủ trong thời gian qua chủ yếu tập trung, hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - hay nói cách khác tăng trưởng kinh tế đã được chú trọng hơn trong việc giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng và lạm phát. Nên ngay khi lạm phát quay trở lại vào năm 2005 đã diễn biến phức tạp hơn, nhiều thời điểm đã vượt mục tiêu điều hành và đã đạt ở mức 2 con số. Lạm phát trong giai đoạn này đã chịu tác động rất lớn từ các yếu tố bên ngoài do quá trình hội nhập quốc tế và đặc biệt là lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng lớn đến lạm phát thực tế. Việc quản lý ổn định giá cả đã thật sự phải đối mặt với nhiều khó khăn và lạm phát đã trở thành một hiện tượng kinh tế đầy quan ngại. Theo kinh nghiệm điều hành của một số nước thì trong bối cảnh áp lực lạm phát ngày càng gia tăng, các nước thường hướng tới mục tiêu hàng đầu và duy nhất trong công tác điều hành chính sách tiền tệ đó là duy trì lạm phát thấp và ổn định. Và khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thường được chú ý nhất lúc này chính là khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu (LPMT). Chính sách LPMT là một cơ chế chính sách tiền tệ (CSTT) đã được Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhiều nước trên thế giới áp dụng, bao gồm cả các quốc gia phát triển như Anh, Úc, Nhật Bản… cũng như các nước đang phát triển như Brazin, Thái Lan, Indonexia… Sự áp dụng thành công chính sách lạm phát mục tiêu của các quốc gia trong việc duy trì một tỷ lệ lạm phát ổn định khiến cho Ngân hàng Trung ương nhiều nước cũng cân nhắc việc sử dụng chính sách này. Tuy nhiên, liệu đây có phải là một khung chính sách có thể áp dụng với mọi quốc gia và là một lựa chọn thích hợp cho Việt Nam? Một trong những điều kiên quyết, trong trường hợp Việt Nam thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu là phải có cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, vì chỉ có linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái thì chính sách tiền tệ mới được đảm bảo tính độc lập, từ đó mới có thể thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu. Tuy nhiên, tỷ giá cũng là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, đang hòa nhập vào kinh tế thế giới như Việt Nam. Có thể nói, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là yếu tố rất nhạy cảm, có ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội; nhất là trong bối cảnh mở cửa hội nhập của Việt Nam, tỷ giá hối đoái càng có vai trò quan trọng, là một “cầu nối” hoạt động kinh tế trong và ngoài nước. Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế vĩ mô, tỷ giá hối đoái có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, và lên giá cả hàng hóa. Vì vậy việc linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái để thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu không phải là một việc dễ dàng. Bởi đối với một nền kinh tế đang phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng như Việt Nam thì những cú sốc từ bên ngoài và/hoặc sự phát triển chưa toàn diện của thị trường tài chính nói chung và thị trường ngoại hối nói riêng có khả năng tạo ra sự biến động mạnh của tỷ giá, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến các biến số kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả lạm phát và mục tiêu lạm phát. Thực tế này đòi hỏi điều hành chính sách tỷ giá cần thận trọng và hợp lý, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam sẽ thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu. Vấn đề trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục có nhiều nghiên cứu khoa học có giá trị ứng dụng cao về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu. Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ. 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là lựa chọn được cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp để thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án đã: - Hệ thống hóa các mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu. - Phân tích thực trạng tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát và khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam. - Rút ra những kết luận về việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu và đề xuất lộ trình cũng như các giải pháp cần thiết để thực thi.

Trang 1

KHOA SAU ĐẠI HỌC -o0o -

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

LỰA CHỌN CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT

MỤC TIÊU Ở VIỆT NAM

Hà Nội - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Bối cảnh nghiên cứu 5

1.1.1 Lạm phát mục tiêu và ổn định kinh tế vĩ mô 5

1.1.2 Lạm phát mục tiêu và kinh tế Việt Nam 6

1.2 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về chính sách lạm phát mục tiêu 7

1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về chính sách lạm phát mục tiêu 7

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về chính sách lạm phát mục tiêu 9

1.3 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về cơ chế tỷ giá hối đoái 11

1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái 11

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái 14

1.4 Mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 17

1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 17

1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 19

1.5 Khoảng trống trong các nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và đóng góp của luận án 23

1.5.1 Khoảng trống trong các nghiên cứu 23

1.5.2 Phương pháp tiếp cận của luận án 25

1.5.3 Kết quả nghiên cứu dự kiến, đóng góp và điểm mới của luận án 26

1.5.4 Bố cục trình bày luận án 27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 30

2.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu 30

Trang 3

2.1.1 Lạm phát và chính sách lạm phát mục tiêu 30

2.1.2 Đặc trưng của chính sách lạm phát mục tiêu 32

2.1.3 Lợi ích của chính sách lạm phát mục tiêu 33

2.1.4 Thách thức đối với chính sách lạm phát mục tiêu 37

2.1.5 Các vấn đề kỹ thuật trong quá trình thực thi chính sách lạm phát mục tiêu 39

2.1.6 Điều kiện để áp dụng lạm phát mục tiêu 43

2.2 Một số vấn đề lý luận về cơ chế tỷ giá hối đoái 46

2.2.1 Tỷ giá hối đoái và cơ chế tỷ giá hối đoái 46

2.2.2 Phân loại cơ chế tỷ giá hối đoái 47

2.2.3 Một số tiêu chí cơ bản để lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái 51

2.2.4 Điều kiện để linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái 52

2.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chính sách lạm phát mục tiêu 56

2.3.1 Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và chính sách lạm phát mục tiêu 56

2.3.2 Mô hình kinh tế lượng đánh giá tác động của tỷ giá hối đoái sang lạm phát và khả năng thực thi lạm phát mục tiêu 63

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ KHẢ NĂNG THỰC THI CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 70

3.1 Thực trạng chính sách tiền tệ trong giai đoạn 2005 - 2015 tại Việt Nam 70 3.1.1 Cơ sở pháp lý của chính sách tiền tệ 70

3.1.2 Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 71

3.2 Khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam 75

3.2.1 Về hạ tầng kỹ thuật 75

3.2.2 Về thể chế độc lập của Ngân hàng Nhà nước 78

3.2.3 Về hệ thống tài chính 80

3.2.4 Về cơ cấu kinh tế 85

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LỰA CHỌN CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC THI CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 94

4.1 Thực trạng tỷ giá hối đoái giai đoạn 2005-2015 tại Việt Nam 94

Trang 4

4.1.1 Cơ sở pháp lý về cơ chế tỷ giá hối đoái 94

4.1.2 Thực trạng diễn biến tỷ giá hối đoái 96

4.1.3 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của cơ chế tỷ giá hối đoái 100

4.2.1 Dựa trên cơ sở Lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” 103

4.2.2 Dựa trên cơ sở mô hình đánh giá hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát 113

CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI NHẰM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU TẠI VIỆT NAM 127

5.1 Cơ chế điều hành chính sách lạm phát mục tiêu và lộ trình thực hiện 128 5.1.1 Thể chế của Ngân hàng Nhà nước 128

5.1.2 Xác định mục tiêu chính sách lạm phát mục tiêu và công cụ truyền dẫn 130

5.1.3 Xác định chỉ số và khung lạm phát mục tiêu 131

5.1.4 Lộ trình thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu 134

5.2 Giải pháp linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện lạm phát mục tiêu ở Việt Nam 136

5.2.1 Xây dựng tỷ giá trung tâm và điều chỉnh biên độ tỷ giá phù hợp 136

5.2.2 Sử dụng hiệu quả dự trữ ngoại hối để can thiệp ổn định thị trường ngoại hối 137

5.2.3 Phát triển thị trường ngoại hối 142

5.2.4 Quản lý và giám sát rủi ro tỷ giá 144

KẾT LUẬN 149

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ vii

1 Hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát ở Việt Nam - Tạp chí khoa học thương mại - Trường Đại học Thương mại (số 91/2016) vii

2 Khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu ở Việt Nam và kiến nghị áp dụng - Tạp chí Công thương (số 2/2016) vii

TÀI LIỆU THAM KHẢO viii

PHỤ LỤC 1

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BQLNH Tỷ giá bình quân liên ngân hàng

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

CSTT Chính sách tiền tệ

DSGE Mô hình cân bằng động học ngẫu nhiên tổng quátDTBB Dự trữ bắt buộc

GDP Tổng sản lượng quốc dân

IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế

LPMT Lạm phát mục tiêu

NHTW Ngân hàng Trung ương

NHNN Ngân hàng Nhà nước

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

OLS Hồi quy phương trình đơn dạng chuẩn

REER Tỷ giá hiệu lực thực

TCTD Tổ chức tín dụng

TCTK Tổng Cục Thống kê

TGHĐ Tỷ giá hối đoái

TTNH Thị trường ngoại hối

TTNTLNH Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

VAR Mô hình tự hồi quy theo vectơ

VECM Mô hình hiệu chỉnh sai số vectơ

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Một số nguyên tắc lựa chọn cơ chế TGHĐ 51

Bảng 3.1: Các biến số dùng trong các mô hình VAR 77

Bảng 3.2: Cấu trúc mô hình VECM tháng/quý 78

Bảng 3.3: Giá trị và tốc độ tăng xuất nhập khẩu giai đoạn 2005-2015 87

Bảng 3.4: Độ mở ngoại thương giai đoạn 2005-2015 (%) 87

Bảng 4.1: GDP phân theo khu vực 115

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị 118

Bảng 4.3: Kết quả độ trễ của mô hình 118

Bảng 4.4 : Hệ số hiệu ứng dẫn truyền tỷ giá sang lạm phát 120

Bảng 4.5: Kết quả phương sai của CPI 121

Hình 2.1: Các điều kiện ban đầu áp dụng chính sách LPMT 45

Hình 2.2: Quan hệ IS-LM-BP dưới cơ chế tỷ giá cố định 59

Hình 2.3: Quan hệ IS-LM-BP dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt 61

Hình 2.4: Lý thuyết Bộ ba bất khả thi 62

Hình 2.5: Tỷ giá ảnh hưởng đến lạm phát qua kênh trực tiếp 64

Hình 3.1: CPI mục tiêu và CPI thực tế giai đoạn 2005-2015 73

Hình 3.2: Phân loại thị trường tài chính 80

Hình 3.3: Diễn biến GDP giai đoạn 2005-2015 86

Hình 3.4: Diễn biến CPI giai đoạn 2005-2015 88

Hình 3.5: Diễn biến Đô la hóa giai đoạn 2005-2015 89

Hình 4.1: Mức độ tự do hóa giao dịch vốn 103

Hình 4.2: Diễn biến dòng vốn giai đoạn 2005-2015 110

Hình 4.3: Phản ứng cú sốc của tỷ giá đến lạm phát 119

Hình 5.1: Mô hình NHNN độc lập với Chính phủ trong thực thi CSTT 129

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1: Các điều kiện ban đầu áp dụng chính sách LPMT 45

Trang 7

Hình 2.2: Quan hệ IS-LM-BP dưới cơ chế tỷ giá cố định 59

Hình 2.3: Quan hệ IS-LM-BP dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt 61

Hình 2.4: Lý thuyết Bộ ba bất khả thi 62

Hình 2.5: Tỷ giá ảnh hưởng đến lạm phát qua kênh trực tiếp 64

Hình 3.1: CPI mục tiêu và CPI thực tế giai đoạn 2005-2015 73

Hình 3.2: Phân loại thị trường tài chính 80

Hình 3.3: Diễn biến GDP giai đoạn 2005-2015 86

Hình 3.4: Diễn biến CPI giai đoạn 2005-2015 88

Hình 3.5: Diễn biến Đô la hóa giai đoạn 2005-2015 89

Hình 4.1: Mức độ tự do hóa giao dịch vốn 103

Hình 4.2: Diễn biến dòng vốn giai đoạn 2005-2015 110

Hình 4.3: Phản ứng cú sốc của tỷ giá đến lạm phát 119

Hình 5.1: Mô hình NHNN độc lập với Chính phủ trong thực thi CSTT 129

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Việt Nam đã từng trải qua thời kỳ lạm phát phi mã của giai đoạn 1989 - 1991(lạm phát trung bình hàng năm ở mức 57%), song Việt Nam cũng đã vượt qua giaiđoạn này bằng các giải pháp tiền tệ phù hợp, và lạm phát đã hạ nhiệt kể từ năm

1995 xuống mức 12,9% Đây được xem là một thành tựu nhất định của Việt Nam.Tuy nhiên đánh giá khách quan, những chính sách chống lạm phát trong giai đoạnnày phát huy hiệu lực tức thời là do nền kinh tế lúc đó còn nhỏ, độ mở kinh tế thấp

Trong giai đoạn 2005 đến nay, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào nền kinh

tế thế giới Nhờ vậy mà kinh tế đất nước đã có những thay đổi lớn cả về vị thế vàtiềm lực, đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng GDP (bìnhquân hàng năm hơn 6% trong giai đoạn 2005 - 2015) Cũng như các nền kinh tế mớinổi, các chính sách kinh tế của Chính phủ trong thời gian qua chủ yếu tập trung, hỗtrợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - hay nói cách khác tăng trưởng kinh tế đã đượcchú trọng hơn trong việc giải quyết mối quan hệ tương hỗ giữa tăng trưởng và lạmphát Nên ngay khi lạm phát quay trở lại vào năm 2005 đã diễn biến phức tạp hơn,nhiều thời điểm đã vượt mục tiêu điều hành và đã đạt ở mức 2 con số Lạm pháttrong giai đoạn này đã chịu tác động rất lớn từ các yếu tố bên ngoài do quá trình hộinhập quốc tế và đặc biệt là lạm phát kỳ vọng có ảnh hưởng lớn đến lạm phát thực

tế Việc quản lý ổn định giá cả đã thật sự phải đối mặt với nhiều khó khăn và lạmphát đã trở thành một hiện tượng kinh tế đầy quan ngại

Theo kinh nghiệm điều hành của một số nước thì trong bối cảnh áp lực lạmphát ngày càng gia tăng, các nước thường hướng tới mục tiêu hàng đầu và duy nhấttrong công tác điều hành chính sách tiền tệ đó là duy trì lạm phát thấp và ổn định

Và khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thường được chú ý nhất lúc này chính làkhuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu (LPMT) Chính sách LPMT là một cơ chếchính sách tiền tệ (CSTT) đã được Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhiều nướctrên thế giới áp dụng, bao gồm cả các quốc gia phát triển như Anh, Úc, Nhật Bản…cũng như các nước đang phát triển như Brazin, Thái Lan, Indonexia… Sự áp dụngthành công chính sách lạm phát mục tiêu của các quốc gia trong việc duy trì một tỷ

Trang 9

lệ lạm phát ổn định khiến cho Ngân hàng Trung ương nhiều nước cũng cân nhắcviệc sử dụng chính sách này Tuy nhiên, liệu đây có phải là một khung chính sách

có thể áp dụng với mọi quốc gia và là một lựa chọn thích hợp cho Việt Nam?

Một trong những điều kiên quyết, trong trường hợp Việt Nam thực hiệnchính sách lạm phát mục tiêu là phải có cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, vì chỉ cólinh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái thì chính sách tiền tệ mới được đảm bảo tínhđộc lập, từ đó mới có thể thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu Tuy nhiên,

tỷ giá cũng là một trong những vấn đề rất được quan tâm trong một nền kinh tế, đặcbiệt đối với các nước đang phát triển, đang hòa nhập vào kinh tế thế giới như ViệtNam Có thể nói, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là yếu tố rất nhạy cảm, có ảnh hưởng sâurộng tới nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội; nhất là trong bối cảnh mở cửahội nhập của Việt Nam, tỷ giá hối đoái càng có vai trò quan trọng, là một “cầu nối”hoạt động kinh tế trong và ngoài nước Được coi là mấu chốt trong quản lý kinh tế

vĩ mô, tỷ giá hối đoái có tác động ngược trở lại đến các mối quan hệ kinh tế, và lêngiá cả hàng hóa

Vì vậy việc linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái để thực hiện được chính sáchlạm phát mục tiêu không phải là một việc dễ dàng Bởi đối với một nền kinh tế đangphát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng như Việt Nam thì những cú sốc từ bên ngoàivà/hoặc sự phát triển chưa toàn diện của thị trường tài chính nói chung và thị trườngngoại hối nói riêng có khả năng tạo ra sự biến động mạnh của tỷ giá, từ đó ảnhhưởng đáng kể đến các biến số kinh tế vĩ mô, trong đó bao gồm cả lạm phát và mụctiêu lạm phát Thực tế này đòi hỏi điều hành chính sách tỷ giá cần thận trọng và hợp

lý, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam sẽ thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu Vấn

đề trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục có nhiều nghiên cứu khoa học có giá trị ứng dụngcao về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phátmục tiêu

Xuất phát từ thực tế đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề tài “Lựa chọn cơ

chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục tiêu nghiên cứu chính của luận án là lựa chọn được cơ chế tỷ giá hốiđoái phù hợp để thực hiện được chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam Để đạtđược mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận án đã:

- Hệ thống hóa các mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái vàkhả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

- Phân tích thực trạng tác động của tỷ giá hối đoái đến lạm phát và khả năngthực thi chính sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam

- Rút ra những kết luận về việc lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thựchiện chính sách lạm phát mục tiêu và đề xuất lộ trình cũng như các giải pháp cầnthiết để thực thi

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là lạm phát mục tiêu, cơ chế tỷ giá hốiđoái, và mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với việc thực hiện lạm phát mục tiêu.Theo đó, luận án tập trung nghiên cứu các lý luận cơ bản về lạm phát mục tiêu, cơchế tỷ giá hối đoái; và nghiên cứu mối quan hệ/tác động giữa tỷ giá hối đoái - lạmphát và khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu, trong đó luận án có kiểm định lýthuyết “Bộ ba bất khả thi” và có sử dụng mô hình phân tích tự hồi quy theo vectơ(VAR) để đo lường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát

Phạm vi nghiên cứu của luận án: luận án nghiên cứu các vấn đề liên quanđến đề tài trong giai đoạn 2005-2015 và đề xuất các biện pháp thực hiện đến năm

2025 tại Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp nghiên cứu của luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứukhoa học như thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài ra, luận án còn sử dụngphương pháp định lượng Cụ thể, nghiên cứu tiến hành đo lường quy mô và xácđịnh thời điểm của hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá hối đoái vào lạm phát Mô hìnhphân tích tự hồi quy theo vectơ VAR được sử dụng với sự hỗ trợ của phần mềmEview 8.1 để có thể phân tích sâu hơn phản ứng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) với

Trang 11

những thay đổi của tỷ giá Từ đó đưa ra những nhận định và một số kiến nghị chínhsách liên quan Số liệu sử dụng từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2015 bao gồm các sốliệu về giá dầu (OIL), tỷ giá hối đoái trên thị trường liên ngân hàng (ER), khoảngcách sản lượng (OPGAP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), cung tiền VNĐ (M2), lãi suấttiền gửi USD kỳ hạn 3 tháng, chỉ số Đôla hóa (FCD/M2), và lãi suất tiền gửi VND

kỳ hạn 3 tháng Nguồn để lấy các số liệu thống kê nêu trên là từ Tổng cục Thống kê(TCTK), Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Thống kê tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệquốc tế (IMF), và Hãng tin Reuters

5 Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia thành 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu.Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu và cơ chế tỷ giáhối đoái

Chương 3: Thực trạng chính sách tiền tệ và khả năng thực thi chính sách lạmphát mục tiêu tại Việt Nam

Chương 4: Thực trạng tỷ giá hối đoái và lựa chọn cơ chế tỷ giá hối đoáinhằm thực thi chính sách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Chương 5: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thi chínhsách lạm phát mục tiêu tại Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu

1.1.1 Lạm phát mục tiêu và ổn định kinh tế vĩ mô

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô và lạm phát ổnđịnh, nền kinh tế sẽ vận hành thuận lợi và hiệu quả hơn, với các kết quả tích cực vềtích lũy, đầu tư, tăng trưởng, và việc làm, qua đó góp phần cải thiện đời sống ngườidân Lạm phát cao làm giảm thu nhập thực của người dân, nếu diễn biến trong mộtthời gian dài sẽ không khuyến khích đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh,đồng thời kích hoạt bong bóng tài sản Hệ quả đi kèm là tăng trưởng kinh tế thấp,thậm chí có cả những bất ổn về mặt xã hội và chính trị Trong khi đó, giảmphát/thiểu phát cũng để lại nhiều hệ lụy tiêu cực, khi nó làm tăng tiền lương thực,kéo theo suy thoái hoặc trì trệ kinh tế Hơn nữa, giảm phát cũng làm tăng lãi suấtthực, do đó làm tăng giá trị của các khoản nợ danh nghĩa; khi đó, tình trạng vỡ nợ

có thể xảy ra trên diện rộng

Ổn định lạm phát góp phần hạn chế các tín hiệu méo mó về giá cả khiếnnguồn lực bị phân bổ không hiệu quả Vì vậy, làm thế nào duy trì và kiểm soát đượclạm phát ở mức hợp lý trở thành vấn đề trung tâm, mục tiêu tối cao của CSTT đểphát huy tác dụng kích thích và giảm tác động cản trở của lạm phát Nếu đảm bảo

sự ổn định tiền tệ và duy trì lạm phát ở mức hợp lý, CSTT sẽ góp phần thực hiện tốtmục tiêu tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực tế cho thấy lợi ích ngắn hạn về giảm

tỷ lệ thất nghiệp hay tăng tổng sản lượng GDP có thể xung đột với mục tiêu ổn địnhgiá cả Do đó, chủ trương nâng lãi suất để chống lạm phát thường vấp phải sự phảnđối từ công luận do hệ lụy đi kèm là tăng thất nghiệp và giảm tốc độ tăng trưởng.Bên cạnh đó, việc NHTW có độc lập trong mục tiêu điều hành hay không cũng làmột vấn đề, bởi nếu NHTW chịu sức ép từ Chính phủ trong việc kích thích tăngtrưởng thì cam kết với mục tiêu lạm phát sẽ yếu đi Nếu không có chiến lược thôngtin và tạo niềm tin phù hợp, NHTW sẽ khó nhận được sự ủng hộ của thị trường khichuyển sang tư duy chống/kiểm soát lạm phát

Trang 13

Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã chính thức đặt mục tiêu ổn định lạmphát lên ưu tiên cao nhất Theo đó, đến nay đã có nhiều quốc gia áp dụng và cânnhắc áp dụng chính sách LPMT Tuy nhiên, cơ chế này vẫn còn hết sức mới mẻ.Những nghiên cứu đã có cả về lý luận và thực tiễn đều chưa cho thấy tính ưu việttuyệt đối của bất cứ dạng thức điều hành chính sách LPMT nào, chủ yếu do bốicảnh và cơ cấu kinh tế của từng nước.

1.1.2 Lạm phát mục tiêu và kinh tế Việt Nam

Thực tế cho thấy dù đạt được khá nhiều thành tựu kinh tế - xã hội, Việt Namvẫn phải chịu lạm phát cao trong nhiều giai đoạn, đặc biệt trong thời kỳ hậu gianhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), lạm phát cao và đi kèm với bất ổn trongnhiều năm Trong những năm đầu sau khi mới gia nhập WTO, Việt Nam đã gặpphải nhiều rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô chưa từng hiện hữu trước đây Chẳng hạn, giáhàng hóa thế giới tăng cao trong điều kiện nền kinh tế khá mở đối với nhập khẩu vàchưa phát triển được các biện pháp hạn chế nhập khẩu phù hợp với quy định củaWTO Một loạt rủi ro khác đi kèm với các dòng vốn nước ngoài vào ồ ạt, trong khi

tỷ giá được neo (thiếu linh hoạt) và khả năng giám sát tài chính còn bất cập Bảnthân những áp lực lạm phát dồn tụ từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào đầu tưcông và tăng trưởng tín dụng cũng chỉ hiện hữu trong các năm sau 2007 Chính vìvậy, trong thời gian đầu, các cơ quan hoạch định chính sách dường như gặp lúngtúng khi ứng phó với các loại rủi ro này Tuy nhiên, công tác điều hành chính sáchkinh tế vĩ mô đã dần dần trở nên bài bản hơn Những cải thiện này xuất phát từ sựhọc hỏi kinh nghiệm từ những lần ứng phó với bất ổn kinh tế vĩ mô

Trong thời gian gần đây, việc thay đổi tư duy điều hành của Chính phủ vàNHNN - dành ưu tiên cao nhất cho kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô -chính là một bước khởi đầu thuận lợi Chính ở đây, Chính phủ và NHNN cần cânnhắc một khuôn khổ chính sách nhằm duy trì lạm phát ổn định, tạo điều kiện chophân bổ nguồn lực hiệu quả và kích thích đầu tư, tăng trưởng trong dài hạn Khuônkhổ chính sách LPMT là một đối tượng phù hợp để có những cân nhắc thấu đáo cả

về khả năng ứng dụng và, nếu có, điều chỉnh cần thiết và lộ trình để áp dụng ở ViệtNam

Trang 14

Một trong những điều kiên quyết, trong trường hợp Việt Nam thực hiệnchính sách LPMT, là phải có chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt Tuy nhiên, TGHĐ làmột biến số kinh tế vĩ mô chịu tác động đan xen phức tạp và tác động đến nhiềubiến kinh tế vĩ mô khác như: dòng vốn đầu tư nước ngoài nhất là dòng vốn đầu tưgián tiếp, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của nền kinh tế cũng như các khoản vay bằngngoại tệ của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước, hàm lượng nhập khẩu kết tinhtrong xuất khẩu Do vậy, điều hành chính sách tỷ giá là một vấn đề hết sức khókhăn Sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, thị trường tài chính tiền tệ ViệtNam đang hội nhập ngày càng sâu sắc vào thị trường tài chính tiền tệ quốc tế.Luồng vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là luồng vốn đầu tư gián tiếp đổ vào thịtrường Việt Nam gia tăng mạnh, làm thay đổi quan hệ về cung cầu ngoại tệ trên thịtrường, ảnh hưởng không nhỏ tới diễn biến và công tác điều hành tỷ giá, quản lýngoại hối của NHNN Trước những biến chuyển cơ bản của các cân đối vĩ mô trênthị trường tài chính, tiền tệ trong nước và sự xuất hiện của nhân tố tác động mới vớinhững xu hướng biến động và hệ quả khó lường, trong bối cảnh Việt Nam áp dụngchính sách LPMT, thì việc điều hành chính sách tỷ giá cần thận trọng và hợp lý, đòihỏi có nhiều nghiên cứu sâu, rộng

Vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp những luận chứngkhoa học, cùng các bằng chứng định lượng ở mức độ cho phép, về lạm phát mụctiêu, cơ chế tỷ giá hối đoái, khả năng thực hiện lạm phát mục tiêu, việc lựa chọn cơchế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu ở ViệtNam, cũng như những đề xuất để thực hiện

1.2 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về chính sách lạm phát mục tiêu

1.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về chính sách lạm phát mục tiêu

Mishkin (2000, 2001, 2004) đã đưa ra định nghĩa rõ ràng về chính sáchLPMT, đề cập đến những lợi ích và bất lợi của chính sách LPMT và rút ra một sốbài học từ kinh nghiệm thực hiện chính sách LPMT của Chile và Brazil trong giaiđoạn cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 Theo đó nghiên cứu đã gợi ýrằng chính sách LPMT là một chiến lược chính sách tiền tệ đã được sử dụng thànhcông ở các nước công nghiệp và đang trở thành một sự lựa chọn hấp dẫn cho các

Trang 15

nước có nền kinh tế thị trường mới nổi như Chile, Brazil, Cộng hòa Séc, Ba Lan,Nam Phi

Freedman và Laxton (2009) đã xem xét mức lạm phát tại New Zealand,Canada và Anh Quốc trong giai đoạn từ cuối những năm 1960 đến đầu những năm

1990, để đưa ra lý do các nước phải áp dụng chính sách LPMT Đó là do (i) cácnước gặp khó khăn trong việc sử dụng neo danh nghĩa khác (mục tiêu tỷ giá và mụctiêu tiền tệ), (ii) các nước mong muốn giảm tỷ lệ lạm phát và neo kỳ vọng lạm phátthông qua một mục tiêu đơn giản có thể quan sát được Nghiên cứu này đã giảiquyết vấn đề cốt lõi về việc tại sao NHTW lại lựa chọn tỷ lệ lạm phát thấp là mụctiêu chính sách của mình và tại sao có nhiều nước trên thế giới lựa chọn chính sáchLPMT là khuôn khổ để đạt được mục tiêu đó

Schaechter, Stone, và Zelmer (2000) nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng chínhsách LPMT của các nước công nghiệp và các nước thị trường mới nổi trong giaiđoạn cuối những năm 1990 Nghiên cứu đã đưa ra nhận định về những nền tảng đểchính sách LPMT toàn phần được thiết lập thành công, bao gồm: (i) khuôn khổ thểchế; (ii) các vấn đề về hoạt động điều hành chính sách tiền tệ; (iii) các khía cạnh tổchức của NHTW; và (iv) các vấn đề chuyển đổi Đóng góp quan trọng nhất của cáctác giả là khẳng định những yếu tố trên không cần phải được thiết lập tất cả trướckhi các nước bắt đầu chuyển đổi sang khuôn khổ chính sách LPMT toàn phần Vìvậy, các nước có nhu cầu chuyển đổi sang chính sách LPMT có thể hoàn thiện dầncác điều kiện trên song song với việc triển khai thực hiện chính sách LPMT

Batini, Kuttner và Laxton (2006) đã đánh giá tình hình của 31 nền kinh tế ápdụng chính sách LPMT trong giai đoạn đầu những năm 2000 để đưa ra bốn nhómđiều kiện nhằm thực hiện chính sách LPMT: (i) hạ tầng kỹ thuật; (ii) sức khỏe hệthống tài chính; (iii) tính độc lập của thể chế; và (iv) cơ cấu kinh tế Nhóm nghiêncứu kết luận rằng cho dù các điều kiện khác nhau có được thỏa mãn hay không thìviệc áp dụng chính sách LPMT lúc ban đầu đều mang lại một kết quả tốt Nghiêncứu này có giá trị lớn đối với các nước đang trong quá trình xem xét chuyển đổisang thực hiện chính sách LPMT, thông qua việc khảo sát, đánh giá thực trạng cácnhóm điều kiện nêu trên tại nền kinh tế của nước mình

Trang 16

Freedman và Otker-Robe (2010) đã nghiên cứu nhiều khó khăn, thách thứctại các nước thực hiện chính sách LPMT giai đoạn những năm giữa và cuối 2000.

Từ đó các tác giả đưa ra ba điều kiện cốt lõi để thực hiện chính sách LPMT, đó là(i) mục tiêu lạm phát là mục tiêu ưu tiên trong các mục tiêu của chính sách tiền tệ;(ii) không có áp chế tài chính; và (iii) độc lập về công cụ chính sách tiền tệ Đa sốcác điều kiện và các yếu tố khác được coi là căn bản đối với khuôn khổ chính sáchLPMT có thể được thiết lập sau khi đưa ra áp dụng chính sách LPMT, bao gồm: xâydựng các mô hình chính thức để dự báo lạm phát, nghiên cứu về cơ chế phát hànhcác báo cáo về chính sách tiền tệ hoặc các báo cáo về lạm phát, củng cố hệ thống tàichính thông qua việc cải thiện quy chế giám sát các định chế tài chính và khuyếnkhích sự phát triển các thị trường trái phiếu dài hạn bằng đồng bản tệ

Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước về chính sách LPMT đã cung cấpnhững lý luận cơ bản về việc thực hiện chính sách LPMT, bao gồm định nghĩa, lợiích và bất lợi, các khó khăn thách thức cũng như các điều kiện cần thiết để vận hànhchính sách LPMT Các luận cứ khoa học này có giá trị to lớn đối với các nước đangthực hiện cũng như các nước chuẩn bị thực hiện chính sách LPMT Tuy nhiên cácnghiên cứu này chỉ dừng lại nghiên cứu ở một số nước điển hình đã thực hiện chínhsách LPMT trên thế giới mà chưa nghiên cứu các trường hợp của một số nước đangxem xét chuyển sang thực hiện chính sách LPMT như Việt Nam Ngoài ra, các côngtrình nghiên cứu này mang nhiều giá trị “lịch sử” vì đã đánh giá, phân tích việc thựcthi chính sách LPMT của các nước chủ yếu là trong giai đoạn những năm 2000 trở

về trước mà chưa có các nghiên cứu cập nhật tình hình thực hiện chính sách LPMTcác năm gần đây Cuối cùng, các nghiên cứu trên cũng chưa xem xét, đánh giá tácđộng của cơ chế TGHĐ đến việc thực thi chính sách LPMT

1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về chính sách lạm phát mục tiêu

Các tác giả Đỗ Thị Đức Minh (2005) và Nguyễn Hữu Nghĩa (2005) nghiêncứu khuôn khổ chính sách tiền tệ ở Việt Nam và đề xuất áp dụng chính sách tiền tệtheo LPMT đến năm 2015 Các nghiên cứu đã đề cập đến các nội dung về chínhsách LPMT, phân tích các điều kiện để có thể đưa ra áp dụng cơ chế điều hànhchính sách tiền tệ này tại Việt Nam Các tác giả đều cho rằng hiện tại Việt Nam

Trang 17

chưa áp dụng được cơ chế điều hành chính sách LPMT hoàn toàn, tuy nhiên cần cócác bước, có lộ trình để chuẩn bị các điều kiện cho việc áp dụng khuôn khổ chínhsách LPMT Các nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lý luận khoa học về chính sách LPMT,tuy nhiên những đề xuất và lộ trình thực hiện chính sách LPMT tại Việt Nam đếnnăm 2015 của tác giả đã không còn mang tính “thời sự”.

Các tác giả Phí Trọng Hiển (2005), Bùi Duy Hưng (2006), Lý Hoàng Ánh(2007), Nguyễn Thị Hiền và Nguyễn Hoàng Ánh (2013) đã nghiên cứu, so sánhkinh nghiệm áp dụng chính sách LPMT của một số nước như Úc, Brazil, Chile, HànQuốc và Thái Lan trong những năm 1990 để đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam.Theo các tác giả: (i) lựa chọn chính sách LPMT phải trên cơ sở sau một thời kỳkiềm chế lạm phát thành công; (ii) chỉ số CPI và chỉ số lạm phát cơ bản phải sửdụng song song để đo lường lạm phát; (iii) chính sách LPMT phải có tính linh hoạtcao; và (iv) chính sách LPMT phải đảm bảo sự công khải minh bạch và gắn liền vớitrách nhiệm cao của NHTW Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nêu một

số giải pháp mà chưa có lộ trình/thời gian cụ thể để thực hiện chính sách LPMT tạiViệt Nam

Các tác giả Võ Trí Thành (2006) và Bùi Văn Hải (2007) đã đề cập đếnnhững đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của chính sách LPMT Đồng thời các tác giảcũng đưa ra các điều kiện áp dụng chính sách tiền tệ theo LPMT Các bài nghiêncứu này đã trích dẫn các bằng chứng thực nghiệm chỉ ra mối liên kết trực tiếp giữaLPMT và phạm vi cụ thể của hoạt động kinh tế nói chung, đã củng cố quan điểmcho rằng chính sách LPMT có mối quan hệ cải thiện toàn bộ hoạt động kinh tế Từ

đó, đóng góp quan trọng nhất của các tác giả là đã nêu một số hàm ý cho Việt Nam(i) mức độ độc lập về thể chế của NHNN, (ii) hạ tầng kỹ thuật; (iii) cơ cấu kinh tế;(iv) trình độ phát triển ngân hàng - tài chính ở Việt Nam Tuy nhiên các nghiên cứunày cũng chưa chỉ ra được lộ trình để thực hiện chính sách LPMT ở Việt Nam

Nhóm nghiên cứu NGND.TS Nguyễn Văn Hà (2007) trong đề tài nghiêncứu cấp ngành Ngân hàng đã (i) cung cấp các sở cứ về phương hướng đổi mới cơchế điều hành chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu ở Việt Nam; và (ii) xácđịnh cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ lấy lạm phát làm mục tiêu vào nền kinh

Trang 18

tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam Nghiên cứu có giá trị cao khi

đã đưa các các kịch bản áp dụng chính sách LPMT đối với Việt Nam cũng như lộtrình và các giải pháp cần thiết Tuy nhiên các giải pháp này chỉ áp dụng đến năm

2013, vì vậy cần phải có các nghiên cứu khác cập nhật trong giai đoạn hiện tại

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam (2012) đã có nghiêncứu “Lạm phát mục tiêu và hàm ý đối với khuôn khổ chính sách tiền tệ ở ViệtNam” Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm các nước áp dụng chính sách LPMT vàthực tiễn điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu đã đánh giá kếtquả, hạn chế của cơ chế điều hành chính sách tiền tệ hiện nay của Việt Nam và đưa

ra một số gợi ý chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách tiền tệ hiện hành vàtạo tiền đề cho việc áp dụng chính sách LPMT ở Việt Nam Đồng thời các tác giảcòn đánh giá khả năng áp dụng chính sách LPMT của Việt Nam Từ đó đề xuất lộtrình và nhóm giải pháp nhằm áp dụng thành công chính sách LPMT ở Việt Namđến năm 2016 Nghiên cứu có tính ứng dụng tại các cơ quan quản lý của Việt Namtrong việc hoàn thiện các điều kiện và chuyển sang áp dụng chính sách LPMT

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về chính sách LPMT đã cung cấpnhững bài học kinh nghiệm từ các nước đã áp dụng chính sách LPMT trên thế giới,

đã đưa ra những luận chứng khoa học về khả năng áp dụng chính sách LPMT ởViệt Nam, bước đầu đã xây dựng được lộ trình và đề xuất các giải pháp cần thiết để

có thể thực hiện được chính sách LPMT Tuy nhiên nội dung của các nghiên cứudừng lại ở tính “lịch sử” mà chưa cập nhật những diễn biến mới, ngoài ra cácnghiên cứu chưa quan tâm đến vai trò của tỷ giá hối đoái trong việc thực thi chínhsách LPMT

1.3 Tổng quan lý thuyết và thực tiễn về cơ chế tỷ giá hối đoái

1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế tỷ giá hối đoái

Theo nghiên cứu của Mai Thu Hiền (2013), trên thế giới có rất nhiều nghiêncứu về cơ chế TGHĐ, theo đó cơ chế tỷ giá theo Bubula và Otker-Robe (2002)được chia thành 13 loại dựa trên hoạt động của tỷ giá và dự trữ quốc tế; Dubas vàcác tác giả khác (2005) chia thành 6 loại căn cứ vào sự biến động của tỷ giá đaphương, tỷ giá song phương của một quốc gia với đồng tiền neo vào dự trữ quốc tế;

Trang 19

Frankel (2003) chia thành 9 loại; Ghosh và các tác giả khác (2002) chia thành 10loại bằng cách kết hợp hệ thống “de jure” và “de facto” của IMF; Kutter và Posen(2001) chia thành 4 loại dựa trên mức độ mà theo đó chế độ tỷ giá thực thi nhữngquy định về chính sách; Levy-Yeyati và Sturzenegger (2002) chia thành 5 loại căn

cứ vào sự biến động tỷ giá, sự thay đổi tỷ giá và dự trữ; Nitithanprapas và Willett(2002) chia thành 5 loại; Reinhart và Rogoff (2004) chia thành 15 loại dựa trên sựbiến động của tỷ giá song phương; Stone và các tác giả khác (2004) chia thành 8loại được xác định bởi sự lựa chọn neo danh nghĩa Tuy nhiên nổi bật nhất về việcphân loại cơ chế TGHĐ phải kể đến nghiên cứu của IMF theo hệ thống “de jure” và

“de facto”

Mundell (1961) đã đưa ra lý thuyết về “Vùng tiền tệ tối ưu”, lý thuyết về sựlựa chọn cơ chế tỷ giá tập trung vào những đặc điểm quyết định đến việc xác địnhmột cơ chế tỷ giá xét trên khả năng duy trì cân bằng đối nội và cân bằng đối ngoại.Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng (i) đối với các nền kinh tế nhỏ, mở cửa thì cơ chế tỷgiá cố định sẽ phù hợp hơn; (ii) một nước càng ít đa dạng hoá trong cơ cấu sản xuất,xuất khẩu và ngoại thương càng tập trung về địa lý thì cơ chế tỷ giá cố định càngphù hợp; (iii) những nước có cơ cấu xuất khẩu kém đa dạng thì các nguồn thu ngoạihối thường có nhiều biến động, do tập trung vào một số mặt hàng nhất định, vàthường có xu hướng neo đậu tỷ giá nhằm tránh những tác động xấu khi tỷ giá biếnđộng mạnh

Frankel (1999) khi nghiên cứu cơ chế tỷ giá hối đoái của các nước trongkhoảng thời gian những năm 1980 và những năm 1990 đã khẳng định không thể tồntại một cơ chế tỷ giá phù hợp với mọi quốc gia, và không có một cơ chế tỷ giá nàophù hợp với một quốc gia mãi mãi Điều quan trọng nhất để trả lời câu hỏi một quốcgia nên áp dụng chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi là phải xem xét quy mô và mức độ

mở cửa của quốc gia đó Nghiên cứu đã giúp các nước nhìn nhận rằng không nêntheo đuổi một cơ chế tỷ giá tối ưu của một quốc gia nào đó, mà cần phải xem xétđiều kiện kinh tế của nước mình và thời điểm áp dụng cơ chế TGHĐ cụ thể

Một lý thuyết thường được các nhà kinh tế của IMF (1997) sử dụng trong lựachọn cơ chế tỷ giá thì lại tập trung vào những tác động của những biến động ngẫu

Trang 20

nhiên trong nền kinh tế quốc nội Theo mô hình này, một cơ chế tỷ giá tối ưu phảinhằm ổn định hoạt động kinh tế vĩ mô, tức là nhằm giảm thiểu những biến động vềsản lượng, tiêu dùng, mức giá cả trong nước và một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác.Thứ tự lựa chọn cơ chế tỷ giá cố định hay linh hoạt phụ thuộc vào tính chất vànguồn gốc gây ra biến động đối với nền kinh tế, sự ưu tiên của Chính phủ và cơ cấuđặc thù của nền kinh tế Cơ chế tỷ giá lựa chọn không chỉ thuần túy nằm giữa một

cơ chế hoàn toàn cố định và một cơ chế hoàn toàn thả nổi Thay vào đó, có một loạtnhững cơ chế tỷ giá với các mức độ linh hoạt khác nhau của tỷ giá phản ánh cácmức độ can thiệp khác nhau trên thị trường ngoại hối Lý thuyết này đã giúp cácquốc gia xây dựng nguyên tắc lựa chọn là nếu nguyên nhân biến động chủ yếu từtrong nước như thay đổi về cầu tiền tệ thì mức độ cố định của tỷ giá càng cao, cònnguyên nhân biến động chủ yếu từ bên ngoài thì cơ chế tỷ giá phù hợp cần gia tăngmức độ linh hoạt của tỷ giá

IMF (2007) đã đưa ra các điều kiện để linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ: (1) Pháttriển thị trường ngoại hối có tính thanh khoản cao, theo đó chênh lệch giữa tỷ giámua và tỷ giá bán ở mức nhỏ, phí giao dịch thấp, doanh số giao dịch lớn, hệ thốnggiao dịch/thanh toán phải thuận tiện, và các đối tượng tham gia thị trường phảirộng; (2) can thiệp của NHTW được thực hiện một cách có chọn lựa hoặc khôngđịnh trước, theo đó NHTW phải xây dựng chính sách về mục tiêu, thời gian và khốilượng can thiệp; (3) lựa chọn neo danh nghĩa thay thế neo TGHĐ cố định và (4)quản lý và giám sát rủi ro tỷ giá, đặc biệt ở khu vực tư nhân Nghiên cứu có giá trịgiúp các quốc gia có cơ sở lý luận để tiến hành khảo sát thực trạng cũng như đưa racác giải pháp để đáp ứng những điều kiện cần thiết nêu trên trong quá trình linhhoạt hóa cơ chế TGHĐ

Như vậy các nghiên cứu ngoài nước về cơ chế TGHĐ đã cung cấp các luậnchứng khoa học về các cơ chế TGHĐ khác nhau, cách lựa chọn cơ chế TGHĐ phùhợp với điều kiện của từng nước, cũng như đưa ra các khuyến nghị cần thiết khithực hiện chuyển đổi cơ chế TGHĐ mang tính chất linh hoạt hơn Tuy nhiên cácnghiên cứu chỉ đánh giá TGHĐ trong mối quan hệ với các biến số kinh tế vĩ môkhác mà chưa nhìn nhận trong mối quan hệ với việc thực hiện chính sách LPMT.Ngoài ra, các nghiên cứu trên cũng chỉ dừng lại ở việc đưa ra các luận điểm chung

Trang 21

áp dụng cho tất cả các nước trên thế giới mà chưa có nghiên cứu dành riêng choViệt Nam

1.3.2 Các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái

Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009) đã đánh giá chính sách tỷ giá

ở Việt Nam giai đoạn 1985-2008, từ đó đã có những lập luận khá thú vị khi chorằng cơ chế tỷ giá tại Việt Nam hiện không phải là “thả nổi có quản lý” như NHNNvẫn thường công bố Theo nghiên cứu của hai tác giả, Chính phủ và NHNN hiệnđang duy trì việc “quản lý” nhiều hơn là “thả nổi” đối với tỷ giá Bài nghiên cứu đãgợi ý cho NHNN cần quan tâm tới tỷ giá thực hiệu quả (REER - real effectiveexchange rate) và cho rằng sự thay đổi của chỉ số này cần phải được theo dõi sátsao Tuy nhiên, giai đoạn nghiên cứu 1985-2008 chưa phải là giai đoạn thể hiện rõcác biến chuyển mạnh mẽ trong việc xây dựng chính sách TGHĐ sau khi Việt Namhội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế

Nguyễn Thị Thu Thảo (1995) đã đề cập tới tỷ giá và cơ chế tỷ giá thời điểm

1995 khi cơ chế hai tỷ giá cố định, cứng nhắc đã được thay thế bằng việc NHNNcông bố một tỷ giá chính thức và biên dộ dao động so với tỷ giá chính thức Bêncạnh đó, tác giả đã nghiên cứu TGHĐ tại ba quốc gia ở Châu Á là Nhật Bản, HànQuốc và Trung Quốc, từ đó phân tích lợi thế cũng như hạn chế của cơ chế tỷ giá cốđịnh và cơ chế tỷ giá linh hoạt, cuối cùng rút ra kinh nghiệm là “ở Việt Nam cơ chế

tỷ giá hỗn hợp phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu hơn cả” Nghiên cứu đã có nhữngđóng góp về kinh nghiệm quốc tế và đã hàm ý cho NHNN trong việc xây dựng cơchế TGHĐ phù hợp, tuy nhiên giai đoạn nghiên cứu những năm 1995 này khôngcòn mang tính “thời sự”

Dương Thị Thanh Mai (2002) đã thu thập kinh nghiệm về điều hành tỷ giátại ba quốc gia Venuezuela, Thái Lan và Trung Quốc, đồng thời phân tích địnhlượng các mối quan hệ giữa thay đổi tỷ giá với thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội(GDP), lạm phát (CPI), xuất nhập khẩu và cán cân thương mại trong giai đoạn1989-2000 Nghiên cứu đã so sánh kết quả phân tích định tính và phân tích địnhlượng để đưa ra một số định hướng và kiến nghị chính sách tỷ giá của Việt Nam.Như vậy, bên cạnh việc phân tích định tính, nghiên cứu đã có những bước đầu phân

Trang 22

tích định lượng về mối quan hệ giữa TGHĐ và các biến kinh tế vĩ mô khác (baogồm cả lạm phát) Tuy nhiên nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏnhất OLS và thực tế số liệu của Việt Nam giai đoạn này còn nhiều bất cập, chưađược đồng bộ nên kết quả phân tích còn rất hạn chế, hầu như chỉ có thể dùng làm tàiliệu tham chiếu, bổ trợ cho kết quả đã xem xét phân tích định tính trước đó.

Lê Thị Tuấn Nghĩa (2004) đã kết hợp nghiên cứu hai nội dung quan trọng là

cơ chế điều hành tỷ giá và hiệu quả của chính sách tiền tệ, đồng thời dành một thờilượng khá lớn để phân tích các công cụ của CSTT như nghiệp vụ thị trường mở, dựtrữ bắt buộc, lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá… Kinh nghiệm từ các nước Mỹ,Hàn Quốc, và Trung Quốc đã được giới thiệu với trọng tâm là ba công cụ: nghiệp

vụ thị trường mở, lãi suất tái chiết khấu, và dự trữ bắt buộc để làm bài học kinhnghiệm cho Việt Nam Tuy nhiên, nghiên cứu tập trung nhiều vào chính sách tiền tệhơn là hoàn thiện cơ chế TGHĐ Ngoài ra, tác giả đã đề cập tới mô hình củaMundell-Fleming khi phân tích “Bộ ba bất khả thi” trong phần cơ sở lý luận, nhưngnghiên cứu chưa tiến hành khảo sát, đánh giá thực tế tại Việt Nam như tại Luận ánnày

Hoàng Thị Lan Hương (2009) đã tiến hành thu thập số liệu để kiểm định,tiến hành phân tích các biến số kinh tế vĩ mô quan trọng theo từng giai đoạn của chế

độ tỷ giá ở Việt Nam từ 2000 đến 2011, đồng thời so sánh Việt Nam với Thái Lan,Trung Quốc và ba quốc gia láng giềng Đông Nam Á khác Nghiên cứu đã đưa ra kếtluận về việc lựa chọn cơ chế tỷ giá, điều tiết tỷ giá thông qua công cụ phá giá tiền

tệ, biên độ dao động và dự trữ ngoại hối Tác giả đã sử dụng mô hình kinh tế lượng

để đánh giá mối quan hệ giữa TGHĐ và các biến số kinh tế vĩ mô khác thông quakiểm định điều kiện Marshall-Lerner ở Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu chưa tiếnhành kiểm định hiệu ứng dẫn truyền của TGHĐ vào lạm phát như tại Luận án này

Các tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Đinh Tuấn Minh, Tô Trung Thành, LêHồng Giang, Phạm Văn Hà (2010) đã có bài nghiên cứu “Lựa chọn chính sách tỷgiá trong bối cảnh phục hồi kinh tế” Theo nhóm tác giả, Việt Nam đang theo đuổi

cơ chế neo tỷ giá có điều chỉnh, và hiện nay cơ chế này hoạt động không hiệu quảkhiến Việt Nam Đồng (VND) lên giá nhiều so với các đồng tiền của các nước đối

Trang 23

tác, gây ra sự sụt giảm tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam và sự gia tăng nhậpsiêu của nền kinh tế nội địa Bài nghiên cứu đã có ba đề xuất quan trọng, đó là (1)Việt Nam chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý; (2) khi từ bỏ cơ chế neo tỷgiá, NHNN Việt Nam phải trở nên độc lập và (3) hiện đại hóa thị trường ngoại hối

Ngân hàng Nhà nước, Vụ Quản lý Ngoại hối đã thực hiện một đề tài nghiêncứu khoa học cấp ngành, “Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái phù hợp trong điều kiệnhiện nay” (2009) với sự tham gia của Nguyễn Quang Huy (chủ nhiệm đề tài) Đề tài

đã khẳng định cơ chế tỷ giá hiện nay của Việt Nam là cơ chế linh hoạt có quản lý,việc sử dụng công cụ tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ tỷ giá đã góp phầnhạn chế tình trạng đầu cơ và tác động của biến động tỷ giá trên thị trường nướcngoài, hạn chế tình trạng nhập siêu, cải thiện cán cân thanh toán Nghiên cứu đã cónhững ứng dụng nhất định đối với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc vậnhành cơ chế TGHĐ Tuy nhiên từ năm 2009 đến nay, chính sách tỷ giá đã có nhiềuthay đổi để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy cần tiếp tục có nhữngnghiên cứu cập nhật diễn biến TGHĐ hơn

Ngân hàng Nhà nước, Viện Chiến lược đã xây dựng đề án “Chính sách tỷ giá

áp dụng cho Việt Nam trong điều kiện hiện nay” (2010) trên cơ sở bảy sản phẩmnghiên cứu: (1) Kinh nghiệm áp dụng cơ chế điều hành tỷ giá của một số nướctrong các thời kỳ khủng hoảng - bài học rút ra cho Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay; (2) Nghiên cứu cơ cấu xuất nhập khẩu Việt Nam, các thị trường xuất khẩu vàxác định những nhân tố ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trongtừng thời kỳ; (3) Phân tích diễn biến TGHĐ trên thị trường ngoại hối của Việt Nam

và đo lường ảnh hưởng của biến động TGHĐ đối với kim ngạch xuất nhập khẩu,khả năng cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh trong từng giai đoạn cụ thể; (4) Đo lườngảnh hưởng của TGHĐ thực hiệu quả và tỷ giá danh nghĩa đến GDP, CPI, đầu tưtrực tiếp và gián tiếp của nước ngoài; (5) Xây dựng kịch bản và đo lường tác độngcủa việc biến động tỷ giá đối với tài chính nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng, hộgia đình; (6) Nghiên cứu và đánh giá cơ chế định giá tiền đồng với đồng USD hayEUR hay một rổ tiền tệ của các nước có tỷ trọng thương mại lớn với Việt Nam; (7)Đánh giá và đề xuất chính sách tỷ giá phù hợp với chính sách tiền tệ nới lỏng, chính

Trang 24

sách tài khóa mở rộng và mức độ mở cửa thị trường tài chính, nhằm hạn chế thấpnhất tác động bất lợi của “Bộ ba bất khả thi” trong kinh tế học quốc tế

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về cơ chế tỷ giá hối đoái đã cung cấpcác bài học, kinh nghiệm quốc tế điều hành TGHĐ cho Việt Nam, có những phântích về cơ chế TGHĐ tại Việt Nam, đánh giá mối quan hệ giữa TGHĐ và các biếnkinh tế vĩ mô khác, đồng thời đề xuất một số giải pháp phù hợp để hoàn thiện cơchế TGHĐ Tuy nhiên, các nghiên cứu dừng lại ở việc phân tích các chuỗi thời giantrong quá khứ không còn phù hợp với chính sách tỷ giá hiện tại Ngoài ra, mô hìnhkinh tế lượng và số liệu sử dụng để kiểm định còn nhiều quan ngại, vì vậy chỉ có giátrị để tham khảo mà chưa có giá trị để áp dụng Cuối cùng, các nghiên cứu này cũngchưa đề cập đến mối quan hệ giữa cơ chế TGHĐ và khả năng thực thi chính sáchLPMT ở Việt Nam

1.4 Mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

1.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

“Bộ ba bất khả thi” (Impossible Trinity) của Frankel (1999) là mô hình lýthuyết rất phổ biến Theo lý thuyết này, trong ba mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản màhầu hết các nước đang theo đuổi là chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và tự

do hóa các luồng chu chuyển vốn, thì các nước chỉ có thể đạt được cùng một lúc tối

đa hai mục tiêu Hệ quả quan trọng nhất của mô hình là: Trong bối cảnh xu thế hộinhập và thống nhất thị trường tài chính, tự do hoá các dòng vốn quốc tế là một tấtyếu (không tồn tại việc kiểm soát vốn hoàn toàn), thì việc một nước sẽ lựa chọn cơchế tỷ giá nào (hoàn toàn linh hoạt hay hoàn toàn cố định) sẽ phụ thuộc vào mộttrong hai mục tiêu cơ bản mà nước đó muốn đạt được (chính sách tiền tệ độc lậphay ổn định tỷ giá) Như vậy, trong điều kiện thực hiện chính sách LPMT, đòi hỏicần có một chính sách tiền tệ độc lập thì NHTW buộc phải linh hoạt hóa TGHĐ Vàkhi linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ, NHTW cần phải xem xét đến hiệu ứng dẫn truyền

từ tỷ giá sang lạm phát, bởi lẽ nếu hiệu ứng dẫn truyền này ở mức cao thì việc thựcthi chính sách LPMT sẽ gặp nhiều khó khăn

Trang 25

Theo Võ Văn Minh (2009), có nhiều nghiên cứu về hiệu ứng dẫn truyền từ tỷgiá sang lạm phát đã được thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau Nhìn chung cácnghiên cứu này đi theo hai hướng tiếp cận chính là tiếp cận vi mô như Dornbursh(1987), Feinberg (1986), và Krugman (1986) và tiếp cận vĩ mô như Taylor (2000),McCarthy (2000), Ito và Sato (2006) Nhiều nhà nghiên cứu như Olivei (2000),Campa và Goldberg (2005), Campa, Goldberg và González-Mínguez (2005), vàOtani, Shiratsuka và Shirota (2005) đã sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất(OLS - Ordinary Least Square) để đo lường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạmphát, trong khi một số nghiên cứu khác đã sử dụng mô hình phân tích tự hồi quytheo vectơ (VAR - Vector Auto Regression) để đo hiệu ứng dẫn truyền là McCarthy(2000), Hahn (2003) và Fabuqee (2006), Ito và Sato (2006), Belaish (2003) vàLeigh và Rossi (2002) Cụ thể:

Dornbusch (1987) đã nghiên cứu thị trường Mỹ trong những năm 1980 vàchứng minh rằng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong điều kiện cạnh tranhkhông hoàn hảo, hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá là không toàn phần và nó tỷ lệnghịch với tỷ lệ số lượng doanh nghiệp nội địa trên số lượng doanh nghiệp nướcngoài cùng cung cấp một loại hàng hóa Tức là áp lực cạnh tranh mà doanh nghiệptrong nước phải đối mặt càng lớn thì hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá lên giá cả trongnước càng thấp Trong khi đó Taylor (2000) cũng đã nghiên cứu thị trường Mỹ từnhững năm 1960 đến những năm 1990 để đưa ra kết luận là hiệu ứng dẫn truyền từ

tỷ giá sang lạm phát tỷ lệ thuận với mức lạm phát Điều này có nghĩa là lạm phátcàng kéo dài, các doanh nghiệp càng nhận thức được rằng biến động tỷ giá khôngthể là nhất thời và do đó họ sẽ điều chỉnh mức giá Các nghiên cứu này đã có nhữngđóng góp cơ bản về mặt lý luận về hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá theo cách tiếp cận

Trang 26

2003, từ đó tìm ra bằng chứng (i) hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá trong ngắn hạn lànhỏ; (ii) những quốc gia mà tỷ giá không ổn định thường có hiệu ứng dẫn truyềnlớn; và (iii) nhân tố quan trọng tác động tới hiệu ứng dẫn truyền lại không thuộc vềcác biến số kinh tế vĩ mô mà thuộc về sự thay đổi cơ cấu mặt hàng nhập khẩu Bêncạnh đó, Lian An và Jian Wang (2006) cũng nghiên cứu tác động của tỷ giá lên 3chỉ số giá (giá sản xuất, giá nhập khẩu, và giá tiêu dùng) trong giai đoạn 1980-2007của 9 nước thuộc OECD Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng dẫn truyền của tỷgiá nhỏ hơn 1 cả trong ngắn hạn và dài hạn Trong đó, hiệu ứng dẫn truyền của tỷgiá lên chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất và chỉ số giá tiêu dùng là nhỏ nhất Đồngthời các tác giả cũng kết luận rằng đối với những nước có quy mô nhỏ, kim ngạchnhập khẩu lớn, chế độ tỷ giá cứng nhắc, CSTT không nhất quán, lạm phát cao, hiệuứng dẫn truyền của tỷ giá luôn lớn hơn Các nghiên cứu này đã cung cấp những lýluận khoa học theo cách tiếp cận vĩ mô về hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá.

Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạmphát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu đã cung cấp cơ sở lý luận bao gồm cảmặt định tính và định lượng, tạo nền tảng để có những nghiên cứu sâu hơn về mốiquan hệ nêu trên Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ đưa ra những cơ sở lý luậnchung, có tập trung vào một số nước điển hình, nhưng chưa có nghiên cứu nào vềViệt Nam

1.4.2 Các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu

Tại Việt Nam, Tô Kim Ngọc và Lê Thị Tuấn Nghĩa (2013) đã điểm qua cácđặc điểm cơ bản của chính sách LPMT, mà dựa vào đó, yêu cầu một cơ chế tỷ giátương thích Cụ thể, chính sách LPMT được vận hành chủ yếu thông qua công cụlãi suất với việc NHTW xác định lãi suất mục tiêu và chuyển tải đến các mức lãisuất thị trường Sử dụng công cụ lãi suất nhằm điều tiết thị trường, tất nhiên quốcgia đó phải chấp nhận cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn trong điều kiện tài khoản vốnkhông bị kiểm soát hoàn toàn Nghiên cứu khẳng định cơ chế tỷ giá linh hoạt được coinhư là điều kiện tiên quyết cho việc vận hành chính sách LPMT Tuy vậy, nếu xem xétđến các điều kiện cho môi trường vận hành cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam từ năm

Trang 27

1999 đến năm 2009 thì khả năng áp dụng là rất hạn chế Vì thế, song song với việc tạolập nền tảng cho một chính sách tỷ giá linh hoạt, trước mắt Việt Nam nên duy trì cơchế tỷ giá hiện hành nhưng với biên độ dao động nới rộng hơn, trước khi hình thànhmột cơ chế tỷ giá linh hoạt có điều tiết và không thông báo trước NHNN vẫn giữquyền can thiệp thị trường khi tỷ giá biến động vượt khỏi biên độ cho phép Tuy nhiên,yêu cầu giải trình xu hướng và lý do can thiệp cho công chúng là đặc điểm của chínhsách LPMT cần tuân thủ Có thể nói đây là công trình nghiên cứu khá khái quát về mốiquan hệ giữa cơ chế TGHĐ và chính sách LPMT, tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừnglại ở việc phân tích định tính mà chưa có các đánh giá mang tính định lượng

Mai Thu Hiền (2013) cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa TGHĐ và LPMT.Tác giả nêu cơ sở lý thuyết cho việc lựa chọn chế độ tỷ giá và thực tiễn chuyển đổi cơchế tỷ giá trên thế giới trước khi mô tả thực trạng điều hành chính sách TGHĐ và cơchế tỷ giá của Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012 Trên cơ sở xác định mục tiêu củaviệc điều hành chính sách tiền tệ - tỷ giá tại Việt Nam là ổn định giá cả, từ đó góp phần

ổn định kinh tế vĩ mô, tác giả xây dựng các mô hình lý thuyết để lựa chọn chế độ tỷ giáphù hợp cho Việt Nam dựa trên các tiêu chí là chế độ tỷ giá đó phải đủ độ tin cậy, đảmbảo mục tiêu ổn định giá cả và hạn chế tác động bất lợi của các cú sốc đối với nền kinh

tế trong bối cảnh tự do hóa tài khoản vốn Kết luận của mô hình lý thuyết cũng nhưthực tiễn tại Việt Nam cho thấy Việt Nam nên áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt và chínhsách LPMT Tuy nhiên nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các điều kiện để Việt Nam thựchiện cơ chế tỷ giá linh hoạt và chính sách LPMT không được thỏa mãn trong bối cảnhkinh tế hiện nay Chính vì vậy, tác giả đã có đóng góp quan trọng khi đề xuất Việt Namnên thực hiện một quá trình chuyển đổi chế độ tỷ giá từ cố định sang linh hoạt vàchuyển đổi từ hai mục tiêu tỷ giá và tiền tệ sang mục tiêu lạm phát nhằm xây dựng cácđiều kiện cần thiết cho việc áp dụng thành công cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam.Đồng thời tác giả khuyến nghị về chiến lược chuyển đổi và các giải pháp nhằm thựchiện thành công cơ chế tỷ giá linh hoạt ở Việt Nam nên được đặt trong mối liên hệ vớichính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, sự phát triển của hệ thống tài chính - ngân hàng

và thị trường ngoại hối, thiết lập hệ thống quản lý rủi ro trong bối cảnh tự do hóa cácgiao dịch vốn Nghiên cứu đã đưa ra các lập luận khoa học về cơ chế TGHĐ và chính

Trang 28

sách LPMT, tuy nhiên nghiên cứu cũng chưa kiểm định định lượng được các lý thuyết

đã xây dựng về mối quan hệ này

Ở Việt Nam đã có một số mô hình thực nghiệm đo lường hiệu ứng dẫntruyền từ tỷ giá sang lạm phát, cụ thể:

Võ Trí Thành (1997) sử dụng mô hình trễ đa thức để nghiên cứu về lạm phátViệt Nam nửa đầu thập kỷ năm 1990 Tác giả kết luận ω, gM có ý nghĩa cao nênđây là yếu tố dùng để dự báo lạm phát, gY chỉ tác động trong ngắn hạn

Trong đó:

π là tỷ lệ lạm phát

gM là tỷ lệ tăng trưởng cung tiền danh nghĩa

gY là tỷ lệ tăng trưởng sản lượng

ω đo lường độ lệch giữa tỷ lệ mất giá tiền nội địa và lãi suất

πe là lạm phát kỳ vọng

Dương Thị Thanh Mai (2002) đã sử dụng mô hình hồi quy theo biến logarit

để đánh giá lạm phát của các nước đang phát triển phụ thuộc vào 3 yếu tố: tănglượng cung tiền, tăng thu nhập, tỷ giá Với chuỗi nghiên cứu từ năm 1997-2000, kếtquả là không có tín hiệu báo trước cho lạm phát

Trong đó:

lnMt là logarit cơ số tự nhiên của cung tiền danh nghĩa

lnYt là logarit cơ số tự nhiên của sản lượng trong nước

lnNERt là logarit cơ số tự nhiên của TGHĐ

γt là sai số

Trang 29

Võ Văn Minh (2009) đã dùng mô hình hồi quy vectơ VAR để thực nghiệmhiệu ứng dẫn truyền Cụ thể

- Output Gap (GAP) là sai lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế

- Customer Price Index (CPI) là chỉ số giá tiêu dùng

- Import Price Index (IMP) là chỉ số giá nhập khẩu

- Broad Money (M2) là cung tiền mở rộng M2

- Exchange rate (NEER: Normalized nominal effective exchange rate) là tỷ giáhiệu thực danh nghĩa

- Oil Price: lấy từ giá dầu mỏ UK Brent Oil

Bằng mô hình kiểm định VAR với 6 biến số kinh tế giá dầu, cầu hàng hóa, tỷgiá, chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng, và cung tiền mở rộng, Võ Văn Minh

đã đi đến 2 kết luận đáng chú ý: (i) hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá là toàn phần(>=1) sau khoảng 5-7 tháng kể từ khi có biến động tỷ giá, sau đó giảm dần; (ii) hiệuứng dẫn truyền của tỷ giá tới giá tiêu dùng lớn hơn hiệu ứng tới giá nhập khẩu Từ

đó tác giả đề xuất: muốn kiềm chế lạm phát phải dừng ngay việc mở rộng cung tiền,dừng việc NHNN can thiệp vào tỷ giá trên thị trường, thay vào đó nên áp dụng mộtchế độ tỷ giá linh hoạt với biên độ dao động rộng hơn Với quan điểm cho rằng biếnđộng của cầu nội địa không phải là nguyên nhân gây nên lạm phát, tác giả đề xuấtkhông nên thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt khi cầu nội địa gia tăng, thay vào

đó nên nhân cơ hội này để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 30

Nhóm tác giả Nguyễn Đình Mai Anh, Trần Mai Anh và Võ Trí Thành (2009)

đã áp dụng mô hình VAR với 7 biến nội sinh (OPGAP là sai lệch giữa sản lượngtiềm năng và sản lượng thực tế; CPI là chỉ số giá tiêu dùng; FCD là tiền gửi USD;M2 là tiền mở rộng; RVND là lãi suất tiền gửi VND 3 tháng; RUSD là lãi suất tiềngửi USD 3 tháng; ER là tỷ giá bình quân liên ngân hàng) để kiểm định và kết quảcho thấy lạm phát trong giai đoạn 2005-2009 thay đổi 7% sau một khoảng thời gianhai tháng kể từ khi có biến động 1% của tỷ giá, và mối tương quan này hoàn toànbiến mất ở tháng thứ 3 Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu gâynên lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm gần đây là do việc mở rộng cungtiền Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất cần phải kiểm soát chặt chẽ cung tiền, kết hợpvới việc để thị trường quyết định tỷ giá và NHNN chỉ sử dụng duy nhất một công

cụ lãi suất VND để kiềm chế lạm phát

Như vậy, các nghiên cứu trong nước về mối quan hệ tỷ giá hối đoái - lạmphát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu đã cung cấp các luận cứ khoa học.Tuy nhiên các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ nêu trên chỉ dừng lại ở mặt địnhtính mà chưa có các kiểm định mang tính định lượng Trong khi đó các nghiên cứuđịnh lượng thì chỉ tập trung đánh giá hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát màchưa đề cập đến mối quan hệ với chính sách LPMT Ngoài ra, các chuỗi số liệu đểkiểm định định lượng cũng không còn phù hợp với những diễn biến mới của nềnkinh tế trong giai đoạn hiện nay

1.5 Khoảng trống trong các nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và đóng góp của luận án

1.5.1 Khoảng trống trong các nghiên cứu

Như đã phân tích ở trên, trên thế giới đã có một số nghiên cứu về các vấn đề

có liên quan đến đề tài của luận án, trong đó có đưa ra các cơ sở lý luận về chínhsách LPMT, TGHĐ và mối quan hệ tỷ giá - lạm phát và khả năng thực hiện chínhsách LPMT Tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức cơ sở lý luận màchưa áp dụng riêng đối với trường hợp của Việt Nam

Trong nước cũng đã có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa TGHĐ vàchính sách LPMT cũng như những nhận định đánh giá về chính sách tỷ giá ở Việt

Trang 31

Nam trong thời gian qua nhưng chủ yếu dừng lại ở việc phân tích định tính, đưa ranhững đánh giá dựa trên các số liệu thống kê mà thiếu các mô hình thực nghiệm đolường hiệu ứng dẫn truyền từ tỷ giá sang lạm phát Một số nghiên cứu định lượng

đo lường ảnh hưởng của tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam là Võ Văn Minh, Võ TríThành và Dương Thị Thanh Mai Tuy nhiên các nghiên cứu không đề cập đến vấn

đề chính sách LPMT và việc lựa chọn cơ chế điều hành TGHĐ trong mối quan hệvới việc thực hiện chính sách LPMT

Từ những khoảng trống trong các nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh đã

lựa chọn đề tài “Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm thực hiện chính

sách lạm phát mục tiêu ở Việt Nam” Từ đó, luận án sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi

sau:

- Liệu Việt Nam có khả năng thực thi chính sách lạm phát mục tiêu không?

- Trong trường hợp chưa đáp ứng được đầy đủ các điều kiện để thực hiệnchính sách lạm phát mục tiêu thì Việt Nam cần phải làm gì để cải thiện tìnhhình hiện tại nhằm thực thi được chính sách lạm phát mục tiêu trong tươnglai? Lộ trình để Việt Nam chuyển sang chính sách lạm phát mục tiêu là nhưthế nào?

- Tỷ giá hối đoái có tác động lớn đến lạm phát và khả năng thực thi chính sáchlạm phát mục tiêu không? Tác động đó được thể hiện theo phân tích địnhlượng và định tính như thế nào? Nguyên nhân dẫn đến tác động này là gì?

- Khi thực hiện chính sách lạm phát mục tiêu thì cơ chế tỷ giá hối đoái hiện tại

có đáp ứng được các yêu cầu cần thiết để vận hành được chính sách lạm phátmục tiêu hiệu quả không?

- Trong trường hợp cơ chế tỷ giá hối đoái hiện tại không đáp ứng được yêucầu cần thiết để vận hành chính sách lạm phát mục tiêu hiệu quả, thì cơ chế

tỷ giá hối đoái nào là phù hợp? Việt Nam đã đáp ứng được các điều kiện đểvận hành cơ chế tỷ giá hối đoái được lựa chọn đó chưa?

Trang 32

- Nếu Việt Nam chưa đáp ứng được các điều kiện để vận hành cơ chế tỷ giáhối đoái được lựa chọn để thực thi chính sách lạm phát mục tiêu thì ViệtNam cần phải có giải pháp gì?

1.5.2 Phương pháp tiếp cận của luận án

Thứ nhất, luận án sử dụng các phương pháp truyền thống như thống kê, mô

tả và tổng hợp Cụ thể, đề tài sẽ tóm tắt một cách có hệ thống các nghiên cứu lýthuyết và thực nghiệm về các vấn đề liên quan đến chính sách LPMT, cơ chếTGHĐ và mối quan hệ giữa TGHĐ - lạm phát và chính sách LPMT

Thứ hai, luận án cũng kết hợp tổng thuật các tài liệu nghiên cứu đã có từtrước đến nay và phân tích định tính dựa trên số liệu tài chính - tiền tệ về hiệu quảcủa chính sách tiền tệ, tự do hóa các giao dịch vốn và cơ chế TGHĐ Theo phươngpháp này, đề tài nhấn mạnh việc cần thiết chuyển đổi sang cơ chế điều hành chínhsách tiền tệ theo LPMT và việc linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ để thực hiện chính sáchLPMT theo lý thuyết “Bộ ba bất khả thi”

Thứ ba, luận án cũng vận dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia về cácvấn đề liên quan đến khả năng thực thi chính sách LPMT và lựa chọn cơ chế TGHĐnhằm thực hiện chính sách LPMT ở Việt Nam Rõ ràng khuôn khổ này chưa được

áp dụng ở Việt Nam, và các tác động có thể chỉ là phỏng đoán Đánh giá cả cácchuyên gia am hiểu sâu về tài chính - tiền tệ sẽ là những đầu vào quan trọng củaluận án

Cuối cùng, luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng vĩ mô nhằm đánh giá địnhlượng tác động của TGHĐ vào lạm phát và khả năng thực thi chính sách LPMT Cụthể luận án dựa trên các nghiên cứu đã công bố (bao gồm cả các nguyên cứu ngoàinước và trong nước về hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giá như đã nêu ở phần trên) và cóphần lập luận, chỉnh sửa các biến kinh tế, để tạo ra mô hình phù hợp với điều kiệnkinh tế hiện tại ở Việt Nam Luận án tiến hành đo lường quy mô và xác định thờiđiểm của hiệu ứng dẫn truyền của TGHĐ bằng mô hình phân tích tự hồi quy theovectơ VAR được sử dụng với sự hỗ trợ của phần mềm Eview 8.1 Số liệu sử dụng

từ tháng 1/2005 đến tháng 12/2015 bao gồm các số liệu về giá dầu, TGHĐ trên thịtrường liên ngân hàng, khoảng cách sản lượng, chỉ số giá tiêu dùng, cung tiền VNĐ,

Trang 33

lãi suất tiền gửi USD kỳ hạn 3 tháng, chỉ số Đôla hóa, và lãi suất tiền gửi VND kỳhạn 3 tháng Nguồn để lấy các số liệu thống kê nêu trên là từ Tổng cục Thống kê,Ngân hàng Nhà nước, Thống kê tài chính quốc tế của Quỹ tiền tệ quốc tế, và Hãngtin Reuters.

1.5.3 Kết quả nghiên cứu dự kiến, đóng góp và điểm mới của luận án

Luận án sẽ tập trung nghiên cứu và dự kiến một số kết quả nghiên cứu nhưsau:

- Thứ nhất, bằng việc đánh giá các điều kiện để thực hiện chính sách lạmphát mục tiêu tại Việt Nam, luận án dự kiến trong hoàn cảnh là một nước đang pháttriển như hiện tại, Việt Nam khó có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện để áp dụngchính sách LPMT Trên cơ sở đó, luận án dự kiến sẽ xây dựng lộ trình và các giảipháp để Việt Nam có thể chuyển sang khuôn khổ chính sách LPMT trong thời giantới

- Thứ hai, bằng việc phân tích mối quan hệ giữa TGHĐ và khả năng thực thichính sách LPMT theo lý thuyết “Bộ ba bất khả thi”, luận án dự kiến cơ chế CSTT

đa mục tiêu hiện nay đang gặp phải nhiều thách thức, lựa chọn một cơ chế CSTTmới là cần thiết và LPMT có thể là sự lựa chọn hợp lý Ngoài ra, khi đã xác địnhthực thi chính sách LPMT thì yêu cầu tất yếu là cần phải linh hoạt hóa cơ chếTGHĐ trong điều kiện các giao dịch vốn được tự do hóa Vì vậy, luận án sẽ đề xuất

cơ chế TGHĐ linh hoạt phù hợp và đưa ra những biện pháp để linh hoạt hóa cơ chếTGHĐ

- Thứ ba, bằng mô hình kinh tế lượng, kết quả dự kiến của luận án là TGHĐ

có tác động tương đối mạnh đến lạm phát, cũng như ảnh hưởng đến khả năng thựcthi chính sách lạm phát mục tiêu Đây là cơ sở quan trọng trong quá trình lựa chọn

cơ chế TGHĐ nhằm thực thi chính sách LPMT và đề xuất một số giải pháp để thựchiện

Dựa trên các kết quả nghiên cứu dự kiến, luận án sẽ có những đóng góp vànhững điểm mới sau:

Trang 34

- Thứ nhất, luận án có đánh giá cụ thể 4 điều kiện để áp dụng chính sách lạmphát mục tiêu tại Việt Nam như hạ tầng kỹ thuật, sự độc lập về thể chế, sự lànhmạnh của hệ thống tài chính, và cơ cấu kinh tế.

- Thứ hai, luận án đã làm rõ thực trạng về điều hành chính sách tiền tệ, giaodịch vốn, và cơ chế tỷ giá của Việt Nam qua các thời kỳ cụ thể, từ 2005 đến nay.Trên cơ sở đó, luận án đã chỉ ra kết quả cũng như hạn chế của cơ chế cũ và phươnghướng cho cơ chế mới theo chính sách LPMT

- Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực tiễn, luận án

đã bước đầu lựa chọn, vận dụng và chỉnh sửa mô hình về mối quan hệ kinh tế vĩ môgiữa tỷ giá và lạm phát Dựa vào bộ số liệu thu thập được từ nền kinh tế Việt Namthời kỳ 2005-2015, sau khi đã xử lý đồng bộ, luận án đã đưa vào ước lượng mô hìnhtrên

- Cuối cùng, luận án đã xây dựng lộ trình thực hiện chính sách lạm phát mụctiêu và đề xuất một số giải pháp linh hoạt hóa cơ chế tỷ giá hối đoái nhằm thực thichính sách lạm phát mục tiêu

Trong chương 2, luận án tổng hợp cơ sở lý luận về khuôn khổ chính sáchLPMT, bao gồm những lợi ích/thách thức, các điều kiện cũng như các yếu tố kỹthuật để thực hiện chính sách LPMT Bên cạnh đó, đề tài có đề cập đến cơ chếTGHĐ, bao gồm các loại cơ chế và các điều kiện để có thể linh hoạt hóa cơ chếTGHĐ Ngoài ra, luận án có phân tích mô hình Mundell-Fleming và lý thuyết “Bộ

ba bất khả thi” để đánh giá mối quan hệ giữa việc lựa chọn cơ chế TGHĐ và khảnăng thực thi chính sách LPMT

Trang 35

Trong chương 3, luận án đánh giá chính sách tiền tệ giai đoạn 2005-2015 vàphân tích 4 điều kiện để thực hiện chính sách LPMT, cụ thể: về hạ tầng kỹ thuật, sựđộc lập về thể chế, sự lành mạnh của hệ thống tài chính, và cơ cấu kinh tế Từ đó,luận án nêu rõ, hiện tại Việt Nam chưa đáp ứng được đầy đủ các điều kiện kể trên,tuy nhiên điều quan trọng trong quá trình thực thi chính sách LPMT không phải làphải đáp ứng đầy đủ các điều kiện trước khi chuyển sang chính sách LPMT màquan trọng là phải nhận thức được các yếu kém và cải thiện được các hạn chế, tồntại hiện tại

Trong chương 4, luận án đánh giá cơ chế tỷ giá hối đoái giai đoạn 2005-2015

và phân tích lý thuyết “Bộ ba bất khả thi” cũng như hiệu ứng dẫn truyền của tỷ giásang lạm phát Qua đó, luận án làm rõ vấn đề để điều hành CSTT theo chính sáchLPMT thì yêu cầu tiên quyết phải linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ

Trong chương 5, luận án trình bày cơ chế chính sách lạm phát mục tiêu và lộtrình thực hiện chính sách LPMT tại Việt Nam Sau đó, luận án đề xuất một số giảipháp nhằm linh hoạt hóa cơ chế TGHĐ để thực hiện chính sách LPMT, như việcđiều chỉnh tỷ giá trung tâm và biên độ tỷ giá, sử dụng hiệu quả dự trữ ngoại hối đểcan thiệp ổn định thị trường ngoại tệ, phát triển thị trường ngoại hối, và quản lý rủi

ro tỷ giá

Trang 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:

Chương 1 là chương đầu tiên của luận án, trong đó luận án đã đề cập đến cácnghiên cứu ngoài nước và trong nước về chính sách LPMT, cơ chế TGHĐ và mốiquan hệ giữa tỷ giá hối đoái - lạm phát và thực thi chính sách lạm phát mục tiêu.Trong mỗi công trình nghiên cứu trước đây, luận án đã chỉ rõ khoảng thời giannghiên cứu của các công trình và giá trị ứng dụng của các công trình đã công bố bêncạnh việc tóm lược kết quả nghiên cứu chính và chỉ ra hạn chế của các nghiên cứu

đó Từ đó, tác giả đã nêu bật các khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây làm

cơ sở để lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận án Để thực hiện đề tài này, luận án đãxác lập các câu hỏi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu phù hợp, bao gồm cảphương pháp định tính và phương pháp định lượng Cuối cùng tại Chương 1, luận

án đã đề cập đến một số kết quả nghiên cứu dự kiến, những đóng góp và điểm mớicủa luận án

Như vậy, trong Chương 1, luận án đã tiến hành tổng thuật các nghiên cứungoài nước và trong nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó tìm ra khoảngtrống và đề xuất các phương pháp để thực hiện nghiên cứu

Trang 37

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH LẠM PHÁT MỤC TIÊU

VÀ CƠ CHẾ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2.1 Một số vấn đề lý luận về chính sách lạm phát mục tiêu

2.1.1 Lạm phát và chính sách lạm phát mục tiêu

2.1.1.1 Lạm phát và phương pháp đo lường lạm phát

Theo các nhà kinh tế thuộc trường phái trọng tiền, đứng đầu là MiltonFriedman: Lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh và liên tục trong thời gian dài.Định nghĩa này cũng được các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes ủng hộ

Theo Michael Parkin trong “Kinh tế học vĩ mô”: Lạm phát là một quá trìnhtrong đó mức giá tăng, còn tiền thì liên tục mất giá

Theo P.A Samuelson và W.D Nordhaus trong “Kinh tế học”: Lạm phát xảy

ra khi mức chung của giá cả chi phí tăng lên

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Công trong giáo trình “Giáo trình Nguyên lýkinh tế vĩ mô”: Lạm phát là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ

Theo các tác giả, có thể nói lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mứcgiá chung hầu hết các hàng hóa và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó Tuynhiên điều này không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồngthời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Mộtnền kinh tế vẫn có thể trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm, nếu nhưgiá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh Lạm phát cũng có thể đượchiểu là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ Trong bối cảnh lạm phát,một đơn vị tiền tệ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn, hay để mua được một giỏhàng hóa và dịch vụ cố định, người tiêu dùng sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội

tệ hơn

Như vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về lạm phát, nhưng nhìn chung có

thể hiểu lạm phát là hiện tượng mức giá chung của các hàng hóa và dịch vụ tăng

lên và sức mua thực tế của đồng tiền giảm xuống so với một thời điểm trước đó

Vì sự thay đổi giá cả các hàng hóa và dịch vụ không đều nhau, có một số mặthàng giá tăng nhanh, một số khác giá tăng chậm, thậm chí có mặt hàng giảm giá,

Trang 38

nên để đo lường sự thay đổi mức giá, việc tính mức giá bình quân thông qua chỉ sốgiá được sử dụng Trên thực tế có hai chỉ số giá dùng để đo lường lạm phát là chỉ sốgiá tiêu dùng và chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội Tuy nhiên, do liên quanđến các nội dung trong luận án, luận án chỉ đề cập đến phương pháp đo lường lạmphát thông qua chỉ số giá tiêu dùng Cụ thể: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số

cơ bản đo lường giá cả hàng hóa và dịch vụ và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạmphát hoặc giảm phát hay không CPI đo lường mức giá bình quân của một nhómhàng hóa và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các hộ gia đình được lựa chọn của mộtgiai đoạn như tỷ lệ phần trăm của mức giá giai đoạn trước (được gọi là năm gốc).CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàngtiêu dùng theo thời gian Đây chính là số bình quân gia quyền của giá các hàng hóa

và dịch vụ (thường là một rổ hàng hóa và dịch vụ nào đó được lựa chọn, tùy đặcđiểm và cách tính của từng nước) trong một nền kinh tế Quyền số tính chỉ số giátiêu dùng là cơ cấu chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ trong tổng chi tiêu dùngcủa hộ gia đình

2.1.1.2 Khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu

Có nhiều định nghĩa về LPMT, tuy nhiên, định nghĩa của Bernanke vàMishkin (1997) được chấp thuận rộng rãi, theo đó, LPMT là một khuôn khổ chínhsách tiền tệ được đặc trưng bằng việc tuyên bố chính thức mục tiêu mức lạm phátcần đạt trong một thời kỳ và xác định một cách công khai rằng lạm phát thấp, ổnđịnh là mục tiêu cơ bản, dài hạn của chính sách tiền tệ

Mishkin (2001) làm rõ hơn các nội dung của chính sách LPMT, cụ thể: (i)NHTW công bố ra công chúng mức LPMT cụ thể trong trung hạn; (ii)NHTW/Chính phủ cam kết ổn định giá cả như mục tiêu cốt yếu của chính sách tiềntệ; (iii) Chiến lược thông tin bao gồm nhiều biến số (ngoài tổng cung ứng tiền tệhay tỷ giá hối đoái); (iv) Tăng tính minh bạch của chính sách tiền tệ thông qua việcthông báo với công chúng về kế hoạch, mục tiêu và các quyết định của NHTW; (v)Trách nhiệm giải trình khi mục tiêu không đạt được và các vấn đề liên quan khác

Như vậy, có thể hiểu chính sách lạm phát mục tiêu là một khuôn khổ chính

sách tiền tệ trong đó công bố và coi lạm phát ổn định là mục tiêu chính cần đạt được trong một thời kỳ.

Trang 39

2.1.2 Đặc trưng của chính sách lạm phát mục tiêu

Chính sách LPMT thực chất là một khuôn khổ chứ không phải là các quy tắccứng nhắc phải nhất nhất tuân theo của chính sách tiền tệ (Bernanke và Mishkin,1997) Có thể tổng kết những đặc trưng của chính sách LPMT bao gồm:

- Ổn định giá cả được xác định là mục tiêu chính yếu của chính sách tiền tệ

- Công bố công khai về một mục tiêu định lượng cho lạm phát

- Chính sách tiền tệ dựa trên cơ sở một tập hợp nhiều thông tin, trong đó dựbáo lạm phát có vai trò quan trọng

- Tính công khai minh bạch trong điều hành chính sách tiền tệ

- Các cơ chế rõ ràng về trách nhiệm giải trình của ngân hàng trung ương.NHTW các nước theo đuổi chính sách LPMT đều lấy nhiệm vụ trọng tâmcủa chính sách tiền tệ là ổn định giá cả Điều này được hiểu là những mục tiêu kinh

tế vĩ mô khác như tăng trưởng kinh tế hay tạo việc làm sẽ là những nhiệm vụ thứyếu so với kiềm chế lạm phát Mishkin (2000) diễn giải khái niệm ổn định giá cả đó

là một mức tăng giá cả mà không làm ảnh hưởng đến các quyết định chi tiêu của hộgia đình và doanh nghiệp, nằm trong khoảng từ 0 đến 3% và không làm mất đi sựtín nhiệm đối với NHTW và chính sách LPMT Tuy nhiên, trên thực tế, để tránhnhững tranh cãi xung quanh định nghĩa chính xác về ổn định giá cả, các NHTW tậptrung vào việc giảm lạm phát đến một mức mà cảm thấy không còn lo ngại về nó,thường có giá trị nằm trong khoảng từ 2% đến dưới 3-4%/năm (Hammond, 2012)

Mục tiêu lạm phát trong khuôn khổ chính sách LPMT là những con số lạmphát cụ thể cần đạt được trong một khoảng thời gian nhất định Những con số này

sẽ được NHTW công bố công khai cùng với trách nhiệm thực hiện mục tiêu đó.Mục tiêu lạm phát này được gọi là điểm mục tiêu Tuy nhiên, thông thường cácquốc gia công bố điểm mục tiêu lạm phát kèm theo một biên độ dung sai cho phép

là ±1% (hay ±2% nếu lạm phát hiện tại đang ở mức cao) Hoặc mục tiêu lạm phátcũng có thể được công bố là một khoảng mục tiêu, ví dụ từ 2 đến 4% Những mụctiêu lạm phát này sẽ phải đạt được trong một phạm vi thời gian trung hạn, thường là

2 hay 3 năm

Trang 40

Chính sách LPMT hoạt động tốt nhất phải dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ vềcác diễn biến vĩ mô của nền kinh tế thực, bao gồm cả dự báo lạm phát Trong khuônkhổ này, NHTW sử dụng tất cả các thông tin liên quan mà có ảnh hưởng lên dự báolạm phát và nền kinh tế thực, bao gồm cả các điều kiện tài chính như tăng trưởng tíndụng, giá cả tài sản, các vấn đề bất ổn, nguy cơ bong bóng giá cả tài sản… Như vậy,

dự báo lạm phát đóng vai trò rất quan trọng trong áp dụng chính sách LPMT

Chìa khóa cho việc thực thi thành công chính sách LPMT là sự minh bạch vàtruyền thông đến công chúng Chiến lược truyền thông của NHTW nhằm giúpngười dân và doanh nghiệp hiểu rõ những hành động của chính sách tiền tệ khi theođuổi những mục tiêu đã đề ra Chiến lược truyền thông phải giải thích rõ cho côngchúng về: (i) các mục tiêu và giới hạn của chính sách tiền tệ, bao gồm cả các lý do

cơ bản cho các mục tiêu lạm phát; (ii) giá trị lượng hóa của các mục tiêu lạm phát

và cách thức chúng được xây dựng; (iii) phương thức để đạt được các mục tiêu lạmphát, căn cứ vào các điều kiện kinh tế hiện hành; (iv) nguyên nhân của các sai lệch

so với mục tiêu Sự công khai minh bạch sẽ giúp ổn định các kỳ vọng về lạm phát, từ

đó xây dựng được niềm tin và sự ủng hộ của người dân đối với các biện pháp chínhsách của NHTW, là những yếu tố quyết định sự thành công của một CSTT

Tính công khai minh bạch này cũng giúp tăng cường sự tự chủ của NHTWtrong hành động, ví dụ như cho phép các NHTW theo đuổi chính sách tiền tệ mởrộng khi phải đối phó với các cú sốc cầu trong nền kinh tế mà không tác động tiêucực lên các kỳ vọng lạm phát Hơn nữa, một khuôn khổ chính sách rõ ràng, công khaiminh bạch còn làm tăng trách nhiệm giải trình của NHTW Trách nhiệm giải trìnhcủa NHTW đối với mục tiêu lạm phát dài hạn không chỉ thể hiện ở sự cam kết thựchiện mà còn đặt ra những kỷ luật thực hiện nếu không đạt mục tiêu đề ra

2.1.3 Lợi ích của chính sách lạm phát mục tiêu

2.1.3.1 Ngân hàng trung ương có được sự tự chủ và linh hoạt trong thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô

Bernanke và Mishkin (1997) nhấn mạnh rằng chính sách LPMT là mộtkhuôn khổ chứ không phải là một nguyên tắc cứng nhắc trong điều hành chính sáchtiền tệ mà NHTW nhất nhất phải tuân theo Khuôn khổ này cho phép NHTW được

Ngày đăng: 14/04/2017, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w