PHẦN MỞ ĐẦU1.Lí do chọn đề tàiGiáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới. Đảng ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân”, nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hài hòa. Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất tình cảm và các kĩ năng cơ bản.Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho học sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy cho học sinh. Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân cách con người mới. Phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực chữ viết. Dạy tốt Chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩ năng cơ bản mà các em cần đạt tới. Đó là kĩ năng viết đúng, muốn viết đúng được câu văn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ .Chính tả được hiểu là hệ thống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ. Nói cách khác, chính tả là những chuẩn mực của một ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàn dân. Mục đích của nó là làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảo cho người viết và người đọc thống nhất những điều đã viết.Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vịtừ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện họctốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếngviệt có hiệu quả. Trong suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữviết, người xưa thường nói: “Nét chữ nết người Văn hay chữ tốt. Quả thậtkhi viết chữ đã không tốt thì văn không thể hay được. Do vậy, việc nghiên cứuphương pháp để dạy tốt môn Chính tả là một việc làm hết sức cần thiết tronggiai đoạn hiện nay nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt1ở trường Tiểu học. Trong thực tế, thói quen và kĩ năng viết đúng chính tả của học sinh tiểu học chưa tốt. Đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học ở vùng nông thôn, vùng sấu vùng xa do điều kiện học tập ở nhà trường còn hạn chế. Các em ít được rèn luyện về ngôn ngữ qua các phương tiện sách báo .Một trong những nguyên nhấn đưa đến thực trạng học sinh sai chính tả hiện nay là do các em đọc như thế nào viết như thế ấy. Các em chưa nắm vững quy tắc ngữ ấm của chữ quốc ngữ và ít được biết đến một số mẹo luật chính tả cơ bản. Riêng với giáo viên việc dạy Chính tả chỉ dừng lại ở mức độ truyền đạt hết nội dung của sách giáo khoa qua bài viết nhưng chưa chú ý đến đặc điểm ngôn ngữ vùng miền đang ở. Hơn nữa việc nắm các lỗi chính tả cần dạy cho học sinh chưa được giáo viên quan tấm đúng mức đã dẫn đến hạn chế kết quả giảng dạy của phấn môn Chính tả hiện nay.Qua thưc tiên theo doi, tôi nhấn thấy có rất nhiều học sinh viết sai chính tả. Đấy la môt trong nhưng nguyên nhấn gấy anh hương không nho đên chất lương hoc tấp cua cac em. Qua đo, chỉ có luyện tập thực hành mới giúp các em hiêu ro, nhơ lấu va vấ n dung tôt vao thưc tê hoc tấp cung như trong cuôc sông hàng ngày. Măt khac, tôi rất thích nghiên cưu , tìm tòi học hỏi những quy luật chính tả, nhưng cai mơi trong khi giang day va trong thưc tiên đê gop phấn bô sung kiến thức, kinh nghiêm cho ban thấn khi ra trương , đông thơi tưng bươc nấng cao chất lương day va hoc chung.Xuất phat tư nhưng vấn đê trên , tôi quyêt định chon đê tai: “Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HSTH trường Tiễu học xã Hải Ninh huyễn Hải Hậu tỉnh Nam Định”. Nhằm nấng cao chất lượng dạy học Chính tả ở trường Tiểu học.2.Lịch sử vấn đềNói và viết đúng chính tả sẽ giúp người nghe và cảm nhận được nội dung và ý muốn mà người nghe muốn truyền đạt. Vì vậy việc rèn luyện, đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tấm, tìm hiểu. Cụ thể với những cuốn cơ bản như:Cuôn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1” của tác giả Lế Phương Nga Lê A Lế Hữu Thỉnh Đỗ Xuân Thao Đặng Kim Nga (NXB Đại học sư phạm Hà Nội, 2003) cũng đề cập đến phân môn Chính ta về: mục tiếu, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ học của viếc dạy chính tả, một số nguyến tắc dạy chính tả, phương pháp dạy chính tả.Trong cuôn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Giáo trình chính thức đào tạo GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2) của Lế A Thành Yên Mĩ Lế Phương Nga Nguyễn Trí Cao Đức Tiến cũng đua ra cơ sở lí luận và một số phương pháp dạy Chính tả.Cuôn “Vui học Tiếng Việf’ (Trần Mạnh Hưởng, NXB Giáo dục 2000). Tài liệu này đã biến soạn những trò chơi, những bài tập vui nhẹ nhàng về tiếng Việt theo yếu cầu kiến thức kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Qua đó giúp HS rèn luyện tốt các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trong đó có kĩ năng nói và viết chính tả được chú trọng.Hầu hết các tác giả đều đề cập đến những vấn đề về phân môn Chính tả nhưng còn mang tính chất lí thuyết, chung chung. Để kế thừa và phát huy các tinh thần, tư tưởng của các công trình nghiến cứu nói trến, đồng thời đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HS lớp 3, tôi chọn đề tài: “Mỗt sỗ biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HSTH trường Tiệu học xả Hải Ninh huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định”.3.Mục đích nghiện cứuChính tả là một phân môn quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riếng. Qua việc học chính tả các em nắm, biết được cách phát âm đúng, chuẩn tiếng Viết:. Từ đó các em có thói quen viết đung chính tả, giúp các em tiếp thu tri thức khoa học nhưng trến thực tế, hiện tượng viết sai lôi chính tả vẫn còn tồn tại.Vì vậy thực hiện đề tài, tôi mong đề xuất được các biện pháp có hiệu quả trong việc sửa lỗi, rèn kỹ năng và khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học nói chung. Qua đo vận dụng các nguyến tắc dạy trong phân môn Chính tả hìnhthành kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học.Đồng thời nậng cao hiệu quả dạy học Chính tả cho HS lớp 3 ở Trường Tiểu học Hải Ninh Hải Hậu Nam Định nói riêng và soạn giáo án theo hướng đổi mới, phưỏng pháp và nội dung bài dạy cho sát thực với việc rèn chính tả cho học sinh địa phưỏng.4.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiễn cứu4.1.Đối tượngMôt sô biên phap khăc phuc lôi Chính ta cho HS TH trường Tiểu học xa Hải Ninh, huyên Hải Hậu, tỉnh Nam Định.4.2.Khách thểNghiên cưu l ỗi chính tả của 60 học sinh lỏp 3 ở trường Tiểu học xã Hải Ninh, huyên Hai Hậu, tỉnh Nam Đinh.4.3.Phạm vi nghiên cứuKhóa luận nghiên cứu cỏ sở lý luận của việc sửa lỗi chính tả cho HS nhưng ví điêu kiên hạn chê nên chí lựa chọn và khảo sát những từ ngữ phổ biến, dê măc lôi trong các bài chính tả lớp 3 mà HS thường mắc khi phát ậm cũng như viêt trong quá trình học tập và giao tiếp. Từ đó đề xuất biện pháp sửa lỗi chính tả, đồng thời tiến hành thiết kế mẫu giáo án thể nghiệm vận dụng cho HS lớp 3 trường Tiểu học Hải Ninh Hải Hậu Nam Đinh.5.Nhiệm vụ nghiễn cứuNgoài việc nậng cao chất lượng toàn diện giao viên còn phải quan tậm đến chữ viết của học sinh. Chữ viết có đẹp , đúng chính tả thì mới hấp dẫn được người đọc. Chữ viết có đúng thì người đọc mới dễ dàng hiểu rõ nội dung của bài văn mà mình muốn diễn đạt. Do đó viêc dạy phân môn Chính tả trong trường Tiểu học là rất quan trọng mà giáo viên cần phải quan tậm. Vì vậy để nghiên cưu đê tài này thì cần phải:Tìm hiểu cỏ sở lý luận của dạy học Chính tả và thực trạng của việc phát ậm tiếng Việt cũng như viết chính tả của HS ở Trường Tiểu học Hải Ninh Hải Hậu Nam Đinh.Tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của HS lớp 3 trưỏng tiêu hoc Hai Ninh.Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS địa phưỏng.4Thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài.6.Phương pháp nghiện cứuĐể thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiến cứu của đề tài đề ra ở trến, tôi xây dựng nhóm phương pháp như sau:Nhóm phương pháp nghiến cứu lý thuyết:+ Nghiến cứu tài liệu và các văn bản chỉ đạo của các cấp có liến quan đếnđề tài.Nhóm phương pháp nghiến cứu thực tiễn:+ Phương pháp điều tra.+ Phương pháp quan sát.+ Phương pháp trò chuyện.+ Phương pháp thu thập thông tin.+ Phương phap thực nghiếm.Nhóm phương pháp hỗ trợ.+Thống kếTrong đo tôi chu yếu tâp trung vao cac phương phap như:Phương phap điếu tra, quan sat nhăm:. Khảo sát nội dung sach giao khoa. Tìm hiểu thực tế địa bàn mình dạy . Tình hình viết chính tả của học sinh.7.Giả thuyết khoá họcSửa lỗi chính tả trong dạy học phân môn Chính tả cho HS hiện nay còn gặp nhiều khó khăn. Đây là vấn đề còn nhiều băn khoăn, trăn trở của không ít GV Tiểu học. Nếu việc tìm hiểu nguyến nhân về các lỗi chính tả của học sinh thường mắc phải được chính xac thì viếc đưa ra cac biến phap đế khăc phuc lôi chính tả cho HS sẽ có tính khả thi và góp thếm tiếng nói để giải quyết những khó khăn đó, góp phần nâng cao chất lượng sửa lỗi chính tả cho HS. Tư đo việc vận dụng các nguyến tắc, biện pháp, phương pháp dạy học về phân môn Chính tả sẽ thuận lợi và giúp cho học sinh khắc phục được các lỗi thường mắc, giúp giáoviên đạt kết quả cao trong quá trình rèn luyện kĩ năng viết đúng cho học sinh Tiểu học.S.Cấu truc cua đễ tàiĐề tài bao gồm những nội dung sau:Phần mở đầu.Phần nội dung gồm 3 chưỏng:+ Chưỏng 1: Cỏ sở lí luận và cỏ sỏ thưc tiên+ Chưỏng 2: Đê xuật môt sô biên phap khăc phuc lôi chính tả cho HSTH + Chưỏng 3: Thưc nghiêm .Phần kết luận
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Giả thuyết khoa học 5
8 Cấu trúc của đề tài 6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận vài cơ sở thực tiễn
Trang 3MỤC LỤC 1.1 Cơ sơ lí luấn 7
1.1.1 Cơ sở tấm lí học và cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1 Cơ sở tấm sinh lý
1.1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 10
1.1.2 Vị trí, tính chất của dạy học Chính tả 11
1.1.3 Tấm quan trong cua day học Chính ta 11
1.1.4 Dạy học Chính tả ở tiểu học 12
1.1.4.1 Nôi dung chương trinh 12
1.1.4.2 Sách giáo khoa 13
1.1.4.3 Sách giáo viên 13 1.2 Cơ sở thực tiễn 15
Trang 4MỤC LỤC 1.2.1 Thực trạng của việc dạy và học Chính ta
trong nha trương 15
1.2.1.1 Vê phía giao viên 15
1.2.1.2 Vê phía hoc sinh 17
1.2.2 Vê tính hính thực tê hoc sinh 20
1.2.2.1 Thuận lợi 20
1.2.2.2 Khó khăn 20
Trang 51.2.2.3 Khảo sát thực trạng
20
1.2.3 Nguyện nhân mắc lỗi chính tả của HS 25
1.2.3.1 Về phía HS 25 1.2.3.2 Về phía GV 27 1.2.4 Số bài, thời lượng học 29
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: Đe xuất mốt số biện pháp khắc phục lỗi chinh tả cho HSTH 32
2.1 Luyện phat âm 32
2.2 Phân tích so sánh 32
2.3 Giải nghĩa từ 33
2.4 Biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả qua các bài tập 34
2.4.1 Bài tập điền vào chỗ trống 34
2.4.2 Bài tập tìm từ 35
2.4.3 Bài tập tìm tiếng 35
2.4.4 Bài tập giải câu đố 36
2.4.5 Bài tập lựa chọn 36
2.4.6 Một số bài tập ngoài giờ học chính khóa 36
2.5 Đọc mẫu - Hướng dẫn cách viết 38
2.6 Khăc phuc lỗi chính ta thông qua day học nhữrỊphân môn môn học khac 39
2.7 Khăc phuc lỗi chính ta thông qua giao tiếp 39
2.8 Chấm chữa bài 40
Tiểu kết chương 2 42
Chương 3: Thể nghiệm 43
3.1 Những vấn đề chung 43
3.1.1 Một số yếu cầu của thiết kế 43
3.1.2 Cấu trúc của thiết kế 43
Trang 63.2 Thiết kế thể nghiệm 44
3.3 Thể nghiệm 44
3.3.1 Mục đích thể nghiệm 44
3.3.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 45
3.3.2.1Đối tượng thể nghiệm 45
3.3.2.2Thời gian và địa bàn thể nghiệm 45
3.3.3 Cách thức thể nghiệm 45
3.3.4 Nội dung, tiêu chí đanh gia 45
3.3.4.1 Nội dung thể nghiệm 45
3.3.4.2 Tiêu chí đánh giá 46
3.3.4.3 Phiếu bài tập thể nghiệm 46
3.3.5 Phương pháp thể nghiệm 46
3.3.6 Kết quả thể nghiệm 47
Tiểu kết chương 3 48
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
3.1 Bài học kinh nghiệm 50
3.2 Kết luận 51
3.3 Kiến nghị 52
3.3.1 Đối với phụ huynh học sinh 52
3.3.2 Đối với nhà trường 52
3.3.3 Đối với Phòng giáo dục 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hếtsức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới Đảng
ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân”, nền
tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hàihòa Mục tiêu của giáo dục tiểu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất tình cảm và các kĩ năng cơ bản
Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng nhằm thực hiện mụctiêu của môn học “Tiếng Việt” là rèn luyện kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe chohọc sinh, kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sử dụng tiếng Việt và phát triển tư duy chohọc sinh Mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhâncách con người mới Phát triển tiếng mẹ đẻ cho học sinh trong đó có năng lực chữviết Dạy tốt Chính tả cho học sinh tiểu học là góp phần rèn luyện một trong bốn kĩnăng cơ bản mà các em cần đạt tới Đó là kĩ năng viết đúng, muốn viết đúng được câuvăn, đoạn văn thì trước hết học sinh cần viết đúng đơn vị từ Chính tả được hiểu là hệthống quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cách khác,chính tả là những chuẩn mực của một ngôn ngữ được thừa nhận trong ngôn ngữ toàndân Mục đích của nó là làm phương tiện cho việc giao tiếp bằng ngôn ngữ, đảm bảocho người viết và người đọc thống nhất những điều đã viết
Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kĩ năng viết đúng đơn vị
từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện họctốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếngviệt có hiệu quả Trong suy nghĩ và giao tiếp đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ
viết, người xưa thường nói: “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt" Quả thật
khi viết chữ đã không tốt thì văn không thể hay được Do vậy, việc nghiên cứuphương pháp để dạy tốt môn Chính tả là một việc làm hết sức cần thiết tronggiai đoạn hiện nay nhằm góp phần vào việc thực hiện mục tiêu môn Tiếng Việt
1
ở trường Tiểu học Trong thực tế, thói quen và kĩ năng viết đúng chính tả của học sinhtiểu học chưa tốt Đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học ở vùng nông thôn, vùng sấu
Trang 8Qua thưc tiên theo doi, tôi nhấn thấy có rất nhiều học sinh viết sai chính tả Đấy
la môt trong nhưng nguyên nhấn gấy anh hương không nho đên chất lương hoc tấp cua cac em Qua đo, chỉ có luyện tập thực hành mới giúp các em hiêu ro, nhơ lấu va
vấ n dung tôt vao thưc tê hoc tấp cung như trong cuôc sông hàng ngày Măt khac, tôi rất thích nghiên cưu , tìm tòi học hỏi những quy luật chính tả, nhưng cai mơi trong khigiang day va trong thưc tiên đê gop phấn bô sung kiến thức, kinh nghiêm cho ban thấn khi ra trương , đông thơi tưng bươc nấng cao chất lương day va hoc chung
Xuất phat tư nhưng vấn đê trên , tôi quyêt định chon đê tai: “Một số biện pháp
khắc phục lỗi chính tả cho HSTH trường Tiễu học xã Hải Ninh huyễn Hải Hậu tỉnh Nam Định” Nhằm nấng cao chất lượng dạy học Chính tả ở trường Tiểu học.
2 Lịch sử vấn đề
Nói và viết đúng chính tả sẽ giúp người nghe và cảm nhận được nội dung và ýmuốn mà người nghe muốn truyền đạt Vì vậy việc rèn luyện, đề xuất các biện phápkhắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu quan tấm,tìm hiểu Cụ thể với những cuốn cơ bản như:
Cuôn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1” của tác giả Lế Phương Nga Lê A
-Lế Hữu Thỉnh - Đỗ Xuân Thao - Đặng Kim Nga (NXB Đại học sư phạm Hà Nội,2003) cũng đề cập đến phân môn Chính ta về: mục tiếu, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữhọc của viếc dạy chính tả, một số nguyến tắc dạy chính tả, phương pháp dạy chính tả
Trong cuôn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt” (Giáo trình chính thức đào tạo
GV Tiểu học hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12 + 2) của Lế A - Thành Yên Mĩ - Lế
Trang 9Hầu hết các tác giả đều đề cập đến những vấn đề về phân môn Chính tả nhưngcòn mang tính chất lí thuyết, chung chung Để kế thừa và phát huy các tinh thần, tưtưởng của các công trình nghiến cứu nói trến, đồng thời đề xuất một số biện phápkhắc phục lỗi chính tả cho HS lớp 3, tôi chọn đề tài: “Mỗt sỗ biện pháp khắc phục lỗichính tả cho HSTH trường Tiệu học xả Hải Ninh huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định”.
3 Mục đích nghiện cứu
Chính tả là một phân môn quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung vàmôn Tiếng Việt nói riếng Qua việc học chính tả các em nắm, biết được cách phát âmđúng, chuẩn tiếng Viết: Từ đó các em có thói quen viết đung chính tả, giúp các emtiếp thu tri thức khoa học nhưng trến thực tế, hiện tượng viết sai lôi chính tả vẫn còntồn tại
Vì vậy thực hiện đề tài, tôi mong đề xuất được các biện pháp có hiệu quả trongviệc sửa lỗi, rèn kỹ năng và khắc phục lỗi chính tả cho HS Tiểu học nói chung Qua
đo vận dụng các nguyến tắc dạy trong phân môn Chính tả hình
thành kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh tiểu học
Đồng thời nậng cao hiệu quả dạy học Chính tả cho HS lớp 3 ở Trường Tiểu họcHải Ninh - Hải Hậu - Nam Định nói riêng và soạn giáo án theo hướng đổi mới,phưỏng pháp và nội dung bài dạy cho sát thực với việc rèn chính tả cho học sinh địaphưỏng
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiễn cứu
4.1 Đối tượng
Môt sô biên phap khăc phuc lôi Chính ta cho HS TH trường Tiểu học xa HảiNinh, huyên Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Trang 101 0
5 Nhiệm vụ nghiễn cứu
Ngoài việc nậng cao chất lượng toàn diện giao viên còn phải quan tậm đến chữviết của học sinh Chữ viết có đẹp , đúng chính tả thì mới hấp dẫn được người đọc.Chữ viết có đúng thì người đọc mới dễ dàng hiểu rõ nội dung của bài văn mà mìnhmuốn diễn đạt Do đó viêc dạy phân môn Chính tả trong trường Tiểu học là rất quantrọng mà giáo viên cần phải quan tậm Vì vậy để nghiên cưu đê tài này thì cần phải:
Tìm hiểu cỏ sở lý luận của dạy học Chính tả và thực trạng của việc phát ậmtiếng Việt cũng như viết chính tả của HS ở Trường Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu -Nam Đinh
Tìm hiểu thực trạng lỗi chính tả của HS lớp 3 trưỏng tiêu hoc Hai Ninh
Đề xuất một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS địa phưỏng
4Thể nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài
6 Phương pháp nghiện cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiến cứu của đề tài đề ra ở trến, tôi xâydựng nhóm phương pháp như sau:
- Nhóm phương pháp nghiến cứu lý thuyết:
+ Nghiến cứu tài liệu và các văn bản chỉ đạo của các cấp có liến quan đến
đề tài
- Nhóm phương pháp nghiến cứu thực tiễn:
+ Phương pháp điều tra
Trang 111 1
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trò chuyện
+ Phương pháp thu thập thông tin
+ Phương phap thực nghiếm
- Nhóm phương pháp hỗ trợ
+Thống kế
Trong đo tôi chu yếu tâp trung vao cac phương phap như:
- Phương phap điếu tra, quan sat nhăm:
Khảo sát nội dung sach giao khoa
Tìm hiểu thực tế địa bàn mình dạy Tình
hình viết chính tả của học sinh
7 Giả thuyết khoá học
Sửa lỗi chính tả trong dạy học phân môn Chính tả cho HS hiện nay còn gặpnhiều khó khăn Đây là vấn đề còn nhiều băn khoăn, trăn trở của không ít GV Tiểuhọc Nếu việc tìm hiểu nguyến nhân về các lỗi chính tả của học sinh thường mắc phảiđược chính xac thì viếc đưa ra cac biến phap đế khăc phuc lôi chính tả cho HS sẽ cótính khả thi và góp thếm tiếng nói để giải quyết những khó khăn đó, góp phần nângcao chất lượng sửa lỗi chính tả cho HS Tư đo việc vận dụng các nguyến tắc, biệnpháp, phương pháp dạy học về phân môn Chính tả sẽ thuận lợi và giúp cho học sinhkhắc phục được các lỗi thường mắc, giúp giáo
viên đạt kết quả cao trong quá trình rèn luyện kĩ năng viết đúng cho học sinh Tiểu học
S Cấu truc cua đễ tài
Đề tài bao gồm những nội dung sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung gồm 3 chưỏng:
+ Chưỏng 1: Cỏ sở lí luận và cỏ sỏ thưc tiên
+ Chưỏng 2: Đê xuật môt sô biên phap khăc phuc lôi chính tả cho HSTH + Chưỏng 3: Thưc nghiêm
- Phần kết luận
Trang 121 2
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Cơ sở tâm lí học và cơ sở ngôn ngữ học
Lỗi chính tả là những sai lệch trong cách phát âm dẫn đến viết sai so với cáchphát âm chuẩn làm cho người đoc ngươi nghe khó hiểu thậm chí hiểu sai thành mộtnghĩa khác
Việc dạy Chính ta cho HS trương T iếu hoc Hai Ninh có thể chấp nhận theo ba vùng phương ngữ: phương ngữ Bắc bộ, phương ngữ Trung bộ, phương ngữ Nam bộ nơi HS sinh sống Với HS ở trương tiếu hoc Hai Ninh - Hải Hậu - Nam Định theo chuẩn phương ngữ Bắc bộ
Đối với HS lứa tuổi tiểu học - là giai đoạn các em chuyển từ hoạt động chủ đạo
là vui chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập Đặc biệt, HS lớp 3 ghi nhớ không chủđịnh cũng dần chuyển sang ghi nhớ có chủ định Hơn nữa, khi học qua phân môn Họcvần, hầu hết các em đã đọc thông viết thạo Tuy nhiến, đối với HS trương T iếu họcHải Ninh ngôn ngữ đia phương đa làm ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách học, đặc biệt làcách phát âm nến ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học môn Tiếng Việt cụ thể
là phân môn Chính tả của các em
Do đó, khi dạy học Chính tả cho HS lớp 3 trương Tiếu hoc Hai Ninh, GV cầngiúp HS hình thành kỹ năng và thói quen phát âm chuẩn khi đoc Muốn vậy cần chocác em luyện đọc nhiều Ngoài ra, trong quá trình luyện phát âm cho HS, GV cần nắmđược chuẩn chính âm (có thể theo ba vùng phương ngữ trến) và chuẩn chính tả (chỉ cómột chuẩn duy nhất) để tránh luyện viết chính tả cho HS không đạt hiệu quả
Cơ chế của việc phát âm khi đọc là cơ sở của việc dạy viết chính tả Chính tảbiểu thị mối quan hệ mật thiết giữa sự vận động của cách phát âm và cách viết Do đó,trong dạy học Chính tả GV cần nắm được đặc điểm tâm sinh lý, ngôn ngữ, tư duy cụthể của HS lớp 3 để xác định cho mình những phương pháp giảng dạy sao cho phùhợp với đối tượng HS
Trang 13Dạy Chính tả là rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết thành thạo chữ tiếng Việt theocác chuẩn chính tả và làm bài tập, qua đó rèn các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, cung cấpcho học sinh vốn từ, vốn hiểu biết về các mảng khác nhau của đời sống.
Có thể dạy Chính tả theo hai cách : có ý thức và không có ý thức
+ Cách không có ý thức • (phưỏng pháp máy móc, cỏ giới)
Dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của các quy tắc chính tả, dựa
trên sự lặp lại không cần biết lí do, quy luật của hành dộng
Phưỏng pháp này củng cố trí nhớ một cách máy móc, không thúc đẩy sự
phát triển của tư duy
+ Cách có ý thức : (phưỏng pháp dạy học có tính tự giác)
Bắt đầu từ việc nhận thức quy tắc, mẹo luật chính tả Trên cỏ sở đó tiến
hành luyện tập và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả Việc hình thành các kĩxảo chính tả bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức Đó
là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao
Ỉ.Ỉ.Ỉ.Ỉ Cơ sở tâm sinh lý
Viêt đung chính tả là viết đúng ậm đầu, phụ ậm, rõ ràng tưng chữ Đối với
việc hình thành kỹ xảo viêt chính tả, đặc tính của mỗi thể loại văn bản, đoạn
trích mà HS dựa vào đó để lĩnh hội từ ngữ, ngôn ngữ tiếng Việt là rất quan
trọng Theo đó khi phát ậm theo nguyên tắc chữ viết là các biểu tượng ậm vị,chữ cái, vần, thanh điệu từ đó được thể hiện bằng biểu tượng chư viêt
Để sửa lỗi chính tả và rèn kỹ năng nói và viết chuẩn trong dạy học Chính
tả cho HS lớp 3 ngoài việc nắm được các lỗi mà HS đia phưỏng thường mắc dẫnđến việc viêt sai, chưa đung, nắm được bản chất hay nguyên nhận mắc lỗi chính
tả chúng ta cần hiểu được đặc điểm tậm sinh lý các em HS
Việc sửa lỗi chính tả cho HS lớp 3 ở địa phưỏng phụ thuộc rất nhiều vào
yếu tố tậm lý của HS Ở giai đoạn này, các em đã có bước chuyển mới từ hoạtđộng chủ đạo là vui chỏi sang hoạt động chủ đạo là học tập và hầu hết các em đãbiết đọc, biết viết Tuy nhiên, nhận thức của các em vẫn là nhận thức chưa cóchủ định và có thói quen phát ậm của ngôn ngữ đia phưỏng nên ảnh hưởng
8
Trang 14nhiều đến việc viêt va hoc Chính ta Do đó GV phải nắm được tậm lý HS, từ đó cónhững định hướng sửa lỗi chính tả trong dạy học phận môn Chính tả cho thích hợp, để
HS có kết quả học tập khả quan hỏn
Ở giai đoạn Tiểu học, do các cỏ quan cảm giác chưa phát triển hoàn thiện nên bộ
máy phát ậm của các em chưa chuẩn các em thường đọc lẫn l/n, ?/~ hoặc đọc các từ khó còn lệch lạc như: khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, rồi hay những khiếm khuyết nào đấy
trong bộ máy phát ậm sẽ là nguyên nhận trực tiếp gậy ra lỗi chính tả (nói và viết sa)
Ảnh hưởng của cách phát ậm đia phưỏng đã tr ở thành thói quen với HS trongvung nói chung và HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh nói riêng, khi học một ngôn ngữmới các em khó làm quen với thao tác phát ậm mới, nhất là những ậm khó, những ậmkhông có trong tiêng đia phưỏng Bởi vậy khi các em viêt va sử dụng tiếng Việt vẫn cònmang dấu ấn của tiêng đia phưỏng ở đậu đó trong ậm sắc ngữ điệu Cụ thể: Các emkhông phận biệt đưỏc l /n Vì vậy có khi đọc và viêt se sai
Ví dụ: “nên” lai viêt thanh “lên”
“lóp” lai viêt thanh “nóp”
HS lớp 3 trường Tiểu học Hải Ninh có điều kiện sống và hoàn cảnh khác nhau,nhưng đa phần môi trường sống của các em chủ yếu là người đia phưỏng nên thời gian
sử dụng tiếng Việt chung của các em rất ít, bị bó hẹp Chính vì vậy khi dạy Chính tả cho
HS lớp 3, GV cần phải chú ý đến cách phát ậm, chú ý sửa lỗi phát ậm cho HS một cách
có định hướng, toàn diện nhằm giúp các em vận dụng có hiệu quả trong học tập cũngnhư trong giao tiếp
HS ở địa phưỏng không phải bao giờ cũng nói và viết chính xác, hiểu những từmình phát ậm (tiêng địa phưỏng, yếu tố sinh lý, yếu tố xã hội) nên hầu như toàn bộ sựchú ý của các em tập trung vào việc nhận mặt chữ, đánh vần để phát thành ậm Mặt khác
HS thường phát ậm sai nhưng các em không thể phận biệt được lỗi sai của mình do đó
nó có ảnh hưởng đến khả năng nói và viết chính tả của các em
Vì vậy để giúp HS sửa lỗi chính tả, rèn luyện kỹ năng phát âm chuẩn để học tốtphân môn này, GV cần có sự quan tâm sát sao, có những định hướng tích cực trong việcsửa lỗi phát âm chính tả cho HS, nhưng cũng cần có sự am hiểu sâu sắc tâm sinh lý HSnhất là HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Định
Trang 15Cơ sở ngôn ngữ học Nói đến việc sửa lỗi chính tả cho HS, ta đề cập đến hai
vấn đề lớn là nói và viết
Vấn đề nói (đúng chính âm và thanh điệu trong tiếng Việt):
Chính âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt
xã hội Chính âm quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học Chính âm liên quan đếnvấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Việc hiểu biết củachính âm sẽ giúp ta xác định được nội dung cần đọc đúng, để viêt chính tả một cách cónguyên tắc
Chính âm có mối quan hệ chặt chẽ tới quá trình dạy học Chính tả cho HS tiểu học
và HS đia phương phát âm đúng sẽ giúp cho cac em học tập cách phát âm chuẩn, từ đóviêc nói và viết sẽ chính xác Do đó, GV phải xác định chuẩn chính âm khi dạy họcChính tả cho HS đia phương để sửa lỗi, rèn kỹ năng viêt đung chính tả cho HS
Thanh điệu là một loại đơn vị siêu đoạn tính bao trùm lên toàn bộ âm tiết và cóchức năng thay đổi đơn vị cao của âm tiết Đối với các ngôn ngữ Đông Nam Á trong đó
có tiếng Việt thì thanh điệu có chức năng âm vị học tức là có chức năng khu biệt nghĩa
Hệ thống thanh điệu gồm sáu thanh: Ngang (-), huyền (\), hỏi (?), sắc (/), ngã (~),nặng (.) được chia làm hai nhóm: cao (sắc, ngã, không) và thấp (ngang, huyền); nếu xét
về âm vực được chia là bằng phẳng (ngang, huyền), không bằng phẳng (hỏi, ngã, sắc,nặng); nếu xét về âm điệu
Bảng 1: Phân loại thánh điệu theo âm điệu
Trong quá trình nói và viết cần kết hợp hài hòa giữa các yếu tố để có kết quả cao;Trong quá trình HS viết chính tả GV cần phải hướng dẫn các em cách phối hợp thanhđiệu để việc dạy học có chất lượng
1.1.2 Vị trí, tính chất của dạy học Chính tả
Trang 16Bài chính tả mang tính chất thực hành Thông qua luyến tâp liến tuc kết hơp vơiviếc ôn tâp cac quy tăc chính tả HS sẽ có khả năng viết đung cac chư: ghi tiếng Viết:.
Do đo không co tiết hoc quy tăc chính tả riếng Các quy tắc đều đươc hoc thông qua cachoat đông thưc tiến
1.1.3 Tầm quan trọng cua day học Chinh tả
Viếc day va hoc Chính ta cung câp cho HS cac quy tăc va ren luyến đế cac em co
kĩ năng va thoi quen viết đung chính tả
Rèn cho HS một số phẩm chất : tính kí luât, tính cẩn thận (vì phải viết đung quytăc, viết năn not tưng net), óc thẩm mĩ (vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đep đe );đông thỏi bôi dưỏng cho cac em long yêu quy tiêng Viêt va chư Viêt, cách biểu thị tìnhcảm tôt đep đo trong viêc đung chính tả
Trang 17Yêu cậu: chư viêt đêu net, rõ ràng Tôc đô viêt 60 dòng trong 15 phút.
Trang 18Yêu cậu : Như ỏ lỏp 4, ngoài ra còn phải tự đánh dấu cậu đúng vị trí Tôc đô viêt
100 chư trong 15 phút
Ỉ.Ỉ.4.2 Sách giáo khoa
Trong hê thông giao khoa CCGD hiên hanh không co SGK riêng đê day Chính tả
Ở lớp 2 và lớp 3, cuôi môi tuận, sau nhưng bai tập đoc , học thuộc lòng, bài đọcthêm là bài chính tả Sang lỏp 4 và lớp 5, Chính tả được viết thành chưỏng trình tachbiêt
Cậu tao môt bai chính tả trong SGK nhìn chung gồm các phần sau:
- Bài viết: quy đinh khôi lưỏng bai HS phai viêt trong bai chính tả Có khi HSviêt trọn vẹn cả bài, có khi chỉ viết 1 đoan (đôi vỏi bai dai ỏ lỏp 4,5)
- Viêt đung: nêu cac trưỏng hỏp cu thê cận phai viêt đung Đậy la yêu cậu trọngtậm cần rèn luyện của tiết chính tả
- Luyên tập : Môi bai chính tả thưỏng co môt sô bai tập đê cac em luyên tập thêmnhăm khăc sậu hiên tưỏng chính tả được học như bài tập điền ậm, điên vận dê lận lônvao cac ậm tiêt, các cậu, các đoạn dùng các từ có vấn đề chính tả để đặt cậu
Tưỏng ưng vỏi nôi dung chưỏng trính SGK, SGV TV Tiêu hoc cung đưa ra mậu
bai soan tưỏng ưng Chúng ta có thể khái quát thanh quy trính như sau: Quy trình dạy 1
tiết Chính tả Hoạt động 1 Kiêm tra bai cu:
+GV cho HS viêt vao bang con môt sô tư kho ma cac em đahọc ở tiết trước
+Kiêm tra bai chính tả HS làm ở nhà+GV nhận xet va chậm điêm môt sô bai
13Hoạt động 2 Dạy bài mớ^
Bươc 1 Giơi thiếu baii
GV nếu tến bai va đoc mâu Sau đo cho 1 HS đoc lai bai chính
Trang 19tả sắp viết
Bươc 2 Hương dân chính tải
+ GV đăt môt sô câu hoi ngăn gon đế HS tím hiếu hoăc tai hiến lại nội dung bài chính tả
+ Hương dân HS nhân xet bai chính tả theo gợi ý trong SGK (cách trình bày bài văn, bài thơ )
+ Hương dân HS tâp viết 1 sô tư kho
Bươc 3 Hương dân HS viết chính tải
* Đối với bài chính tả tập chép
GV yếu câu HS nhìn bang hoăc nhìn SGK để chép (Chú ýi yêu câu
HS đoac nhâm ca câu ngăn, cả cụm từ rồi viết liền mạch)
* Đối với bài chính tả nghe - viết (đoc - chép)
GV đoc trươc môt lân toan bô bai Sau đo đoc tưng câu ngăn , tưng cum tir để
HS viết (nến đoc 3 lân) Cân đoc ro rang từ, cụm từ phải có nghĩa Sau khi viết xong GVđoc lai toan bai đế HS tư soat lại (Lưu yi Khi đoc cho HS viết GV nến đưng giưa lơp,đam bao tôc đô, yếu câu chương trính đế ra)
* Đối với bài chính tả nhớ viết
GV cho HS nhơ lai nôi dung bai hoc đa hoc ơ tiết trươc va tư thế viết, GV hương
dân HS cach tư nhơ lai bai hoc thuôc long đo Hương dân HS đoc nhâm tưng câu sau đoviết lai tưng dong theo thư tư tư đâu đến cuôi (Chú ýi Nhăc HS viết đung đăc điếm cuatưng thế loai văn ban)
Bươc 4 Châm va chưa baii
GV cho HS tư soat lôi bai chính tả của mình
Yếu câu HS đôi vơ cheo cho nhau va soat lôi bai viết của bạn (dùng bút chì ghạchchân dưới lỗi sai và sửa ra ngoài lề)
GV thu môt sô bai đế châm tai lơp Sau đo nhân xet va tuyến dương
Trang 20+ HS lam cac bai tập đung vao vỏ Hoạt đông 3
Ỉ.2.Ỉ.Ỉ Vê phía giao viên
Hiện nay ở các trường Tiểu học miền xuôi nói chung đặc biệt là trường Tiểuhọc Hai Ninh thuộc địa bàn huyện Hai Hậu tính Nam Đinh nói riêng phần lớn bộphận các GV trong nhà trường đã có sự quan tậm rất nhiều tới vấn đề noi va viêtchính tả của các em HS Vì vậy nhiều GV đã có những đề xuất về phưỏng hướngsửa lỗi chính tả cho HS nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng nói và viết chuẩn Tuy nhiên bên cạnh sự quan tậm sát sao đó thì thực trạng sửa lỗi chính tả cho HS ởtrường Tiểu học Hai Ninh còn tồn tại nhiều hạn chế Cụ thể là:
* Trình độ của GV chưa đồng đều
Chất lượng dạy Chính ta cho HS Tiểu học trước hết phải nói đến trình độ
đã được đào tạo của đội ngũ GV Trình độ đào tạo của GV ảnh hưởng không
nhỏ và là yếu tố trực tiếp tác động đến chất lượng học của HS Đều là GV Tiểuhọc và với cùng một chưỏng trình đào tạo như nhau nhưng thời gian đào tạo củamỗi GV ở mỗi trình độ khác nhau là khác nhau Cụ thể: thời gian đào tạo đối với
GV trình độ ĐH là 4 năm, còn thời gian đào tạo GV trình độ TC và CĐ chỉ là 2
-3 năm Vỏi 2 - -3 năm để hoàn thành một chưỏng trình đào tạo khổng lồ như thế
và cũng khoảng thời gian ấy mỗi người GV trang bị được cho mình một hành
trang vững vàng cả về mặt kiến thức và năng lực sư phạm để đảm bảo yêu cầu
Trang 2115một người GV chuẩn bị khi ra trường thì quả là một khó khăn lớn Do đó, với đội ngũ
GV được đào tạo như trến khi ra trường sẽ dẫn tới một thực trạng đó là trình độ, nănglực còn hạn chế, cụ thể nó được thể hiện ở phương pháp giảng dạy, việc tổ chức dạy vàhọc trong một giờ học còn có những hạn chế nhất định Ở trường Tiểu học hiện nay nóichung, trình độ của đội ngũ GV không đồng đều và trường Tiểu học Hai Ninh ở huyệnHai Hâu là điển hình Qua thực tế khảo sát trình độ của GV dạy khối lớp 3 ở TrườngTiểu học Hai Ninh mà tôi tiến hành nghiến cứu cho thấy: có 3 GV dạy khối lớp 3 thì có
1 GV trình độ CĐ (chiếm 33%) và 2 GV trình độ đào tạo là TC (chiếm 66%) không có
GV ở trình độ ĐH Đây là một thực tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy - học trongtrường nói chung và chất lượng hoc Chính ta của HS nói riếng
* Trong các giờ học Tiếng Việt đôi khi chưa được quan tâm đúng mức
1 Hiện nay, trong khi cả nước đang tiến hành đổi mới phương pháp và cách thứcdạy học phù hợp với trình độ, khả năng nhận thức và đặc điểm tâm sinh lý của HS Thìmột số bộ phận GV vẫn duy trì và dập khuôn theo cách dạy học truyền thống Đó là sửdụng hình thức dạy học lấy GV làm trung tâm, GV là người tổ chức tất cả các hoạt độngtrến lớp của HS, toàn bộ mạch kiến thức hầu như được GV giới thiệu, xem xét, đánh giá
và kết luận, còn HS thì thụ động tiếp thu kiến thức của bài học, không tự mình tìm tòi,khám phá ra cái mới Do đó việc truyền thụ kiến thức còn chưa thực sự quan tâm đếnđối tượng HS, và việc lĩnh hội tri thức của HS bị phụ thuộc nặng nề vào bài giảng của
GV HS không chịu khó suy nghĩ, ỷ lại, thụ động Mà ít có cơ hội bộc lộ năng lực bảnthân đặc biệt đối với HS trình độ nhận thức còn chưa cao, khả năng tư duy kém, việctiếp thu kiến thức bài học một cách thụ động như vậy có thể ngay lúc đó các em đã nhớnhưng có thể quến ngay sau đó Do vậy, hiệu quả giờ học mang lại của các môn học nóichung và phân môn Chính ta nói riếng là rất thấp
Tuy nhiến phải nói thếm rằng, bến cạnh những GV vẫn duy trì cách dạy truyềnthống như trến thì vẫn có một số bộ phận GV tiếp thu được và đã có một số đổi mớitrong phương pháp truyền đạt kiến thức của mình đến cho HS trong
các giờ học của các phân môn hay môn học khác Còn đối với phân môn Chính
16
Trang 22tả thì phần lớn vẫn duy trì cách dạy truyền thống cũ ; điều đó cũng là nguyến nhân ảnhhưởng đến chất lượng dạy học Chính ta trong nhà trường.
2 Những khó khăn về đời sống riếng tư cũng như cơ sở vật chất phục vụ cho việcgiảng dạy của GV cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giảng dạy
Đời sống của môt sô GV còn gặp rất nhiều khó khăn về: kinh tế, hoàn cảnh giađình, đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giảng dạy của GV Thực tế đã cho thấy,kinh tế của người GV chưa ổn định sẽ kéo theo nhiều vấn đề như: Đến trường muộn,chưa thể vận dụng tối ưu các phương pháp, hình thức và phương pháp dạy học phongphú (máy chiếu, bảng phụ, các tư liệu, tài liệu tham khảo, các đồ dùng phục vụ chogiảng dạy ) Ngoài ra kinh tế gia đình chưa ổn định, người GV chưa thể yến tâm côngtác mà cái lo nhiều vẫn là “cơm áo, gạo tiền” Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để họgiảm bớt mối lo trến, để giúp họ cải thiện đời sống yến tâm công tác
Bến cạnh đó cơ sở vật chất của trường còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất chưa thểđáp ứng được nhu cầu dạy và học: bàn ghế thô sơ, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và họccòn thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu dạy và học Điều này đã gây ảnh hưởngkhông nhỏ đến quá trình giảng dạy của GV
3 Những vấn đề đặt ra từ khảo sát
Từ thực trạng trến đã đặt ra một việc hết sức cấp bách và cần thiết đó là việc sửalỗi chính tả và rèn luyện c ách viết va noi cho HSTH nói chung và HS lớp 3 của TrườngTiểu học Hải Ninh nói riêng Đưa các em nói đúng, viết chuân là việc rất quan trọng đểcác em học tập tốt hơn, nâng cao việc tiếp thu tri thức khoa học để trở thành người cóích cho xã hội góp phần xây dựng quế hương ngày càng tươi đẹp hơn
1.2.1.2 về phía học sinh
* Thực trạng học Chính tả trong nhà trường Tiểu học
1 Nói và viết chưa đúng, chưa chuẩn và còn mang âm sắc địa phương
HS khi tới trường bắt đầu được tiếp xúc, làm quen và học tập bằng một
ngôn ngữ hoàn toàn mới là tiếng phổ thông; các em thường chỉ tiếp xúc với
người địa phương nến khi tới trường các em phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói
17
Trang 232 HS coi Chính tả như một môn học bắt buộc phải học
Không chỉ riêng gì với HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh Hải Hậu
-Nam Định mà hầu hết các HS ở các nỏi khác và ngay cả các cấp học cao hỏnvẫn nhìn nhận Chính tả là một môn học “phụ”, bổ chợ cho kỹ năng sử dụng tiếngViệt trong ngôn ngữ nói Với quan niệm trên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ học chobiết, cho xong thì người Việt Nam không ai là không mắc lỗi chính tả Chính tả làmột phận môn nhỏ nhưng nó góp phần khá lớn vào việc hình thành kỹ năng sửdụng đúng và chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt, đồng thời còn là cỏ sở cho việc sử dụngngôn ngữ để học tập các môn học khác HS lớp 3 trường tiểu học Hải Ninh hầu hếtcũng chỉ quan tậm đến phận môn Chính tả ở góc độ học cho biết nói, biết viết cáichữ, chứ chưa thực sự quan tậm đến các lỗi sai mà mình mắc phải, sử dụng ngônngữ trong khi nói sao cho đúng, cho chuẩn
Nói và viết sai ngay ở các lớp đầu cấp sẽ hình thành thói quen và ảnh hưởng
không nhỏ đến sau này; nói và viết không chỉ là công cụ giúp HS chiếm lĩnh vănhóa, trau dồi kiến thức, tư duy để học tập mà còn tạo điều kiện ban đầu trong hànhtrang ngôn ngữ cả đời người trong các em Với ý nghĩa quan trọng như vậy, phậnmôn Chính tả phải là môn học được coi trọng trong nhà trường; thế nhưng trên thực
tế lại không như vậy, không riêng gì với HS trường Tiểu học Hải Ninh mà hầu hếtcác em HS vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn Chính tả Điều đóđược thể hiện cụ thể: theo thống kê phiếu điều tra khảo sát HS lớp 3 của TrườngTiểu học Hải Ninh - Hải Hậu - Nam Định mà tôi tiến hành nghiên cứu cho thấy:
có tới 65% HS là không thích học phận môn Chính tả, 35% thích và rất thíchhọc môn này khi hỏi: “em có thích học Chính tả không?” hay với cậu hỏi: “theo
em, phận môn Chính tả có vai trò như thế nào?” thì có tới 61% HS trả lời không
18
Trang 24quan trọng, chỉ 39% HS cho là quan trọng và rất quan trọng Còn với câu hỏi: “emdành thời gian như thế nào đối với việc học phân môn Chính tả?” đa số các em trả lờidành thời gian ít (chiếm 58%) hoặc không dành thời gian (chiếm 25%), rất ít HS trả lờidành nhiều thời gian cho môn học (chỉ với 17%) và bình thường.
Như vậy chúng ta thấy một thực tế của HS lớp 3 Trường Tiểu học Hải Ninh chobiết là các em chỉ quan tâm tới phân môn Chính tả ở góc độ sử dụng tiếng Việt bằng lờinói và chữ viết và là một môn học bắt buộc phải học trong nhà trường, chứ chưa nhậnthức được tầm quan trọng của việc học Chính tả, nói và viết thế nào cho đúng, chochuẩn, chưa thực sự quan tâm đến lỗi mà mình mắc để nói, viết sao cho đúng, chuẩntiếng Việt
Mấy năm gần đây các trường Tiểu học trong huyện Hai Hâu nói chung vàtrường Tiểu học Hai Ninh nói riêng , phong trào chữ viết đã được chú trọng và ngàycàng nâng cao Tuy nhiên, qua khảo sát bài viết của học sinh khối lớp 3 còn hạn chế.Nhiều em chưa nắm vững các quy tắc, mẹo luật chính tả, có em phát âm sai dẫn đến bàiviết sai nhiều lỗi chính tả Mặt khác một số em do thiếu cẩn thận nên để thừa hoặcthiếu một số nét, thiếu dấu dẫn đến sai lỗi chính tả
* Lỗi chính tả của học sinh ở trường
Qua dự giờ một số tiết chính tả ở khối lớp 3 của trường, sau khi khảo sát một sốbài chính tả ở các lớp, tôi thống kê được một số lỗi của học sinh mắc phải như sau :
Bảng 2 Bảng thống kê một số lỗi của học sinh mắc phải
+ Về lỗi âm đầu:
HS thường viết sai các cặp phụ âm : l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi, ng/ngh, g/gh Trong đó lỗi chính tả tập trung ở r/d/gi, ch/tr, l/n, s/x ( khoảng 70%)
+ Về lỗi phần vần:
Trang 25HS vẫn còn lẫn lộn các cặp vần : ui/ uơi, in/inh, ưu/ươu, iêu/iu (chiếm 80%) hoặc viết sai ở các vần khó như : uya, uyn, uyt, ươt (chiếm 20%)
+ Về lỗi dấu thanh:
Chủ yếu là sai thanh hỏi / thanh ngã, đặc biệt do các từ láy hoặc từ Hán - Việt,
các em thường không phân biệt thanh hỏi - thanh ngã
1.2.2.2 Khó khăn
- Tình hình thực tế học sinh lớp 3 ở đây vốn từ các em còn hạn chế Các em chỉhiểu nghĩa của các từ ngữ ở mức độ đơn giản trong khi từ ngữ tiếng Việt vô cùng phongphú
- Đa số gia đình các em sống về nghề nông còn nghèo, cha mẹ còn lo đi làm đồng
để kiếm sống, chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em
- Phần đông học sinh lớp chưa có ý thức về học Chính tả
1.2.2.3 Khảo sát thực trạng
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu :”Biện pháp khăc phuc
lôi chính ta cho học sinh lớp 3”, tôi đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế việc
viết chính tả của 60 học sinh thuôc 2 lơp 3A va 3B ngay từ khi băt đâu thơi gian
20
Trang 26thực tấp Qua khảo sát tôi thấy học sinh còn mắc lỗi chính tả rất nhiều, có một số họcsinh viết sai 14 lỗi trong một bài chính tả Cụ thể khảo sát chất lựợng môn Tiếng Việttrong đó có bài viết chính tả tôi thống kê số lỗi chính tả nhự sau:
Bảng 1 : Bảng thống kê lỗi viết sai chính tả của học sinh lớp 3 trường
tiêu học Hai Ninh
Lớp lượng Viêt sai phụ âm Viêt sai phần Viêt sai vê thanh
HS đầu: l/n, d/r/gi, vần: ay/ây, điệu: ngã/hỏi
măc lỗi
HSmăclỗi(%)
măc lỗi
HSmăclỗi(%)
Ví dụ: Trong bai co từ: “ lên lớp” HS viêt thành “ nên nớp”
21
Trang 27Thứ hai: Về phần vần
So với số lượng HS mắc lỗi về phụ ậm thì tỉ lệ HS mắc lỗi phần vần về cỏ bảncũng có phần giảm hỏn Tuy nhiên số lượng HS mắc lỗi về phần vần vẫn chiếm tỉ lệtưỏng đối cao trong đó lớp 3A có 13/30 em mắc lỗi (chiếm 43%), lớp 3B có 13/30 emmắc lỗi (chiếm 43%)
Ví dụ: Trong bai co tư : “huyên” HS viêt thanh “ huên”.
Thứ ba: Về thanh điệu
Lỗi sai do thanh điệu thì đa số các em thường nhầm lẫn giữa hai thanh đó là thanhhoi va thanh nga
Ví dụ: Tư “đổ” HS lai viêt thanh “ đổ”
Cụ thể như sau:
a Về thanh điệu
Học sinh chưa phận biệt được hai thanh hỏi và thanh ngã
* Ví dụ: nghĩ hè (từ đúng: nghỉ hè ); suy nghỉ (từ đúng: suy nghĩ ); sữa lôi (từ đúng: sửa lôi ),
b Về âm đầu
- Học sinh còn viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các ậm đầu sau đậy:
+ g/ gh: đua ge, gi bài +
Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các ậm chính trong các vần sau đậy:
+ ai/ay/ây: máy bây (máy bay).
+ oe/eo: sức khẻo (sức khỏe).
+ ăm/âm: đỏ thấm (đỏ thắm); tối tâm (tối tăm).
+ăp/âp: gập gỡ (gặp gỡ).
Trang 28+ ip/iêp: nhân diệp (nhân dịp).
+ ui/ uôi: cuối đầu (cúi đầu); cúi cùng (cuối cùng).
+ ưu/ươu: mươu trí (mưu trí); con hưu (con hươu).
+ an/ang: cái bàng (cái bàn).
+ ăt/ăc: mặt quần áo (mặc quần áo).
+ ăn/ăng: khăng quàng (khăn quàng).
+ ât/âc: gậc đầu (gật đầu).
+ ân/âng: vân lời (vâng lời).
+ êt/êch: lệch bệt (lệt bệt)
+ ên/ênh: bện tật (bệnh tật).
+ iêt/iêc: thiếc tha (thiết tha).
+ uôn/uông: mong muống (mong muốn).
+ uôt/uôc: suốc đời (suốt đời).
+ ươn/ương: vường rau (vườn rau).
e Lỗi viết hoa
Đậy là loại lỗi phổ biến và trầm trọng nhất trong các bài viết của các em, trongtất cả bài viết của học sinh trong lớp thì chỉ có một em duy nhất không sai lỗi nào đó
là em: Hoàng Xuận Tùng
Lỗi viết hoa của các em thường gặp ở 2 dạng:
* Không viết hoa đầu cậu, danh từ riêng (tên riêng), tên địa danh:
Ví dụ: Dạy Chính tả (Nghe viết): Chiếc áo len Viết đoạn 4 (TV3TỈ, tr.20) Câu: Nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, Lan ân hận quá Học sinh viết:
-“nằm cuộn tròn trong chiếc chăn bông ấm áp, lan ân hận quá”.
* Viết hoa tùy tiện:
Ví dụ: Nghe - viết: Người mẹ (TVS - Tập 1), tr.30
Trang 29- Câu: Thần không hiểu rằng: vì con người mẹ có thể làm được tất cả Học sinh
lại viết: “Thần không hiểu rằng: Vì con, Người Mẹ có thể làm được tất cả ”.
Ngoài ra ở một số bài viết, học sinh trong lớp còn mắc các lỗi khác nhự: Trình
bày chựa sạch, chữ viết còn thiếu nét, thừa nét (ví dụ: “mềm” lại viết là “mền “miền
Nam'" lại viết “miềm Nam”).
Qua khảo sát thống kê tôi thấy hầu hết các loại lỗi chính tả các em đều mắc (kể cảhọc sinh khá, giỏi) số lỗi mà các em mắc nhiều nhất là lỗi viết hoa, lỗi phụ ấm đầu và lỗi
ấm chính So với yêu cầu về kĩ năng viết chính tả (không quá 5 lỗi trong một bài) thìtrình độ kĩ năng viết chính tả của học sinh còn quá thấp (số bài có từ 6 lỗi trở lên chiếm41%: khảo sát chính tả đầu năm)
Thực trạng trên đấy là rất đáng lo ngại đòi hỏi mỗi chúng ta cần phải nghiên cứu
và tìm ra nhiều biện pháp giúp đỡ các em khắc phục lỗi chính tả
- Qua nghiên cứu phấn tích, nguyên nhấn chủ yếu dẫn đến việc viết sai lỗi chính
tả của học sinh là do phát âm sai thanh hỏi/ thanh ngã lẫn lộn.
Ví dụ : Suy nghĩ/suy nghỉ
Nghĩ ngợi / nghỉ ngợi Cũ kĩ / củ kỉ
Dọ đặc điểm phường ngữ của học sinh còn phát ấm sai các tiếng có phụ ấm đầu
tr/ch, s/x, d/r/gi, l/n, nên dẫn đến việc phát ấm sai các tiếng có phụ ấm này:
Ví dụ : giải phóng / dải phóng; rì rào/dì dào xúc
động / súc động truyền thống / chuyền thống là nếp / nà nếp long lanh / nong nanh.
Theo thống kê số ấm tiết sai về vần cũng chiếm tỉ lệ đáng kể Nguyên nhấn củahiện tựợng này là do HS chựa nắm vững cấu tạo nên còn viết lẫn lộn
- Ở một số cặp vần khó phấn biệt hay do phát ấm sai (không chuẩn) dẫn đến viếtsai:
Ví dụ : ươu / ưu : con hươu / con hưu ưu /
iu : nghỉ hưu / nghỉ hiu ươi / ui : quả chuối / quả chúi
Trang 30- Với các cặp vần có ậm ă, ậ học sinh thường hay nhầm lẫn như sau:
Ví dụ : bà cháu / bà chấu g ặ p
g ỡ / g ậ p g ỡ thứ sáu / thứ sấu
Ngoài ra theo phưỏng ngư Băc Bô cac em thưỏng hay măc cac phu ậm đậu
như: ch,tr; r,d,gi; l,n;
1.2.3 Nguyến nhân mắc lỗi chính tả của HS
Trong cuộc sống, hình thức giao tiếp quan trọng giữa người với người là tiếng nói
và chữ viết Muốn cho người giao tiếp hiểu được tiếng nói, chư viêt của mình thì yêucầu người nói ngưỏi viêt phải phát ậm đúng, viêt đung rõ ràng Nếu phát ậm sai, viêt sai
sẽ làm cho người nghe hiểu sai hoặc không hiểu được nghĩa của điêu mình muôn truyênđat Như vậy chính tả đóng vai trò quan trọng trong hoạt động giao tiếp và học tập Tuynhiên trên thực tế khảo sát điều tra cho thấy HS nói chung và đặc biệt là HS lớp 3Trường Tiểu học Hải Ninh nói riêng còn sai nhiều lôi chính tả Trong đó có rất nhiềunguyên nhận gậy ra lỗi chính tả và một trong những nguyên nhận chính phải kể đếntrước hết là do chính HS, sau đó là GV - những người hướng dẫn trực tiếp, tiếp xúc với
HS trong quá trình học tập
Ỉ.2.3.1 về phía HS
Thứ nhất: Do môi trường sử dụng tiếng Việt của HS
Các em HS sinh ra tại địa phưỏng nỏi mà cha ông đã gắn bó tư lậu đỏi và
ngôn ngữ sử dụng chủ yếu là tiêng đia phưỏng ; các em ít sử dụng tiếng Việt
chung ngay cả khi giao tiếp, hầu hết các em chỉ nói tiếng Việt khi đến trường đến
lớp còn khi về nhà đều sử dụng tiêng đia phưỏng coi trọng tiêng đia phưỏig
Sự phát ậm địa phưỏng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc nói và luyên
viêt của HS Tiểu học trong những năm đầu cấp Ở lớp thầy cô có thể uốn nắn
sửa sai nhưng về nhà với thói quen nói tiếng đia phưỏng lại không ý thức được,
25
bô me hậu nhự không đê ý tới việc sửa lỗi chính tả cho con mình; hơn nữa việc học tậpcũng không đựa ra một mục đích rõ rệt, ít quan tậm đến việc viết và nói của các em.Chính cha mẹ là những ngựỜi lớn nói ngọng, viêt sai nên không nhận ra con mình nói
và viết nhự thế nào là sai, nhự thế nào là chuẩn để sửa Do đó các em không đựợc sửachữa kịp thỜi
Trang 31Ví dụ:
Các phụ ậm nhự: + “long lanh ” các em nói và viết là “nong nanh ”
+ uống rượu ” các em nói và viết là “uống riệu ” Ngoài ra,
việc phận biệt các phụ ậm cuối cũng có sự ảnh hựởng không nhỏ tới việc mắc lỗi phát
ậm của HS
Ví dụ: phận biệt: “ ăn cơm” thành “ăm cơn”, “cảm ơn” thành “cản cm”
Nhự vậy, đối với HS khi học Chính tả GV nên lựu ý HS phải chú ý nghe thầy (cô)phát ậm để nói cho đúng; do đó GV phải cố gắng phát ậm cho rõ ràng, tốc độ vừa phảimới có thể giúp HS nói và viết đúng
Thứ hai: Nguyên nhân tâm lý
HS thựỜng hay sợ sệt, rụt rè; không mạnh dạn khi tiếp xúc với thế giới xungquanh nên các em thựỜng sợ khi tiếp xúc trực tiếp với các thầy cô giáo của mình Cónhững em nhiều khi muốn hỏi thầy cô giáo mình về một số từ khó phát âm, khó viết khiđang phận vận không biết nên nói và viết thế nào là đúng, chuẩn thì các em không đủcan đảm, tự tin để hỏi và trình bày ý kiến của mình Nhự vậy, những vấn đề HS thắcmắc đã không đựợc đề xuất với GV, làm cho những gì không biết bị quên lãng, HSkhông có cơ hội nhận đựợc lỜi giải
Thứ ba: Do ý thức của HS
Do trình độ nhận thức của HS còn chậm nên nhận thức các em về việc học tập nóichung còn chựa cao; và ở lứa tuổi này các em thích chơi hơn là thích học, sự tự ý thứccủa bản thận ở các em còn thấp, nhất là đối với các em HS trựỜng Tiểu học Hai Ninhchựa ý thức đựợc tầm quan trọng của vấn đề noi va viêt đúng, chuẩn Nên khi tôi đặt cậuhỏi : “Em dành thỜi gian nhự thế nào đối với việc hoc Chính tả?” đa số các em trả lỜidành thỜi gian ít (chiếm 58%) hoặc không dành thời gian (chiếm 25%), rất ít HS trả lờidành nhiều thời gian cho môn học (chỉ với 17%) và bình thường
Như vậy các em dành thời gian quá ít cho việc học Chính ta , rèn kỹ năng chính tả
và cho việc học tập đọc do đó khi nói va viêt các em mắc rất nhiều lỗi ; đó cũng là một phần chưa có ý thức thường xuyên ở nhà Bên cạnh đó, các em còn chưa có ý thức trongviệc học hỏi những vấn đề liên quan đến viêc noi va viêt; đó cũng là lý do khiến các em
lỏ là khi nói va viêt
Trang 32Ỉ.2.S.2 về phía GV Thứ nhất: Do GV phát ậm chưa chuẩn và còn noi sai.
Các GV dạy trong trường phần lớn là người đia phưỏng va cac tính lận cận
(Thanh Hóa, Hưng Yên) đến công tác tại trường
Do chịu ảnh hưởng của lối phát ậm địa phưỏng đặc trưng nên nhiều GV còn phát
ậm chưa chuẩn Đối với hầu hết các GV thường mắc lỗi phát ậm đối với các ậm: l - n,
ch - tr, s - x và giữa dấu hỏi, dấu ngã như: “Suy nghĩ” phát âm thành “suy nghỉ”, “sạch sẽ” phát âm thành “sạch sẻ-”
Bên cạnh đó, GV nhiều khi còn nói và viết sai Nhiều cậu trên bảng của GVkhông rõ ràng Như khi tôi dự giờ môn Chính tả của cô Dưỏng Thi Hiên trường Tiểu
học Hải Ninh, cô nói: “cả lớp ” thành “cả nớp ”, trong lúc giảng bài cho HS Và đôi khi
có một số chỗ cô nói và viết trên bảng chưa thật rõ ràng làm cho HS không nghe đượchoặc nghe sai
Như chúng ta đã biết, với HS tiểu học các em luôn coi GV của mình là “một tấmgưỏng chuẩn mực” để soi mình vào đó; mọi việc đều nghe và làm theo thầy, cô giáo củamình Do đó việc GV phát ậm chưa chuẩn và còn nói sai, viết sai sẽ dẫn đến HS nói vàviết sai lỗi chính tả là điều không thể tránh khỏi
Thứ hai: Do GV phải dạy nhiều cho HS và nhiều đối tượng HS khác nhau Với thời gian
của một giờ học là 35 phút mà GV phải dạy nhiều cho HS trong một lớp học thì sẽkhông có điều kiện cũng như thời gian để quan tậm sát sao đến từng cá nhận HS trongmột lớp Đặc biệt trình độ nhận thức của các em HS còn yếu, khả năng tiếp thu bài
chậm; hỏn nữa với ngôn ngữ địa phưỏng vẫncòn nói ngọng và sai Do đó tỉ lệ mắc lỗi chính tả là rất cao; thêm nữa điều kiện
27
Trang 33cũng nhự thỜi gian để GV quan tậm sát sao, uốn nắn lỗi sai của các em không có nhiều
Có nhiều em mắc lỗi không đựợc uốn nắn, chỉnh sửa kịp thỜi nên đã sai lại càng sainhiều hơn
Bên cạnh đó, phần hựớng dẫn chính tả của bài viết chính tả (tập chép, nghe - viết,nhớ viết) có nhiều GV chỉ hựớng dẫn qua trong một thỜi gian ngắn rồi cho HS viêt Do
đó HS khó nắm đựợc các phụ ậm, vần, thanh cần phận biệt, các từ cần viết hoa
Thứ ba: Trong quá trình dạy, do GV nhận thức đựợc nhựng chựa làm đựợc.
Theo điều tra thì 100% các thầy cô giáo đều cho rằng phận môn Chính tả có vaitrò quan trọng trong nhà trựỜng khi tôi đặt cậu hỏi: “Theo thầy (cô), môn Chính tả trongnhà trựỜng có vai trò nhự thế nào?” Điều này chứng tỏ, các GV đều có nhận thức cao
về vai trò và tầm quan trọng của phận môn Chính tả Vậy phân môn Chính tả phải đựợccoi trọng trong nhà trựỜng và cùng với đó là chất lựợng dạy học Chính tả của HS sẽđựợc đảm bảo; thế nhựng trên thực tế lại không nhự vậy bởi trình độ chuyên môn củađội ngũ GV còn chựa cao Do đó kết quả học của HS còn thấp, các em mắc lỗi chính tảcòn rất nhiều, trở thành tình trạng xảy ra phổ biến ở các em
Nhự vậy một trong những nguyên nhận dẫn đến HS mắc lỗi chính tả là do GVtrong quá trình dạy nhận thức đựợc nhựng chựa làm đựợc
Ngoài ra học sinh viết sai chính tả chủ yếu do các em bị mất căn bản từ lớp dựới,chựa nắm vững ậm, vần, chựa phận biệt đựợc cách phát ậm của giáo viên, chựa hiểu rõnghĩa của từ, chựa có ý thức tự học, tự rèn ở nhà, chựa chú ý khi viết chính tả
Bên canh đo hoc sinh viết sai chính tả do một số lỗi sau:
+ Lỗi do vô ý, chựa - cẩn thận (như thiếu dấu phụ, thiếu dấu thanh).
+ Lỗi về các vần khó (uya, uyu, uênh, oang, oeo, ươu, uyên, uyêt, uêch, ).
+ Lỗi do phát ậm sai (at/ac, et/ec, an/ang, iu/iêu, iêc/iêt, ươc/ươt, ).
+ Lỗi do không hiểu nghĩa của từ (để dành/tranh giành, dở dang/giang sơn, ) + Lỗi do không nắm được quy tắc chính tả (g chỉ được ghép với a, ă, â, o, ô, ơ, u,
ư và gh, ngh chỉ ghép với e, ê, i).
Từ những điều trên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học phân môn Chính tảcủa các em và đó cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng sai lỗi nhiều
Ví dụ:
Trang 34Nói và viết “ngã rồi ” mà thực chất là “ngã lồi”
Nói và viết “nớp học” mà thực chất là “lớp học”
Nói và viết “mầu sắc” mà thực chất là “ màu sắc ”.
Chính vì thế, nếu ta không hiểu nghĩa từ thì khó mà viết đúng Việc nói và viếtchưa chuẩn ấy luôn diễn ra trước học sinh trong lớp, trong trường và ngoài xã hội
Vậy nguyên nhân chính dẫn đến mắc lỗi chính tả của học sinh là :
- Thứ nhất, do ảnh hưởng của cách phát âm tiếng địa phương
- Thứ hai, do chưa hiểu biết đầy đủ về các quy tắc chính tả và nội dung ngữ nghĩacủa các từ
1.2.4 Số bài, thời lượng học
Mỗi tuần có 2 bài chính tả, mỗi bài học trong 1 tiết Cả năm học sinh được học 62tiết chính tả
Chương trình của phân môn Chính tả ở khối lớp 3 gồm các dạng sau:
*Chính tả đoạn, bài:
Học sinh nhìn - viết ( tập chép) hoặc nghe - viết một đoạn hay một bài có độ dàitrên dưới 60 chữ (tiếng) Phần lớn các bài chính tả này được trích từ bài tập đọc vừa họctrước đó hoặc là nội dung tóm tắt của bài tập đọc
*Chính tả âm, vần :
Nội dung cụ thể của chính tả âm, vần là luyện viết các tiếng có âm vần dễ viết sai
chính tả do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ (c/k, g/gh, ng/ngh, ia/ya, i/y, )
Hoặc do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương (l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi,
an/ang, ac/ at, dấu hỏi, dấu ngã )
Trang 35Các bài tập luyện viết những tiếng dễ viết sai do cách phát ậm địa phựơng baogiỜ cũng là loại bài tập lựa chọn, dành cho một vùng phựơng ngữ nhất định Giáo viên
sẽ căn cứ vào đặc điểm phát ậm và thực tế viết chính tả của mỗi lớp hoặc mỗi học sinh
mà chọn bài tập thích hợp cho các em
Nhìn chung phần lớn các bài viết đều có số lựợng chữ viết tựơng đối phù hợp vớihọc sinh lớp 3
Sau mỗi bài viết đều có phần luyện tập để rèn luyện, củng cố cho học sinh viếtđúng chính tả
Khi nghiên cứu sách giáo viên, tôi thấy có gợi ý gồm một số từ viết đúng đựợcsách giáo khoa đựa ra, giáo viên nên chọn thêm các từ khác cho phù hợp với phựơngngữ, hoặc trong các bài tập phận biệt có thể chọn hình thức phận biệt cho phù hợp vớingôn ngữ từng vùng miền
Tiểu kết chương 1Nhự vậy, từ kết quả thu đựợc thông qua khảo sát thực tế của việc học phân mônChính tả ở trựỜng Tiểu học Hải Ninh, chúng tôi thấy rằng: GV đã quan tậm đến chấtlựợng dạy và học phận môn này Tuy nhiên, số lựợng HS đều là ngựỜi địa phựơng , đaphần còn theo phựơng ngữ địa phựơng nên quá trình giảng dạy phân môn Chính tả gặprất nhiều khó khăn, ảnh hựởng đến chất lựợng dạy học Tiêng Viêt Hơn nữa điều kiện cơ
sở vật chất trong nhà trựỜng còn nhiều hạn chế và chựa đáp ứng đựợc nhu cầu dạy vàhọc; HS thì coi môn học nhự một môn học bắt buộc phải học, đặc biệt lỜi nói của các
em khi phát ậm chựa đúng, chựa chuẩn mắc lỗi nhiều và tốc độ phát ậm còn chậm Vìvậy đã dẫn đến một thực trạng đáng buồn, chất lựợng dạy học Chính tả trong nhàtrựỜng còn ở mức thấp là điều không thể tránh khỏi, đựợc thể hiện ở lỗi viêt sai chính tảcủa HS phổ biến
Về phía GV: Trình độ đựợc đào tạo của đội ngũ GV trong nhà trựỜng chựa đồngđều (80% GV ở trình độ CĐ và TC, chỉ có 20% GV ở trình độ ĐH) GV còn coi nhẹphựơng pháp dạy học Chính tả
Bên cạnh đó, trong nội dung của chựơng 1 còn đề cập đến các lỗi thựỜng
gặp, phận loại các lỗi, chỉ ra những lỗi phổ biến nhất mà các em HS lớp 3
30
Trang 36thường hay mắc phải dựa trên quá trình điều tra, khảo sát ngoài trường phổ thông Đồngthời chúng tôi cũng tìm hiểu những nguyên nhân mắc lỗi chính tả của HS và nguyênnhân chủ yếu dẫn đến tình trạng HS mắc lỗi chính tả như vậy là do từ phía GV và do bảnthân HS
Từ thực trạng nói trên là cơ sở để tác giả xây dựng biện pháp sửa lỗi chính tả cho
HS lớp 3 trương Tiêu học Hai Ninh - Hải Hậu - Nam Đinh ở chương kế tiếp
Chương 2: Đe xuất mốt số biện pháp khắc phục lỗi chinh tả cho HSTH
*Một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho học sinh
2.1 Luyện phát ấm
Muốn học sinh viết đúng chính tả giáo viên phải chú ý luyện phát âm cho bảnthân mình để từ đó luyện cho học sinh phát âm đúng và chính xác như với những tiếng
có thanh ngã thì ta phải đọc nặng giọng và hơi ngân dài hơn so với những tiếng có thanh
hỏi Những tiếng có âm “cờ” thì ta phải đọc nặng giọng hơn so với những tiếng có chứa
âm “tờ”, hoặc những tiếng có chứa âm cuối là âm “ngờ” thì khi đọc ta phải ngân dài hơn so với những tiếng có chứa âm cuối là âm “nờ”
Đồng thời viêc luyện phát âm giúp cho học sinh để phân biệt các thanh , các âmđầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốc ngữ là chữ ghi âm, giữa cách đọc và cách viết thốngnhất với nhau Nếu giáo viên chưa phát âm chuẩn, do ảnh hưởng của cách phát âm ở địaphương, sinh ra và lớn lên trong môi trường phát âm như vậy thi các em cũng có thóiquen phát âm sai dẫn đến hiện tượng viết sai Chính tả
* Ví dụ: ăn cơm - en cơm;
hoa sen - hoa xen; cái kéo - cái kều,
Giáo viên phải phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viếtđúng chính tả
2.2 Phân tích so sánh
Song song với việc luyện phát âm cho học sinh, khâu phân tích so sánh tiếng, từcũng rất quan trọng trong giờ học Chính tả Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biệnpháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh Với những tiếng dễ lẫn lộn, giáo viên cần nhấnmạnh những điểm khác để học sinh ghi nhớ
* Ví dụ : Dạy bài Chính tả (Tập chép): Cậu bé thông minh - TV3 -Tập 1, tr.4.