1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động của Tòa án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

183 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vị thành niên” là tiền đề để phòng ngừa, hạn chế các điều kiện nảy sinh tộiphạm do NCTN thực hiện.Vấn đề này đã lôi cuốn được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều cácnhà khoa học, của nh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện của ĐảngCộng sản Việt Nam, tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước có bướcphát triển; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; an ninh chính trịđược giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; công tác phòng, chốngcác loại tội phạm và công tác phòng, chống tội phạm do người chưa thànhniên thực hiện được Đảng, Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và toàn thể xã hộihết sức quan tâm Việc phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tộiphạm do người chưa thành niên thực hiện nói riêng là hoạt động nhằm khắcphục loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm và tìm ra biện pháp ngănchặn, xử lý các tội phạm đã và đang xảy ra trong xã hội, là vấn đề quan tâmkhông chỉ của Việt Nam mà của tất cả các quốc gia trên thế giới

Trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Lê Nin đã nói “giành chínhquyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”; cái khó mà Lê Nin đã đề cậpđến không chỉ là cái khó trong công cuộc đấu tranh chống những kẻ thù hiệnhữu, không chỉ khó trong việc xây dựng nền tảng kinh tế, xã hội mà còn khó ởviệc xây dựng nếp sống mới, xây dựng ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa chonhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ những em chưa thành niên

Có thể nói vấn đề tội phạm do NCTN thực hiện đã được đề cập đếntrong nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước mà biểu hiện tậptrung nhất trong các văn bản pháp luật như: Hiến pháp, Luật bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật hôn nhân và giađình, Luật lao động, Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và đặc biệt

là Nghị quyết số 09/2008/NQ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ “Về tăngcường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới”, trong đó Đề án 4:

“Đấu tranh phòng chống tội phạm xâm hại trẻ em và tội phạm trong lứa tuổi

Trang 2

vị thành niên” là tiền đề để phòng ngừa, hạn chế các điều kiện nảy sinh tộiphạm do NCTN thực hiện.

Vấn đề này đã lôi cuốn được sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều cácnhà khoa học, của những cán bộ công tác ở các cơ quan tư pháp, cơ quan bảo

vệ pháp luật; vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu và bài báo khoa họcđược công bố trên lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luật.Các công trình đó tiếp cận vấn đề tội phạm do NCTN thực hiện ở những góc

độ khác nhau như trách nhiệm hình sự đối với NCTNPT; nguyên nhân, điềukiện dẫn đến NCTNPT; khía cạnh tâm lý của tội phạm vị thành niên; thủ tục

tố tụng đối với NCTN; thực trạng NCTNPT; phòng ngừa NCTNPT; một sốcông trình tập trung nghiên cứu phòng ngừa NCTNPT trong phạm vi một tỉnhhoặc thành phố nào đó hoặc có công trình nghiên cứu hoạt động của lựclượng Công an nhân dân trong phòng ngừa NCTNPT trong tình hình hiệnnay nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu hoạt động của Tòa ánnhân dân trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện Đây là vấn đề lâunay ít được quan tâm, vì vậy đây cũng là vấn đề hết sức cấp thiết cần phảiđược nghiên cứu để phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạmnói chung và tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng của TAND trong tìnhhình hiện nay

Mặc dù công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian qua đãđạt được những kết quả to lớn Song tình hình tội phạm nói chung, tội phạm

do NCTN thực hiện vẫn chưa có chiều hướng giảm và có diễn biến phức tạpvới tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội ngày càng cao Điều đáng lo ngại

là sự gia tăng của tỷ lệ tội phạm NCTN Theo số liệu của Vụ Thống kê - Tổnghợp Tòa án nhân dân tối cao năm 2007, toàn quốc có 2.898 vụ với 4.087 bịcáo CTN bị đưa ra xét xử thì năm 2013 cả nước có tới 4.204 vụ với 5.601 bịcáo CTN bị đưa ra xét xử, tăng hơn 30% số vụ và 27% số bị cáo, đáng chú ý

Trang 3

số NCTN tụ tập thành băng, nhóm sử dụng dao, lê, mã tấu gây nhiều vụ án cótính chất nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội Chỉ thị số 48/CT-

TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảngđối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đã nêu rõ “tìnhtrạng phạm tội trong thanh thiếu niên xảy ra ngày càng nhiều hơn, rất đáng longại…” [5, tr1] và được các đại biểu Quốc hội cho là "tội phạm chưa thànhniên ngày càng gia tăng và trở thành một hiện tượng xã hội" Tình trạng đó đặt

ra nhiệm vụ cấp bách cho Nhà nước và xã hội phải tập trung phát hiện, đấutranh, nghiên cứu để đưa ra những giải pháp hữu hiệu làm giảm tình hình tộiphạm ở NCTN

Với hoạt động chính là xét xử, Toà án có nhiệm vụ chủ yếu là đấu tranhchống tội phạm, vì vậy Toà án cũng phải có trách nhiệm nặng nề trong công tácđấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm do NCTN thực hiện Điều này đãđược ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Bộ luật hình sự

và Bộ luật tố tụng hình sự Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cho thấyvai trò quan trọng không thể thiếu của TAND trong lĩnh vực này Tuy nhiêntrong hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém đólà: chưa nhận thức đầy đủ về tình trạng phạm tội ở lứa tuổi CTN; lâu nay Toà

án các cấp chỉ tập trung thực hiện hoạt động xét xử chưa chú ý đúng mức đếnhoạt động phòng ngừa; việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn đôikhi còn kém hiệu quả; chưa có tổ chức chặt chẽ và phân công, phân cấp rõ ràng.Chính vì vậy, trước những yêu cầu của công cuộc đấu tranh và phòng,chống tội phạm do NCTN thực hiện với phương châm phòng ngừa là chính,

mà trong đó hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện theo chứcnăng của TAND đang đòi hỏi có sự nghiên cứu đầy đủ, cụ thể, có luận cứkhoa học, góp phần hoàn thiện về lý luận cũng như biện pháp nâng cao hiệu

Trang 4

quả hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

- Mục đích: Nghiên cứu làm rõ lý luận và thực tiễn hoạt động của

TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện; trên cơ sở đó đề xuất hệthống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của TAND trong phòngngừa tội phạm do NCTN thực hiện

- Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận án là:

+ Làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quanđến vấn đề phòng ngừa tội phạm NCTN theo chức năng của TAND; đưa ranhững khái niệm về người chưa thành niên, tội phạm do NCTN thực hiện;phân tích, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hoạt động của TAND trongphòng ngừa tội phạm NCTN thực hiện

+ Khảo sát tình hình, đặc điểm tội phạm học của tội phạm do NCTNthực hiện từ năm 2007 đến năm 2013; phân tích thực trạng hoạt động củaTAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện đồng thời nhận xét,đánh giá về những thuận lợi, ưu điểm và kết quả đạt được trong phòng ngừatội phạm do NCTN thực hiện; những khó khăn và hạn chế, thiếu sót; nguyênnhân của những hạn chế, thiếu sót

+ Dự báo về tình hình tội phạm do NCTN thực hiện và những yếu tố tácđộng đến hoạt động phòng ngừa tội phạm NCTN của TAND trong thời gian tới;

đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củaTAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động của

TAND các cấp trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

+ Phạm vi về địa bàn: Khảo sát trên toàn quốc trong đó tập trung ởmột số TAND tỉnh, thành phố được chọn phân bố cả 3 miền Bắc, Trung,Nam và 3 khu vực thành phố, nông thôn và miền núi như Hà Nội, HảiPhòng, Hà Nam, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Đà Nẵng, thành phố Hồ ChíMinh Đồng thời tiến hành khảo sát ở một số Trại giam có số lượng phạmnhân là NCTN cải tạo đông trực thuộc Tổng cục VIII, Bộ Công an như Trạigiam Ninh Khánh, Trại giam Hoàng Tiến, Trại giam Đồng Sơn, Trại giam

số 6, Trại giam Thủ Đức

+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2007 đến năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên phương pháp luận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về Nhà

Trang 6

nước và Pháp luật Các quan điểm của Đảng về đấu tranh phòng ngừa tộiphạm trong giai đoạn hiện nay.

Các phương pháp cụ thể được sử dụng là phương pháp thống kê, tổnghợp, phân tích, phương pháp so sánh, khảo sát thực tế, phương pháp nghiêncứu xã hội học, tổng kết thực tiễn, phương pháp chuyên gia và kế thừa nhữngkết quả nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến phòng ngừa tội phạm

5 Đóng góp về mặt khoa học của luận án

Từ những kết quả nghiên cứu, tác giả khẳng định đây là công trình khoahọc đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hoạt động của Tòa án trongphòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động của TAND trongphòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện; đề xuất hoàn thiện pháp luật cũngnhư hướng dẫn áp dụng pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tộiphạm do NCTN thực hiện

Đưa ra những giải pháp cơ bản về hoạt động của TAND trong phòng ngừatội phạm do NCTN thực hiện, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ lý luận về phòngngừa tội phạm do NCTN thực hiện của TAND Đồng thời làm phong phúthêm cơ sở khoa học về các hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm

do NCTN thực hiện đặc biệt góp phần xây dựng và hoàn thiện lý luận hoạtđộng phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện ở Việt Nam

- Hệ thống các giải pháp được đề xuất trong luận án không chỉ nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm doNCTN thực hiện, mà còn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật cóliên quan đến phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

Trang 7

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng trong việc nângcao nhận thức và áp dụng có hiệu quả của tác giả cũng như những người làmcông tác áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử, phục vụ công tácphòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện; là tài liệu tham khảo có giá trịtrong việc nghiên cứu và giảng dạy Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật,pháp luật hình sự và pháp luật TTHS.

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chương.Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận về hoạt động củaToà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thựchiện

Chương 2 - Đặc điểm tội phạm học của tội phạm do người chưa thànhniên thực hiện và thực trạng phòng ngừa theo chức năng, nhiệm vụ của Toà

án nhân dân

Chương 3 - Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà

án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Có thể nói, vấn đề phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tộiphạm do NCTN thực hiện nói riêng đã trở thành một trong những nhiệm vụtrọng tâm trong công tác tư pháp và được các quốc gia trên thế giới đặc biệtquan tâm từ rất sớm Vấn đề này đã được nhận định thống nhất giữa cácchương trình nghị sự của Liên hợp quốc cũng như các tổ chức quốc tế và cácnhà nghiên cứu về tầm quan trọng cũng như tác dụng, ý nghĩa của phòngchống tội phạm Trong Báo cáo nghiên cứu về vấn đề pháp chế và tư phápchuyển đổi trong các xã hội có chiến tranh hoặc sau chiến tranh, Tổng Thư kýcủa Hội đồng bảo an của Liên hợp quốc đã chỉ ra rằng phòng chống tội phạm

là vấn đề quan trọng và cấp bách nhất của tư pháp hiện nay

Một trong những nghiên cứu đáng chú ý về phòng ngừa tội phạm nói

chung, bao gồm phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện là “Cẩm nang

Hướng dẫn phòng ngừa tội phạm của Văn phòng Liên hợp quốc về ma tuý và tội phạm” Cuốn sách này được xuất bản năm 2010 bởi các chuyên gia về

phòng chống tội phạm; trong đó đã tập trung phân tích các hướng dẫn liênquan của Liên Hợp quốc được coi như là tiêu chuẩn về phòng, chống tội

phạm, bao gồm: “Hướng dẫn cho sự hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực

phòng ngừa tội phạm ở thành thị năm 1995”; “Hướng dẫn đối với phòng ngừa tội phạm năm 2002 và những Nghị quyết của Hội đồng bảo an về việc phòng ngừa tội phạm” Các hướng dẫn này được phân tích trong mối liên hệ

Trang 9

đối với các kết quả của những nghiên cứu khoa học liên quan và kinh nghiệmthực tiễn phòng ngừa tội phạm của các quốc gia thời gian gần đây Trongnghiên cứu này đã khẳng định rõ vai trò trung tâm và lãnh đạo của các cơquan Chính phủ trong việc phòng chống tội phạm Tuy nhiên, do phạm vinghiên cứu rộng và nhằm để đưa ra hướng dẫn mở, có thể áp dụng linh hoạtcác quốc gia có hệ thống chính trị, bộ máy chính quyền cũng như pháp luật vàtập quán đa dạng nên cuốn sách này đã không đưa ra những hướng dẫn cụ thể

về vai trò hoạt động của mỗi cơ quan nhà nước nói chung hay của Toà ántrong việc phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng

Nghiên cứu chuyên sâu về phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luật có thể

kể đến đó là “Cẩm nang về phòng ngừa tội phạm và tội phạm chưa thành

niên”, xuất bản năm 1987 của E Johnson [117] Tác giả đã tập trung phân

tích, làm rõ các phương pháp phòng ngừa tội phạm và tội phạm CTN, sự phânloại, cách tiếp cận phòng ngừa và những ảnh hưởng đối với NCTNPT đồngthời khẳng định vai trò quan trọng của sự định hướng trong việc phòng ngừatội phạm và tội phạm CTN Tác giả đã đưa ra quan điểm phòng ngừa tộiphạm nói chung và phòng ngừa tội phạm là người chưa thành niên nói riêngphải được nghiên cứu dài hạn để có thể đưa ra các chỉ số làm cơ sở cho việc

so sánh và đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng ngừa

Công trình nghiên cứu về “Tư pháp người chưa thành niên và sự phòng ngừa người chưa thành niên vi phạm pháp luật”, xuất bản năm 1995

của Geraldine Van Bueren [120] Trong nghiên cứu này tác giả đã đưa ra kháiniệm về người chưa thành niên và NCTN vi phạm pháp luật đồng thời trên cơ

sở các chuẩn mực quốc tế về NCTN bị coi là phạm tội, tác giả đã đưa ra vấn

đề về xử lý NCTN vi phạm pháp luật theo hướng là nhân đạo, khuyến khíchphòng ngừa và áp dụng trình tự xử lý phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi củaNCTN Đặc biệt tác giả đi sâu phân tích phương pháp phòng ngừa NCTN vi

Trang 10

phạm pháp luật trong đó khẳng định điều quan trọng của việc phòng ngừaNCTN vi phạm pháp luật là sự định hướng, các chương trình cộng đồng, sựlinh hoạt trong việc phòng ngừa

Các nghiên cứu chuyên sâu gồm: Phòng ngừa NCTN vi phạm pháp luậttheo lứa tuổi, xuất bản năm 1997 của hai tác giả Richard E Trembly vàMendy M Craig [122]; Phòng ngừa sớm theo lứa tuổi đối với tội phạm chưathành niên, xuất bản năm 1994 của Davit P Frarrington [119]; Can thiệp sớmthời kỳ thơ ấu: Một sự phòng ngừa hiệu quả tội phạm CTN, xuất bản năm

1992 của Zingler Edward, Tausig Cra và Black Thathryn [118] Các nghiêncứu trên đều có chung một quan điểm về phương pháp phòng ngừa tội phạmCTN đó là sự can thiệp sớm và những ảnh hưởng đối với NCTNPT trong đómôi trường gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội có tác động trực tiếp vàđóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, định hướng cho NCTN

Từ những nội dung trên và qua kết quả nghiên cứu cho thấy chưa cócông trình khoa học nào nghiên cứu về hoạt động của TAND trong phòngngừa tội phạm do NCTN thực hiện Vì vậy tác giả đi sâu phân tích văn bảnpháp luật quốc tế thực định, vì đây là nền móng được các quốc gia tập trungnghiên cứu nhằm vận dụng vào quá trình xây dựng pháp luật và định hướngcho quá trình xử lý NCTN vi phạm pháp luật ở nước mình Trong số các vănbản đó trước tiên phải kể đến Công ước về quyền trẻ em do Đại hội đồng Liênhợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có hiệu lực ngày 02/9/1990 [35] Đây làvăn kiện pháp lý có số thành viên lớn nhất phê chuẩn so với tất cả các Côngước quốc tế khác đề cập tới một số khía cạnh về tư pháp NCTN và đưa ra cácquan điểm chung về bảo vệ quyền của các cá nhân liên quan đến lĩnh vực này

Ngoài ra còn có ba văn kiện đề cập trực tiếp đến vấn đề tư pháp NCTNđược thông qua tại các Hội nghị của Liên hợp quốc do các chính phủ nhómhọp 5 năm một lần về pháp luật liên quan đến công tác ngăn ngừa tội phạm và

Trang 11

đối xử với người phạm tội Đó là các văn kiện:

1 Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng phápluật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên hợp quốc thôngqua ngày 29/11/1985 [37];

2 Hướng dẫn Riyadh về việc phòng ngừa người chưa thành niên phạm tộiđược Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 (gọi tắt là Hướngdẫn Riyadh) [36];

3 Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưathành niên bị tước quyền tự do được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông quangày 14/12/1990 (gọi tắt Quy tắc 1990) [38]

Ba văn kiện này có tính hướng dẫn đưa ra những khuyến nghị về việcthiết lập một hệ thống tư pháp NCTN trong khuôn khổ pháp luật ở mỗi quốcgia nhằm vừa tôn trọng quyền và bảo vệ trẻ em vừa duy trì trật tự, an toàn xãhội Do đó các văn kiện này giúp các quốc gia hoạch định chính sách về tưpháp NCTN đồng thời để giải thích cách áp dụng trong thực tế những quyđịnh của Công ước về quyền trẻ em liên quan đến tư pháp NCTN

Quy tắc Bắc Kinh đã đưa ra các khái niệm người chưa thành niên,NCTN phạm pháp, khái niệm và mục tiêu của tư pháp NCTN Theo đó tưpháp NCTN là một bộ phận của nền tư pháp quốc gia bao gồm các quy địnhpháp luật và việc áp dụng các quy định đó đối với NCTN phạm pháp do một

hệ thống các cơ quan tài phán và một đội ngũ những người tham gia vào cáchoạt động tư pháp thực hiện theo nguyên tắc coi hạnh phúc và sự cải tạo củaNCTN là mục tiêu hàng đầu đồng thời duy trì trật tự công cộng và đạo đức xãhội, đảm bảo việc xử lý NCTN phạm pháp luôn phù hợp, tương xứng vớihoàn cảnh, động cơ và hành vi phạm pháp của họ

Để thực thi một hệ thống tư pháp NCTN theo nghĩa trên, Công ướcquyền trẻ em đã xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quyền của những trẻ em

Trang 12

bị tước quyền tự do (Điều 37) và của những trẻ em bị tình nghi, bị quy là phạmtội (Điều 40), nhằm giúp hình thành ở mỗi quốc gia - thành viên một hệ thốngluật pháp, các thiết chế và các thủ tục tư pháp cũng như các biện pháp xử lýphù hợp ngoài hệ thống tư pháp để áp dụng đối với trẻ em vi phạm pháp luật.

Khái niệm NCTN phạm pháp là chuẩn mực quan trọng để các quốc giaxây dựng hệ thống pháp luật về NCTN phạm pháp ở quốc gia mình Tuynhiên trên thực tế, ở các quốc gia khác nhau lứa tuổi chịu trách nhiệm hình sựcủa NCTN được quy định cũng khác nhau Nhưng nhìn chung chính sáchhình sự của các quốc gia là thống nhất phù hợp với định hướng chung củapháp luật quốc tế nêu trên

Các chuẩn mực quốc tế về trẻ em bị tước quyền tự do: Trẻ em bị tướcquyền tự do là trẻ em bị áp dụng bất kỳ hình thức giam giữ nào dù ở nơi giamgiữ chung hay giam giữ riêng hoặc bị bỏ tù mà vì bị như thế nên trẻ em khôngđược tự do rời bỏ nơi giam giữ trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp, cơquan hành chính hoặc một cơ quan công quyền khác (Quy tắc 1990)

Công ước quyền trẻ em quy định việc tước quyền tự do của trẻ em phảituân theo 3 điều kiện: phải được tiến hành theo quy định của pháp luật; phải

là biện pháp cuối cùng và chỉ được áp dụng trong thời gian thích hợp ngắnnhất (Điều 37b)

Quy tắc 1990 được xây dựng trên cơ sở Điều 37 của Công ước Quyềntrẻ em, với mục tiêu thiết lập những tiêu chuẩn tối thiểu để bảo vệ NCTN bịtước quyền tự do, làm giảm bớt những tác động không có lợi do mọi hìnhthức giam giữ gây ra và nhằm khuyến khích sự hòa nhập xã hội của NCTN

Đối với NCTN bị bắt giữ hoặc tạm giam chờ xét xử: Nguyên tắc baotrùm là NCTN phải được coi là vô tội và phải được đối xử như là người vô tội(mục 17) Vì việc tước quyền tự do của NCTN phải được coi là biện phápcuối cùng và chỉ áp dụng trong thời hạn ngắn nhất, do đó Tòa án và Cơ quan

Trang 13

điều tra phải có những ưu tiên cao nhất cho quá trình xử lý khẩn trươngnhững vụ án này Trong khi bị tạm giam, NCTN được giam giữ riêng, cáchbiệt với người thành niên đã bị kết án và có các quyền:

1 Có Luật sư bào chữa và được thường xuyên tiếp xúc với Luật sưcủa mình;

2 Được cung cấp, nếu có thể, các cơ hội tiếp tục có việc làm, đượcnhận thù lao, tiền công, được tiếp tục đào tạo, giáo dục;

3 Được nhận và giữ các thứ phục vụ cho việc vui chơi, giải trí thíchhợp (mục 18)

Đối với NCTN đã bị kết án, để đảm bảo mục tiêu chính là cải tạo vàkhuyến khích, tạo điều kiện để giúp NCTN tái hòa nhập xã hội sau khi chấphành án, Quy tắc 1990 quy định các bộ phận của công tác cải tạo là:

1 Giáo dục đào tạo (bao gồm cả giáo dục văn hóa và giáo dục nghềthích hợp) theo những chương trình chuẩn quốc gia và một đội ngũ giáo viên

có đủ trình độ (mục 38-42);

2 Lao động tự nguyện, có trả lương, ở mức độ được phép và được đảmbảo các tiêu chuẩn an toàn lao động nhằm hình thành thái độ đúng đắn, tíchcực đối với lao động và ở mức độ có thể, những kỹ năng có ích cho NCTNsau khi rời trại (mục 43-46);

3 Giải trí, sinh hoạt tinh thần, tôn giáo và chăm sóc sức khỏe (mục 47-58);

4 Tôn trọng nhân phẩm, các quyền tinh thần, tình cảm (liên hệ với giađình, cộng đồng) (mục 59-62) và quyền sở hữu cá nhân của NCTN (mục 35-36);

5 Thu xếp và cung cấp các dịch vụ giúp NCTN tái hòa nhập thànhcông vào cộng đồng (mục 79-80)

Quy tắc 1990 cũng đưa ra những tiêu chuẩn về môi trường, thiết kế nơi

ăn, ở trong trại giam (mục 31-34, 37); các quy trình, thủ tục tiếp nhận, đăng

ký, di chuyển, phân loại và sắp xếp nơi ở, quản lý hồ sơ (mục 19-28) cũng

Trang 14

như việc kỷ luật, điều tra và giải quyết khiếu nại của NCTN tại trại giam (mục72-78) đồng thời khuyến nghị việc chuẩn hóa trình độ văn hóa, chuyên môn,sức khỏe, đạo đức của những người làm việc tại trại giam NCTN (mục 81-87).

Tư tưởng chỉ đạo của Quy tắc 1990 là khuyến khích, hướng dẫn cácNhà nước đưa các quy tắc này vào pháp luật quốc gia một cách thiện chí, phùhợp với điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội hiện có ở từng nước

Các chuẩn mực quốc tế về NCTN bị coi là phạm tội

Điều 40 Công ước Quyền trẻ em quy định về quyền của trẻ em bị cho

là bị tố cáo hoặc bị công nhận là đã phạm tội

Khoản 1 Điều 40 đưa ra 4 chuẩn mực hay 4 quy tắc chung về đối xửvới trẻ em phạm tội, đó là:

1 Đối xử theo cách thức phù hợp với việc cổ vũ phẩm cách và phẩmgiá của các em;

2 Tăng cường lòng tôn trọng của trẻ em đối với các quyền con người

và các quyền tự do cơ bản của người khác;

3 Phù hợp với lứa tuổi của trẻ em;

4 Thúc đẩy sự tái hòa nhập và vai trò của trẻ em trong xã hội

Khoản 2 Điều 40 xác định 8 đảm bảo cho một quá trình tố tụng hợp lýđối với trẻ em bị truy tố:

1 Luật hình sự không có hiệu lực hồi tố, nghĩa là đảm bảo không trẻ

em nào bị truy tố vì những hành vi mà pháp luật quốc gia và quốc tế khôngcấm vào thời điểm thực hiện hành vi đó (mục a);

2 Được hưởng nguyên tắc suy đoán vô tội, nghĩa là trẻ em vẫn đượccoi là vô tội cho tới khi bị chứng minh rằng đã phạm tội theo pháp luật quyđịnh (mục bI);

3 Trước khi bị đưa ra xét xử: Trẻ em phải được thông báo nhanhchóng, trực tiếp về những điều bị buộc tội và phải được sự giúp đỡ về mặt

Trang 15

pháp lý hoặc sự giúp đỡ thích hợp khác để chuẩn bị trình bày sự bảo vệ củamình (mục bII);

4 Tại phiên tòa xét xử: Trẻ em phải được sự giúp đỡ pháp lý để thamgia cùng với cha mẹ hoặc người giám hộ pháp lý vào một cuộc tường trình,thẩm vấn công bằng, đúng pháp luật trước một Hội đồng xét xử có thẩmquyền, độc lập, vô tư và có khả năng ra quyết định một cách không chậm trễ(mục bIII);

5 Đối với việc làm chứng: Trẻ em không bị ép buộc làm chứng haynhận tội; có quyền thẩm vấn hay nhờ người thẩm vấn những nhân chứngchống lại mình đồng thời có quyền đưa ra những người làm chứng cho mìnhtrong những điều kiện bình đẳng (mục bIV);

6 Quyền được kháng cáo đối với những quyết định sơ thẩm để đượcxét xử phúc thẩm bởi một Hội đồng xét xử có thẩm quyền cao hơn, độc lập và

Trang 16

- Xét xử trẻ em phạm tội theo những nguyên tắc của một phiên tòacông bằng và bình đẳng với một không khí hiểu biết cho phép trẻ em tham gia

và tự do bày tỏ ý kiến (Quy tắc 14);

- Việc định tội và lượng hình phải luôn phù hợp với hoàn cảnh, động

cơ, nhu cầu của NCTN và yêu cầu của xã hội; trong các hình phạt: khôngđược kết án tử hình đối với bất cứ tội phạm NCTN nào, không được áp dụngnhững hình phạt nhục hình đối với NCTN; chỉ quyết định hình phạt tước bỏ

tự do cá nhân vì hành vi nghiêm trọng có dùng bạo lực chống lại người khác

và trừ khi không có cách giải quyết thích hợp khác (Quy tắc 17)

Một đặc trưng không thể thiếu trong việc xét xử NCTN là cơ quan cóthẩm quyền có thể đình chỉ vụ án bất cứ lúc nào khi họ biết đến những tìnhtiết của vụ án là căn cứ cho việc đình chỉ Cần có nhiều biện pháp xử lý khácnhau để tránh tối đa hình phạt giam giữ (Quy tắc 18)

Phần IV - Cách xử lý không giam giữ - nêu những quy tắc của các cơquan, tổ chức có liên quan để thi hành có hiệu quả những quyết định xử lýkhông giam giữ do Tòa án tuyên

Quy tắc cuối cùng là phải thiết lập cơ chế nghiên cứu làm cơ sở choviệc lập kế hoạch, đề ra chính sách, thu thập và đánh giá thường xuyên, xácđáng những cứ liệu và thông tin thích hợp để cải tiến công tác quản lý NCTNphạm pháp (Quy tắc 30)

Tư pháp NCTN với việc tái hòa nhập xã hội

Quy tắc 1990 dành hai điều về việc "trở lại cộng đồng" của nhữngNCTN phạm pháp sau khi đã hết thời hạn bị tước quyền tự do Mục tiêu củacác quy tắc này là giúp NCTN tái hòa nhập thành công trong cộng đồng

Vấn đề phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện: Theo Hướng dẫnRiyadh, phòng ngừa phạm pháp ở NCTN là một bộ phận chính yếu của phòngngừa tội phạm trong xã hội Quan điểm chỉ đạo toàn bộ vấn đề phòng ngừa

Trang 17

NCTN phạm pháp là phải coi trẻ em và phúc lợi của trẻ em là trung tâm củabất cứ một chương trình phòng ngừa nào Với cách hiểu rằng hành vi của trẻ

em không phù hợp với các chuẩn mực và giá trị xã hội chung thường chỉ làmột phần của quá trình trưởng thành và có xu hướng mất đi ở hầu hết mọi cánhân khi trở thành người lớn, cho nên, theo Hướng dẫn Riyadh: Phòng ngừaNCTN phạm pháp là việc giúp các em có nguy cơ vi phạm cao phát triển cácthái độ không dẫn đến việc phạm pháp thông qua sự thu hút các em tham giavào các hoạt động hợp pháp, hữu ích về mặt xã hội với một định hướng vàcách nhìn nhân đạo đối với cuộc sống Để làm việc này thành công đòi hỏinhững cố gắng của toàn xã hội thông qua các chương trình hành động cộngđồng nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa về nhân cách của các em ngay từtuổi thơ ấu

Xét theo quan điểm trên thì mặc dù Công ước Quyền trẻ em không cóđiều khoản riêng quy định trực tiếp việc phòng ngừa trẻ em phạm tội nhưngqua các Điều 5, 18, 19, 27 Công ước đã khẳng định trách nhiệm của cha, mẹ,gia đình, người giám hộ, nhà trường và toàn cộng đồng trong việc hướng dẫn,chỉ bảo trẻ em phát triển theo cách phù hợp với nhịp phát triển và khả năngcủa trẻ em

Dù là trong gia đình, nhà trường hay ngoài xã hội, một nguyên tắcphòng ngừa NCTN phạm pháp được nhấn mạnh là vai trò tích cực, "tự cứu"của bản thân cá nhân NCTN cũng như của tập thể, tổ chức thanh, thiếu niênkhi tham gia vào các chương trình của cộng đồng hoặc hưởng thụ các dịch vụ

hỗ trợ của Nhà nước

Nhà nước chịu trách nhiệm ban hành và thực hiện các đạo luật để tiếptục bảo vệ tốt hơn quyền của trẻ em, để phòng ngừa việc đối xử tàn nhẫn, bóclột hay sử dụng NCTN vào các hoạt động tội phạm, để hạn chế NCTN tiếpcận với những đối tượng và phương tiện gây tội, đặc biệt là với các chất gây

Trang 18

nghiện ma túy Nhà nước chủ yếu giữ vai trò cung cấp các dịch vụ thiết yếucho NCTN trong các chương trình cộng đồng; huấn luyện các cán bộ thi hànhpháp luật và những người có liên quan làm quen và sử dụng đến mức tối đacác chương trình chuyển hướng xử lý đưa NCTN ra ngoài hệ thống xét xửchính thức Nhà nước cũng chịu trách nhiệm nghiên cứu xây dựng các chínhsách và cơ chế phối hợp các cơ quan nhà nước, các tổ chức chuyên môn và xãhội, kể cả tổ chức của thanh niên, trong các hoạt động phòng ngừa chung vàphòng ngừa NCTN phạm pháp.

Tóm lại: Công ước Quyền trẻ em và các văn bản quốc tế khác đã tạothành một hệ thống tương đối đầy đủ các chuẩn mực và các định hướng chocác quốc gia xây dựng và thực hiện hệ thống tư pháp NCTN phù hợp với điềukiện của từng nước từ khâu phòng ngừa đến xử lý và tái hòa nhập NCTNphạm pháp về với cộng đồng

Với việc thông qua các tiêu chuẩn, quy định và hướng dẫn quốc tế đã tạo

ra ảnh hưởng to lớn tới cách nhìn nhận của các quốc gia về trẻ em, cũng nhưhoàn cảnh và nhu cầu của các em Công ước về Quyền trẻ em của Liên hợpquốc được hầu hết các quốc gia trên thế giới tham gia ký kết cho thấy đại bộphận các quốc gia trên thế giới đã thống nhất được với nhau trong cách nhìnnhận những nhu cầu của trẻ em để các em đạt được tối đa tiềm năng phát triểncủa mình cũng như vai trò của các Quốc gia thành viên trong việc đảm bảo antoàn và cuộc sống tốt đẹp cho trẻ em Trên cơ sở các tiêu chuẩn, quy định vàhướng dẫn quốc tế các quốc gia đã xây dựng hệ thống pháp luật và có đườnglối xử lý NCTN vi phạm pháp luật vừa phù hợp luật pháp quốc tế về quyền trẻ

em, vừa phục vụ nhiệm vụ của quốc gia mình

Nói tóm lại nghiên cứu tình hình NCTN vi phạm pháp luật ở nước ngoàitác giả đã đi sâu tìm hiểu các quy định pháp luật mang tính quốc tế, tìm hiểu

tổ chức bộ máy Toà án xét xử NCTN, một số quy định cơ bản nhất về trách

Trang 19

nhiệm hình sự của NCTN, đường lối xét xử đối với NCTN, hoạt động phòngngừa NCTNPT ở một số quốc gia trên thế giới Bên cạnh đó tác giả đã đi sâunghiên cứu một số công trình về NCTN vi phạm pháp luật, về tội phạm làNCTN, các biện pháp xử lý NCTN của một số tác giả ở Hàn Quốc, Nhật, Tháilan, Philippin… Tựu chung việc xử lý NCTN vi phạm pháp luật trên bìnhdiện quốc tế đều theo xu hướng khuyến khích nhiều hơn những hoạt độngphòng ngừa, áp dụng những trình tự xử lý đặc biệt phù hợp với từng lứa tuổicủa NCTN; tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức ở các lứa tuổi khác nhau, hạnchế đến mức thấp nhất các chế tài mang tính giam giữ, trừng phạt.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Qua khảo sát các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tàicho thấy chưa có công trình khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ cũng như cácluận án, luận văn nào nghiên cứu trực tiếp về đề tài hoạt động của TANDtrong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện Những công trình khoa học

có liên quan gián tiếp đến đề tài luận án lại tương đối phong phú

Trong cuốn sách chuyên khảo “Phòng ngừa người chưa thành niên

phạm tội” của các tác giả Vũ Đức Khiển, Bùi Hữu Hùng, Phạm Xuân Chiến,

Đỗ Văn Hãn, Trần Phàn, xuất bản năm 1987 [34] được coi là một trongnhững nghiên cứu ban đầu ở Việt Nam về vấn đề NCTNPT, kết quả nghiêncứu đã đánh giá tác động của môi trường gia đình, nhà trường và xã hội đốivới hiện tượng xã hội tiêu cực này đồng thời xác định môi trường xã hộichính là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới quá trình phạm tội của NCTN Trên

cơ sở đó, nhóm tác giả đã đưa ra các biện pháp phòng ngừa tình trạngNCTNPT

Sách chuyên khảo “Phòng ngừa thanh thiếu niên phạm tội - Trách

nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội” của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm và

các cộng sự, xuất bản năm 2004 [110] với kết quả nghiên cứu rất có giá trị, là

Trang 20

công trình nghiên cứu ở mức độ tổng quan, toàn diện các vấn đề liên quan đếnphòng, chống NCTNPT và giải quyết tổng thể các vấn đề liên quan đến đấutranh phòng, chống tội phạm NCTN đồng thời đặt ra những yêu cầu đối vớiviệc hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với NCTNPT.

Cuốn sách chuyên khảo“Tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn Hà

Nội, thực trạng và giải pháp” của tác giả Trịnh Quốc Toản chủ biên, xuất bản

năm 2007 [89] Nội dung cuốn sách tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận

về trách nhiệm hình sự, về phòng ngừa tội phạm NCTN; tiến hành điều trakhảo sát tình hình tội phạm chưa thành niên trong các trại giam, trường giáodưỡng và những trường hợp thi hành án xong đã và đang tái hoà nhập cộngđồng ở Hà Nội; thực trạng tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện và kếtquả đấu tranh phòng, chống tội phạm chưa thành niên ở các quận nội thành

Hà Nội giai đoạn 1994 - 2003 Đồng thời tác giả cũng đưa ra dự báo tình hìnhtội phạm do NCTN thực hiện ở thành phố Hà Nội trong thời gian tới và hệthống các giải pháp đấu tranh phòng chống loại tội phạm này

Luận án tiến sĩ luật học về đề tài “Phòng ngừa và đấu tranh với tội

phạm của người chưa thành niên trong điều kiện ngày nay ở Việt Nam” của

tác giả Nguyễn Xuân Thuỷ thực hiện năm 1997 [87] Luận án là một trongnhững công trình đầu tiên đánh giá tình hình tội phạm do NCTN thực hiện ởgiai đoạn 10 năm đầu của sự nghiệp đổi mới (1986 - 1996), với sự gia tăngnhanh chóng của số lượng tội phạm, trong đó có tội phạm do NCTN thựchiện Luận án đã đưa ra các quan điểm và giải pháp quan trọng để phòng ngừa

và đấu tranh với tội phạm là NCTN

Nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học “Hoạt động của lực lượng Công

an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay” do tác giả Đỗ Bá Cở thực hiện năm 2000 [18] Kết quả nghiên

cứu luận án đã nêu lên và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về

Trang 21

NCTNPT, hoạt động phòng ngừa NCTNPT, xác định rõ các chủ thể tham gia,mối quan hệ phối hợp giữa các chủ thể và trách nhiệm là chủ thể trực tiếp,nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân Trên cơ sở khảo sát thực trạngNCTNPT và thực trạng hoạt động phòng ngừa NCTNPT của lực lượng Công

an nhân dân, luận án đã rút ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạngNCTNPT, đánh giá những ưu, khuyết điểm và nguyên nhân trong hoạt độngphòng ngừa NCTNPT chưa đạt hiệu quả trong những năm qua Trên cơ sởkhoa học, tác giả đã dự báo xu hướng tội phạm chưa thành niên trong thờigian tới, những vấn đề khách quan và chủ quan làm cho tình hình tội phạm ởlứa tuổi này có diễn biến phức tạp đồng thời đưa ra phương hướng hoàn thiện

để nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa NCTNPT

Luận án tiến sĩ luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục

tố tụng đối với người chưa thành niên trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam”

của tác giả Đỗ Thị Phượng thực hiện năm 2008 [51] Luận án đã đề cập đếnnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục tố tụng đối với NCTN trong luật

tố tụng hình sự Việt Nam, các khái niệm về NCTN và thủ tục tố tụng hình sựđối với NCTN Luận án đã chỉ ra những đặc điểm của thủ tục tố tụng đối vớiNCTN và mục đích đặt ra các quy định này đồng thời đã khái quát quá trìnhphát triển của thủ tục tố tụng đối với NCTN

Nghiên cứu Luận án tiến sĩ tâm lý học “Đặc điểm tâm lý của người

chưa thành niên có hành vi phạm tội” do tác giả Đặng Thanh Nga thực hiện

năm 2007 [45] Luận án cung cấp nhiều tri thức về tâm lý học tư pháp đối vớiNCTN có hành vi phạm tội qua các khảo sát về tâm lý NCTN trước, trong vàsau khi phạm tội Luận án đã lý giải các vấn đề như tại sao NCTN có nguy cơcao bị lôi kéo, xúi giục phạm tội; tại sao NCTN có nguy cơ cao bị tổn thươngbởi các biện pháp cưỡng chế và tại sao có khả năng thành công cao trong việcgiáo dục, cải tạo NCTN

Trang 22

Luận văn thạc sĩ Luật học “Trách nhiệm hình sự của người chưa

thành niên phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam” của Trần Văn Dũng thực

hiện năm 2003 [21] Luận văn đã nêu lên các quy định về trách nhiệm hình

sự, các quy định về hình phạt, quyết định hình phạt đối với NCTN đồng thời

đã chỉ ra được cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách hình sự đối vớiNCTN và có những nhận định trên phương diện lý luận và thực tiễn về vấn

đề miễn TNHS đối với NCTN thoã mãn các điều kiện quy định tại khoản 2Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999

Về tư pháp NCTN, có bài viết “Một số vấn đề về tư pháp người chưa

thành niên” của PGS, TS Trần Văn Độ - Phó Chánh án TAND tối cao [24];

tập hợp số bài viết về “Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa

thành niên tại Việt Nam” của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp thực hiện

năm 2000 [101]; tổ chức triển khai dự án “Rà soát, đánh giá pháp luật, cơ sở

và thực tiễn xử lý chuyển hướng và tư pháp phục hồi đối với NCTN vi phạm pháp luật ở Việt Nam” của Vụ Pháp luật hình sự - Hành chính Bộ Tư pháp

thực hiện năm 2007 Tạp chí nghiên cứu lập pháp số chuyên đề về đề tài này(số 20 (136) tháng 12/2008) đã đăng những công trình nghiên cứu liên quancủa nhóm tác giả công tác tại Vụ Pháp luật hình sự - Hành chính Bộ Tư pháp,

như bài viết “Pháp luật Việt Nam về tư pháp NCTN” của ThS Đặng Thanh Sơn [72]; “Hoàn thiện pháp luật về xử lý chuyển hướng đối với NCTN vi

phạm pháp luật” của ThS Đỗ Thuý Vân [107]; “Tư pháp phục hồi trong việc

xử lý NCTN vi phạm pháp luật” của ThS Đỗ Hoàng Yến [111]; “Hệ thống điều tra thân thiện đối với NCTN” của ThS Phạm Văn Hùng [32]; “Tái hoà nhập cộng đồng đối với NCTN vi phạm pháp luật” của tác giả Nguyễn Văn

Hoàn [33] Các bài viết trên đã nghiên cứu tổng thể thực trạng tư pháp NCTN

ở Việt Nam, bước đầu đưa ra khái niệm tư pháp NCTN, pháp luật quốc tế về

tư pháp NCTN; chính sách, pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực tư pháp

Trang 23

NCTN trong đó nêu các nguyên tắc và đường lối xử lý NCTNPT ở Việt Namcũng như thủ tục tố tụng đối với NCTNPT ở Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu các công trình, các đề tài khoa học cũng như cácbài viết đăng trên các tạp chí, các báo về vấn đề NCTNPT được tác giả sưutầm, tra cứu, nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng Những công trình tài liệu nghiêncứu đó thực sự hữu ích trong việc sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ choviệc nghiên cứu của tác giả

Tổng hợp các vấn đề đã nghiên cứu ở ngoài nước cũng như trong nước

có thể rút ra một số vấn đề cơ bản sau đây:

Vấn đề thứ nhất, TAND là cơ quan có chức năng xét xử các vụ án hình

sự đối với bất kỳ loại tội phạm nào Cùng với các cơ quan Điều tra, Viện kiểmsát và các cơ quan hữu quan, TAND góp phần tích cực vào hoạt động phòngngừa tội phạm Đặc biệt thông qua việc xét xử tại phiên toà, Hội đồng xét xửkhông chỉ làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo mà còn phát hiện tội phạm mới;khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn củamình Toà án có trách nhiệm khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát raquyết định khởi tố vụ án Trong quá trình tiến hành tố tụng, Toà án có nhiệm

vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội; yêu cầu các cơ quan, tổ chứchữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Chức năng xét xử

là chức năng duy nhất của Toà án nước ta và của nhiều nước trên thế giới, bêncạnh đó một số nước như Pháp: Toà án không chỉ xét xử mà có cả chức năngđiều tra; bên cạnh Thẩm phán xét xử có cả Thẩm phán điều tra Đối vớiTAND Việt Nam, thông qua hoạt động xét xử trực tiếp tại các phiên toà hình

sự việc xét hỏi đối với bị cáo, đưa ra các tài liệu, căn cứ buộc bị cáo phải nhậntội cũng là hoạt động mang tính đấu tranh tội phạm Tuy nhiên xu hướng quantâm đến kết quả tranh tụng tại phiên toà thì việc tranh luận để xác định bị cáo

có phạm tội hay không phạm tội phụ thuộc chính vào quá trình tranh tụng tại

Trang 24

phiên toà thông qua việc xét hỏi của Hội đồng xét xử, của Kiểm sát viên;thông qua việc tranh luận giữa Kiểm sát với bị cáo, giữa Kiểm sát với Luật sư

và những người tham gia tố tụng khác trên cơ sở đó Hội đồng xét xử ra phánquyết bị cáo có tội hay không có tội Do đó hoạt động xét xử các vụ án hình

sự của TAND mang tính phòng ngừa là chính Đối với NCTNPT, thông quahoạt động xét xử Toà án góp phần giáo dục họ hiểu được các quy định củapháp luật tránh sai lầm tương tự xảy ra Phối kết hợp với các cơ quan Điềutra, Viện kiểm sát và các cơ quan hữu quan tuyên truyền sâu rộng pháp luậttrong nhân dân góp phần vào công tác phòng ngừa tội phạm nói chung, tộiphạm do NCTN thực hiện nói riêng Ngoài hoạt động xét xử, các hoạt động:Giám đốc việc xét xử; hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét

xử và phát triển án lệ; công tác xây dựng pháp luật và thống kê tội phạm đãgóp phần quan trọng vào hoạt động phòng ngừa nói chung của Toà án Tuynhiên nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện củacác lực lượng chức năng nhất là lực lượng Công an nhân dân thì rất nhiềunhưng đề cập đến hoạt động của TAND góp phần phòng ngừa tội phạm doNCTN thực hiện như thế nào đến nay chưa có đề tài, công trình nghiên cứuhoàn chỉnh

Vấn đề thứ hai, về khái niệm NCTN, tội phạm do NCTN thực hiện: Đã

có rất nhiều bài viết về khái niệm NCTN, tội phạm do NCTN thực hiện,nguyên nhân xã hội của tội phạm CTN, TNHS của NCTN, một số vấn đề về

tư pháp của NCTN song những nghiên cứu, đánh giá này được tiếp cận dướigóc độ nghiên cứu trên cơ sở tình hình phạm tội của NCTN thông qua hoạtđộng điều tra của Công an nhân dân, thông qua việc nắm bắt tình hình viphạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước, của các tổ chức xã hội màchưa hề có nghiên cứu nào thông qua công tác xét xử các vụ án hình sự củaTòa án đối với NCTNPT Thực tiễn hiện nay và cả trong bình diện giải quyết

Trang 25

xét xử tội phạm do NCTN thực hiện của Tòa án chưa có sự thống nhất cao vềtội phạm do NCTN thực hiện trong việc quy định tuổi chịu TNHS, về miễnTNHS, về các biện pháp tư pháp, về việc áp dụng hình phạt trong quá trìnhxét xử, nhằm nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện hình thành phát triển củatội phạm do NCTN gây ra để có giải pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất với tộiphạm NCTN trước tình hình hiện nay.

Pháp luật của rất nhiều nước trên thế giới đề cập đến biện pháp xử lýkhông chính thức xử lý chuyển hướng như Nhật Bản, Thái Lan… Đối vớinước ta chế định này được BLHS năm 1999 [59] quy định dưới góc độ cácbiện pháp tư pháp, hình phạt cải tạo không giam giữ và án treo Điều 70BLHS năm 1999 quy định “Đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án

có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dụcphòng ngừa sau đây:

a) Giáo dục tại xã phường thị trấn;

b) Đưa vào trường giáo dưỡng

Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một đến hainăm đối với NCTNPT ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng

Quy định giáo dục tại xã, phường, thị trấn cũng tương tự chế định cải tạokhông giam giữ được quy định tại Điều 31 BLHS và chế định án treo quyđịnh tại Điều 60 BLHS Những vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu để có biệnpháp áp dụng có hiệu quả nhất đối với NCTNPT đáp ứng yêu cầu phòng ngừađối với loại tội phạm này

Về khái niệm tội phạm do NCTN thực hiện cũng chưa được luật hoátrong Bộ luật tố tụng hình sự Nghiên cứu BLTTHS 2003 [60] của nước tachưa có khái niệm thế nào là bị can, bị cáo CTN mà chỉ có khái niệm bị can,

bị cáo nói chung tại Điều 49, Điều 50 BLTTHS Vấn đề này cũng cần tiếp tụcnghiên cứu

Trang 26

Vấn đề thứ ba: Về hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện,

đã có nhiều công trình nghiên cứu và cũng là vấn đề thực tiễn lớn đang đặt racho các cấp, các ngành, cho toàn xã hội Chương trình quốc gia phòng chốngtội phạm theo Chỉ thị số 48/CT-TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạmtrong tình hình mới [5] đang đặt ra yêu cầu cấp bách về công tác phòng,chống tội phạm nói chung, phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện nói riêngcho cả hệ thống chính trị, các cơ quan bảo vệ pháp luật mà nòng cốt là ngànhCông an nhân dân Đối với TAND trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giaocần có những kế hoạch, những giải pháp vừa mang tính tổng thể vừa mang tính

cụ thể để áp dụng vào thực tiễn thông qua các hoạt động của Toà án đáp ứngyêu cầu phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện ở nước ta trước mắt và lâudài

1.1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá tổng quan những kết quả nghiên cứu ở trong vàngoài nước về công tác phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện theo chứcnăng, nhiệm vụ của TAND, để góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận và nângcao hiệu quả hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thựchiện, luận án cần tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề sau đây:

Làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động của TAND, mối quan hệ phốihợp về hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện Dưới góc độ tội phạm học làm rõ hơn khái niệm NCTN, tội phạm doNCTN thực hiện; khái niệm đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng của TANDtrong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện; nội dung hoạt động củaTAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

Làm rõ đặc điểm tội phạm học của tội phạm do NCTN thực hiện vàđánh giá thực trạng hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm do

Trang 27

NCTN thực hiện, trong đó đi sâu tổng hợp đánh giá tình hình tội phạm doNCTN thực hiện, đặc điểm nhân thân NCTNPT, nguyên nhân, điều kiệncủa tình hình tội phạm do NCTN thực hiện ở Việt Nam từ năm 2007 đếnnăm 2013; thực trạng về tổ chức TAND trong xét xử tội phạm do NCTNthực hiện; thực trạng phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện thông qua:Hoạt động xét xử; hoạt động giám đốc việc xét xử các vụ án hình sự doNCTN thực hiện; hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật về phòng ngừatội phạm do NCTN thực hiện, tổng kết kinh nghiệm xét xử và phát triển ánlệ; hoạt động thống kê tội phạm NCTN phục vụ phòng ngừa xã hội; làm rõquan hệ phối hợp của TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thựchiện Phân tích và nêu ra những thuận lợi, ưu điểm, những khó khăn, hạnchế và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót.

Dự báo về tình hình tội phạm do NCTN thực hiện và những yếu tố tácđộng đến hoạt động phòng ngừa tội phạm NCTN của TAND trong thờigian tới; đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

Tổng hợp các vấn đề nêu trong luận án là những vấn đề rất mới cầnphải tiếp tục nghiên cứu trong công tác phòng, chống tội phạm nói chung,tội phạm do NCTN thực hiện của TAND

1.2 Khái niệm về người chưa thành niên, tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

1.2.1 Khái niệm về người chưa thành niên

Sự phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội đều trải qua các giai đoạnvới những lứa tuổi khác nhau, vì vậy đã hình thành những tên gọi, thuậtngữ khác nhau như: Trẻ em, người lớn, thiếu niên, thanh niên, trung niên,người già…Trong khoa học thuật ngữ pháp lý của nhiều nước đã sử dụngphổ biến cách gọi là người thành niên và NCTN Người thành niên là người

Trang 28

đã trưởng thành phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, về khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi của mình NCTN là người mà khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi của mình còn ở mức độ nhất định, chưa thực sựtrưởng thành về thể chất và tinh thần Hiện nay, kể cả pháp luật quốc tế vàpháp luật Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm cụ thể về NCTN Việc quyđịnh ranh giới độ tuổi thành niên và CTN chưa có sự thống nhất giữa cácquốc gia, dân tộc trên thế giới Điều đó phụ thuộc vào điều kiện phát triểnkinh tế - văn hoá - xã hội, vào phong tục tập quán của mỗi quốc gia, mỗidân tộc Trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em thì trẻ em là người dưới

18 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổithành niên sớm hơn Các văn bản khác như quy tắc Bắc kinh (1985) [37],hướng dẫn Riyath (1990) [36]… cũng đều quy định NCTN là những ngườichưa đủ 18 tuổi Trong khi đó trong một số văn kiện của một số tổ chứccủa Liên hiệp quốc như Quỹ dân số (UNCPA), Tổ chức lao động quốc tế(ILO) và Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hiệp quốc(UNECO) thì quy định trẻ em là những người dưới 15 tuổi Mặc dù phạm vinghiên cứu có thể khác nhau song đa số các văn kiện quốc tế đều đưa ra quanđiểm thống nhất “Người chưa thành niên là người ở lứa tuổi dưới 18 tuổi”.Công ước quốc tế về quyền trẻ em còn những điều khoản để ngỏ (dự phòng)cho các nước quy định về độ tuổi cho NCTN để các quốc gia căn cứ vào sựphát triển thể chất, tinh thần của công dân, tuỳ thuộc các điều kiện kinh tế,văn hoá, xã hội, truyền thống, lịch sử, phong tục; tuỳ thuộc vào trình độ nhậnthức, điều kiện chăm sóc giáo dục NCTN, vào sự phát triển thể chất, tinh thầncủa công dân, cũng như tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tộiphạm của nước mình mà mỗi quốc gia có quy định khác nhau về tuổi củaNCTN

Trang 29

Ở Việt Nam xuất phát từ khách thể cần bảo vệ các quan hệ xã hộicủa từng ngành luật khác nhau nên mỗi ngành luật trong hệ thống pháp luậtnước ta có sự quy định NCTN cũng khác nhau Ví dụ: Bộ luật dân sự (Điều18) quy định: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Người chưa

đủ 18 tuổi là người chưa thành niên.” [61, tr14] Luật bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 15/6/2004 đã quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này làcông dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [67, tr7] Bộ Luật Lao động đãđược Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày18/6/2012 đã quy định người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi;người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi [62]

Như vậy trẻ em là những người còn non nớt, chưa phát triển đầy đủ vềthể chất và tinh thần và đang ở độ tuổi dưới 16 tuổi

Ở chừng mực nhất định khái niệm về trẻ em và NCTN tương đối đồngnhất, trùng nhau ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Tuy nhiên trẻ emcòn bao gồm cả lứa tuổi dưới 14 tuổi, còn NCTN bao gồm thêm độ tuổi từ 16tuổi đến dưới 18 tuổi Nói đến NCTN là nói đến đối tượng có thể là trẻ em, cóthể không phải là trẻ em Song bất luận trong trường hợp nào thì khi nói đếnNCTN đều là những người phát triển chưa hoàn thiện về mọi mặt trong đó cónhững người còn rất non nớt về thể chất và tinh thần Chính vì vậy ở lứa tuổinày cần có sự quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tạo những điều kiệnthuận lợi nhất để họ trở thành người có ích cho gia đình và xã hội

Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm NCTN như sau: Người

chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người

đã thành niên; về tâm sinh lý, kinh nghiệm sống và trình độ nhận thức của họ

có nhiều hạn chế, thiếu những điều kiện và bản lĩnh tự lập, dễ bị kích động,

Trang 30

lôi kéo; khả năng kiềm chế bản thân chưa cao, điều kiện sinh sống còn nhiều phụ thuộc.

1.2.2 Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Từ những đặc điểm về NCTN nên trong khoa học Luật hình sự và Tộiphạm học luôn luôn xem xét NCTNPT là chủ thể đặc biệt

Những điều kiện xác định chủ thể của tội phạm là người phải đạt đếnmột độ tuổi nhất định Tuỳ theo điều kiện phát triển về kinh tế, văn hoá, xãhội, truyền thống, lịch sử, phong tục; tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, điềukiện chăm sóc giáo dục NCTN, vào sự phát triển thể chất, tinh thần của côngdân, cũng như tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạmcủa nước mình mà mỗi quốc gia quy định tuổi chịu TNHS khác nhau Cụ thểnhư các nước quy định tuổi chịu TNHS của NCTN là 7 tuổi như Síp, Ấn Độ,Jamaica, Kenya, Kô Oét, Thuỵ Sĩ, Thái Lan, Singapore; một số nước quyđịnh tuổi chịu TNHS của NCTN là 10 tuổi như Anh và xứ Wales, Úc,Malaysia, New Zealand, Bắc Ai Len, Nam Phi; một số nước quy định tuổichịu TNHS của NCTN là 13 tuổi như Angêri, Hi Lạp, Ba Lan, Senegal; một

số nước quy định tuổi chịu TNHS của NCTN là 14 tuổi như Việt Nam đó làAcmenia, Áo, Azerbaijan, Belarus, Bosina, Bungari, Trung Quốc, Đức,Hunggary, Ý, Kazakhtan, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga, Nhật Bản, Tây BanNha, Ukraina, Zambia; một số nước quy định tuổi chịu TNHS của NCTN là

16 tuổi như Achentina, Bỉ, Chile, Hồng Kông, Latvia, Moldova, Bồ Đào Nha,Rumani; một số nước quy định tuổi chịu TNHS của NCTN là 18 tuổi nhưCôlômbia, Luxembourg Sự khác nhau về giới hạn độ tuổi của NCTN trong

hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là điều không tránh khỏi vì “Người chưa

thành niên phạm tội” không những là khái niệm mang ý nghĩa xã hội - nhân

đạo sâu sắc mà còn có tính chính trị - pháp lý

Trang 31

Theo quy định của Quy tắc Bắc Kinh, người chưa thành niên phạmpháp là trẻ em hoặc người ít tuổi bị cho là hay bị phát hiện là phạm pháp và

có thể bị xét xử theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn (Quytắc 2.2) Tuy nhiên NCTN phạm pháp và tội phạm do NCTN thực hiện cónhững điểm giống và khác nhau

Ở Việt Nam, các nhà làm luật đã đưa ra và làm rõ các khái niệm vềNCTNPT để đảm bảo cho việc xử lý bằng các biện pháp tư pháp đối vớiNCTNPT được đúng mức, phù hợp với những quy định của quốc tế cũng nhưtruyền thống đạo lý của dân tộc Việt Nam Trong Bộ luật hình sự đã đề cậpNCTN dưới hai phương diện Một mặt, họ là đối tượng cần được bảo vệ đặcbiệt bằng luật hình sự khỏi những hành vi bị coi là tội phạm Mặt khác,NCTN còn là chủ thể của tội phạm Khái niệm NCTNPT trong pháp luật hình

sự Việt Nam chỉ bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.Điều 12 BLHS năm 1999 quy định:

“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS

về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Việc xác định một trường hợp cụ thể NCTN có hành vi phạm tội có trởthành tội phạm hay không còn căn cứ vào nguyên tắc được quy định tại Điều

69 BLHS

Nghiên cứu Chương X của BLHS [59] tập hợp các quy định đặc thù đốivới NCTNPT cho thấy tội phạm do NCTN thực hiện chỉ xuất hiện khi có đủ 3điều kiện sau:

Một là, có hành vi phạm tội do NCTN thực hiện;

Hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu TNHS tương

ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm;

Ba là, thực tế họ phải chịu TNHS.

Trang 32

Có thể thấy rằng, tội phạm do NCTN thực hiện bao giờ cũng gắn liềnvới một NCTN có hành vi phạm tội cụ thể, tuy nhiên không phải mọi trườnghợp NCTN thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm.

Tội phạm do NCTN thực hiện là những hành vi nguy hiểm cho xã hội

có đủ dấu hiệu tội phạm và đủ yếu tố cấu thành tội phạm Tội phạm do NCTNthực hiện ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được nhận định bằngbản án của Toà án khi quyết định truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đốivới NCTNPT

Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về tội phạm do NCTN

thực hiện như sau: Tội phạm do người chưa thành niên thực hiện là hành vi

nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi, có đủ năng lực TNHS và họ phải chịu TNHS tương ứng với hành vi và lỗi của mình theo quy định của Bộ Luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

1.3 Lý luận về hoạt động của Toà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, chức năng của Toà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

1.3.1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động của Toà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

* Khái niệm về hoạt động của Toà án nhân dân trong phòng ngừa tộiphạm do người chưa thành niên thực hiện

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy Nhà nước được tổchức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Thực hiện quyền tư pháp trong đó xét xử

Trang 33

là biểu hiện rõ nét nhất của việc thực hiện quyền tư pháp một trong nhữngchức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và quyền này được giaocho Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân (bao gồm TANDTC, các TAND địaphương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định) theo quy địnhcủa Hiến pháp và pháp luật là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam

Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp, điều này đãđược Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và quy định Đặc biệt Nghị quyết

số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách

tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và cácchế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điềukiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm vàxét xử là hoạt động trọng tâm” [4, tr 3] TAND có vai trò quan trọng trongviệc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn địnhcho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.TAND là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người,đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa,đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm

Hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiệnđược thể hiện thông qua các biện pháp phòng ngừa trực tiếp và gián tiếp mà

cụ thể là hoạt động: Xét xử tội phạm do NCTN thực hiện; giám đốc việc xétxử; hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử và phát triển

án lệ; xây dựng pháp luật liên quan đến hoạt động thuộc Toà án trong phòngngừa NCTN vi phạm pháp luật và hoạt động thống kê tội phạm Trong đóhoạt động xét xử tội phạm do NCTN thực hiện là biện pháp phòng ngừa trựctiếp và là hoạt động chủ yếu của Toà án trong phòng ngừa tội phạm NCTN

Trang 34

Xét xử tội phạm do NCTN thực hiện là hoạt động đấu tranh chống tộiphạm NCTN của Toà án nhằm đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúngpháp luật; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội để có kiến nghị; giáo dục ýthức tuân thủ pháp luật của mọi người góp phần giáo dục, răn đe và phòngngừa chung Như vậy có thể coi hoạt động đấu tranh chống tội phạm của Toà

án là hoạt động đặc biệt của phòng ngừa tội phạm

Đối với hoạt động giám đốc việc xét xử; hướng dẫn áp dụng pháp luật,tổng kết kinh nghiệm xét xử, phát triển án lệ; xây dựng pháp luật và thống kêtội phạm nhằm hỗ trợ cho hoạt động xét xử và góp phần vào hoạt động củaToà án trong phòng ngừa tội phạm NCTN

Từ phân tích trên có thể rút ra khái niệm hoạt động của TAND trong

phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện “là hệ thống các biện pháp thực

hiện chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân được tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm hạn chế, ngăn ngừa sự phát sinh, phát triển hoặc làm kìm hãm sự phát huy tác dụng của các thành tố tạo thành nguyên nhân của tình hình tội phạm người chưa thành niên gây ra”.

* Đặc điểm hoạt động của Toà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm

do người chưa thành niên thực hiện

Đặc điểm hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTNthực hiện đó là những nét đặc trưng riêng, chức năng mang tính đặc thù haynói cách khác đó là phương diện hoạt động chủ yếu thường xuyên, lâu dài củaTAND trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện mà cụ thể đó chính làhoạt động xét xử của TAND đối với NCTN Yếu tố quan trọng để hoạt độngxét xử góp phần hiệu quả vào phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện đó làhoạt động xét xử phải tuân thủ pháp luật một cách chặt chẽ, nghiêm ngặt vàthống nhất Bởi giá trị pháp lý của quyết định, bản án có hiệu lực pháp luậtcủa Toà án mang tính bắt buộc thi hành Mặt khác chỉ có Toà án mới có

Trang 35

quyền ra phán quyết một hành vi của công dân nói chung, NCTN nói riêng cótội hay không có tội; việc phán quyết ấy trên cơ sở các quy định của pháp luật

để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà áp dụnghình phạt, chế tài hình sự tương xứng nhằm mục đích răn đe, cải tạo, giáo dục

NCTNPT và phòng ngừa tội phạm

Có thể thấy đặc điểm hoạt động của TAND trong phòng ngừa tội phạm

do NCTN thực hiện được thể hiện cụ thể như sau:

- Thông qua hoạt động xét xử tiến hành công tác phổ biến, giáo dục ýthức tôn trọng và chấp hành pháp luật tới NCTNPT để họ nhận ra tội lỗi củabản thân đồng thời để những người tham gia phiên toà nhận thức được tínhnguy hiểm của hành vi phạm tội do NCTN gây ra Tại Điều 1 Luật tổ chứcTAND quy định “Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục côngdân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọngnhững quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chốngtội phạm, các vi phạm pháp luật khác” [64, tr8] Vấn đề này được cụ thể hoá

và được hiểu là thông qua hoạt động xét xử tội phạm do NCTN thực hiện Toà

án tiến hành phổ biến, giáo dục pháp luật để NCTNPT và những người thamgia hoặc theo dõi quá trình tố tụng hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn về những quyđịnh pháp luật được áp dụng để giải quyết, từ đó có thể tự đánh giá về hànhđộng và trách nhiệm pháp lý của mình, giúp hình thành ở họ những suy nghĩ

về sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật, củng cố lòng tin và thái độ tôntrọng pháp luật, giúp họ định hướng hành vi phù hợp với phán quyết đúng đắncủa Hội đồng xét xử, giúp định hướng dư luận xã hội, nhờ đó mà phát huy tácdụng phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung của hoạt động xét xử Bên cạnhviệc phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử thì cần phải tiếnhành các biện pháp tuyên truyền, giáo dục thông qua phương tiện báo chítruyền thông của Ngành với nội dung tuyên truyền cần phải làm rõ những vấn

Trang 36

đề về đường lối, chính sách pháp luật, về tình hình tội phạm là NCTN, nhữnghoạt động và loại tội phạm mới nảy sinh, những tác hại, ảnh hưởng, hậu quảtội phạm do NCTN thực hiện để mọi người hiểu cùng có trách nhiệm trongphòng ngừa Có thể nói phổ biến, giáo dục pháp luật là biện pháp hết sứcquan trọng và có ý nghĩa to lớn bởi mục đích phòng ngừa chung chỉ đạt kếtquả tốt khi NCTN nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung hiểu biết phápluật, thấy được sự cần thiết của việc tuân thủ pháp luật Mặt khác làm tốt côngtác tuyên truyền sẽ có tác dụng làm giảm tình hình tội phạm do NCTN thựchiện và nâng cao ý thức pháp luật cho mọi người để họ quan tâm hơn nữa vớiNCTN.

- Thông qua hoạt động xét xử để răn đe đối với NCTNPT và nhữngngười có ý định phạm tội Điều này được thể hiện rõ nét ở hình phạt mà Toà

án áp dụng đối với NCTNPT Điều 26 BLHS năm 1999 quy định “Hình phạt

là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặchạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trongBLHS và do Toà án quyết định” Có thể thấy tính nghiêm khắc của hình phạtthể hiện ở chỗ NCTN bị kết án có thể bị hạn chế quyền tự do, những quyền vàlợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật hình sự Mức độ của việc hạnchế những quyền và lợi ích hợp pháp của họ phụ thuộc vào tính chất, mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi, vào nhân thân NCTNPT và những tình tiếtgiảm nhẹ và tăng nặng TNHS Khi áp dụng hình phạt đối với NCTNPT,trong từng trường hợp cụ thể không chỉ tác động trực tiếp đến chính bản thânNCTNPT mà còn tác động đến tâm lý của những người có ý định phạm tội.Đối với những người có ý định phạm tội hình phạt có tác dụng răn đe, ngănngừa họ phạm tội Trong từng trường hợp, hình phạt làm cho những người có

ý định phạm tội thấy trước được hậu quả pháp lý - TNHS mà họ tất yếu phảigánh chịu nếu họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

Trang 37

Với sự răn đe này, hình phạt có mục đích ngăn ngừa, giáo dục những người

có ý định phạm tội tuân theo pháp luật, từ bỏ ý định phạm tội hoặc thận trọnghơn trong xử sự để tránh trở thành tội phạm

Tuy nhiên để đạt được mục đích trên thì việc xét xử và quyết định hìnhphạt của Toà án đối với NCTNPT phải công minh, đúng người, đúng tội,đúng pháp luật Nếu quyết định hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ đều có thểdẫn đến hình phạt đã tuyên xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN

bị kết án, làm mất đi những điều kiện thuận lợi để cải tạo giáo dục họ hoặckhông tạo ra được sự tác động cần thiết để răn đe, ngăn ngừa và giáo dụcnhững người có ý định phạm tội đồng thời làm mất đi lòng tin của nhân dânđối với sự công bằng của pháp luật, không động viên được quần chúng thamgia tích cực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

- Thông qua hoạt động xét xử làm rõ nguyên nhân, điều kiện tội phạm doNCTN thực hiện kiến nghị với các cơ quan hữu quan có biện pháp ngăn ngừa

Để có thể đấu tranh phòng, chống tội phạm CTN có hiệu quả, cần phải làmsáng tỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm CTN và có biệnpháp để khắc phục Đây là yêu cầu có tính tất yếu trong cuộc đấu tranh chốngtội phạm, để góp phần giải quyết vấn đề này, BLTTHS quy định trách nhiệmcủa các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung trong đó có Toà án nói riêng tìm

ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội Tại khoản 1 Điều 225 BLTTHS năm

2003 quy định “Cùng với việc ra bản án, Toà án ra kiến nghị cơ quan, tổ chứchữu quan áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục những nguyênnhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó ” Đây là cơ

sở pháp lý nhằm xác định rõ vai trò của Toà án trong việc phát hiện nguyênnhân, điều kiện phạm tội của NCTN nói riêng cũng như hoạt động phòngngừa tội phạm nói chung

Trang 38

1.3.1.2 Vị trí, vai trò, chức năng của Toà án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

Toà án nhân dân là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng hình sự,thực hiện hoạt động xét xử tội phạm NCTN, có trách nhiệm trong đấu tranhchống tội phạm nói chung, tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng, thông quahoạt động xét xử, Toà án góp phần ngăn chặn, răn đe NCTNPT và nhữngngười có ý định thực hiện tội phạm cũng như góp phần phát hiện nhữngnguyên nhân điều kiện của tội phạm để có biện pháp phòng ngừa Với tráchnhiệm như vậy TAND là một trong những chủ thể có hoạt động trực tiếp và

cụ thể trong phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện

Hoạt động giải quyết, xét xử các vụ án hình sự có bị can, bị cáo làNCTN của Toà án là hoạt động đấu tranh chống tội phạm do NCTN gây ra,

nó có ý nghĩa và sự tác động đến việc phòng ngừa tội phạm do NCTN thựchiện Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với hoạt động xét xử tội phạm do NCTN thựchiện của Toà án là làm rõ các hành vi phạm tội của các bị cáo là NCTN, ápdụng khung hình phạt đúng với nguyên tắc xét xử được quy định trong phápluật hình sự; những vấn đề liên quan đến NCTN, cần làm rõ trong quá trìnhxét xử, vừa mang tính giáo dục cao, quan trọng nhất là NCTN thấy rõ tội lỗicủa mình, các đoàn thể, gia đình, nhà trường, người thân thấy rõ trách nhiệmcủa mình trong quản lý giáo dục các em Đảm bảo mọi hành vi phạm tội củaNCTN phải được giải quyết, xét xử kịp thời, công minh theo đúng pháp luật.Thực hiện được yêu cầu này là tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động phòngngừa tội phạm do NCTN thực hiện Cụ thể: Việc Toà án giải quyết, xét xử kịpthời, công minh tội phạm NCTN là đồng nghĩa với việc ngăn ngừa không đểNCTNPT tiếp tục lặp lại hành vi phạm tội đã thực hiện; đồng thời có tác dụngrăn đe, giáo dục NCTNPT, làm thay đổi phẩm chất tâm lí tiêu cực của họ theohướng tích cực qua việc Toà án áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp

Trang 39

khác; tạo ra môi trường pháp lý nghiêm minh để vừa có tác dụng răn đechung, ngăn ngừa tội phạm xảy ra bởi những người khác và vừa là môi trườngtốt cho việc giáo dục ý thức tuân theo pháp luật cũng như ý thức tham gia tíchcực vào hoạt động đấu tranh chống tội phạm của công dân nói chung.

Từ phân tích trên cho thấy TAND có vị trí, vai trò quan trọng trongphòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện Vai trò này còn được thể hiện quaviệc Toà án là cơ quan có quyền nhân danh Nhà nước tuyên một người là cótội và áp dụng hình phạt đối với họ, ngoài Toà án không có cơ quan nào khác

có quyền quyết định hình phạt và việc khẳng định mục đích của hình phạtđược quy định tại Điều 27 BLHS năm 1999 như sau “Hình phạt không chỉnhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho

xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủnghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người kháctôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Do vậy hoạtđộng xét xử tội phạm do NCTN thực hiện của Toà án phải được xem là mộttrong các biện pháp phòng ngừa tội phạm NCTN và nó còn có ý nghĩa phòngngừa khi Toà án áp dụng các biện pháp tư pháp được quy định trong BLHSgồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáodưỡng Với hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm NCTN như vậy,hoạt động xét xử của TAND sẽ phát huy được vai trò phòng ngừa tội phạmNCTN khi áp dụng đúng và kịp thời các biện pháp phòng ngừa tội phạm này.Hoạt động xét xử tội phạm do NCTN thực hiện của Toà án không chỉảnh hưởng trực tiếp đến phòng ngừa tội phạm NCTN mà thông qua hoạt độngxét xử tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị áp dụng cácbiện pháp phòng ngừa qua từng vụ án, đối với mỗi lĩnh vực, mỗi địa phươngnhất định Vấn đề này thể hiện ý nghĩa của hoạt động xét xử và khẳng định vềtrách nhiệm của Toà án Đồng thời thông qua các hướng dẫn của mình, Toà

Trang 40

án đưa ra những kiến nghị với Nhà nước về phương hướng thực hiện cácchính sách xã hội có liên quan phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiện theochương trình quốc gia về phòng chống tội phạm cũng như tham mưu trongviệc xây dựng pháp luật và ban hành văn bản hướng dẫn thực thi pháp luậtliên quan đến tội phạm do NCTN thực hiện.

1.3.2 Nội dung hoạt động của Tòa án nhân dân trong phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

1.3.2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện của Toà án nhân dân

Cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng ngừa tội phạm do NCTN thực hiệncủa TAND được thể hiện trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật, cụ thểnhư sau:

- Hiến pháp năm 1992 [57] dành một chương (Chương X) quy định:TAND và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủnghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệtài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự vànhân phẩm của công dân (Điều 126) Đồng thời quy định: TANDTC, cácTAND địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định lànhững cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trongtình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt (Điều 127) Việc xét xử của TAND có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân

sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật Khi xét xử,Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 128) Khi xét xử, Thẩm phán vàHội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 130) TAND xét xử côngkhai, trừ trường hợp do luật định, TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa

số (Điều 131) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng, nền móng cho hoạt động của

Ngày đăng: 14/04/2017, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Chính trị (2000), Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 về một số việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị 53-CT/TW ngày 21/3/2000 về một số việc cấpbách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2000
3. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 khoá IX về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 khoá IXvề một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
4. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005, khoá IX, về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005, khoá IX, vềchiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
5. Bộ Chính trị (2010), Chỉ thị số 48/CT-TW, ngày 22/10/2010 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 48/CT-TW, ngày 22/10/2010 về tăng cườngsự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tìnhhình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
6. Bộ Chính trị (2012), Chỉ thị số 20/CT-TW, ngày 5/11/2012 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 20/CT-TW, ngày 5/11/2012 về việc tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảovệ trẻ em trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2012
7. Ban cán sự Đảng Toà án nhân dân tối cao (2012), Đề án tăng cường cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ cho ngành Toà án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới (Dự thảo 4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tăng cường cơ sởvật chất, đội ngũ cán bộ cho ngành Toà án nhân dân đáp ứng yêu cầu cảicách tư pháp trong tình hình mới
Tác giả: Ban cán sự Đảng Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2012
9. Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam (1996), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam
Tác giả: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
10. Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lập Tòa án chuyên trách đối với NCTN ở Việt Nam (2012), Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lậpTòa án chuyên trách đối với NCTN ở Việt Nam
Tác giả: Báo cáo tổng quan về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự cần thiết thành lập Tòa án chuyên trách đối với NCTN ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2012
11. Chính phủ (1998), Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 về tăngcường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1998
12. Chính phủ (2012), Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17/02 quy định chi tiết thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 10/2012/NĐ-CP ngày 17/02 quy định chitiết thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối vớingười chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
13. Chính phủ (2000), Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việcthi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
14. Chính phủ (2000), Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10 quy định việcthi hành hình phạt tù cho hưởng án treo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2000
15. Chính phủ (2007), Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật luật sư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
16. Chế tài hình sự đối với tội xâm hại trẻ em và người chưa thành niên phạm tội (2006); Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế tài hình sự đối với tội xâm hại trẻ em và người chưa thành niên phạmtội
Nhà XB: Nxb Tư pháp
17. Các tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa thành niên (2007), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa thành niên
Tác giả: Các tiêu chuẩn quốc tế về tư pháp người chưa thành niên
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2007
18.Đỗ Bá Cở (1999), Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của lực lượng Công an nhân dân trongphòng ngừa người chưa thành niên phạm tội trong tình hình hiện nay
Tác giả: Đỗ Bá Cở
Năm: 1999
19. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạnxây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
20. Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụnghình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
21. Trần Văn Dũng (2003), Trách nhiệm hình sự của NCTNPT trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự của NCTNPT trong Luậthình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Dũng
Năm: 2003
22. Lê Duẩn (1970), Tăng cường pháp chế XHCN đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường pháp chế XHCN đảm bảo quyền làm chủ củanhân dân
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w