1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ thống đề thi đáp án 12 câu chủ nghĩa xã hội Cao cấp lý luận chính trị

81 773 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 112,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Giá trị, hạn chế của tư tưởng XHCN trước Mác. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tương XHCN không tưởng. Tư tưởng XHCN là hệ thống những qđiểm, học thuyết phản ánh những nc, nguyện vọng của các gclđ bị áp bức, là hệ thống lý luận về con đường, cách thức và phương pháp đtr nhằm thực hiện 1 cđộ XH mà ở đó không có áp bức và bất công, mọi người đều được tự do, bình đẳng về mọi mặt và có cs ấm no, hạnh phục, văn minhhế Tư tưởng XHCN nảy sinh, tồn taị, phát triển từ khi Xh xuất hiện Chế độ tư hữu về TLSX chủ yếu, và chế độ người áp bức, bóc lột người. Tư tưởng XHCN còn tồn tại khi XH còn fân chia gc và đtr gc để chống áp bức, bất công. 1. Tư tưởng XHCN trước Mác gồm có: Tư tưởng XHCN thời cổ đại : chủ yếu được thể hiện mới chỉ là những ước mơ, niềm khát vọng của người ld bị áp bức, bóc lột. Chúng được lan truyền, fổ biến trong công chúng lúc đầu bằng những câu chuyển kể chưa thành văn, về sa là cả những áng văn chương cổ vũ cho các PTĐT, những cuộc kn của người NLệ. Những ước mơ, khát vọng ấy mới chỉ dừng ở lòng khao khát được quay về với “ thời đại hoàng kim”, mà sau này được các thánh kinh gọi là “giang sơn ngàn năm của Chúa”, tức là chế độ CSNT; không CĐ tư hữu, không gc áp bức, bóc lột, mọi người đều bìnhđẳng tự do. Tư tưởng XHCN TKXV đến cuối TKVII, với các đại biểu xuất sắc là Tômát Morơ (14781535) với tác phẩm Không tưởng; Tomađô Campanenla (15681639) với tác phẩm Thành phố mặt trời, Giêrắcdơ Uynxtenly (16091652) với tác phẩm Luật tự do Qua cácTp của mình các ông đã phê phán quá trình tích lũy nguyên thủy của CNTB, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của mọi đau khổ, bất hạnh của ND là do CĐTH. Các ông chủ trương đòi xóa bỏ CĐTH nhằm xóa bỏ tận gốc của mọi sự bất bình đẳng XH, tệ nạn XH, áp bức, bất công. Từ đó các ông fác thảo 1 mô hình XH mới tốt đệp vì con người với những đặc trưng: Nền Ktế được TC thống nhất theo nguyên tác bình đẳng. Công hữu về TLSX và TL tiêu dung, toàn bộ rđ là tài sảnchung. T hiện pân fối theo ncâu trên cơ sở tài sản chung và của cải dồi dào.XHmơi đó tạo đk cần thiết để mọi người lđ, kể cả người tàn tật, giảm lao động nặng nhọc cho PN, đề cao nckh… Tư tưởng XHCN thế kỷ XVIIII với các đại biểu tiêu biểu: Giăng Mêliê (16641729) với tác phẩm Những di chúc của tôi đã phê phán giáo hội, lên án bọn vua chúa gây tội ác cho ND, quan tâm đên hoàn cảnh bần cùng tăm tối,bị áp bức của ND, dự báo về 1 cuộc CM tương lai lật đổ bọn vua chúa và XD 1 XH mới trên cơ sở sh chung về tsản, công hữu rđ… Phrăngxoa Môrenly với tác phẩm Bộ luật tự nhiên, trong đóXD hệ thống qđ cộng sản trên cơ sở lý thuyêt về quyền bđẳng tự nhiên, xác lập cđộ công hữu, mọi người làm theo Nlực, được đảm bảo về mặt XH. Gabrien Bonnơ Đơ Mably (17091785) đã XD lý thuyết về “Những sự đam mê”, trong đó CĐTH đã làm xhiện những đam mê xấu xa, bần tiện tham vọng và sự xa hoa, Việc xóa bỏ CĐTH sẽ làm mất đi những tệ nạn xấu xa do nó sinh ra. Về ktế, ô chủ truogn thực hiện CĐSH tập thể, vì hp của con người, về chtrị, thực hiện bầu cử dân chủ.

Trang 1

Câu 1: Giá trị, hạn chế của tư tưởng XHCN trước Mác Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tương XHCN không tưởng.

Tư tưởng XHCN là hệ thống những qđiểm, học thuyết phản ánh những n/

c, nguyện vọng của các g/clđ bị áp bức, là hệ thống lý luận về con đường, cáchthức và phương pháp đtr nhằm thực hiện 1 cđộ XH mà ở đó không có áp bức vàbất công, mọi người đều được tự do, bình đẳng về mọi mặt và có cs ấm no, hạnhphục, văn minhhế

Tư tưởng XHCN nảy sinh, tồn taị, phát triển từ khi Xh xuất hiện Chế độ

tư hữu về TLSX chủ yếu, và chế độ người áp bức, bóc lột người Tư tưởngXHCN còn tồn tại khi XH còn fân chia g/c và đtr g/c để chống áp bức, bất công

1 Tư tưởng XHCN trước Mác gồm có:

- Tư tưởng XHCN thời cổ đại : chủ yếu được thể hiện mới chỉ là những

ước mơ, niềm khát vọng của người ld bị áp bức, bóc lột Chúng được lan truyền,

fổ biến trong công chúng lúc đầu bằng những câu chuyển kể chưa thành văn, về

sa là cả những áng văn chương cổ vũ cho các PTĐT, những cuộc k/n của ngườiNLệ Những ước mơ, khát vọng ấy mới chỉ dừng ở lòng khao khát được quay vềvới “ thời đại hoàng kim”, mà sau này được các thánh kinh gọi là “giang sơnngàn năm của Chúa”, tức là chế độ CSNT; không CĐ tư hữu, không g/c áp bức,bóc lột, mọi người đều bìnhđẳng tự do

- Tư tưởng XHCN TKXV đến cuối TKVII, với các đại biểu xuất sắc là

Tômát Morơ (1478-1535) với tác phẩm Không tưởng; Tomađô Campanenla

(1568-1639) với tác phẩm Thành phố mặt trời, Giêrắcdơ Uynxtenly (1609-1652)

với tác phẩm Luật tự do

Qua cácTp của mình các ông đã phê phán quá trình tích lũy nguyên thủycủa CNTB, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của mọi đau khổ, bất hạnh của ND là

do CĐTH Các ông chủ trương đòi xóa bỏ CĐTH nhằm xóa bỏ tận gốc của mọi

sự bất bình đẳng XH, tệ nạn XH, áp bức, bất công Từ đó các ông fác thảo 1 môhình XH mới tốt đệp vì con người với những đặc trưng: Nền Ktế được TC thốngnhất theo nguyên tác bình đẳng Công hữu về TLSX và TL tiêu dung, toàn bộ rđ

là tài sảnchung T/ hiện pân fối theo n/câu trên cơ sở tài sản chung và của cải dồidào.XHmơi đó tạo đk cần thiết để mọi người lđ, kể cả người tàn tật, giảm laođộng nặng nhọc cho PN, đề cao nckh…

- Tư tưởng XHCN thế kỷ XVIIII với các đại biểu tiêu biểu:

Giăng Mêliê (1664-1729) với tác phẩm Những di chúc của tôi đã phê

phán giáo hội, lên án bọn vua chúa gây tội ác cho ND, quan tâm đên hoàn cảnhbần cùng tăm tối,bị áp bức của ND, dự báo về 1 cuộc CM tương lai lật đổ bọnvua chúa và XD 1 XH mới trên cơ sở sh chung về tsản, công hữu rđ…

Phrăngxoa Môrenly với tác phẩm Bộ luật tự nhiên, trong đóXD hệ

thống qđ cộng sản trên cơ sở lý thuyêt về quyền bđẳng tự nhiên, xác lập cđộcông hữu, mọi người làm theo Nlực, được đảm bảo về mặt XH

Trang 2

Gabrien Bonnơ Đơ Mably (1709-1785) đã XD lý thuyết về “Những sự

đam mê”, trong đó CĐTH đã làm xhiện những đam mê xấu xa, bần tiện thamvọng và sự xa hoa, Việc xóa bỏ CĐTH sẽ làm mất đi những tệ nạn xấu xa do nósinh ra Về ktế, ô chủ truogn thực hiện CĐSH tập thể, vì hp của con người, vềchtrị, thực hiện bầu cử dân chủ

Giắccơ Babớp (1760-1797), ông tham gia CMTS Pháp, ra bản Tuyên

ngôn của những người bình dân Đây là cương lĩnh hđ với những n/v, b/fáp cụthể được thực hiện ngày trong tiến trình CM Về ktê, XH mới là công xã lớn làmviệc theo ngtắc cộng sản Vê ctrị, thực hiện CCCM của nglđ, vì TQ, mag lại lợiích cho TQ

- Tư tưởng XHCN thế kỷ XĨX với các đại biểu tiêu biểu:

Hăngri Xanh Ximông (1769-1825 Một trong những nội dung nổi bật

trong tư tưởng của Xanh Xi mông là lý luận giai cấp và xung đột giai cấp Theoông, xã hội đương thời chia thành ba giai cấp: quý tộc, nhà tư tưởng, nhà côngnghiệp, trong đó, giai cấp nhà công nghiệp là giai cấp trí tuệ, có khả năng quản

lý đất nước Ông nhận thấy cuộc đấu tranh giữa những người không có của vànhững người sở hữu là điều không tránh khỏi Tuy nhiên, Xanh Xi mông lại chủtrương đi theo con đường hoà bình, vì vậy, tư tưởng của ông đã trở thành ảotưởng, không tưởng

SáclơPhuriê (1772-1837), Một trong những tư tưởng đặc sắc của Phuriê

đó là phê phán và lên án xã hội tư sản một cách sâu sắc, vìtheo ông, đó là một

“trạng thái vô chính phủ của công nghiệp”, trongđó “sự nghèo khổ sinh ra chính

từ sự thừa thãi” Nét đặc sắc trong tư tưởng của Phuriê là ông đã nêu quanniệmbiện chứng về lịch sử Ông chia lịch sử xã hội loài người thành 4 giaiđoạn:mông muội, dã man, gia trưởng và văn minh Ông cũng chiasự phát triển củamỗi chế độ xã hội thành bốn giai đoạn phát triểntương ứng như bốn giai đoạncủa cuộc đời con người: thơ ấu, thanhniên, trưởng thành và tuổi già Ông quanniệm trong xã hội hài hoà tất cả mọi năng lựccủa con người sẽ được hoàn thiện,

cá nhân con người sẽ được pháttriển tới mức chưa từng thấy

Rôbớt Ôoen (1771-1858), Một trong những nội dung nổi bật trong tư

tưởng của R.Ô-oen là quan niệm của ông khi bàn về bản chất con người Theoông, bảnchất con người được hình thành thông qua sự tác động qua lại giữaconngười với con người diễn ra ở môi trường bên ngoài, trong đónhững tác động cótính khách quan đến việc hình thành bản chất conngười có ý nghĩa quan trọngnhất Ô-oen cho rằng sự phát triểncủa lịch sử gắn liền với sự thay đổi trong cácphương thức sản xuất.Ô-oen lênán và phủ nhận sâu sắc chế độ tư hữu vì nó làmcho người sở hữutài sản trở thành ngu muội, ích kỷ và tính ích kỷ đó tỷ lệ thuậnvới sốlượng tài sản của họ Nó là nguyên nhân gây ra tất cả các tiêu cực và sựbất hợp lý trongxã hội Ô-oen đi tới kết luận phải xoá bỏ chế độ tư hữu và chorằng chỉ có thể bằng con đường hoà bình, bằng cách tuyên truyền, giải thíchnhững chân lý cơ bản thì mới có thể hoàn thành được cuộc cách mạng vĩ đại

2 Giá trị của tư tưởng XHCN trước C.Mác

Trang 3

Trước Mác, tư tưởng xã hội chủ nghĩa có một quá trình phát triển lâu dài.Đây là một hệ thống các tư tưởng, các học thuyết phản ánh khát vọng của conngười về một xã hội tương lai tốt đẹp, đó là một xã hội công bằng, bình đẳng,không còn áp bức bóc lột, bất công Tuy nhiên tư tưởng này những hạn chế vềmặt lịch sử nhưng nó có giá trị cơ bản sau:

- Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác đã nêu lên nhiều luậnđiểm có giá trị, nhiều dự đoán tài tình về sự phát triển của xãhội, về một xã hộitương lai tốt đẹp hơn mà sau này các nhà sáng lậpra chủ nghĩa xã hội khoa học

đã kế thừa một cách có phê phán vàluận chứng chúng trên cơ sở khoa học Tiêubiểu là mô hình "Hònđảo không tưởng" của T.Morơ (thế kỷ XVI); "Thành phốMặt trời" củaCampanenla (thế kỷ XVII) và mô hình "Công xưởng Niulanác" củaÔ-oen (thế kỷ XIX) Trong các mô hình này cũng như trong tư tưởngcủa một sốnhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã nêu lên tư tưởng vềmột xã hội tương lai, ở đó:xây dựng chế độ sở hữu chung (côngcộng); phân phối công bằng (có lợi cho đasố); ai cũng phải lao độngvà mọi dạng lao động được coi trọng như nhau…

Ăngghen cho rằng, mặc dù những dự đoán trên đây còn đầychất ảo tưởng,nhưng đây là những dự đoán hết sức thiên tài, lànhững hạt ngọc lấp lánh mà saunày các nhà sáng lập ra chủ nghĩaxã hội khoa học đã kế thừa có chọn lọc khi cácông xây dựng môhình xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

- Trong một giai đoạn lịch sử tương đối dài, với những tư tưởngtiến bộ vàbằng những hoạt động của mình, các nhà tư tưởng xã hộichủ nghĩa trước Mác đãgóp phần thức tỉnh tinh thần đấu tranh củaquần chúng lao khổ và thúc đẩy lịch

sử tiến lên không chỉ về mặt lýluận mà còn về cải tạo xã hội Do đó, chủ nghĩa

xã hội trước Mác cógiá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc

- Với các giá trị nêu trên, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa trướcMác, nhất là

tư tưởng của xã hội chủ nghĩa đầu thế kỷ XIX của XanhXimông, Phuriê và oen được Mác - Ăngghen thừa nhận là mộttrong ba nguồn gốc lý luận của củahọc thuyết mà các ông xây dựng- học thuyết Mác-Lênin và là tiền đề tư tưởngcủa Chủ nghĩa xã hộikhoa học

Ô-V.I.Lênin đã viết: "Chủ nghĩa xã hội lý luận Đức sẽ không baogiờ quênrằng nó đứng trên vai của Xanh Ximông, Phuriê và Ô-oen -mặc dù học thuyếtcủa ba ông còn đầy tính chất ảo tưởng và khôngtưởng- đã được liệt vào hàngnhững nhà tư tưởng vĩ đại nhất của tấtcả các thời đại, và đã dự kiến một cách tàitình được rất nhiều chânlý mà ngày hôm nay chúng ta đem khoa học ra chứngminh đều thấylà đúng"

3 Những hạn chế:

- Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác phê phán chủ nghĩa tư bản

đã gây ra tình trạng bất công, nhưng họ chưa khám phá ra bản chất và quy luậtvận động của xã hội tư bản; không giải thíchđúng được nguyên nhân chủ yếudẫn tới cảnh bất công, nghèo đói là do chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩatạo ra (trừ R.Ôoen)

Trang 4

- Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác chưa phát hiện được lựclượng xã hội đang phát triển trong lòng xã hội tư bản, có lợi ích mâu thuẫn đốikháng với lợi ích của giai cấp tư sản, có khả năngcải tạo xã hội bất công để xâydựng một xã hội mới không còn ápbức, bóc lột, bất công, tốt đẹp hơn chủ nghĩa

tư bản là giai cấp vôsản

- Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác chưa ai tự đặt mình làngười đại diện cho quyền lợi của giai cấp vô sản và quần chúng lao động nghèokhổ và đấu tranh giải phóng họ Các nhàkhông tưởng luôn đứng trên lập trườngcủa giai cấp, tầng lớp trên(quý tộc, tư sản), đứng ngoài xã hội để mưu giải phóngtoàn xã hội Họ không gắn học thuyết của mình với phong trào đấu tranh củaquần chúng

- Các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa trước Mác đứng trên quan điểm duytâm để cải tạo xã hội Họ muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp nhưng bằng conđường cải cách dần dần, bằng giáo dục, bằng thực nghiệm, bằng cảm hoá giaicấp tư sản và tầng lớp trên của xã hội chứ không phải bằng con đường đấu tranhgiai cấp và cải biến cách mạng

Tóm lại, Chủ nghĩa xã hội không tưởng là những lý luận, những họcthuyết biểu hiện dưới dạng chưa chín muồi nguyện vọng của quần chúng mongmuốn xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột, tình trạng bất công trong xã hội, mongmuốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, ở đó không còn tình trạng đói khổ của nhữngngười lao động, mong có một xã hội tốt đẹp mà quan hệ giữa người và người làquan hệ hữu ái, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau Tuy nhiên, những mongmuốn, nguyện vọng, những dự án tốt đẹp đó không dựa vào điều kiện thực tiễnkhách quan mà nảy sinh từ đầu óc, từ những mong muốn chủ quan của một sốngười, vì vậy không thực hiện được trong thực tế và nó trở thành ảo tưởng,không tưởng

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng

- Nghiên cứu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng giúp chúng ta cómột cái nhìn khái quát về tư tưởng giải phòng giai cấp, giải phóng xã hội, giảiphóng con người trong lịch sử tư tưởng nhân loại Đồng thời cũng giúp chochúng ta nhận thức được rằng tư tưởng xã hội chủ nghĩa nằm trong dòng chảy tưtưởng của nhân

- Nghiên cứu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng cũng giúp chúng tathấy rõ được giá trị và nhữngđóng góp của tư tưởng xã hội không tưởng cho sự

ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học, và cũng thấy được những điểm hạn chế,những nguyên nhân hạn chế của tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởngđể từ đóchúng ta xây dựng thế giới quan khoa học, lập trường và quan điểm chính trị,tránh được các sai lầm vàrơi vào tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởngtrong nghiên cứu lý luận và hoạt độngthực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

Câu 2: Lý luận về hàng hóa sức lao động của C Mác; Nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư, các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư TBCN, hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư, biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư, ý nghĩa thời đaị của học thuyết giá trị thặng dư, ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam?

Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ

cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó Gía trịthặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng taọ ra ngoài sứclao động bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ sản cơ bản nhấtđó.Gía trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra

là nguồn gốc làm giàu của giai cấp các nhà tư bản, sản xuất ra giá trị thặng dư là

cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản Toàn bộ hoạt động của nhà tư bản hướng đếntăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư

Việc nghiên cứu phạm trù giá trị thặng dư và các phương pháp sản xuất ragiá trị thặng dư có ý nghĩa quan trọng, là chìa khóa dẫn đến những vấn đề kháctrong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

1 Lý luận về hàng hóa sức lao động của C Mác:

- Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong một con người vàđược vận dụng trong quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó Trong bất cứ

xã hội nào, sức lao động cũng đều là điều kiện cơ bản của sản xuất Nó chỉ trởthành hàng hóa khi đồng thời tồn tại đủ hai điều kiện sau:

Một là, người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao

động của mình và có quyền đem bán sức lao động của mình cho người khác nhưmột hàng hóa, tức là người đó được tự do đi làm thuê trong một khoảng thờigian nhất định

Hai là, người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp với

sức lao động của mình, buộc phải bán chính sức lao động tồn tại trong cơ thểcủa mình, vì không còn cách nào khác để sinh sống Sự tồn tại đồng thời haiđiều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành hàng hóa Sức lao động biếnthành hàng hóa là điều kiện quyết định để biến thành tư bản

Việc tồn tại đồng thời hai điều kiện trên tất yếu biến sức lao động thànhhàng hóa

- Cũng như những hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính

là giá trị và giá trị sử dụng

Giá trị hàng hóa sức lao động do thời gian lao động cần thiết để sản xuất

và tái sản xuất sức lao động quyết định Nó được xác định bằng giá trị củanhững tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để duy trì đời sống bình

Trang 6

thường của công nhân và gia đình anh ta, cộng với những phí tổn học tập đểngười công nhân có một trình độ nhất định

Giá trị sử dụng sức lao động là sự thỏa mãn nhu cầu người mua sức lao

động, tức là người mua tiêu dùng trong quá trình lao động, khác với hàng hóathông thường, quá trình sử dụng hàng hóa sức lao động có thể tạo ra giá trị lớnhơn giá trị của bản thân nó, phần dôi ra ngoài giá trị sức lao động chính là tạo ragiá trị thặng dư Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là một giá trị sử dụngđặc biệt Như vậy mâu thuẫn của công thức tư bản được giải quyết

- Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà

là giá trị, không phải là giá trị đơn thuần mà là giá trị thặng dư

- Quá trình lao động với tư cách là quá trình tư bản tiêu dùng sức lao động

Trong quá trình ấy, chính lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơngiá trị của bản thân hàng hóa sức lao động, tức là tạo ra giá trị thặng dư Gía trịthặng dư là một bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra, dôi rangoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của người lao động

Do đó, nếu quá trình lao động dừng lại ở điểm mà giá trị sức lao động thì chỉ cósản xuất giá trị giản đơn, khi quá trình lao động vượt qua điểm đó mới có SX giátrị thặng dư Vậy, nhân tố quyết định việc SX giá trị thặng dư theo quan điểmcủa chủ nghĩa Mác là nhân tố sức lao động của người công nhân (chủ yếu là giátrị sử dụng sức lao động)

Muốn SX ra giá trị thặng dư (m), trước hết nhà tư bản đưa ra thị trườngnhững thứ cần thiết như: tư liệu sản xuất, sức lao động của người công nhân…Sau khi có được hai loại hàng hóa đó, nhà tư bản kết hợp với nhau trong quátrình sản xuất và tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị ban đầu mà nhà tư bản bỏ ra,phần lớn hơn đó được gọi là giá trị thặng dư (m)

+ Bản chất giá trị thặng dư:

Trang 7

Nói chung, trong nền sản xuất hàng hóa dựa trên chế độ tư hữu về tư liệusản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích Giá trị sử dụng được sản xuấtchỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sửdụng có một giá trị trao đổi, nghĩa là một hàng hóa Hơn nữa, nhà tư bản muốnsản xuất ra một hàng hóa có giá trị lớn hơn tổng giá trị tư liệu sản xuất và giá trịsức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giátrị thặng dư.

Vậy quá trình sản xuất TBCN là sự thống nhất giữa quá trình SX ra giá trị

sử dụng và quá trình SX ra giá trị thặng dư Quá trình lao động với tư cách làquá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động có hai đặc trưng:

Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giốngnhư những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho nó hiệuquả nhất

Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của tư bản, chứ không phải củangười công nhân

3 Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa:

+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: được tiến hành bằngcách kéo dài tuyệt đối thời gian lao động trong ngày của người công nhân trongđiều kiện thời gian lao động cần thiết ( hay mức tiền công mà nhà tư bản tả côngcho công nhân là không đổi).Mặt khác sức lao động là thứ hàng hóa đặc biệt vìvậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi hỏi phải có thời gian cho nhữngnhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình Từ đó tất yếu dẫnđến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắnthời gian lao động trong ngày

+ Phương pháp SX giá trị thặng dư tương đối: được tiến hành bằng cáchrút ngắn thời gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thờigian lao động thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi Đểrút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư bản phải tìm ra mọi biệnpháp, đặc biệt là áp dụng tiến bộ công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nângcao năng suất lao động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị trườngcủa sản phẩm, đặc biệt nâng cao năng suất lao động xã hội trong những ngành,những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để nuôi sống người công nhân, từ

đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao động

4 Hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư

Lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư do lao động sốngtạo ra được quan niệm là do toàn bộ tư bản ứng trước sinh ra Nếu quan sát bềngoài thì lợi nhuận và giá trị thặng dư cũng là một, nhưng bản chất thì giá trịthặng dư ở bên trong được tạo ra trong quá trình sản xuất, còn lợi nhuận là hìnhthức biểu hiện ra ở bên ngoài thông qua trao đổi Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phầntrăm giữa giá trị thặng dư với chi phí sản xuất TBCN

Trang 8

Tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất giá trị thặng dư khác nhau về chất và vềlượng Tỷ suất giá trị thặng dư là chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời của tiềncông, tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của việc đầu tư tư bản Lợinhuận và tỷ suất lợi nhuận là động lực kinh tế của kinh tế thị trường.

Lợi nhuận của tư bản thương nghiệp là một bộ phận giá trị thặng dư docông nhân trong lĩnh vực công nghiệp tạo ra mà nhà tư bản công nghiệp nhườngcho nhà tư bản thương nghiệp vì đã thay nhà tư bản công nghiệp phụ trách khâulưu thông hàng hóa Về thực chất, lợi tức là một phần của lợi nhuận mà nhà tưbản hoạt động thu được nhờ sử dụng tư bản đi vay phải trả cho nhà tư bản chovay

Địa tô là một bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân docông nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản thuê đất phải nộp cho người sở hữuruộng đất

5 Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư

+ Quy luật tích lũy tư bản: Quá trình tích lũy tư bản tất yếu dẫn đến haihiện tượng đối lập nhau là tích lũy sự giàu có, xa hoa về phía GCTS và tích lũy

sự bần cùng, khốn khó về phía GCCN Sự bần cùng hóa của GCCN được hiểutheo 2 xu hướng: Bần cùng hóa tuyệt đối là biểu hiện mức sống của GCCN bịgiảm, hoặc tăng nhưng tăng chậm hơn so với mức tăng của nhu cầu (đây là xuhướng đang diễn ra nhanh trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay); Bần cùng hóatương đối hiểu hiện tỷ lệ thu nhập của GCTS tăng nhanh cùng tỷ lệ thu nhập củaGCCN giảm trong tổng sản phẩm quốc dân

+ Quy luật về sự hình thành giá cả sản xuất của hàng tiêu dùng: Lợi nhuậnbình quân và giá cả sản xuất được hình thành thông qua cạnh tranh giữa cácngành nhằm giành giật nơi đầu tư có lợi, kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuậnbình quân ( là con số trung bình của tất cả những tỷ suất lợi nhuận ở các ngànhkhác nhau) Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận mà tư bản thu được theo tỷ suấtlợi nhuận chung, không kết cấu thành hữu cơ của nó như thế nào Khi hìnhthành được lợi nhuận bình quân thì giá cả thị trường của hàng hóa chuyển thànhgiá cả sản xuất của hàng hóa (bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bìnhquân) Khi hình thành giá cả sản xuất của hàng hóa thì mối quan hệ giữa giá trịcủa hàng hóa với giá cả của hàng hóa được chuyển thành mối quan hệ giữa giá

cả sản xuất của hàng hóa với giá cả của hàng hóa khi xét trên phạm vi toàn xãhội thì tổng số giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị của hàng hóa

6 Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư, ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam:

6.1 Ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặng dư,

Trong CNTB, có một loại hàng hóa mới xuất hiện đó là hang hóa sức laođộng, khi đó xuất hiện quan hệ SX mới: quan hệ giữa nhà tư bản và công nhân laođộng làm thuê Thực chất là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhânlao động làm thuê

Trang 9

Việc nghiên cứu giá trị thặng dư đã vạch rõ bản chất bóc lột của CNTB.Trong điều kiện hiện nay, do sự phát triển của công ty cổ phần, một bộ phận nhỏcông nhân cũng có cổ phiếu và trở thành cổ đông, đã xuất hiện quan niệm chorằng không có bóc lột giá trị thặng dư, CNTB ngày nay đã thay đổi bản chất.Một số học giả đưa ra thuyết “CNTB nhân dân” Song trên thực tế, công nhânchỉ có một số cổ phiếu không đáng kể, họ chỉ là người sở hữu danh nghĩa không

có vai trò chi phối doanh nghiệp, phần lớn lợi tức cổ phần vẫn nằm trong tay cácnhà tư bản, thu nhập của công nhân chủ yếu vẫn là tiền lương

6.2 Ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam:

+ Trong thời kỳ qua độ nền kinh tế nước ta, trong một chừng mực nào đó,quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều

và xơ cứng cũ Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy

rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúcđẩy lực lượng sản xuất phát triển , thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sựhiện diện của nó

+ Trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiệnnay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng vềmức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như cóthái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa vời thực tế vàkhông thể thực hiện được Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệphân phối phải được thể chế hóa bằng luật Đường lối, chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước pháp quyền XHCN, lấy luật làm công cụ và cơ sở đểđiều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn là hành vi bóc lột nói riêng

+ Mặt khác cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của người lao độnglẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảođảm công khai, minh bạch và bền vững Những mâu thuẫn về lợi ích trong quátrình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thếnào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiếthiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới

Câu 3: Tích lỹ tư bản, các nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích l ũ y tư bản, các quy luật của tích l ũ y tư bản, ý ngh ĩ a đối với Việt Nam.

Lý luận giá trị thặng dư là phát kiến vĩ đại của C.Mác Nhờ phát hiện này,cuộc cách mạng của kinh tế chính trị học mới được hình thành, xây dựng nênkinh tế chính trị học Mác - Lênin Tính khoa học của lý luận giá trị thặng dưđược phát triển trên cơ sở lý luận giá trị lao động… tích lũy, tích tụ và tập trung

tư bản

1 Tích lũy tư bản

a) Khái niệm: Tích luỹ tư bản là quá trình biến một phần giá trị thặng dưthành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất Tích luỹ tư bản là quá trình tư bản

Trang 10

hoá giá trị thặng dư Nguồn gốc duy nhất của tư bản tích lũy là giá trị thăng dư

và tư bản tích lũy chiếm tỉ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản Không chỉ vậy,quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hóa biếnthành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa, điều này dẫn đến kết quả là nhà tưbản chẳng những chiếm đoạt một phần lao động của công nhân, mà còn là người

sở hữu hợp pháp lao động không công đó

b) Tính tất yếu khách quan của tích luỹ tư bản

- Đáp ứng nhu cầu của tái sản xuất mở rộng nền kinh tế TBCN

- Để có ưu thế trong cạnh tranh

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật, đổi mới công nghệ

c) Thực chất của tích luỹ tư bản được thể hiện thông qua quá trình tái sảnxuất tư bản chủ nghĩa

- Tái sản xuất

+ Khái niệm: Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và đổimới không ngừng

+ Nội dung của tái sản xuất:

+ Tái sản xuất ra của cải vật chất

+ Tái sản xuất ra sức lao động

+ Tái sản xuất ra quan hệ sản xuất

+ Loại hình tái sản xuất: Tái sản xuất được chia thành tái sản xuất giảnđơn và tái sản xuất mở rộng

Tái sản xuất giản đơn là sự lặp lại quá trình sản xuất với quy mô như cũ.Tái sản xuất giản đơn TBCN là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô

tư bản như cũ, nhà tư bản tiêu dùng hết giá trị thặng dư

Tái sản xuất mở rộng là quá trình sản xuất được lặp lại với quy mô lớn hơn trước Tái sản xuất mở rộng TBCN là quá trình sản xuất được lặp lại vớiquy mô tư bản lớn hơn trước, nhà tư bản không tiêu dùng hết giá trị thặng dư màbiến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để mở rộng sản xuất

- Thực chất của tích lũy tư bản: là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngàymột lớn hơn

+ Số tư bản ứng ra ban đầu dù là tài sản chính đáng của nhà tư bản thì qua

quá trình tích luỹ tư bản (tái sản xuất mở rộng) nó cũng vô cùng nhỏ bé so với số

tư bản đã tích lũy được

+ Nguồn gốc duy nhất của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư

2 Những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô tích lũy tư bản

Quy mô tích lũy phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư và tỉ lệ phânchia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và tư bản tiêu dùng của nhà tư bản

Với một khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô của tích lũy phụthuộc vào tỉ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành quỹ tích lũy vàquỹ tiêu dùng của nhà tư bản Nếu tỉ lệ phân chia đó đã được xác định, thì quy

Trang 11

mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thăng dư Do đó nhữngnhân tố ảnh hưởng đến khối lượng giá trị thặng dư cũng chính là nhân tố quyếtđịnh quy mô của tích lũy tư bản Những nhân tố đó là:

Một là, trình độ bóc lột sức lao động: là tỉ lệ giữa lượng tư bản ứng ra

mua sức lao động công nhân và lượng giá trị thu về từ lao động đó Nhà tư bảnnâng cao trình độ bóc lột băng cách cắt xẽn vào tiền công của công nhân Nhưvậy công nhân không nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt lao động thăng dư, màcòn bị chiếm đoạt một phần lao động tất yếu, bị cắt xén một phần tiềncông.Ngoài ra việc nâng cao bóc lột được thực hiện bằng cách tăng cường độ laođộng và kéo dài ngày lao động Việc làm này rõ ràng làm tăng giá trị thăng dư,

do đó làm tăng bộ phận giá trị thặng dư tư bản hóa, tức làm tăng tích lũy

Hai là, trình độ năng suất lao động xã hội.Năng suất lao động xã hội

tăng lên, thì giá cả tư liệu sản xuất và tư lệu tiêu dùng giảm xuống Sự giảm nàyđem lại hai hệ quả cho tích lũy tư bản: Một là, với khối lượng giá trị thặng dưnhất định, phần giành cho tích lũy có thể tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà

tư bản không giảm, thậm chí có thể cao hơn trước; hai là, một lượng giá trịthặng dư nhất địnhdành cho tích lũy có thể chuyển hóa thành một khối lượng tưliệu sản xuất và sức lao động phụ thêm lớn hơn Như vậy năng suất lao độngtăng sẽ làm tăng thêm những yếu tố vật chất của tư bản, do đó làm tăng quy môcủa tích lũy

Ba là, sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia

toàn bộ vào vào quá trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá trịcủa chúng được chuyển dần từng phần vào sản phẩm Do đó, nếu không kể đếnphần giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máymóc phục vụ không công chẳng khác gì lực lượng tự nhiên Máy móc thiết bịngày càng hiện đại, thì sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dụngcàng lớn Sự phục vụ không công đó của lao động quá khứ là nhờ lao động sốngnắm lấy và làm cho chúng hoạt động Chúng được tích lũy lại cùng với quy môngày càng tăng của tích lũy tư bản

Bốn là, quy mô của tư bản ứng trước Với mức bóc lột không đổi, thì khối

lượng giá trị thặng dư do số lượng công nhân bị bóc lột quyết định Do đó quy

mô của tư bản ứng trước, nhất là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì giá trịthặng dư bóc lột được do đó tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản.Đối với sự tích lũy cả xã hội thì quy mô của tư bản ứng trước chỉ là nhỏ nhưngrất quan trọng C.Marx đã nói rằng tư bản ứng trước chỉ là một giọt nước trongdòng sông của sự tích lũy mà thôi

3 Quy luật tích lũy tư bản

Quá trình tích lũy tư bản tất yếu dẫn đến hai hiện tượng đối lập nhau làtích lũy sự giàu có, xa hoa về phía giai cấp tư sản và tích lũy sự bần cùng khốnkhó về phía giai cấp công nhân Các yếu tố phản ảnh nội dung quy luật tích lũy

tư bản

Trang 12

a) Tích luỹ tư bản là quá trình làm cho cấu tạo hữu cơ của tư bản ngàycàng tăng

– Cấu tạo kỹ thuật của tư bản: là tỷ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất với sốlượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó

– Cấu tạo giá trị của tư bản: là tỷ lệ về số lượng giá trị giữa tư bản bấtbiến

và tư bản khả biến (hay giữa giá trị tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động) cầnthiết để tiến hành sản xuất (c/v)

– Cấu tạo hữu cơ của tư bản:

+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ảnh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật Ký hiệu là c/v

+ Trong quá trình tích lũy, cấu tạo hữu cơ của tư bản (c/v) ngày một tăng c/v tăng do: + c tăng nhanh, v tăng chậm; + c tăng, v không đổi ; + c tăng,

v giảm;+ Cấu tạo hữu cơ tư bản tăng, hay là trong quá trình tích luỹ tư bản (c) luôn tăng tuyệt đối và (v) giảm tương đối Đây là nguyên nhân tiềm ẩn của nạnthất nghiệp trong xã hội tư bản

b) Tích luỹ tư bản là quá trình làm cho tích tụ và tập trung tư bản ngàycàng tăng

Tích tụ, tập trung tư bản phát triển đã phản ảnh nội dungquy luật tích lũy Thực chất là làm tăng quy mô tư bản để tái sản xuất nhằm tăng cường bóc lộttheo cả chiểu rộng và chiều sâu

c) Tích luỹ tư bản là quá trình làm bần cùng hóa giai cấp công nhân Lýluận về bần cùng hóa của C.Mác được tiếp cận theo hai nội dung

– Phân biệt giữa bần cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối: + Bần cùng hóa tương đối: là sự giảm sút tỷ trọng thu nhập của giai cấp công nhân so với thu nhập của các nhà tư bản (nói cách khác là sự chênh lệchthu nhập ngày càng lớn giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân)

+ Bần cùng hóa tuyệt đối: là sự giảm sút mức sống của công nhân xuống dưới mức sống tối thiểu của xã hội

- Tiếp cận trong nghiên cứu về mối quan hê giữa thay đổi cấu tạo hữu cơcủa tư bản với thị trường sức lao động Hình thành “nạn nhân khẩu thừa tươngđối trong chủ nghĩa tư bản” Mối quan hệ này tất yếu diễn ra theo ba chiềuhướng sau :

một là số công nhân được sa thải của ngành náy , nơi này sẽ kiếm đượcviệc ở ngành khác nơi khác khi đó, cầu về sức lao động trên thị trường khôngđổi

Hai là số công nhân bị sa thải lớn hơn số công nhân được thu hút vào làmviệc

Ba là số công nhân sa thải nhỏ hơn số công nhân được thu hút vào làmviệc

Trang 13

Từ đó nếu xét theo thời gian dài với quy mô toàn xã hội thì cầu về sức laođộng trên thị trường tăng lên chậm chạp Nếu xét theo định kỳ có hoạt động bùtrừ lẫn nhau và hình thành nên trong xã hội TBCN nạn nhân thừa tương đối chialàm ba loại sau : là nhân khẩu thừa di động, nhân khẩu thừa tiềm năng và nhânkhẩu thừa ngưng trệ Vì vậy hiểu đúng bản chất của lý luận bầng cùng hóatrong điều kiện thế giáo hiện nay phải xem xét trên bình diện tổng quát nhất :công nhân có việc và công nhân thất nghiệp; công nhân kỹ thuật và công nhânthường; công nhân chính quốc và công nhân thuộc địa phụ thuộc.

d) Xu hướng lịch sử của tích lũy tư bản là CNTB đã thúc đẩy mạnh mẽviệc xã hội hóa sản xuất và phát triển LLSX Nhưng trong quá trình phát triển đócũng là quá trình phát triển mọi mâu thuẩn của CNTB, nhất là mâu thuẩn cơ bản– mâu thuẩn giữa tính chất xã hội của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân về

tư liệu sản xuất ngày càng gay gắt Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, tất yếu sẽtiến lên một xã hôi cao hơn để giải phòng LLSX xã hội

4 Ý nghĩa đối với Việt Nam

Tích lũy tư bản có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của đất nước Tuynhiên do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng có nhiều thay đổi, mặt khác chúng

ta đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội nên việc tiến hành các biệnpháp duy trì, tăng cường tích lũy có nhiều sự khác biệt Để giải quyết vấn đề tíchlũy ta cần thực hiện đồng bộ những biện pháp sau:

a) Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy - tiêu dùng

Tích lũy bao nhiêu để tạo cơ sở cho phát triển, tiêu dùng bao nhiêu đểđảm bảo nhu cầu, nó thể hiện cụ thể mối quan hệ giữa xây dựng kinh tế và cảithiện đời sống, giữa lợi ích lâu dài và trước mắt, giữa lợi ích của nhân dân và lợiích của toàn xã hội

Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn

b) Tăng cường tích lũy vốn trong nước và có biện pháp thu hút vốn đầu

tư nước ngoài

Cần hướng mạnh vào giải phóng triệt để và khơi thông các nguồn lựctrong xã hội, khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển kinhdoanh để tạo ra năng lực sản xuất, hạ tầng kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó nângcao tiềm lực tài chính quốc gia Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư gián tiếp thôngqua thị trường tài chính trong nước

c) Quản lý có hiệu quả các nguồn thu

Từng bước nâng cao tỷ trọng thuế thu nhập, thuế tài sản trong cơ cấu hệthống thuế Nâng tỷ trọng thuế trực thu trong tổng thu ngân sách nhà nước, trong

đó tăng tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân bằng cách

mở rộng đối tượng nộp thuế Mặt khác, đẩy mạnh cải cách hành chính công khaihóa và đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế; mở rộng áp dụng cơ chế tự khai, tựtính và tự nộp thuế; hiện đại hóa công tác quản lý thuế, triển khai các dịch vụ tưvấn, hỗ trợ tính thuế và nộp thuế; hạn chế thất thu thuế ở mức thấp nhất, bảođảm thu đúng, thu kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước./

Trang 14

Câu 4: Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nguyên nhân hình thành, bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, các biểu hiện của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, ý nghĩa đối với Việt Nam

Chủ nghĩa tư bản là một nền kinh tế thị trường, Mác - Ănghen đã chỉ racác đặc điểm của nền kinh tế thị trường TBCN, hàng hóa, tiền tệ, sức cạnh tranh,quan hệ cung - cầu, các loại thị trường, vai trò quyết định của chủ thể sản xuất

và trao đổi hàng hóa Nền kinh tế thị trường TBCN phát triển đúng quy luật: tự

do cạnh tranh tất yếu dẫn đến độc quyền, từ độc quyền tư nhân sẽ xuất hiện độcquyền tập thể và độc quyền nhà nước Đó là quá trình thay đổi về lượng chưa đủ

để thay đổi về chất của phương thức sản xuất TBCN

Cuối thế kỷ XIX đầu XX, diễn ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhấtvới sự tham gia của các cường quốc TBCN Chiến tranh cùng với khủng hoảngkinh tế là những biểu hiện mới của TBCN, là những mốc lịch sử thế giới, thểhiện CNTB đang chuyển sang giai đoạn CNĐQ và đây là giai đoạn phát triển tộtcùng của PTSX TBCN Các nước đế quốc sẽ cạnh tranh quyết liệt hơn và chiếntranh đế quốc là không thể tránh khỏi Nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày một rõ

đã đẩy nhanh quá trình nhà nước can thiệp ngày một sâu vào kinh tế dẫn đến sựxuất hiện CNTB độc quyền nhà nước ở các nước tư bản lớn - một hình thức biểuhiện của CNTB độc quyền

1 Nguyên nhân ra đời và bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước

- Về nguyên nhân:

Một là: Sự phát triển của LLSX dẫn đến quy mô của nền kinh tế ngày

càng lớn, tính chất xã hội hoá của nền kinh tế ngày càng cao đòi hỏi phải có sựđiều tiết của xã hội đối với sản xuất và phân phối, một kế hoạch hoá tập trung từmột trung tâm Nhà nước phải dùng các công cụ khác nhau để can thiệp, điềutiết nền kinh tế

Hai là: Sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện một

só ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản tư nhân không thể hoặc không muốnkinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận (như năng lượng,giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản ) Nhà nước tư sảntrong khi đảm nhiệm kinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho các tổ chứcđộc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn

Ba là: sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng giai

cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, nhân dân lao động Nhà nước phải cóchính sách để giải quyết những mâu thuẫn đó: Trợ cấp thất nghiệp, điều tiết thunhập quốc dân, phát triển phúc lợi xã hội

Bốn là: Sự tích tụ và tập trung tư bản cao dẫn đến mâu thuẫn giữa các tổ

chức độc quyền với nhau, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền với các tổ chức kinhdoanh vừa và nhỏ….trở nên gay gắt cần có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước

Trang 15

Năm là: Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng của

các tổ chức liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dântộc và xung đột lợi ích giữa các đối thủ trên thị trường thế giới, đòi hỏi có sựđiều tiết các quan hệ chính trị, kinh tế quốc tế của nhà nước tư sản Nhà nước tưsản có vai trò quan trọng để giải quyết các quan hệ đó

Ngoài ra, việc thi hành chủ nghĩa thực dân mới, cuộc đấu tranh vớiCNXH hiện thực và tác động của cách mạng khoa học- công nghệ, đòi hỏi có sựcan thiệp trực tiếp của nhà nước vào đời sống kinh tế

-Về bản chất

Để xác định được bản chất của CNTB độc quyền nhà nước cần phải tiếpcận một cách tổng thể từ các góc độ khác nhau, từ mối quan hệ LLSX vàQHSX; từ lợi ích các giai cấp trong XH Tư sản; rộng hơn cả là từ mối quan hệbiện chứng giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện của CNTB độc quyền

+ Xét về góc độ quan hệ giữa LLSX và QHSX thì CNTB ĐQNN là sựthay đổi về lượng rất cơ bản của QHSX TBCN Những bộ phần khổng lồ củaLLSX trong các nước tư bản không còn có thể thích ứng với cái vỏ chật hẹp của

sở hữu tư nhân cũng như sở hữu tập thể (công ty cổ phần TBCN) nữa Nhưngkhông thể thiếu được nó trong nền kinh tế vì đó chính là những bộ phần có tínhchất nền tảng của sản xuất, kinh doanh Do vậy sở hữu nhà nước là hình thức phùhợp duy nhất được lựa chọn mà vẫn không đe dọa lợi ích của tư bản tư nhân

+ CNTB như bất kỳ một chế độ xã hội - chính trị nào khác sẽ không tồntại nổi một ngày nếu không có từ bên trong nó những cơ chế tự điều tiết; giántiếp qua đó định kỳ khắc phục những mâu thuẫn tích tụ dần dần từ lâu và giảiquyết những khủng hoảng phát sinh Trên thực tế, CNTB ĐQNN tạo ra khôngchỉ những tiền đề vật chất để điều tiết cả vĩ mô đối với nền kinh tế TBCN màcòn tạo nên những tiền đề về tinh thần để điều tiết xã hội như: ý thức công dân,nhà nước pháp quyền, dân chủ tư sản, lý luận quản lý xã hội, phúc lợi côngcộng…

+ Xét về góc độ lợi ích của các giai cấp cũng vậy, CNTB ĐQNN là hìnhthức thích hợp nhất để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản trong điều kiện nền dânchủ tư sản đã phát triển đến trình độ cao hơn hẳn Khi mà những biểu hiện độctài, chuyên chế đều không thể được chấp nhận một cách dễ dàng trong một xãhội mà dân trí đã được nâng cao và gắn liền với nó là dân chủ, công khai và cácquyền cơ bản của mọi công dân được mặc nhiên nhận thức ở mức được hợp lýhóa Trong những điều kiện đó thì nhà nước tư sản sở hữu những bộ phận quantrọng nhất của cải vật chất trong xã hội và sử dụng nó để đáp ứng các nhu cầu vềhàng hóa công cộng, thực thi các chức năng KTXH là hoàn toàn có thể đượcchấp nhận của mọi giai cấp trong xã hội Quyền lợi ích kỷ của giai cấp tư sảncũng sẽ được che giấu đi một cách tinh vi hơn qua các đơn đặt hàng của nhànước được đưa ra đấu thầu, qua các ưu tiên đầu tư của ngân sách nhà nước đượcQuốc hội thông qua

Trang 16

+ Xét về góc độ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị thìCNTB ĐQNN là hình thức phát triển cao nhất của mối quan hệ biện chứng giữađộc quyền kinh tế của tư bản tư nhân và độc quyền chính trị của GCTS trong xãhội tư sản hiện đại Nói cách khác CNTBĐQ là sự dung hợp giữa sức mạnh các

tổ chức kinh tế độc quyền và nhà nước tư bản thành một cơ chế thống nhất nhằmlàm giàu cho các tổ chức độc quyền và cứu nguy cho CNTB

Mác - Lê nin khẳng định, CNTB là một nấc thang phát triển khổng lồ vềLLSX Với sự xuất hiện CNTB ĐQBB thì ngay trong lòng CNTB đã thực sự tạonên không chỉ một LLSX tiên tiến, hiện đại mà LLSX đó lại còn được “xã hộihóa một bước quan trọng” Bước quan trọng đó chính là do không thể đảmđương, làm chủ trực tiếp hoặc do không có được lợi nhuận thỏa đáng cho nênTBTN buộc phải chuyển những khâu cơ bản nhất của quá trình sản xuất xã hộicho nhà nước tư sản, chấp nhận sở hữu nhà nước đối với phần lớn các bộ phầncấu thành quan trọng của nền kinh tế Theo cách này, CNTB ĐQNN đã tham giatạo nên những tiền đề vật chất chủ yếu, cơ bản của xã hội mới thay thế choCNTB

2 Những biểu hiện chủ yếu của CNTB độc quyền nhà nước

CNTB ĐQNN không đồng nhất giữa các nước TB khác nhau nhưng nótồn tại thống nhất trong sự đa dạng ở mỗi nước có thể mang thêm những sắc tháiđặc thù song về cơ bản có thể khái quát chung các hình thức biểu hiện cụ thểsau:

a) Sở hữu của NNTS và vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong nềnkinh tế thị trường TBCN

Tại đa số các nước TB phát triển những bộ phận quan trọng nhất của nền

KT đã thuộc về sở hữu của NN, đó là hệ thống kết cấu hạ tầng KT - XH, là dựtrữ quốc gia, hệ thống tài chính tiền tệ và các tài sản quốc gia khác Đồng thờicũng có một số lượng nhất định các doanh nghiệp nhà nước cung cấp hàng hóacông cộng, cổ phần nhà nước trong các ngân hàng, tập đoàn lớn và một số doanhnghiệp do NN quốc hữu hóa các doanh nghiệp tư nhân vì những lý do khácnhau Về cơ bản KTNNTS đảm nhận vai trò chủ yếu trong các lĩnh vực khôngthể có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp, còn những lĩnh vực kinh doanh có lợinhuận cao thuộc về đặc quyền kinh doanh của các tập đoàn độc quyền tư nhân,

sự tồn tại lâu dài của một số bộ phận doanh nghiệp NN ở các nước TBCN pháttriển chủ yếu liên quan đến các ngành, các lĩnh vực có lợi nhuận quá thấp, hoặcnhiều rủi ro, không hấp dẫn được tư nhân

Trong trường hợp xảy ra thua lỗ của khu vực tư nhân thì cũng là lựclượng KT chủ trốt cứu giúp các tập đoàn tư nhân lớn thoát khỏi phá sản, cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ hầu như không có được sự giúp đỡ như vậy Bên cạnh

đó cũng tồn tại một số lượng không nhỏ doanh nghiệp NN đặc trưng cho PTSXTBCN đó là doanh nghiệp NN hình thành từ quốc hữu hóa các doanh nghiệp tưnhân, sau khi DNNN mới được hình thành kia sau khi dùng ngân sách trả nợ,đổi công nghệ tới lúc đó có sức cạnh tranh mới đó cũng là lúc sẽ được đem tưnhân hóa thông qua đấu giá công khai thuộc về người trả giá cao nhất Đó là

Trang 17

hiện tượng phổ biến trong nền KTTT TBCN, sự chuyển hóa từ SH tư nhân sang

NN rồi lại từ NN thành tư nhân của một doanh nghiệp gây thiệt hại cho NSNNnhưng lại mang lại lợi ích cho giới cầm quyền và chủ doanh nghiệp

b) Mối quan hệ nhân sự giữa quan chức NN và các tổ chức TB độc quyềnDưới CNTB NN quan hệ nhân sự là một trong những biểu hiện đặc trưngnhất, cụ thể là các tập đoàn tư nhân lựa chọn để tài trợ kinh phí cho các ứng viên

có nhiều tiềm năng vào các chức vụ của bộ máy NN, luật pháp TS cho phép sựquyên góp này, khi đã thành công thì tất nhiên các quan chức trong quá trìnhthực thi nhiệm vụ sẽ đền đáp lại dưới nhiều hình thức Do vậy không ít trườnghợp một số tập đoàn gây ảnh hưởng đến các chính sách đối nội, đối ngoại của

NN theo hướng có lợi cho họ chứ không phục vụ cho lợi ích chung của XH

c) Điều tiết kinh tế của NNTS

Các chính sách KT của NN trong điều kiện của CNTB độc quyền NNphần lớn chỉ mang tính điều tiết trừ những trường hợp đặc biệt NNTS mới điềuhành KT bằng sắc lệnh và các biện pháp hành chính Điều tiết của NN bao gồm

sử dụng các công cụ kinh tế vĩ mô thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái… NNTS sửdụng ngân sách để đầu tư kích cầu nền KT khi cần thiết đối với các lĩnh vực nhưtiêu dùng, tạo việc làm mới, khắc phục thảm họa thiên tai… Điều tiết bằng công

cụ phi kinh tế như định hướng ưu tiên trong chính sách quốc gia, khuyến khíchlThập các quỹ từ thiện Tuy nhiên về cơ bản điều tiết kinh tế của NNTS vẫn luônluôn thể hiện bản chất giai cấp của nó, lợi ích lớn nhất mà mọi hoạt động kinh tếcủa NNTS là đều được định hướng ưu tiên hàng đầu cho các tập đoàn TB độcquyền lớn, cho tầng lớp giàu có nhất trong XH TS

d) Thực thi các chức năng XH của NNTS

Dưới chế độ TBĐQNN chính phủ và thiết chế cơ bản trong bộ máy NNtham gia ngày càng sâu vào lĩnh vực XH, những chức năng XH cơ bản của NNngày càng được mở rộng chính phủ đứng ra quản lý và chi tiêu các quỹ xã hộilớn điều đó giải phóng cho các ông chủ tư nhân và các tập đoàn khỏi đương đầutrực diện với người lao động và các tổ chức của họ Thông qua việc thực thicũng xiết chặt thêm một bước kỷ cương pháp quyền TS

3 Ý nghĩa đối với Việt Nam

Việt Nam chưa kinh qua CNTB, cho nên tất niên cũng không thể có được

“những tiền đề vật chất” của CNXH nhiều như ở các nước đã có một lịch sửphát triển lâu dài của CNTB, lại càng thua kém hơn nhiều về những tiền đề vậtchất đó trong quan hệ so sánh với các nước tư bản phát triển như G7 NhưngViệt Nam có một ưu thế rất cơ bản là đã giải quyết xong vấn đề hàng đầu củamọi cuộc cách mạng, đó là giành chính quyền về tay nhân dân Vấn đề cốt lõi làphải sử dụng chính quyền nhà nước đã có để làm những gì mà CNTB chưa kịplàm ở Việt Nam, đó là CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

Do vậy kinh tế Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thịtrường có nhiều thành phần là một tất yếu khách quan đối với Việt Nam Những

Trang 18

ngành, lĩnh vực có ý nghĩa then chốt đối với nền kinh tế quốc dân mà các nướcTBCN nhà nước phải sở hữu thì ở Việt Nam cũng phải vậy

Bên cạnh đó những ngành, lĩnh vực có lợi nhuận cao càng cần phải tậptrung vào tay nhà nước Đặc biệt là trong khai thác các tài nguyên quốc gia như:dầu khí, khoáng sản… không thể để cho tư nhân tự do khai thác như ở các nướcTBCN Tuy nhiên, cũng do đặc điểm chưa kinh quan CNTB nên điểm xuất phát

để quá độ lên CNXH ở Việt Nam là rất thấp

Quá độ lên CNXH bỏ qua chế bộ TBCN là con đường có nhiều khó khăngấp bội Những cơ sở vật chất kỹ thuật, lực lượng lao động mà chế độ cũ tạo ratrước cách mạng thành công không có nhiều nhưng càng cần phải coi trọng dùngvới tư cách là “Những tiền đề vật chất của CNXH” để quản lý và sử dụng tốthơn trong công cuộc xây dựng CNXH

Trong thời kỳ đổi mới, quan hệ với các nước TBCN của Việt Nam cũng

đã có rất nhiều thay đổi, đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệđối ngoại của Đảng đã mở ra bước ngoặc cơ bản trong quan hệ kinh tế đối ngoại.Việt Nam quan hệ đầy đủ về mọi mặt với các tầng nấc; đối tác chiến lược, đốitác toàn diện,… với các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội là mộthướng đi đúng đắn trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế Việc kếthừa, khai thác các “tiền đề vật chất” thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế làhết sức cần thiết Những gì có lợi sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước cóthể có được từ các nước TBCN đều cần phải quan tâm, khai thác và sử dụng

Hợp tác với các nước TBCN và các công ty tư bản trên cơ sở cùng có lợikhông phải là sự lựa chọn con đường phát triển TBCN mà chính là phương thứcxây dựng CNXH với sự trợ giúp từ các thành tựu của “nền văn minh tư sản” Sựkiên trì định hướng XHCN trong quá trình phát triển không phải là trở ngại kinh

tế và chính trị cho việc mở rộng sự hợp tác và phát triển của Việt Nam với tất cảcác nước TBCN Đó là một thực tế đã đang và sẽ tiếp tục được chứng minhtrong công cuộc đổi mới./

Câu 5: Những nhận thức mới về sở hữu trong quá trình đổi mới ở Việt Nam? Tác dụng thực tiễn của những nhận thức mới về sở hữu ở Việt Nam?

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến cáchmạng sâu sắc, toàn diện và triệt để về mọi mặt từ xã hội cũ sang xã hội mới Sựphát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên tính đa dạng hóacác loại hình sở hữu ở Việt Nam Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, vấn đề sở hữu, các hìnhthức sở hữu và đổi mới quan hệ sở hữu luôn thu hút sự quan tâm Nó không chỉ

có ý nghĩa lý luận mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Vì vậy, nghiên cứu

"những nhận thức mới về sở hữu làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam" có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế ở nước ta Nghiên

Trang 19

cứu vấn đề này chúng ta thấy được ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của nó hếtsức sâu sắc.

Sở hữu là một hình thức chiếm hữu nhất định về của cải vật chất, trướchết là về tư liệu sản xuất, được hình thành trong lịch sử, là quan hệ giữa ngườivới người về chiếm hữu của cải trong xã hội

1 Những nhận thức mới về sở hữu làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới kinh tế ở nước ta.

- Phân biệt giữa hai phạm trù: Sở hữu và chiếm hữu.

Sở hữu là quan hệ giữa người với người về chiếm hữu tư liệu sản xuất vàcủa cải làm ra, sở hữu là hình thức xã hội của hành vi chiếm hữu trong các hìnhthái kinh tế - xã hội nhất định Còn chiếm hữu là quan hệ giữa người với giới tựnhiên, con người chiếm hữu những vật thể của tự nhiên để tồn tại

Sở hữu là một phạm trù kinh tế khách quan và là một phạm trù lịch sử, nóbiến đổi tùy thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và do lực lượngsản xuất quy định Còn chiếm hữu là hành vi tồn tại cùng với sự tồn tại và pháttriển của con người, là một phạm trù vĩnh viễn, nghĩa là nó tồn tại trong tất cảcác giai đoạn khác nhau của lịch sử nhân loại

- Các góc độ nhận thức và vận dụng khác nhau về quan hệ sở hữu.

Ở góc độ chủ thể sở hữu: Sở hữu chỉ ra rằng, của cải trong xã hội thuộc vềcủa ai? C.Mác cho rằng, người ta chỉ có thể trả lời bằng sự phân tích phê phán

của khoa kinh tế chính trị, môn học này bao quát toàn bộ những quan hệ sở hữu

ấy, không phải trong biểu hiện pháp quyền của chúng với tư cách là những quan

hệ ý chí, mà còn trong hình thái hiện thực của chúng, tức với tư cách là quan hệ sản xuất Như vây, theo C.Mác phạm trù sở hữu phản ánh sự thống nhất giữa hai

mặt: sở hữu với tư cách là quan hệ pháp lý (hình thức pháp lý) của quan hệ sảnxuất và sở hữu với tư cách quan hệ kinh tế hiện thực

Với các góc độ nhận thức phạm trù sở hữu như trên, việc giải quyết vấn

đề sở hữu trong thực tiễn chú ý các điểm dưới đây:

Phải tôn trong quy luật kinh tế khách quan, quan hệ sản xuất phải phù hợpvới tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sở hữu vậnđộng và biến đổi cùng với sự vận động và biến đổi của những điều kiện kinh tế -

xã hội, mà trước hết là lực lượng sản xuất

Không nên đồng nhất sở hữu với tư cách quan hệ pháp lý của quan hệ sảnxuất với sở hữu với tư cách là quan hệ kinh tế hiện thực

Trang 20

Quan hệ sở hữu vận động, phát triển và tái tạo trong các khâu của quátrình tái sản xuất xã hội.

Sự tác động qua lại giữa quan hệ sở hữu với quan hệ tổ chức, quản lý vàquan hệ phân phối lưu thông, trong đó quan hệ sở hữu có vai trò quyết định,nhưng quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối lưu thông có ảnh hưởnglớn đến quy mô sở hữu và hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Nhận thức được biến đổi của đối tượng sở hữu

Quan hệ sở hữu luôn luôn ở trạng thái vận động, đối tượng của sở hữucũng luôn luôn biến đổi, thích ứng

Đối tượng của sở hữu ngày càng được mở rộng, không chỉ sở hữu tư liệusản xuất, vật phẩm tiêu dùng, mà có sở hữu vốn, tư bản (tài chính, khả năng sinhlời …) Việc tiền tệ hóa các đối tượng sở hữu chủ yếu là một bước tiến lớn sovới quan niệm các đối tượng sở hữu là hiện vật cụ thể

- Có sự tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh (quyền sử dụng)

Chế độ sở hữu bao gồm các quyền như quyền sở hữu, quyền quản lý kinhdoanh, quyền điều tiết, quyền thực hiện lợi ích kinh tế … Trong tập hợp cácquyền đó, có thể chia ra thành hai nhóm quyền quan trọng là quyền sở hữu vàquản lý sản xuất, kinh doanh Hai nhóm quyền này có thể thống nhất ở một chủthể, cũng có thể được phân chia, tách biệt một các tương đối ở những chủ thểkhác nhau

- Đa dạng hóa loại hình và hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trong mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng có một loại hình sở hữuđặc trưng giữ vai trò chủ đạo, đồng thời cũng còn nhiều hình thức sở hữu kháccùng tồn tại Trong mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình thức sở hữu khácnhau, đan xen nhau Những hình thức sở hữu luôn luôn biến động và ngày càngxuất hiện nhiều thêm hình thức sở hữu mới, hoàn thiện hơn Kinh tế thị trườnghiện đại dựa trên sự kết hợp các hình thức sở hữu tư nhân - cá nhân, sở hữu tưnhân của nhóm người, sở hữu cổ phần, sở hữu hỗn hợp và sở hữu nhà nước,nhưng sở hữu cổ phần vẫn là phổ biến, cho nên có thể nói hình thức sở hữu hiệuquả hơn trong sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và công nghệ vẫn là sởhữu cổ phần

Trang 21

2 Liên hệ tác dụng thực tiễn của những nhận thức về tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh và đa dạng hóa các loại hình sở hữu trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam

2.1 Nhận thức về tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu với quyền quản lý kinh doanh trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Quyền SH được thể hiện bằng hệ thống pháp luật (kể cả các nội quy, quy định dưới luật) tạo nên chế độ sở hữu Chế độ sở hữu bao gồm các quyền như: quyền sở hữu, quyền quản lý kinh doanh, quyền điều tiết, quyền thực hiện lợi ích kinh tế, v.v… Trong tập hợp các quyền đó, có thể chia ra thành hai nhóm quyền quan trọng là quyền sở hữu và quản lý sản xuất - kinh doanh (quyền sử dụng là phần quan trọng nhất nằm trong quyền quản lý sản xuất - kinh doanh) Hai nhóm quyền này có thể thống nhất ở một chủ thể, cũng có thể phân chia tách biệt tương đối ở những chủ thể khác nhau

Lý luận về sự tách biệt tương đối giữa hai nhóm quyền nói trên mở ra một bình diện mới cho việc vận dụng quan hệ sở hữu vào thực tiễn và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng

Việc thừa nhận sự tách biệt tương đối giữa quyền SH thuộc về Nhà nước

và quyền QLKD thuộc các DN là nhận thức căn bản để làm sáng tỏ ba vấn đề lý luận thực tiễn quan trọng sau:

+ Thừa nhận tính khách quan của quan hệ hàng hóa – tiền tệ giữa các DNNN với nhau và giữa họ với NN

+ Đó là cơ sở để giải quyết quan hệ đất đai, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN

+ Luận điểm đó là hướng căn bản, lâu dài để xử lý cải cách quản lý

DNNN, tách chủ SH vốn với chủ quản lý KD theo cơ chế thị trường

2.2 Nhận thức về tách biệt tương đối giữa quyền sở hữu với đa dạng hóa các loại hình sở hữu trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam.

Trang 22

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh

tế đa dạng ngày càng phát triển

Mỗi PTSX bao giờ cũng có một loại hình SH đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo, đồng thời còn tồn tại các loại hình, hình thức SH khác cùng tồn tại

Thực tiễn của thế giới đương đại cho thấy, ở bất cứ nước nào, dù mức độ phát triển kinh tế và chế độ chính trị có khác nhau, vẫn tồn tại khách quan nhiều loại hình, hình thức SH, trong đó có một loại hình SH giữ vai trò thống trị và là

tên gọi chung của chế độ SH đó Ví dụ: chế độ SH nô lệ, PK, TBCN…

Trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta tồn tại ba loại hình (chế độ) SH cơ

bản: SH toàn dân, SH tập thể và SH tư nhân

Mỗi loại hình SH lại có nhiều hình thức SH cụ thể khác nhau - luôn biếnđộng và ngày càng xuất hiện thêm những hình thức SH mới, hoàn thiện hơn

Trang 23

Nhận thức mới cần phải xác lập một hệ thống đa dạng các loại hình vàhình thức SH…phải coi việc củng cố, hoàn thiện chế độ công hữu XHCN như làmục đích vừa là phương tiện để xây dựng đất nước phát triển theo định hướngXHCN Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần vận dụng đa dạng loạihình, hình thức sở hữu, làm cho các hình thức sở hữu cụ thể phù hợp với tínhchất và trình độ lực lượng sản xuất, nhờ đó mà khai thác được mọi tiềm năngcủa lực lượng sản xuất trong nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế pháttriển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ, phùhợp.

Thực tế những năm đổi mới, chúng ta đã khác phục chế độ công hữu hìnhthức, có tính áp đặt, đã làm xuất hiện nhiều hình thức sở hữu phong phú Nhờ

đó, mà khai thác được tiềm nămg của các thành phần kinh tế, làm cho quan hệ

sở hữu phù hợp, thích ứng với trình độ lực lượng sản xuất Giải quyết đúng quan

hệ sở hữu là giữ được nguồn nuôi dưỡng động lực kinh tế cho sự ổn định kinh tế

- xã hội

Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu có thể coi là một phương tiện đểphát triển kinh tế Nhưng về lâu dài, phải dần dần củng cố, hoàn thiện chế độcông hữu xã hội chủ nghĩa để xây dựng nền tảng kinh tế cho sự phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.Đảng ta đang thúc đẩy mạnh đổi mới,sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, khẩntrương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổngcông ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực theo chốt của nền kinhtế

Vấn đề sở hữu đặt ra là khách quan mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâusắc Với tính chất đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là thựchiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của nhà nước Trong khi cần phải thúc đầy lực lượng sản xuất cònthấp kém phát triển thì tất yếu phải thừa nhận các hình thức sở hữu đa dạng tồntại đan xen, hòa quyện với nhau, sổ sung và cùng phát triển

Trang 24

- Nhận thức được sự biến đổi của đối tượng sở hữu

Ngày nay, dưới tác dụng của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ,lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, đối tượng của sở hữu xuất hiện một nhân

tố mới là "trí tuệ" Đó là những tri thức, thông tin có vai trò đặc biệt quan trọngđối với quá trình sản xuất ra của cải vật chất xã hội

Cho dù đối tượng của sở hữu ngày càng được mở rộng, nhưng điều quantrọng là trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, cần phải nắm được đốitượng chủ yếu của sở hữu, làm chủ những đối tượng sở hữu ấy là điều kiện tiênquyết cho việc làm chủ các quan hệ kinh tế khác

Trong điều kiện nước ta hiện nay, đối tượng chủ yếu của sở hữu vẫn lànhững tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai, tài nguyên, hầm mỏ, nhà máy, cáckết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tiền vốn, các phương tiện kỹ thuật hiện đại… Vìthế, cần nắm vững những đối tượng sở hữu chủ yếu này để có phương thức quản

lý, sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhằm tác động, điều chỉnh các quan hệkinh tế theo những định hướng xã hội nhất định Nhất đối với đất đai, ở nước ta,đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhưng Nhànước giao quyền sử dụng đất cho người dân, các tổ chức theo những mục đíchnhất định thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được các cơ quan nhànước có thẩm quyền xét duyệt, quyết định Nhà nước thu hồi đất do tổ tổ chức,

cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đíchquốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành Đất đai cần phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích,tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chínhđáng của những người sử dụng đất xung quanh

- Đa dạng hóa loại hình và hình thức sở hữu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cần vận dụng đa dạng loại hình,hình thức sở hữu, làm cho các hình thức sở hữu cụ thể phù hợp với tính chất và

Trang 25

trình độ lực lượng sản xuất, nhờ đó mà khai thác được mọi tiềm năng của lựclượng sản xuất trong nền kinh tế nhằm xây dựng một nền kinh tế phát triển caodựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp.

Thực tế những năm đổi mới, chúng ta đã khác phục chế độ công hữu hìnhthức, có tính áp đặt, đã làm xuất hiện nhiều hình thức sở hữu phong phú Nhờ

đó, mà khai thác được tiềm nămg của các thành phần kinh tế, làm cho quan hệ

sở hữu phù hợp, thích ứng với trình độ lực lượng sản xuất Giải quyết đúng quan

hệ sở hữu là giữ được nguồn nuôi dưỡng động lực kinh tế cho sự ổn định kinh tế

- xã hội

Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu có thể coi là một phương tiện đểphát triển kinh tế Nhưng về lâu dài, phải dần dần củng cố, hoàn thiện chế độcông hữu xã hội chủ nghĩa để xây dựng nền tảng kinh tế cho sự phát triển theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.Đảng ta đang thúc đẩy mạnh đổi mới,sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, khẩntrương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổngcông ty nhà nước, tập trung vào một số ngành, lĩnh vực theo chốt của nền kinhtế

Vấn đề sở hữu đặt ra là khách quan mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâusắc Với tính chất đặc điểm của thời kỳ quá độ lên CNXH của nước ta là thựchiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của nhà nước Trong khi cần phải thúc đầy lực lượng sản xuất cònthấp kém phát triển thì tất yếu phải thừa nhận các hình thức sở hữu đa dạng tồntại đan xen, hòa quyện với nhau, sổ sung và cùng phát triển

Câu 6: Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN, bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN, mục tiêu phát triển, các giải pháp hoàn thiện và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN, liên hệ thực tiễn:

1 Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN

Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong

đó các yếu tố đầu vào, đầu ra đều thông qua thị trường, các chủ thể trong nềnkinh tế chịu tác động của các qui luật của thị trường và tìm kiếm lợi ích thôngqua sự điều tiết của giá cả thị trường

Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế tất yếu, khách quan của nền sản xuấtlưu thông hàng hóa đã phát triển Nó ra đời trong tiến trình phát triển của lịch

sử, là sản phẩm của nhân loại Kinh tế thị trường được thừa nhận là thành tựuchung của nền văn minh nhân loại, không phải là cái riêng của chủ nghĩa tư bản

và KTTT không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản

Trang 26

Kinh tế thị trường được phát triển ở các hình thức khác nhau trong lịch sửphát triển, nhưng phổ biến nhất là kinh tế thị trường hỗn hợp và hiện nay cónhiều quốc gia trên thế giới phát triển theo loại hình này Kinh tế thị trường hỗnhợp là nền kinh tế vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa chịu sự điều tiết củaNhà nước.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội những điều kiệnchung để kinh tế hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn tại Do đó sự tồn tại kinh tếhàng hóa ở nước ta là một tất yếu khách quan “Nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộngsản Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những qui luật của kinh tếthị trường, vừa dựa trên cơ sở được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bảnchất của CNXH”

Vì vậy, bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam vừa

có những đặc chưng của nền kinh tế thị trường hỗn hợp, vừa có đặc trưng củađịnh hướng XHCN

2 Bản chất, đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở VN

- Bản chất: Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế

hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trong nền KTTT định hướngXHCN, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huymạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nềnkinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôivới xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêudân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

- Đặc trưng: Kinh tế thị trường ở Việt Nam là KTTT định hướng XHCN,

do đó quá trình phát triển KTTT đồng thời cũng là quá trình tăng cường các yếu

tố bảo đảm định hướng XHCN

Các yếu tố định hướng XHCN mang "tính nội sinh" trong quá trình pháttriển KTTT ở Việt Nam là những "dấu hiệu" hay là tiêu chí để nhận biết bảnchất và phân biệt KTTT nước ta với KTTT các nước khác

7 nội dung định hướng XHCN trong nền KTTT, Đó là: (1)Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; (2)Giải phóng

mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân

dân; (3)Đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo,đồng thời khuyến khích mọi người dân

làm giàu chính đáng và giúp đỡ, tạo điều kiện để người khác thoát nghèo,từng

bước khá giả hơn; (4)Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần

kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền

Trang 27

tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; (5)Thực hiện tiến bộ và công bằng xã

hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế điđôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục…giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì

mục tiêu phát triển con người; (6)Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết

quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các

nguồn khác và thông qua phúc lợi xã hội; (7)Phát huy quyền làm chủ xã hội của

nhân dân bảo đảm vai trò quản lý,điều tiết nền kinh tế Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một hình thức đặc thù của kinh tế thị trường, thể hiện sâu sắc mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường với bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh

tế Đặc trưng cơ bản nhất của kinh tế thị trường là sự tồn tại của nhiều hình thức

sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, đa dạng các loại hình doanh nghiệp trong điềukiện phân công lao động xã hội ngày càng phát triển

Một trong những nội dung mấu chốt, quan trọng nhất trong định hướngXHCN nền KTTT của Việt Nam là phát triển bền vững Phát triển bền vững làmột quá trình phát triển toàn diện kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục…bảo vệ môitrường về sự phát triển con người

3 Về mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:

Ngoài mục tiêu của nền KTTT là lợi nhuận thì mục tiêu của nền KTTT địnhhướng XHCN ở VN nhằm phát triển lực lượng giải phóng sức sản xuất của XH

và từng bước xây dựng tiền đề vật chất cho CNXH thúc đẩy sản xuất phát triểntạo ra nhiều hàng hóa, phong phú về chủng loại và nâng cao chất lượng hànghóa để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân

Về sở hữu và thành phần kinh tế: “phát triển đa dạng các hình thức sở

hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp” và “mọi thành phầnkinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâudài, hợp tác cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo”

Về chế độ phân phối: Công bằng trong phân phối các yếu tố của sản xuất,

tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển, phân phối kết quả làm rachủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng gópvốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội,phúc lợi xã hội Phân phối trong nền KTTT định hướng XHCN ở VN là thôngqua hệ thống chính sách xã hội như: Chính sách phúc lợi xã hội, chính sách ansinh xã hội, chính sách bảo trợ xã hội, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thấtnghiệp, trợ cấp cứu trợ cho những đối tượng, những vùng đặc biệt khó khăntrong sản xuất kinh doanh, thiên tai lũ lụt

Trang 28

Vai trò của nhà nước trong nền KTTT định hướng XHCN: Sự điều tiết

của nhà nước trong nền KTTT ở nước ta được thông qua xây dựng và thực hiệnquy hoạch chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế xã hội theo địnhhướng XHCN; từng bước xây dựng những tiền đề vật chất cho CNXH Đồngthời, để đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển KTTT định hướng XHCN Nhànước tạo môi trường thuận lợi cho SXKD Ngoài ra vai trò của Nhà nước trongnền KTTT định hướng XHCN là sự điều tiết của Nhà nước vào nền kinh tếnhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên quốcgia (trong ngắn hạn, dài hạn), bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế bền vững;bảo vệ lợi ích của nhân dân, lợi ích người lao động, thực hiện các chính sách xãhội

4 Để tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta phát triển hơn nữa, trong thời gian đến cần tập trung thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần

Trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dàichính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Lấy việc phát triểnsức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làmmục tiêu quan trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và cáchình thức tổ chức sản xuất kinh doanh Theo tinh thần đó tất cả các thành phầnkinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, đều được khuyến khích phát triển

Hai là, mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vàng, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường

Mở rộng phân công lao động xã hội nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tếhàng hóa, kinh tế thị trường, khắc phục tình trạng kinh doanh không đúng vớipháp luật

Thúc đẩy, phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực, tác động lantỏa đến các vùng khác, đồng thời tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các vùngkinh tế đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo, tâynguyên, tây bắc, tây nam

Tiếp tục phát triển các loại thị trường, trong đó tập trung 5 loại thị trường

cơ bản, đó là thị trường hàng hóa và dịch vụ; thị trường tài chính (bao gồm thịtrường vốn và thị trường tiền tệ theo hướng đồng bộ, có cơ cấu hoàn chỉnh); thịtrường bất động sản (bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắnliền với đất); thị trường hàng hóa sức lao động, thị trường khoa học công nghê

Ba là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức,coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và công nghiệp hóa, hiện

Trang 29

đại hóa Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giảiquyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân Phát triển nhanhhơn công nghiệp xây dựng, dịch vụ.

Bốn là, giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả

Giữ vững ổn định chính trị là giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản

lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân Điều quan trọng là đổi mới sựquản lý đó để nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý, trước hết làm tốt chức năngtạo môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực

xã hội cho phát triển

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy địnhtrong văn bản pháp luật Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ quan trọng đểquản lý nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Xây dựng đồng bộ thể chế tài chính phù hợp với kinh tế thị trường Kếthợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài chính để ổn định kinh tế vĩ mô,tăng dự trữ ngoại tệ, khuyến khích doanh nghiệp và nhân dân tiết kiệm, đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh

Năm là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi

Hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô phải được kiện toàn phù hợp với nhu cầukinh tế thị trường định hướng XHCN

Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi phùhợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới Đội ngũ này phải có nănglực chuyên môn giỏi, đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường

Sáu là, thực hiện chính sách đối ngoại có lợi cho phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khuvực và thế giới, mới thu hút được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khaithác tiềm năng và thế mạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế

5 Liên hệ trong việc khai thác giải pháp để góp phần xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

- Xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng xác định phải đổi mới tư duy, trướchết là tư duy kinh tế

Đảng ta đã quyết định từ bỏ mô hình tập trung bao cấp, chuyển sang pháttriển nền KTTT định hướng XHCN, coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của thời

kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổchức kinh doanh và hình thức phân phối Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế

Trang 30

thị trường định hướng XHCN, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh, bìnhđẳng, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn địnhkinh tế vĩ mô, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất.

- Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội

Đảng ta đã đề ra chủ trương kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế vàphát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chínhsách và từng bước phát triển Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hộihài hòa với phát triển kinh tế, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắndân tộc, coi văn hóa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của pháttriển

Đảng ta đã quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ,coi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với khoa học, công nghệ là quốc sách hàngđầu Tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo thực hiện đồng bộcác giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ở các cấpngành và nghành học

- Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợptác và phát triển; đã phương hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn,

là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợiích quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập,dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

- Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Đảng CSVN đã rất coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng

là nhiệm vụ then chốt Đảng tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn,làm sáng tổ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về CNXH và con đường đi lênCHXN, những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đổi mới…

Câu 7: CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, tính tất yếu khách quan, nội dung, các điều kiện tiền đề để thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, liên hệ thực tiễn?

Trong bối cảnh mới của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, hộinhập kinh tế quốc tế, hoạt động nghiên cứu nội dung và điều kiện, tiền đề để đẩymạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở VN có vai trò rất quantrọng Đẩy mạnh CNH, HĐH là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giácác thành tựu của công cuộc đổi mới của VN hiện nay Do đó, công tác nghiên

Trang 31

cứu nội dung CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở VN hiện nay đóngvai trò đặc biệt quan trọng trong hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn.

1 Sự cần thiết phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

CNH, HĐH ở VN vốn có xuất phát điểm thấp được tiến hành trong bốicảnh xu hướng kinh tế tri thức và toàn cầu hóa kinh tế tác động sâu sắc với tốc

độ cao đến đời sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia Trong bối cảnh nhiều cơhội và thách thức đan xen, để đi tới một nền kinh tế hiện đại, Việt Nam phải cónhững giải pháp bứt phá Sự lựa chọn giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn vớiphát triển kinh tế tri thức là cấp thiết, với các nguyên nhân cụ thể như sau:

- Một là, Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu

Dù đã trở thành nước có thu nhập mức trung bình, sự phát triển ở nước tavẫn chưa thực sự bền vững Vẫn còn đó những thách thức gay gắt và nhữngnhiệm vụ nan giải Đó là một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản đặt racho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tếcông nghiệp, như bảo đảm lương thực, thực phẩm, nước sạch, trường học, đi lạicho người dân; mặt khác, phải nhanh chóng nắm bắt các xu thể phát triển hiệnđại để chống tụt hậu, đồng thời thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.Bên cạnh vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tri thức với đã trở thành yếu tốquan trọng và trực tiếp đối với quá trình phát triển, thì việc không nhanh chóngnắm bắt và vận dụng được tri thức mới sẽ dẫn đến tụt hậu Do vậy, chúng takhông thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá bằng cách đẩy mạnhCNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức

- Hai là, Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu bắt buộc để tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH

Lịch sử đã chứng minh, mỗi phương thức SX đều dựa trên 1 cơ sở vậtchất - kỹ thuật nhất định để tồn tại và phát triển Cơ sở đó là toàn bộ các yếu tốvật chất của LLSX tương ứng với trình độ kỹ thuật - công nghệ nhất định để lựclượng lao động của XH tiến hành sản xuất của cải Trình độ của cơ sở vật chất -

kỹ thuật xác định nội dung kinh tế, “cốt vật chất” của một thời đại kinh tế, dùng

để phân biệt với phương thức sản xuất chứa đựng nó thuộc loại hình kinh tế - xãhội lịch sử nào

Cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH là nền công nghiệp lớn hiện đại với

cơ cấu kinh tế hợp lý, trình độ XH hóa cao, dựa trên nền tảng khoa học và công

Trang 32

nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên toàn bộ nên kinh tế quốc dân.

Nó không chỉ kế thừa những thành quả văn minh mà nhân loại đã đạt được trongCNTB, mà còn được phát triển và hoàn thành dựa trên những thành tựu mớinhất của khoa học và công nghệ, tham gia tích cực và có hiệu quả vào phân cônglao động và hợp tác quốc tế

- Ba là, Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn

Một trong những nội dung chiến lược của công cuộc đổi mới ở nước ta làxây dựng một nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đểthực hiện chiến lược này, chúng ta phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phảihội nhập sâu hơn, đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và songphương

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia gắn kết nền kinh tế củanước mình với nền kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự dohóa, mở cửa kinh tế trên các cấp độ song phương, đa phương và giảm thiểu sựkhác biệt để trở thành một bộ phận hợp thành chỉnh thể nền kinh tế toàn cầu Nókhông chỉ đơn thuần là quá trình hợp tác, mà còn là quá trình cạnh tranh có tínhquyết định sống còn giữa các doanh nghiệp và các nền kinh tế quốc gia

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những thách thức cạnh tranhgay gắt giữa các doanh nghiệp và các nền kinh tế Thành công trong cuộc cạnhtranh này, tất nhiên sẽ thuộc về các doanh nghiệp và quốc gia có lợi thế về trithức khoa học và công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Quốcgia nào dù có giàu về tài nguyên thiên nhiên và nhân công dồi dào, giá tàinguyên và giá nhân công rẻ thì cũng sẽ dần dần bị mất lợi thế do tri thức ngàycàng trở nên quyết định nhiều hơn trong giá trị sản phẩm

Điều này nghĩa là, để tồn tại và phát triển trong hội nhập, nước ta phải đẩymạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi tri thức là đòn bẩy làmtăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế thúcđẩy hội nhập

- Bốn là, Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức còn

do tác động nhiều mặt của bản thân nó đối với đời sống kinh tế, chính trị xã hội

Ngoài những sự cần thiết trên, việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với pháttriển kinh tế tri thức ở nước ta còn do chính tác động tích cực của quá trình nàyđối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Nó không chỉ tạo ra cơ sở vật chất -

Trang 33

kỹ thuật và kiểu tổ chức một nền kinh tế mới, thúc đẩy mạnh mẽ phân công laođộng xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, bảo đảm khôngngừng nâng cao năng suất lao động xã hội mà còn sớm tại ra cơ sở vật chất - kỹthuật tiên tiến hiện đại để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực củađất nước cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo nhiều việc làm và tăng thu nhậpcho người lao động.

Những thành quả đã đạt được trong CNH, HĐH những năm qua và sựquan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước là những điều kiện, khả năng thực tế rấtquan trọng để nước ta có thể thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH gắnvới phát triển kinh tế tri thức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) củaĐảng đã đề ra đường lối gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức Đườnglối này luôn được bổ sung và phát triển Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định:

“Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện CNH, HĐH đất nước gắnvới phát triển kinh tế tri thức”

2 Nội dung chủ yếu của đẩy mạnh CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Trong bối cảnh xu hướng trên thế giới đang chuyển mạnh lên nền kinh tếtri thức và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đã và đang tác động sâu sắc đến đờisống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫn trong tìnhtrạng của một nước có điểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố lạc hậu, phát triển thiếubền vững, cơ hội và thách thức đan xen, để đi tới một nền kinh tế hiện đại, Việt

Nam phải có những giải pháp bứt phá Với các nội dung chủ yếu sau:

Một là, lựa chọn việc trang bị công nghệ tiên tiến, hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân, đây là một nội dung cơ bản của CNH, cần được kết

hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, kết hợp phát triển công nghệ nội sinh với phát triển công nghệ ngoại sinh bằng nhiều con đường

Phải kết hợp xây dựng cơ cấu kỹ thuật, công nghệ nhiều tầng, nhiều quy

mô, nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ tiên tiến, cải tiến công nghệ truyềnthống, coi trọng loại công nghệ có vốn đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh, tạo nhiềuviệc làm với mạnh dạn bỏ qua một số giai đoạn

Phải sử dụng tri thức mới để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và đẩynhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Phải “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng,lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố

Trang 34

quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH” Phát triển mạnh các ngành và sảnphẩm có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức Kết hợp việc sử dụng nguồnvốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới của nhân loại.

Phải nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xãhội Phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộngsang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừachú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững

Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao

CCKT là tổng thể các yếu tố cấu thành kinh tế của một cơ sở, một ngành,một vùng hay nền kinh tế, các bộ phận này quan hệ chặt chẽ với nhau có tính hệthống, tác động lẫn nhau để có thể phát triển và được thể hiện bằng tỷ trọng củamỗi bộ phận trong tổng thể

Chuyển dịch CCKT là quá trình thay đổi cấu trúc của các yếu tố cấu thành

cơ cấu đó theo một chủ đích và phương hướng nhất định

Do nguồn lực sản xuất có giới hạn mà nhu cầu sản phẩm ngày càng tăngnhanh, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một doanh nghiệp cũng như củamột nền kinh tế không phải là bất kỳ hay theo ý muốn chủ quan duy ý chí, mà

phải là một sự lựa chọn chiến lược dựa trên cơ sở khoa học

3 Những điều kiện tiền đề cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Thứ nhất, bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội

Ổn định chính trị: thể hiện qua việc tính nhất quán, đồng bộ và ổn định của

đường lối, chính sách; có cơ sở khoa học trong việc hoạch định và triển khaiđường lối, chính sách CNH, HĐH

Ổn định về kinh tế: trước hết là ổn định thị trường, ổn định giá cả, kiểm

soát được lạm phát, môi trường cạnh tranh phải lãnh mạnh

Ổn định về xã hội: trật tự an toàn xã hội phải được giữ vững

Hai là, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực có vai trò quyết định tốc độ và chất lượng của sự phát

triển KT - XH Để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, cầnphải có trình độ dân trí cao, người lao động có khả năng sáng tạo cao, ham muốnhọc hỏi một cách tự giác, có khả năng thích ứng và tính linh hoạt cao Muốn

Trang 35

vậy, phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài,phải ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo, thực sự coi đó là quốc sách hàng đầu.

Phải tiến hành cải cách toàn diện giáo dục và đào tạo, coi đó là nhiệm vụ cấp

bách

Ba là, phát triển khoa học và công nghệ

Xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối,chủ trương CNH, HĐH gắn với KTTT đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh

Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học

Mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp cần lựa chọn cho mình phương hướng, nộidung, bước đi, biện pháp ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất và đời sống

Phát triển sâu rộng quan hệ liên kết kinh tế giữa khoa học với sản xuất,đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất thông qua các hình thức đa dạng vàhiệu quả

Tổ chức lại các viện nghiên cứu và các trường Đại học theo hướng tậptrung và kết hợp có hiệu quả các nguồn lực, gắn nghiên cứu khoa học với đàotạo

Bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển KH - CN với những bước đi phùhợp

Bốn là, tạo lập nguồn vốn đầu tư

Vốn là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất xãhội Trong quá trình CNH-HĐH của nước ta hiện nay vốn càng có vai trò quantrọng hơn lúc nào hết, trong đó nguồn vốn trong nước là cơ bản; nguồn vốn từbên ngoài rất quan trọng nhất là trong thời kỳ đầu CNH-HĐH

Năm là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế là một một đòi hỏi thiết yếu trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức

Thông qua việc mở rộng này mà chúng ta có thể phát huy lợi thế của đấtnước và tranh thủ vốn, khoa học và công nghệ từ bên ngoài để đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát trển kinh tế tri thức

Sáu là, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của NN với phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

Trang 36

Để hoàn thành tốt vai trò này, Đảng phải đi tiên phong trong công cuộcđổi mới, NN phải nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách, nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý đối với toàn bộ tiến trình CNH, HĐH đất nước.

4 Liên hệ thực tiễn đối với đơn vị công tác của mình để góp phần tạo

ra các tiền đề trên

- Bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội: Cần thực hiện tốt chủtrương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước góp phần ổnđịnh chính trị, kinh tế và xã hội của địa phương

- Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực:

+ Chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài,phải ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo, thực sự coi đó là quốc sách hàng đầu

+ Nâng cao chất lượng toàn diện cho người lao động về trình độ chuyên

môn, kỹ năng và văn hóa nghề nghiệp, lao động

- Phát triển khoa học và công nghệ:

+ Ngành, mỗi doanh nghiệp lựa chọn phương hướng, nội dung, bước đi,biện pháp ứng dụng tiến bộ KHCN vào sản xuất và đời sống

+ Phát triển sâu rộng quan hệ liên kết kinh tế giữa khoa học với sản xuất,đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất thông qua các hình thức đa dạng vàhiệu quả

- Tạo lập nguồn vốn đầu tư:

+ Giải quyết tốt quan hệ giữa đầu tư, tiết kiệm và tiêu dùng

+ Quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trong tất cả các khâu: bố trí

cơ cấu đầu tư, cấp phát và cho vay vốn, xây dựng cơ bản, sử dụng vốn và tàisản

+ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất, kinh doanh Thực hiện tiết

kiệm, coi tiết kiệm là quốc sách trong các hoạt động kinh tế - xã hội

- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế là một một đòi hỏi thiếtyếu trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức: tranh thủvốn, khoa học và công nghệ từ bên ngoài để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với pháttrển kinh tế tri thức

Trang 37

- Bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của NN với phát huy đầy đủ quyền làm chủ

của nhân dân: ở đơn vị mình đã làm

Câu 8 Phân tích những giải pháp để nâng cao hiệu quả của các thành phần kinh tế ở Việt Nam?

Để phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,các thành phần kinh tế phải được dần dần cải biến, nhưng không thể “xóa bỏ’hay “chuyển đổi” các thành phần kinh tế một cách chủ quan duy ý chí, mà phảicăn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tính chất của từng ngànhnghề và tùy thuộc vào khả năng tổ chức và quản lý của Nhà nước xã hội chủnghĩa mà từng bước hình thành quan hệ sản xuất mới từ thấp đến cao, với sự đadạng về các hình thức sở hữu

Vì vậy, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, không nhữngchỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế, mà còn phảithực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Ở nước ta, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, có các

thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế

có vốn đầu tư nước ngoài Các thành phần kinh tế có mối liên hệ mật thiết với

nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn và hợp thành cơ cấu thành phần kinh tế củanền kinh tế quốc dân thống nhất

1 Kinh tế nhà nước

Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu nhà nước về tưliệu sản xuất, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước và tài sản nhà nước có thểđưa vào vòng chu chuyển kinh tế như ngân sách nhà nước, các quỹ bảo hiểmnhà nước, quỹ dự trữ quốc gia, cơ sở vật chất của quốc phòng, an ninh, kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội, phần vốn nhà nước góp vào các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế khác, các tài nguyên quốc gia và tài sản thuộc sở hữu toàndân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu như đất đai, tài nguyên, rừng, biển, hầmmỏ…

Giải pháp: Để xây dựng kinh tế nhà nước thực sự giữ được vai trò chủ

đạo trong nền kinh tế, tạo sức mạnh vật chất cần thiết để nhà nước có thực lựclàm chức năng định hướng một cách hữu hiệu, kinh tế nhà nước cần tập trungphát triển trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu như: kết cấu hạ tầng kinh tế - xã

Trang 38

hội; ngân sách nhà nước; tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất vàthương mại dịch vụ then chốt; một số doanh nghiệp nhà nước và những cơ sở cóquan hệ đặc biệt đối với quốc phòng - an ninh… có quy mô nói chung thuộc loạivừa và lớn, công nghệ hiện đại, kinh doanh có hiệu quả.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, cần đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệpnhà nước theo hướng:

Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; chuyển đổi doanhnghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; giao, bán,khoán kinh doanh, sáp nhập những doanh nghiệp nhà nước yếu kém mà Nhànước không cần nắm quyền sở hữu

Khẩn trương cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế

và tổng công ty nhà nước, tập trung vào một số lĩnh vực then chốt của nền kinh

tế như lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọngcủa nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích , từng bước xây dựng các doanhnghiệp mang tầm khu vực và toàn cầu

Giải quyết đúng mối quan hệ giữa quyền sở hữu của Nhà nước và quyềnquản lý kinh doanh của các chủ thể là doanh nghiệp nhà nước nhằm nâng caotính tự chủ về sản xuất kinh doanh, về tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranhcủa các doanh nghiệp nhà nước để phát triển, bảo toàn và tăng thêm vốn nhànước giao, làm ăn có lãi, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước

Nghiên cứu và ban hành kịp thời các quy định về thực hiện quyền chủ sởhữu, tách chức năng đó với chức năng quản lý sản xuất – kinh doanh để doanhnghiệp có quyền chủ động trong hoạt động kinh doanh

Xác định đúng đắn, cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của hội đồng quản trị

và giám đốc doanh nghiệp đối với vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; xâydựng và hoàn thiện những cơ chế quản trị doanh nghiệp phù hợp với tái cấu trúccủa doanh nghiệp nhà nước

Đổi mới tổ chức, cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công phù hợpvới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Với chủ thể là các đơn vị sựnghiệp công thuộc kinh tế nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận làchính (trường học, bệnh viện, giao thông công cộng…), cần có chính sách, cơchế riêng sao cho vừa bảo đảm mục tiêu xã hội, vừa sử dụng có hiệu quả cao cácnguồn lực xã hội

Đối với tài sản nhà nước: tăng cường công tác quản lý, sử dụng có hiệu

quả tài sản của Nhà nước

Trang 39

Trước hết là nâng cao hiệu quả phân phối, sử dụng ngân sách nhà nước Chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước phải theo quy hoạch, kếhoạch, tránh đầu tư dàn trải, không có trọng tâm, trọng điểm, chậm đưa các côngtrình đã đầu tư vào sử dụng, đầu tư không đúng chỗ, gây lãng phí tiền của Nhànước Thực hiện đấu thầu trong mua sắm tài sản công

Sử dụng một cách tiết kiệm tài sản công ở các cơ quan nhà nước, các tổchức chính trị - xã hội

Quản lý và sử dụng có hiệu quả đất đai, tài nguyên, các kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội của đất nước…

2 Kinh tế tập thể

Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợptác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và tập thể, liên kết rộng rãi nhữngngười lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ,không giới hạn quy mô và lĩnh vực sản xuất kinh doanh

Giải pháp: Phát triển kinh tế tập thể phải căn cứ vào vào sự phát triển lực

lượng sản xuất, căn cứ vào đặc điểm công nghệ, trình độ kỹ thuật và trình độquản lý trong từng ngành

Cần phát triển rộng rãi các hình thức hợp tác trong các ngành nghề, vớiquy mô và mức độ tập thể hóa khác nhau, tùy theo từng điều kiện cụ thể theonguyên tắc tự nguyện cùng có lợi

Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chuyển sang hình thức hợp tác xãkiểu mới, hợp tác hóa chủ yếu ở khâu làm dịch vụ đầu vào và đầu ra, còn khâusản xuất để cho hộ gia đình có quyền tự chủ, khi đủ điều kiện thì mới chuyểnsang hợp tác hóa cả khâu sản xuất

Ban quản trị hợp tác xã cần tổ chức dịch vụ ở những khâu, những lĩnh vực

mà hộ xã viên không có điều kiện làm, hoặc làm riêng lẻ không hiệu quả bằnghợp tác xã làm

Trong quá trình sản xuất - kinh doanh, các hợp tác xã từng bước xây dựngquỹ tích lũy, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật để tăng sức mạnh kinh tế hợp tác

xã, hỗ trợ cho kinh tế hộ xã viên

Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ một cách hợp lý đối với kinh tế tập thể,tạo điều kiện phát triển các trang trại ở nông thôn và hình thành hợp tác xã củacác chủ trang trại

Trang 40

3 Kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệusản xuất và lao động của chính người sản xuất hoặc sử dụng lao động làm thuê.Kinh tế tư nhân là lực lượng kinh tế quan trọng trong thu hút được nhiều vốn vàlao động, tạo nhiều công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, ứng dụng côngnghệ mới; có quy mô hợp lý, thích nghi, nhạy bén với tình hình thị trường, cónhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý Kinh tế tư nhân là một trong những động lựcphát triển của nền kinh tế

Giải pháp:

Xóa bỏ mặc cảm đối với kinh tế tư nhân; đặt lòng tin và gây chữ tín giữaNhà nước với các chủ thể của kinh tế tư nhân

Bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của họ

Hoàn thiện thể chế, chính sách khuyến khích phát triển mạnh các loại hìnhkinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế

Khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, sửdụng công nghệ mới, hiện đại, thu hút nhiều lao động với các chính sách ưu đãi

Khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ ởnông thôn; Nhà nước cần giúp đỡ tổ chức lại quá trình sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, siêu nhỏ, các trang trại, hộ sảnxuất kinh doanh, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn

Tạo điều kiện hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân và khuyến khích

tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, mở rộng liên doanh, liên kếtgiữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân

Tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân thông qua việc đăng

ký kinh doanh, kiểm tra, kiểm soát theo luật định Nhà nước tăng cường các biệnpháp hướng dẫn các chủ doanh nghiệp tư nhân làm giàu đúng pháp luật, chốnggian dối, lừa đảo người tiêu dùng, lừa đảo người góp vốn kinh doanh, trốn lậuthuế

Cần khuyến khích các chủ doanh nghiệp tư nhân bán cổ phiếu ưu đãi chongười lao động trong doanh nghiệp, xây dựng quan hệ hợp tác giữa chủ và thợtrên cơ sở bảo đảm lợi ích hợp pháp của cả hai bên

4 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Ngày đăng: 13/04/2017, 23:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w