Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm: Không thừa nhận sự tồn tai kquan của VC Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác:Thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự vật, hiện tượng, của thế giới vật chất, coi vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai.Song khuynh hướng chung là đi tìm bản nguyên ban đầu của thế giới. Đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể, với thuộc tính của nó (do lẫn lộn vật chất với tư cách là một phạm trù nhận thức luận với cấu tạo của nó như là đối tượng của khoa học cụ thể)
Trang 1TẬP VÀ ÔN THI MÔN TRIẾT HỌC (KHÔNG SOẠN THEO GIÁO TRÌNH, SOẠN THEO ĐƠN VỊ KIẾN THỨC CẦN NẮM, GIÚP SINH VIÊN NẮM CHẮC MÔN TRIẾT HỌC NHANH
NHẤT) PHẦN I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LÊNIN
* Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm: Không thừa nhận sự tồn tai kquan của VC
* Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác:
-Thừa nhận sự tồn tại khách quan của sự vật, hiện tượng, của thế giới vật chất,coi vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai.Song khuynh hướng chung là đi tìmbản nguyên ban đầu của thế giới Đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể, với thuộc tínhcủa nó (do lẫn lộn vật chất với tư cách là một phạm trù nhận thức luận với cấu tạo của
nó như là đối tượng của khoa học cụ thể)
*Quan điểm của Mác, Ang ghen:
Các ông không đưa ra định nghĩa kinh điển về VC nhưng đã chỉ ra những vấn đề
có tính nguyên tắc để nghiên cứu VC với tính cách là phạm trù triết học Theo Mác vàĂng ghen, VC với tính cách là phạm trù triết học thì không tồn tại cảm tính hữu hình
và chỉ có thể nhận thức được bằng con đường trừu tượng hoá
* Định nghĩa vật chất của Lênin:
Trong tác phẩm “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, Lênin
đã định nghĩa: “ vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc và cảm giác”
Phân tích những nội dung định nghĩa vật chất :
*Vật chất là phạm trù triết học, là sự xác định “góc độ” của việc xem xét sự
khác mhau giữa quan niệm triết học về bản chất của vật chất với các quan niệm của
Trang 2khoa học tự nhiên về cấu trúc và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng vật chấtkhác nhau.
-Với tư cách là một phạm trù triết học, vật chất phản ánh thể hiện thế giới quan(mối quan hệ con người và thế giới xung quanh) và hướng đến sự giải quyết vấn đề cơbản của triết học (mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy)
-Vật chất là một phạm trù triết học rộng nhất, bao quát nhất, nên không thể địnhnghĩa bằng cách thông thường trong lôgíc học Vật chất chỉ có thể định nghĩa đượcbằng cách đặt nó trong quan hệ đối lập với ý thức xem cái nào có trước, cái nào quyếtđịnh cái nào
* Thuộc tính chung phổ biến cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan”
“tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
-Vật chất là vô cùng tận, nó có vô vàn các thuộc tính khác nhau rất đa dạng vàphong phú mà khoa học ngày càng tìm ra, phát hiện thêm những thuộc tính mới của
nó Trong tất cả các thuộc tính của vật chất thì thuộc tính “thực tại khách quan” tức sựtồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức của con người, là thuộc tính chung nhất, vĩnhhằng nhất, đối với mọi dạng, mọi đối tượng khác nhau của vật chất Vì thế, Lênin xemthực tại khách quan là “thuộc tính duy nhất” của vật chất
-Đây chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất là cái gì không phải là vậtchất, cả trong tự nhiên lẫn trong đời sống xã hội Tất cả những cái gì nếu nó tồn tại bênngoài và độc lập với ý thức của con người thì đều là những dạng khác nhau của vậtchất (như những quy luật kinh tế- xã hội, những quan hệ sản xuất của xã hội tuykhông tồn tại dưới dạng các vật thể, không manh thuộc tính khối lượng, năng lượng,không có cấu trúc phân tử, nguyên tử nhưng chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức
và quyết định ý thức nên chúng là vật chất dưới dạng xã hội)
*Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh
-Vật chất với tư cách là phạm trù triết học thì không tồn tại cảm tính, Song VCkhông tồn tại vô hình, trừu tượng mà nó biểu hiện ra các sự vật hữu hình, cảm tính.Các sự vật này khi tác động vào cơ quan cảm giác của con người thì gây cho ta cảmgiác (nhận thức) về chúng, cảm giác của chúng ta là bản sao của các sự vật hiện tượng
Trang 3trong thế giới khách quan Cảm giác là tiền đề của mọi sự hiểu biết, nguồn gốc củamọi tri thức.
Vật chất không phải là thần bí, không thể biết mà về nguyên tắc, con người cóthể nhận thức được thế giới vật chất, không có gì con người không thể nhận thức được,chỉ có cái con người chưa nhận thức được mà thôi
Định nghĩa VC là cơ sở lí luận để đấu tranh chống CNDT, CNDV siêu hình vàthuyết bất khả thi tri luận
Định nghĩa VC trang bị thế giới quan khoa học, mở đường cho khoa học tựnhiên tiếp tục phát triển
MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm(CNDT) cho rằng YT là tính thứ nhất, quyếtđịnh VC Quan điểm của chủ nghĩa duy vật(CNDV) siêu hình cho rằng VC là tính thứnhất, quyết định YT nhưng không thấy sự tác động trở lại của YT đối với VC
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng(CNDVBC) khẳng định: VC và
YT có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó VC quyết định YT, YT có tác độngtrở lại to lớn đối với VC
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
+ VC là tất cả những gì tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào YT YT là sảnphẩm của dạng VC có tổ chức cao, đó là bộ óc người; “là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan”
+ Sự đối lập giữa VC và YT chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong phạm vi nhận thứcluận để xác định cái nào có trước, cái nào có sau Ngoài ra, sự đối lập đó chỉ có ýnghĩa tương đối vì YT tác động trở lại VC' “lí luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi
nó thâm nhập vào quần chúng”
Trang 4YT tác động trở lại VC theo hai chiều hướng cơ bản Đó là, khi YT phản ánhđúng đắn hiện thực khách quan thì sẽ tác động trở lại một cách tích cực, thúc đẩy sựphát triển hợp quy luật của hiện thực khách quan Ngược lại, khi YT phản ánh sai lệchhiện thực khách quan thì sẽ tác động trở lại nó một cách tiêu cực, kìm hãm sự pháttriển của hiện thực khách quan Song, sự kìm hãm này cũng chỉ có ý nghĩa tương đối.
* ý nghĩa phương pháp luận rút ra :
- Trong nhận thức và hoạt động phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng
và hành động theo quy luật khách quan Chống chủ quan duy ý chí, làm bừa, làm ẩu,bất chấp quy luật khách quan
- Phải phát huy cao độ vai trò năng động chủ quan của con người trong nhậnthức và cải tạo hiện thực khách quan Chống thụ động dựa dẫm, ỷ lại cho điều kiệnkhách quan
*Vận dụng giải quyết MQH giữa khách quan(KQ) và chủ quan(CQ) trong các hoạt động
Mối quan hệ KQ và CQ về thực chất là mối quan hệ giữa con người với điềukiện hoàn cảnhxác định mà con người cần nhận thức và cải tạo Do đó, không đồngnhất với mối quan hệ giữa VC và YT
+ Cái KQ là tất cả những hiện tượng vật chất và tinh thần, không phụ thuộc vàochủ thể hành động, hợp thành một hoàn cảnh thường xuyên chi phối nhận thức và hànhđộng của chủ thể
Trang 5Cái KQ gồm có điều kiện khách quan, quy luật khách quan và khả năng kháchquan, trong đó, quy luật khách quan là yếu tố đăc biệt quan trọng Cái KQ không chỉ
có những hiện tượng vật chất mà có cả hiện tượng tinh thần
+ Cái CQ là tất cả những gì phụ thuộc vào ý thức và năng lực của chủ thể đểnhận thức và cải tạo những điều kiện khách quan nhất định
Cái CQ không được quan niệm chỉ là tình trạng bên trong(tâm lý, ý thức ) củachủ thể mà cái “phái sinh” của hoạt động của chủ thể qua các hình thức hoạt động củanó
+ Cái KQ và cái CQ có quan hệ biện chứng với nhau Trong đó cái KQ bao giờcũng quy định cái CQ; cái CQ có tác động trở lại cái KQ,nhận thức và cải tạo cái KQtrên cơ sở những quy luật KQ cho phép, thông qua hoạt động thực tiễn của con người
NGUỒN GỐ CỦA Ý THỨC
Ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
1 Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
- Ý thức là đặc tính riêng của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ nãongười Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức Hoạt động ý thức chỉ diễn ra trong
bộ não người, trên cơ sở các quá trình sinh lý thần kinh của não
- Ý thức là là sự phán ánh thế giới khách quan vào bộ não người Phải có sự tácđộng của thế giới vật chất xung quanh lên bộ não người thì ý thức mới có nội dung của
nó
KL: Bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới vật chất xung quanh) và sự tác động của thế giới vật chất xung quanh lên bộ não người là nguồn gốc tự nhiên của ý
thức
2 Nguồn gốc xã hội của ý thức
- Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành con người và xã hội loàingười nhờ hoạt động lao động và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ
- Lao động là hoạt động đặc thù của con người làm cho con người và xã hội loàingười khác hoàn toàn với các loài động vật khác
- Trong quá trình lao động, con người đã biết chế tạo các công cụ để sản xuất racủa cải vật chất Công cụ ngày càng phát trỉen làm tăng khả năng của con người tácđộng vào tự nhiên, khám phá và tìm hiểu tự nhiên, bắt tự nhiên bộc lộ những thuộc
Trang 6tính của mình Quá trình đó cũng làm biến đổi chính bản thân con người, làm cho conngười ngày càng nhận thức sâu hơn thế giới khách quan.
- Chính nhờ có quá trình lao động, bộ não người phát triển và ngày càng hoànthiện, làm cho khả năng tư duy trừu tượng của con người ngày càng phát triển Hoạtđộng lao động của con người đã đưa lại cho bộ não người năng lực phản ánh sáng tạo
về thế giới
- Lao động sản xuất là cơ sở của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ Trong laođộng, con người tất yếu có những quan hệ với nhau và có nhu cầu trao đổi kinhnghiệm Từ đó ngôn ngữ ra đời và phát triển cùng với lao động
-Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, là phươngtiện để con người giao tiếp với nhau, phản ánh một cách khái quát sự vật Nhờ có ngônngữ, con người tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế
Nếu như nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần thì nguồn gốc xã hội là điều kiện
đủ để hình thành ý thức của con người Như vậy, ý thức của con người là sản phẩmcủa quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử xã hội Nguồn gốc trực tiếp quyết định sự rađời và phát triển của ý thức là thực tiễn xã hội
BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức như một thực thể độc lập, là thực tại duynhất, là cái có trước tư đó sinh ra vật chất Chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức làmột dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất
Cả hai quan điểm đó về ý thức đều sai lầm Chủ nghĩa duy vật biện chứng biện chứngkhẳng định: ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo thế giới vật chất vào bộ não
Trang 7người thông qua hoạt động thực tiễn Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thếgiới khách quan.
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Chủ quan theo nghĩa ýthức là hình ảnh của sự vật được thực hiện trong bộ não con người, là sự pảhn ánh thếgiới khách quan thông qua “lăng kính chủ quan của mỗi người, gắn liền với hoạt độngkhái quát hóa, trừu tượng hoá, có định hướng, có lựa chọn nhằm tạo ra những tri thức
về sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnhtinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý ý thức lấy cái khách quan làm tiền đề Nộidung của ý thức là do thế giới khách quan quy định
-Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan có nghĩa ý thức là sựphản ánh sáng tạo, tích cực thế giới khách quan ý thức là sự thống nhất của kháchquan và chủ quan
-Phản ánh ý thức là sáng tạo, do nhu cầu thực tiễn quy định, dựa trên hoạt độngthực tiễn xã hội và là sản phẩm của các quan hệ xã hội ý thức chịu sự chi phối chủ yếucủa các quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiệnthực của con người quy định ý thức mang bản chất xã hội
Trang 8
NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN
* Vị trí: Nguyên lý phát triển là một trong 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duyvật
* Nội dung: sự vận động đi lên, cái mới thay thế cái cũ là một khuynh hướng chung, tất yếu của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.
* Khái niệm phát triển:
Theo quan niệm của triết học Mác – Lênin , phát triển là quá trình vận động từ thấp ( giản đơn) đến cao( phức tạp), màn nét đặc trưng chủ yếu lầcí cũ mất đi và caío mới ra đời.
Khái niệm phát triển không bao quát mọi sự biến đổi nói chung mà khái quát xuhướng chung của vận động- xu hướng vận động đi lên, cái mới thay thế cái cũ
Khái niệm phát triển không đồng nhất với vận động.Vận động chỉ sự biến đổi, biếnhóa nói chung, dù nó có tính chất khuynh hướng và kết quả thế nào
*Phát triển là một khuynh chung, tất yếu theo những quy luật khách quan ,diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội, tư duy, với nhiều hình thức cụ thể
Phát triển là một khuynh chung, tất yếu theo những quy luật khách quan Những quy
luật khách quan, phổ biến mà phép biện chứng duy vật nghiên cứu đã chỉ ra nguồn gốc động lực; cách thức, trạng thái; khuynh hướng của sự phát triển của các sự vật hiện
tượng
Nguồn gốc động lực của sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập trong sự vật
Cách thức, trạng thái của sự phát triển là đi từ sự tích lũy dần dần về lượng
đến một mức độ nhất định tạo nên sự biến đổi về chất và ngược lại
Khuynh hướng của sự phát triển là tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp nhưng quanh co phức tạp theo đường “xoáy ốc”
Phát triển diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội, tư duy, với nhiều hình thức cụthể
* Phê phán quan điểm siêu hình, quan điểm duy tâm và tôn giáo về sự pháttriển :sự phát triển nếu có là do lực đẩy từ bên ngoài hoặc do lực lượng siêu tự nhiên,chỉ thấy sự phát triển về mặt lượng…
* ý nghĩa:
Trang 9Xác định quan điểm phát triển trong xem xét và cải tạo hiện thực
-Đặt sự vận hiện tượng trong sự vận động, chuyển hóa
- Phát hiện xu hướng biến đổi tích cực, tạo điều kiện để nó trở thành hiệnthực
- Quan điểm đúng về cái mới., phát hiện ủng hộ, vun trồng
- Khắc phục quan điểm tư tưởng bảo thủ, trì trệ, và nhận thức giản đơn về cáimới Phân biệt cái mới đích thực với “cái mới giả hiệu”
NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nguyên lý cơ bản củaphép biện chứng duy vật Theo Ăngghen “Phép biện chứng là khoa học về mối quan
hệ phổ biến”
Nội dung:
Trong thế giới khách quan, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách cô lập,
biệt lập mà chúng là một thể thống nhất, trong đó các sự vật và hiện tượng tồn tại bằngcách tác động nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau
Phép biện chứng nghiên cứu mối liên hệ phổ biến của hiện tượng kháchquan( khác với các quy luật của các khoa học khác nghiên cứu về các mối liên hệ cụthể) Đó là mối liên hệ giữa các mặt đối lập, lượng- chất, chung- riêng … mà cácquy luật, các cặp phạm trù của PBC phản ánh
+ Tính khách quan của mối quan hệ phổ biến: Mối quan hệ là vốn có của sự vật,hiện tượng bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới
+ Tính phổ biến của mối liên hệ trong thế giới khách quan:
Mối liên hệ trong tự nhiên, xã hội, tư duy
Mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố, quá trình của mỗi sự vật hiện tượng
+ Tính đa dạng, phong phú, nhiều vẻ của mối liên hệ của hiện tượng kháchquan: chia theo tính chất, phạm vi, trình độ, vai trò các mối liên hệ Mỗi loại liên hệchỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu trong mối liên hệ phổ biến
ví dụ: có nhiều mối liên hệ: mối liên hệ bên trong bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu thứyếu; mối liên hệ bản chất, không bản chất; mối liên hệ tất nhiên, ngẫu nhiên
Trang 10Mỗi loại liên hệ có vai trò không giống nhau đối với sự vận động phát triển của
sự vật hiện tượng Các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất ,mối liên hệ chủ yếubao giờ cũng có vai trò quyết định sư tồn tại và phát triển của sv, htượng
+ Các mối liên hệ có sự chuyển hóa, làm cho sự vật hiện tượng phát triển khôngngừng
- phương pháp luận chủ yếu:
Để nhận thức và cải tạo sự vật phải nhận thức và biến đổi các mối liên hệ củanó
Phải có quan điểm toàn diện (bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể): Xem xét toàn
bộ các mối liên hệ của sự vật hiện tượng, cả mối liên hệ hiện tại, quá khứ…Phải tìm ramối liên hệ chủ yếu quyết định sự tồn tại, phát triển của sự vật hiện tượng để cải tạothúc đẩy sự vật tiến lên
Khắc phục quan điểm phiến diện một chiều, đấu tranh chống chủ nghĩa triếtchung và thuật ngụy biện
Vận dụng xem xét:
Đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để ở nước ta trong đó có xác địnhkhâu then chốt cần tập trung giải quyết
Quan hệ đổi mới kinh tế VỚI chính trị
Xem xét bản chất của CNTB và thời đại ngày nay
Trang 11QUY LUẬT MÂU THUẪN
Quy luật mâu thuẫn là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
và là hạt nhân của phép biện chứng đó Quy luật này vạch ra nguồn gốc động lực của
sự phát triển
Quy luật này chỉ rõ: mọi sự vật hiện tượng tồn tại vận động với tư cách là một chỉnh thể, gồm những mặt đối lập bên trong nó, những mặt đối lập đó vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau tạo thành nguồn gốc động lực của sự phát triển sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Để làm rõ nội dung quy luật cần phân tích những điểm sau:
+Mọi sự vật hiện tượng đều có những mặt đối lập, đó là những mặt có những đặcđiểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngượcnhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy
+Những mặt đối lập nằm trong cùng bản chất xác định sự vật hiện tượng có liên
hệ tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Một mâu thuẫn biệnchứng ít nhất có 2 mặt đối lập tồn tại trong trạng thái thống nhất và đấu tranh với nhau +sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau củacác mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Sựthống nhất của các mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó Sự thốngnhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự “đồng nhất” và “sự tác động ngang nhau”của chúng
+Tồn tại trong một thể thống nhất, 2 mặt đối lập luôn tác động với nhau, đấu tranhvới nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ vàphủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Đấu tranh của các mặt đối lập có nhiều hình thứctuỳ theo những điều kiện cụ thể
+Với tư cách là 2 trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại giữa 2 mặt đối lập,
sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ biện chứng với nhau Sựthống nhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im tương đối của sự vật, đấu tranh quan hệvới vận động tuyệt đối của sự vật Trong quan hệ như vậy thì thống nhất là tương đối
và đấu tranh là tuyệt đối
Cần phải thấy trong sự thống nhất đấu tranh có đấu tranh, đấu tranh diễn ra trongsuốt quá trình tồn tại và phát triển của sự vật Theo Lênin: Phát triển là một cuộc đấu
Trang 12tranh giữa các mặt đối lập Song, đấu tranh của các mặt đối lập dẫn tới chuyển hoá cácmặt đối lập phải trên cơ sở điều kiện của sự thống nhất của các mặt đối lập Phải hiểu
sự chuyển hoá của các mặt đối lập một cách biện chứng, không máy móc cơ giới Như vậy, sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất giữatính ổn định và tính thay đổi Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy địnhtính ổn định và tính thay đổi của sự vật Do vậy mâu thuẫn chính là nguồn gốc độnglực của sự vận động và phát triển
-Để giải quyết mâu thuẫn tốt phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn,tìm phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổchức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn thực tế Đối với các mâu thuẫn khác nhau phải
có phương pháp giải quyết khác nhau
-Phê phán những quan điểm sai trái tuyệt đối hoá hoặc coi nhẹ một mặt nào trongmâu thuẫn, chủ quan duy ý chí trong nhận htức và giải quyết mâu thuẫn
-Vận dung giải quyết mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong quan hệ đối ngoại mộtcách sáng tạo Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ phải thực hiện nhất quán đường lối đốingoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sánh đối ngoại rộng mở,
đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Viêt Nam là bạn, là đối tác tin cậycủa các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế
và khu vực Nguyên tắc quan hệ là: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng
vũ lực; giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình; tôntrọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi; chủ động tham gia cuộc đấu tranh vì hoàbình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âmmưu thủ đoạn can thiệp , xâm phạm lợi ích của dân tộc
Trang 13QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
Đây là một quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó khái quát xu hướng
đi lên của sự phát triển, vạch rõ mối liên hệ nội tại giữa cái cũ và cái mới trong quátrình phát triển Nhận thức được những nội dung cơ bản của nó không những có ýnghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất cơ bản trong việc vận dụng vào thực tiễn
Nội dung quy luật này như sau: Sự phát triển của sự vật là quá trình cái mới phủ định cái cũ Cái mới vừa loại bỏ cái cũ, vừa kế thừa những cái tích cực trong lòng cái
cũ, theo cơ chế phủ định của phủ định Con đường đi lên trong sự phát triển, không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc Cái mới là cái tất thắng.
Phân tích nội dung quy luật qua những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Theo quan điểm của triết học Mác, để có sự phát triển thì tất yếu phải có sự phủ định biện chứng Nói một cách khác phủ định biện chứng là một mắt khâu tất yếu dẫn
đến sự phát triển Mác nói: “không có lĩnh vực nào lại có sự phát triển mà không phủ địnhnhững hình thức đã có từ trước”
phủ định biện chứng trước hết phải mang tính khách quan nghĩa là sự phủ địnhdiễn ra do việc giải quyết mâu thuẫn nội tại của bản thân sự vật Chứ không phải là do
sự áp đặt từ bên ngoài vào Đặc trưng cơ bản nhất của phủ định biện chứng đó là tính
kế thừa nghĩa là phủ định không phải chỉ đơn giản là việc phá hủy hoàn toàn cáicũ,không phải là sự chặt đứt hoàn toàn phát triển Mà trái lại nó bao hàm việc kế thừanhững hạt nhân hợp lý, trong lòng cái cũ Nó nối liền cái mới với cái cũ trong quá trìnhphát triển, chính vì thế đây là sự phủ định để khẳng định sự phát triển thế giới hiệnthực
Thứ hai: Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, sự phát triển thông
qua những lần phủ định biện chứng mang tính chu kì Điều này có nghĩa là:
+ Cái mới ra đời, không chỉ thông qua những lần phủ định liên tiếp với tính chấtgiống hệt nhau, mà trái lại phải thông qua một số lần phủ định nào đó đủ hợp thànhmột chu kỳ: từ khẳng định đến phủ định và từ phủ định đến phủ định của phủ định, chỉđến đây 1 cái mới đúng nghĩa của nó mới ra đời, sự vật dường như quay trở lại cái banđầu
Số lần phủ định trong một chu kỳ có thể nhiều ít khác nhau Nhưng về thực chấtbao giờ cũng có thể quy về 2 lần phủ định cơ bản đó là phủ định bản chất lần thứ nhất
Trang 14và phủ định biện chứng lần 2, 2 lần phủ định này có vai trò và tính chất hết sức khácnhau.
Nếu phủ định lần thứ nhất là mở đầu cho một chu kỳ, thì phủ định lần thứ 2 lạikết thúc một chu kỳ Nếu như phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật hiện tượng trởthành cái đối lập với cái ban đầu, thì phủ định lần thứ 2 lại làm cho sự vật hiện tượngdường như trở lại cái ban đầu nhưng ở giai đoạn cao hơn Nếu như phủ định lần thứnhất sự kế thừa mới mang tính chất phiến diện, thì phủ định lần thứ 2 sự kế thừa đãmang tính chất toàn diện
Ví dụ: toàn bộ chế độ chiến hữu tư nhân về TLSX (chế độ chiếm hữu nô lệ,phong kiến, tư bản) đóng vai trò phủ định lần thứ nhất nó làm cho các xã hội này đốilập với XH cộng sản nguyên thủy Thì phủ định lần thứ 2 là cách mạng XHCN lại làmcho XH dường như trở lại xã hội cộng sản nguyên thủy nhưng với một trình độ caohơn rất nhiều
Thứ ba: Chính do cơ chế trên đây quy định mà con đường đi lên trong sự phát
triển không thể là một đường thẳng, trái lại quanh co phức tạp Lênin dùng hình ảnh đó
là con đường phát triển theo hình thức “xoáy ốc” Điều này có nghĩa là phát triển là
một khuynh hướng thông qua nhiều giai đoạn Chứ không phải là mang tính trực tuyến.Phát triển là một quá trình phức tạp quanh co vừa có sự kế thừa vừa có sự lập lại, vừa có sựtiến lên và do đó có thể có sự thụt lùi đôi khi rất lớn
( Ví dụ: sự phát triển của CNXH nó vừa có sự kế thừa những thành tựu mà nhânloại đạt được trong XHTB vừa như là lập lại những nguyên tắc của XH cộng sảnnguyên thủy đồng thời lại có những bước tiến lên vượt xa tất cả của tất cả xã hội trướcđây kể cả XHTB, nhưng trong quá trình phát triển ấy, CNXH vẫn có thể gặp phảinhững bước quay, những khủng hoảng, sự thụt lùi như thời gian vừa qua chúng ta đãthấy.)
Mặc dù vậy phủ định của phủ định bao giờ cũng đem đến sự ra đời cái mới cái tiến bộ Cái mới ra đời là tất yếu bởi vì nó xuất hiện phù hợp với quy luật của tiến trình
phát triển sự vật và quá trình ấy cũng là một quá trình liên tục nối tiếp nhau của cácchu kỳ phát triển Cái mới ra đời lúc đầu có thể còn non yếu nhưng nó sẽ phát triển vàtrở thành cáI vô địch
* Ý nghĩa:
Trang 15Đây là cơ sở xác định quan điểm kế thừa đúng đắn, kế thừa có chọn lọc và pháttriển.Cần phải kiên quyết chống lại sự phủ định sạch trơn thái độ chối bỏ quá khứ, hư
vô lịch sử, cũng như chủ trương kế thừa vô nguyên tắc trong quá trình nhận thức vàhoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong quá trình đổi mới hiện nay
+ Phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái mới, tạo điều kiện cho cái mới ra đời mộtcách hợp quy luật thay thế cái cũ, cái lạc hậu
+ Đây chính là cơ sở lý luận khoa học giúp ta hiểu được sự đúng đắn trong quanniệm của Đảng ta thực chất quá độ bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN lên thẳng XHCNnhư nước ta hiện nay
Đảng ta xác định thực chất bỏ qua là bỏ qua QHSX và KTTT TBCN với tính cách
là cái thống trị Bởi vì quan hệ sản xuất TBCN và KTTT TBCN đã là cái cũ, cái lạchậu, dứt khoát bị phủ định.Trong quá trình bỏ qua ấy ta vẫn kế thừa những thành tựu
mà nhân loại đạt được trong XHTB đặc biệt là thành tựu về KHCN, thành tựu về quản
lý nền kinh tế, quản lý xã hội
QUY LUẬT LƯỢNG - CHẤT
Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, nó vạch racách thức trạng thái của sự vận động phát triển của sự vật hiện tượng
Nội cơ bản của quy luật chỉ rõ: bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất vàlượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn đến sự thay đổicăn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy, chất mới ra đời lại tạo điều kiện vàquy định sự biến dổi về lượng cứ như vậy sự vật vận động và phát triển không ngừng
Làm rõ nội dung quy luật qua phân tích các điểm:
+Mọi sự vật đều có mặt lượng và chất của nó Lượng theo quan điểm duy vậtbiện chứng chính là những tính quy định vốn có của sự vật biểu thị số lượng, quy mô,trình độ, nhịp điệu của sự vật và phát triển cũng như của các thuộc tính của nó
+Còn chất chỉ những tính quy định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng,
là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải cái khác tổnghợp các thuộc tính căn bản tạo thành chất căn bản của sự vật Chất của sự vật khôngnhững được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành mà còn bởi cấu trúc của sự vật,bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật đó
Trang 16+Sự thống nhất giữa chất và lượng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Lượngthường xuyên vận động phát triển cách mạng, chất tương đối ổn định Chất và lượngkhông tách rời nhau, một chất nhất định trong sự vật có lượng tương ứng của nó.
+ Sự phát triển của sự vật đi từ sự biến đổi dần dần về lượng đến một mức độnhất định đủ phá vỡ giới hạn “độ” (độ là giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượngchưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật), làm cho chất cũ mất đi, chất mới ra đời.Điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng làm thay đổi về chất của sự vật gọi là điểm nút.Quá trình phát triển của sự vật tạo thành đường nút của những quan hệ về độ Giaiđoạn chuyển hoá về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra đựơcgọi là bước nhảy Bước nhảy có nhiều hình thức phong phú, đa dạng tuỳ theo tính chấtcủa sự vật với những mâu thuẫn vốn có của nó và những điều kiện cụ thể
+Khi chất mới ra đời, xuất hiện một hệ thống những quan hệ mới của sự vật, tạođiều kiện làm thay đổi nhịp điệu, quy mô, tốc độ vận động của lượng của sự vật Đếnmột mức độ nhất định lại làm thay đổi chất của sự vật chính vì thế mối quan hệ lượngchất trở thành quy luật vận động phát triển phổ biến của sự vật trong thế giới
Ý nghĩa:
- Nhận thức sự vật phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó
- Kiên trì tích luỹ về lượng, kịp thời chuyển từ thay đổi về lượng thành chất khi
THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN
Các quan điểm ngoài mácxít về thực tiễn
+ CNDT quan niệm hoạt động thực tiễn là hoạt động ý chí tinh thần
+ CNDV siêu hình đồng nhất hoạt động thực tiễn với một lĩnh vực hay một hìnhthức hoạt động thực tiễn
* Quan điểm của CNDVBC:
1 Khái niệm thực tiễn
Trang 17Thực tiễn là hoạt động vật chất của con người có tính lịch sử xã hội, nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và tư duy.
Thực tiễn là động vật chất, hoạt động diễn ra ngoài đầu óc, được lý luận, tưtưởng dẫn dắt, bằng các giác quan người ta có thể nhận biết được Thực tiễn, tác độngtrực tiếp vào thế giới khách quan bằng các phương tiện vật chất, có khả năng cải biếnthế giới khách quan trên hiện thực
Thực tiễn có tính khách quan, do nhu cầu của con người Thực tiễn có tính lịch
2.Vai trò thực tiễn đối với nhận thức
- Thực tiễn là cơ sở động lực của nhận thức
+ Thực tiễn góp phần sáng tạo ra con người có ý thức, có nhận thức
+ Thông qua thực tiễn, thế giới khách quan bộc lộ bản chất, quy luật, , giúp cho conngười có khả năng hiểu biết, và khả năng khái quát về tự nhiên, xã hội
+ Thực tiễn cung cấp ngày càng nhiều công cụ, phương tiện phục vụ cho quátrình nhận thức
+ Thực tiễn đề ra nhiệm vụ, phương hướng của nhận thức Qua thực tiễn cácmâu thuẫn luôn nảy sinh và đặt ra nhu cầu đòi hỏi tri thức, lý luận chỉ đạo, hướng dẫnthực tiễn
Nhận thức không phải vì mục đích tự thân Nhận thức không phục vụ thực tiễnthì sớm muộn cũng mất phương hướng
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Trang 18Mác “chính trong thực tiễn con người phải chứng minh chân lý”.
+ Tri thức cũ, mới đều phải thường xuyên được kiểm nghiệm, bổ sung, pháttriển
+ Có thể kiểm nghiệm bằng tư duy, bằng lôgíc…; song suy đến cùng cũng phảiqua thực tiễn
Với tư cách là tiêu chuẩn chân lý, thực tiễn vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối.
- Tính tuyệt đối: Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để khẳng định
Tri thức là kết quả của sự phản ánh hình thức khách quan vào đầu óc con người,nên muốn kiểm nghiệm được nội dung phản ánh đó có phù hợp với hiện thực kháchquan hay không? tức là tri thức đó có phải là chân lý hay không thì phải dựa trên căn
cứ khách quan ở bên ngoài lĩnh vực nhận thức, đó là thực tiễn
- Tính tương đối được thể hiện ; thực tiễn luôn vận động biến đổi, phát triển, vì
vậy nhận thức của con người cũng luôn phải biến đổi theo cho phù hợp Do đó, tri thứccủa con người luôn luôn phải được bổ sung, phát triển
Tri thức cũ, mới đều phải mang ra thực tiễn đang diễn ra để kiểm nghiệm, bổsung, phát triển
Chú ý: Có thể kiểm nghiệm tính đúng đắn của nhận thức bằng lôgíc toán, lôgíc
của tư duy v.v song đến cùng đều phải qua thực tiễn
* Ý nghĩa
Đây là cơ sở khoa học để xây dựng quan điểm thực tiễn đúng đắn trong nhậnthức và hoạt động: Phải xuất phát từ thực tiễn để nhận thức,vận dụng và phát triên líluận; luôn sâu sát cơ sở để nắm bắt thực chất tình hình, khắc phục bệnh hình thức
Là cơ sở khoa học để phê phán chủ nghĩa quan liêu, giáo điều, duy tâm, duy ýchí, ngại khó khăn gian khổ…
Trang 19Là cơ sở thực hiện nguyên tắc thống nhất lý luận thực tiễn, học đi đôi với hành
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin”
Quan điểm triêt học chỉ rõ, lý luận là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát
về bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng
Theo Hồ Chí Minh “lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là một khoa học chân chính.
Thực tiễn là hoạt động vật chất của con người có tính lịch sử và xã hội, nhằm cải tạo tự nhiên xã hội và tư duy.
*Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩaMác – Lênin Cơ sở của nguyên tắc này đi từ vai trò của thực tiễn đối với lý luận vàngược lại, từ mục đích nghiên cứu lý luận nhằm cải tạo hiện thực của các nhà kinhđiển Mác – Lênin
* Nội dung nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
Lý luận và thực tiễn có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau trong đó thực tiễn là
cơ sở, động lực và mục đích nhận thức chân lý, lý luận tác động tích cực trở lại thực tiễn +Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức lý luận,Thực tiễn là mục đích của nhậnthức,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
( Xem vai trò của thực tiễn ở vấn đề trước…)
+Vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
Hoạt động thực tiễn chỉ đạt được mục đích khi có lý luận dẫn đường Theo.Lênin”Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”
lý luận( Đặc biệt khi trở thành khoa học) sẽ trang bị cho chủ thể hoạt động thếgiới quan và hệ thống nguyên tắc phương pháp luận khoa học trong nhân thức và hoạtđộng thực tiễn
Lý luận vạch phương hướng hoạt động cho con người ( tránh cho con người phải
mò mẫm, lầm đường, lạc hướng…)
Trang 20Lý luận giúp cho chủ thể xác định những mục tiêu cần đạt, tìm ra biện pháp trongnhững thời điểm lịch sử cụ thể.
Lý luận có vai trò to lớn trong hình thành phát triển nhân cách ( cả phẩm chất vànăng lực) của chủ thể hành động
Hồ Chí Minh dã chỉ rõ mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn “Thực tiễn không
có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thựctiễn là lý luận xuông”
CON ĐƯỜNG BIỆN CHỨNG CỦA QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
V.I.Lênin đã chỉ ra như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng tới thực tiễn - đó là con đường biện chứng của quá trình nhận thứcchân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan”
1 Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình nhận
thức, chủ thể gắn liền với khách thể, với trình độ phản ánh đi vào các mặt, các bộ phậnbên ngoài của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, là cơ sở cho quá trình nhậnthức tiếp theo, với các hình thức phản ánh: cảm giác, tri giác, biểu tượng
- Cảm giác: hình thức đầu tiên của nhận thức cảm tính, là sự phản ánh từng mặt,từng thuộc tính riêng lẻ bên ngoài của sự vật khi các sự vật tác động vào các giác quancủa con người
- Tri giác: được hình thành từ nhiều cảm giác, tổng hợp các cảm giác, cho ta trigiác và sự vật, đem lại hình ảnh về nhiều thuộc tính bên ngoài của sự vật
- Biểu tượng: là hình thức cao nhất của nhận thức cảm tính Thực chất, biểutượng là hình ảnh về sự vật do tri giác đem lại, được lưu giữ, tái hiện nhờ trí nhớ
Nhìn chung ở giai đoạn trực quan sinh động, nhận thức có tính chất cụ thể, sinh động,trực tiếp với sự vật, nhưng mới nhận thức được vẻ ngoài sự vật
Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận thức,
phản ánh toàn diện bản chất, quy luật bên trong của sự vật, hiện tượng; chủ thể khônggắn liền với khách thể, phản ánh một cách tự giác, gián tiếp trong tư duy, bao gồm cáchình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận
Trang 21- Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh khái quátnhững mối liên hệ bản chất, tất yếu mang tính quy luật của một lớp (nhóm) sự vật, haycác sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan Khái niệm được hình thành trên cơ sởthực tiễn và là kết quả của sự khái quát hoá những tri thức do nhận thức cảm tính đemlại bởi chủ thể nhận thức.
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng, bằng cách liên kết các khái niệm đểkhẳng định hay phủ định một thuộc tính, tính chất nào đó của sự vật, hiện tượng
Suy luận là sự kết hợp các phán đoán đã biết làm tiền đề để rút ra một phán đoánmới là kết luận Tính chân thực của phán đoán mới được rút ra phụ thuộc vào tính chânthực của các phán đoán làm tiền đề và việc tuân thủ các quy tắc lôgíc của chủ thể nhậnthức
Như vậy, tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) phản ánh khái quát, gián tiếp sựvật, hiện tượng Nó có thể phản ánh được mối liên hệ bản chất, tất yếu bên trong sựvật
Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) và nhận thức lý tính (tư duy trừu
tượng) là hai giai đoạn khác nhau của nhận thức nhưng thống nhất với nhau Nhậnthực cảm tính đem lại những tri thức phong phú, đa dạng, sinh động trực tiếp về sự vật.Nhận thức lý tính giúp con người hiểu sự vật sâu sắc hơn, đầy đủ hơn Vì vậy, cầnchống chủ nghĩa duy cảm (tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức cảm tính), đồng thờichống chủ nghĩa duy lý (tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính)
2 Từ tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn
Con đường biện chứng của quá trình nhận thức không dừng lại ở nhận thức lý tính.Nhận thức luôn phải dựa trên cơ sở thực tiễn, quay trở về thực tiễn, để được kiểm tra,khẳng định chân lý và bác bỏ sai lầm, bổ sung và phát triển tri thức mới Hơn nữa, mụcđích của nhận thức là phải phục vụ thực tiễn
* Ý nghĩa đối với đổi mới tư duy lý luận ở nước ta hiện nay
Thực chất đổi mới tư duy lý luận ở nước ta hiện nay là trở về với tư duy biệnchứng, tuân theo yêu cầu của con đường biện chứng của quá trình nhận thức
- Đổi mới tư duy là phải phản ánh khái quát, sát đúng tình hình thực tiễn
- Quá trình đổi mới không nóng vội mà là một quá trình thường xuyên có sự bổsung, phát triển
Trang 22- Lý luận và thực tiễn luôn có sự thống nhất.
- Chống giáo điều, chủ quan duy tâm, duy ý chí
- Đòi hỏi vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trongthực tiễn Việt Nam
Trang 23
PHẦN II CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
PHẠM TRÙ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI
Bằng cách là nghiên cứu các lĩnh vực của đời sống xã hội từ nền sản xuất vậtchất và trong tất cả các quan hệ xã hội làm nổi bật những quan hệ sản xuất coi đó lànhững quan hệ cơ bản ban đầu và quyết định các quan hệ khác,là “cái sườn” của toàn
cơ thể xã hội và thêm thịt, thêm da cho cái sườn đó”, Mác đã tìm ra phạm trù hình tháikinh tế xã hội Dựa vào tư tưởng của các nhà kinh điển và thực tiễn, quan điểm Mácxít hiện nay xác định:
Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của CNDVLS, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy.
Phân tích:
+ Phạm trù hình thái kinh tế xã hội dùng để chỉ những xã hội, kiểu xã hội trênthực tế Đây không phải là phạm trù triết học mang tính tư biện thuần tuý chủ quan
+ Phạm trù hình thái kinh tế xã hội vạch ra cấu trúc của hình thái kinh tế xã hội
có các yếu tố cơ bản (không phải tòan bộ) Đó là: LLSX, QHSX( Tổng hợp nhữngQHSX hợp thành CSHT), KTTT
+ Phạm trù hình thái kinh tế xã hội chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa các yếu
tố cơ bản của xã hội tuân theo quy luật khách quan Đó là Quy luật Quan hệ sản xuấtphù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữaCSHT và KTTT
+ Phạm trù hình thái kinh tế xã hội chỉ ra vai trò không ngang bằng nhau củatừng yếu tố trong hình thái kinh tế xã hội Trong đó, LLSX là yếu tố phản ánh trình độkinh tế kỹ thuật, năng lực chinh phục tự nhiên của con người và là yếu tố xét đến cùngquyết định sự vận đông, phát triển của xã hội QHXS là yếu tố chủ yếu thể hiện bảnchất của chế độ xã hội qua mối quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất.KTTT là yếu tố chủ yếu thể hiện bộ mặt đời sống tinh thần của xã hội
* Ý nghĩa phương pháp luận của phạm trù hình thái kinh tế xã hội
- Phạm trù này là phạm trù cơ bản, nền tảng của CNDVLS
Trang 24- Là cơ sở phương pháp luận để nhận thức xã hội và cải tạo xã hội: coi trọng 3yếu tố, 2 quy luật
- Là cơ sở xác định mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường thực hiện:
+Xã hội do nhân dân lao động làm chủ
+ Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuấtchủ yếu
+ Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, làm theo năng lực hưởngtheo lao động có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và phát triển toàn diện
+ Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
+ Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước
QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TÍNH CHẤT VÀ TRÌNH ĐỘ CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
Sự vận động thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế, xã hội luôn tuân theoquy luật xã hội khách quan vốn có của nó không lệ thuộc vào ý thức con người Trong
hệ thống quy luật ấy thì quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất trình độ củalực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định Nhận thức đúng nộidung cơ bản của quy luật này không những có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận mà còn có
ý nghĩa to lớn về mặt thực tiễn, nhất là thực tiễn đổi mới theo định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay
Nội dung quy luật: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là 2 mặt của quátrình sản xuất vật chất xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, LLSXquyết định QHSX, QHSX có tác động trở lại to lớn đối với LLSX Yêu cầu phát triểnnền sản xuất xã hội đòi hỏi phải có sự thống nhất (phù hợp) giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất
QHSX là mối quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực sản xuất vật chất của
xã hội, bao gồm quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất,trong tổ chức và phân công lao động xã hội và sự phân chia của cải lao động sảnxuất.Trong đó quan hệ giữa người ta với nhau đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của xãhội và giữ vai trò quyết định nhất xét đến cùng đối với tất cả các mối quan hệ còn lại
Trang 25Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, phản ánh trình
độ chinh phục tự nhiên của con người, đó là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động(với kỹ thuật, kỹ xảo, kỹ năng lao động của họ) và tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụsản xuất Trong đó người lao động luôn giữ vai trò quan trọng nhất trong lực lượng sảnxuất của xã hội
Tính chất của lực lượng sản xuất, tức là người ta nói đến tính chất xã hội hoá hay
là tính chất cá nhân của công cụ lao động và sản phẩm lao động Còn nói đến trình độcủa lực lượng sản xuất là người ta nói đến trình độ của người lao động và công cụ laođộng
Sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ chúngđều là 2 mặt của quá trình sản xuất vật chất của xã hội Trong quá trình ấy lực lượngsản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, thiếu mộttrong hai mặt này thì xã hội không thể sản xuất được
Sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là sự thống nhấttrong một quan hệ kép Trước hết các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất cũng như cácyếu tố cấu thành lực lượng sản xuất phải thống nhất (phù hợp) với nhau Sau đó quan
hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất, trình độ của LLSX
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với LLSX là sự phù hợp biện chứng của haimặt đối lập nhau trong phương thức sản xuất Trong thực tế không phải khi nào quan
hệ sản xuất được thiết lập cũng hoàn toàn phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượngsản xuất, cho nên sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là phù hợpchứa đựng mâu thuẫn Vấn đề tiếp còn lại là ở chỗ người ta phát hiện và giải quyếtmâu thuẫn ấy như thế nào cho hiệu quả
Tiêu chí đánh giá sự phù hợp của QHSX với LLSX phải dựa vào nhiếu yếu tố cả vềmặt kinh tế và xã hội Trong đó, phải căn cứ chủ yếu vào sự phát triển năng xuất, chấtlượng, hiệu quả của nền sản xuất vật chất (cả trước mắt và lâu dài)
Sự thống nhất (phù hợp) giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là sự phù hợpcủa 2 mặt đối lập có vị trí vai trò, không ngang bằng nhau Trong đó lực lượng sảnxuất là yếu tố năng động nhất, luôn biến đổi, giữ vai trò là nội dung, còn quan hệ sảnxuất thì ổn định hơn so với lực lượng sản xuất, giữ vai trò là hình thức xã hội của sảnxuất.Lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định cả về mặt nội dung,cả về tính chất cũng
Trang 26như sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển đếnmột tính chất và trình độ nhất định, nó sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất và
nó đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất ấy thông qua một cuộc cách mạng để thiếtlập một quan hệ sản xuất mới mở đường cho nó phát triển
Tuy thế, quan hệ sản xuất cũng có vai trò to lớn trong việc tác động trở lại đối vớilực lượng sản xuất Cụ thể là quan hệ sản xuất quy định mục đích xã hội của sản xuất,khuynh hướng phát triển của khoa học và công nghệ sản xuất và thực hiện lợi ích kinh
tế của người lao động.Thông qua đó mà nó tạo động lực và các đòn bẩy tác động trựctiếp đến người lao động Chính vì thế nếu quan hệ sản xuất phù hợp nó sẽ thúc đẩy lựclợng sản xuất phát triển và ngược lại, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp ( tụt hâuhoặc vượt quá xa so với trình độ của LLSX), khi đó sẽ kìm hãm sự phát triển của sảnxuất Tuy nhiên, sự kìm hãm này chỉ tương đối, trong một giới hạn nhất định
Ý nghĩa:
+ Trong cải tạo và xây dựng phương thức sản xuất phả tuân theo quy luật trên
+ Coi trọng cải tạo và xây dựng cả LLSX và QHSX, xây dựng đồng bộ các yếu tốcủa LLSX và các mặt của QHSX, Khoa học
ông được tuyệt đối hoá một mặt, một yếu tố nào
+ việc cải tạo và xây dựng QHSX phải xuất phát từ thực trạng và yêu cầu phát triểncủa LLSX Chống chủ quan, duy ý chí trong tạo dựng các QHSX
Trang 27MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA
CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG CỦA XÃ HỘI
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế củamột hình thái kinh tế xã hội nhất định.Cơ sở hạ tầng hình thành một cách khách quantrong quá trình sản xuất vật chất của xã hội Nó là toàn bộ các quan hệ sản xuất trongmột thể thống nhất chứ không phải là tổng số các quan hệ sản xuất Trong đó, có quan
hệ sản xuất do giai cấp thống trị đại biểu, QHSX này quyết định, chi phối quan hệ sảnxuất khác
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, đạo đức,tôn giáo, nghệ thuật, những tổ chức thiết chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáohội, các đoàn thể ) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Tương ứng với mỗi quan điểm tư tưởng nhất định là một loại tổ chức nhất định để thựchiện nó
*Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng- kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong mộthình thái kinh tế xã hội có sự tác động qua lại giữa chúng với nhau, trong đó cơ sở hạtầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạtầng
+Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Biểu hiện:
- Cơ sở hạ tầng quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng ví dụ: cơ sở hạtầng mang tính chất đối kháng thì kiến trúc thượng tầng sẽ đối kháng về tính chất
-Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung các quan điểm tư tưởng và các tổ chức bộphận trong kiến trúc thượng tầng
- Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi, thay thế của kiến trúc thượng tầng (biếnđổi trong từng hình thái kinh tế và thay thế các hình thái kinh tế xã hội) Trong xã hội có giaicấp, sự biến đổi đó phụ thuộc vào kết quả của đấu tranh giai cấp
+Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng tới cơ sở hạ tầng biểu hiện:
+ ở chức năng chính trị xã hội của kiến trúc thượng tầng: nó bảo vệ, duy trì,củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, phá bỏ việc phục hồi cơ sở hạ tầng cũ,ngăn chặn sự ra đời của cơ sở hạ tầng mới
Trang 28+Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng tác động đến cơ sở hạ tầng bằng nhữnghình thức và vai trò khác nhau Trong xã hội có giai cấp, nhà nước giữ vai trò đặc biệtquan trọng, có tác dụng to lớn nhất và trực tiếp nhất đối với cơ sở hạ tầng Nó có tácdụng quyết định năng lực hiện thực hoá những tất yếu kinh tế vì nó là một lực lượngvật chất có sức mạnh kinh tế.
+ Chiều hướng tác động: nếu KTTT phù hợp với cơ sở hạ tầng sẽ thúc đẩy bảo
vệ cơ sở hạ tầng phát triển Nếu không phù hợp gây thiệt hại cho phát triển kinh tế, cảntrở, kìm hãm phát triển cơ sở hạ tầng
ý nghĩa PPL:
+Trong nhận thức và cải tạo xã hội phải coi trọng cả CSHT và KTTT
+ Việc cải tạo, xây dựng KTTT phải xuất phát từ yêu cầu phát triển CSHT.Chống chủ quan, duy ý chí tạo lập CSHT mà bất chấp CSHT
*Vận dụng phân tích quan hệ kinh tế và chính trị
Kinh tế và chính trị là hai mặt cốt lõi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượngtầng.Trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì kinh tế quyết định chính trị vì kinh
tế là nội dung vật chất của chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Cơ sởkinh tế với tính cách là kết cấu hiện thực sản sinh ra hệ thống chính trị tương ứng vàquy định hệ thống đó Sự biến đổi căn bản của kinh té sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bảncủa chính trị
Chính trị không thụ động , phụ thuộc máy móc vào kinh tế mà có sự tác động trởlại to lớn đối với kinh tế Chính trị vạch ra phương hướng, mục tiêu, định ra các chínhsách và giải pháp để phát triển kinh tế Có Chính trị đúng thì kinh tế mới có thể pháttriển được và ngược lại Vì thế, Lênin đã khẳng định: chính trị không thể không giữđịa vị hàng đầu so với kinh tế
về phương diện thực tiễn: chính trị được biểu hiện tập trung bằng nhà nước có sứcmạnh vật chất tương ứng Nhà nước có tác dụng quyết định năng lực hiện thực hóanhững tất yếu kinh tế
Đảng ta đã vận dụng đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mốiquan hệ kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới đất nước Trên cơ sở đánh giáđúng thực trạng đất nước mà quyết định đổi mới toàn diện cả về kinh tế và chính trị,lấy đổi mới phát triển kinh tế làm nhiệm vụ hàng đầu trọng tâm, trên cơ sở đó từng