1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên

92 438 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác dồn điền đổi thửa đã phục vụ cho việc đáp ứng 03 tiêu chí xây dựng nông thôn mới như sau: + Tiêu chí 1 quy hoạch: Đã thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng thiết

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

VŨ MẠNH TIẾN

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC D ỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA

PH ỤC VỤ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN PHÙ CỪ, TỈNH HƯNG YÊN

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Mạnh Tiến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Cao Việt Hà người đã tận

tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành

luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông

nghiệpViệt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp, bạn bè và người than đã luôn

động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Mạnh Tiến

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng vi

Danh mục hình vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở lý luận về dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 3

2.1.1 Manh mún đất đai và sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa 3

2.1.2 Tác động của dồn điền đổi thửa tới sử dụng đất nông nghiệp 8

2.1.3 Vai trò của dồn điền đổi thửa đối với xây dựng nông thôn mới 8

2.2 Những nghiên cứu về công tác dồn điền đổi thửa trên thế giới và việt nam 10

2.2.1 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 10

2.2.2 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở Việt Nam 16

2.2.3 Công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên 20

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 23

3.1 Địa điểm nghiên cứu 23

3.2 Thời gian nghiên cứu 23

3.3 Đối tượng nghiên cứu 23

3.4 Nội dung nghiên cứu 23

3.4.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội đến công tác dồn điền đổi thửa 23

3.4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên 23

3.4.3 Thực trạng công tác dồn điền ở huyện Phù Cừ phục vụ xây dựng nông thôn mới 23

Trang 5

3.4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dồn điền đổi thửa để

phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phù Cừ 24

3.5 Phương pháp nghiên cứu 24

3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp 24

3.5.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 24

3.5.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm Excel 25

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 26

4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội huyện Phù Cừ 26

4.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên huỵên Phù Cừ 26

4.1.2 Khái quát phát triên kinh tế - xã hội huyện Phù Cừ 32

4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Phù Cừ 39

4.2.1 Tình hình quản lý đất đai 39

4.2.2 Biến động sử dụng đất 43

4.3 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Phù Cừ phục vụ xây dựng nông thôn mới 46

4.3.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên 46

4.3.2 Quá trình tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa 47

4.3.3 Kết quả thực hiện chính sách “dồn điền đổi thửa” đất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện 52

4.3.4 Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới 59

4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phù Cừ 67

4.4.1 Tồn tại, hạn chế trong sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Phù Cừ 67

4.4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Phù Cừ 68

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 69

5.1 Kết luận 69

5.2 Kiến nghị 70

Tài liệu tham khảo 71

Phụ lục 74

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thực trạng manh mún đất đai năm 2010 5

Bảng 2.2 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc 11

Bảng 2.3 Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp ở một số nước Châu Âu 15

Bảng 4.1 Tổng hợp diện tích nhóm đất ngoài đê 29

Bảng 4.2 Dân số, mật độ dân số phân theo đơn vị hành chính xã, thị trấn 36

Bảng 4.3 Biến động sử dụng đất huyện Phù Cừ giai đoạn 2012 - 2014 43

Bảng 4.4 Tình hình dồn điền đổi thửa trong toàn huyện Phù Cừ 52

Bảng 4.5 Thực trạng ruộng đất nông nghiệp huyện Phù Cừ trước và sau dồn điền đổi thửa 55

Bảng 4.6 Tổng hợp ý kiến của người dân về công tác dồn điền đổi thửa tại hai xã Minh Tiến và Đình Cao 57

Bảng 4.7 Tình hình sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa tại 2 xã điều tra 58

Bảng 4.8 Ý kiến của người dân về quá trình sản xuất sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa 60

Bảng 4.9 Quá trình phát triển trang trại giai đoạn 2012 -2014 61

Bảng 4.10 Số lượng gia súc, gia cầm huyện Phù Cừ năm 2012 và năm 2014 62

Bảng 4.11 Giao thông và thủy lợi nội đồng huyện Phù Cừ 63

Bảng 4.12 Ý kiến của người dân về hệ thống tưới tiêu sau khi thực hiện DĐĐT 63

Bảng 4.13 Sự thay đổi vật tư và các thiết bị phục vụ sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa 65

Bảng 4.14 Ý kiến của người dân về hiệu quả sản xuất sau khi dồn điền đổi thửa 66

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Quy mô sản xuất nông nghiệp các vùng 6

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí 2 xã chọn điểm nghiên cứu 24

Hình 4.1 Sơ đồ hành chính huyện Phù Cừ 26

Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu ngành nghề huyện Phù Cừ qua các năm 33

Hình 4.3 Các bước thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Phù Cừ 51

Hình 4.4 Nhà văn hóa thôn Đồng Minh xã Đoàn Đào 54

Hình 4.5 Mô hình cánh đồng mẫu lớn 50 ha ở xã Đình Cao 61

Hình 4.6 Mô hình trang trại chăn nuôi hỗn hợp ở xã Đình Cao 62

Hình 4.7 Đường giao thông nội đồng và kênh tưới cứng hóa ở xã Minh Tiến 63

Hình 4.8 Áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp ở Phù Cừ sau khi dồn điền đổi thửa 65

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Vũ Mạnh Tiến

Tên Luận văn: “Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa đến phục vụ xây dựng nông

thôn mới huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”

- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa

Phương pháp nghiên cứu

- Chọn vùng nghiên cứu

- Khảo sát thực địa

- Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm EXCEL

Kết quả chính và kết luận

1 Phù Cừ là huyện đồng bằng nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Hưng Yên có vị trí

địa lý thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Tổng diện tích tự nhiên của Phù Cừ năm

2014 là 9385,73 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 69,49%, đất phi nông nghiệp chiếm 30,25% và đất chưa sử dụng chiếm 0,26% Trong giai đoạn 2012-2014 cơ cấu kinh

tế của huyện đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ

2 Trong những năm qua, ở huyện Phù Cừ tình hình quản lý sử dụng đất từng bước

đi vào nề nếp, ổn định Nguồn tài nguyên đất đai được khai thác ngày càng có hiệu quả Công tác đo đạc thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 và 1/1000 đã được hoàn thành ở 14/14 xã Công tác cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa đang được tiến hành khẩn trương

3 Trong giai đoạn 2012- 2014, huyện Phù Cừ đã hoàn thành dồn điền đổi thửa đối với 14/14 xã, thị trấn Kết quả là sau DĐĐT toàn huyện còn 18.533 thửa (giảm được 28.362 thửa so với trước DĐĐT) Sau DĐĐT mỗi hộ có bình quân 1,3 thửa (giảm 2,53 thửa/hộ so với trước DĐĐT) với diện tích ruộng/hộ tăng từ 1.152,33ha lên 2.915,81ha tạo điều kiện

Trang 10

thuận lợi thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn, từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên một đơn vị diện tích Cho đến cuối năm 2015 toàn huyện đã có 27 “cánh đồng mẫu lớn” với tổng diện tích 1.228

ha Cùng với đó, toàn huyện có 372 hộ chăn nuôi theo quy mô trang trại, gia trại, trong đó

có 19 trang trại đạt tiêu chí của Bộ NN & PTNT

Công tác dồn điền đổi thửa đã phục vụ cho việc đáp ứng 03 tiêu chí xây dựng nông thôn mới như sau:

+ Tiêu chí 1 (quy hoạch): Đã thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng thiết yếu cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên toàn huyện

+ Tiêu chí 2 - Giao thông: đã có 12/14 xã, thị trấn hoàn thành tiêu chí 70% km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện

+ Tiêu chí 3 - Thủy lợi: đã có 11/14 xã thị trấn hoàn thành tiêu chí 85% km đường kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa

4 Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa, huyện Phù Cừ cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các hộ dân, có những chính sách khuyến nông hợp lý để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới Từ đó, nhân rộng các mô hình làm tốt công tác ra các khu vực trong và ngoài tỉnh phù hợp thực tiễn của địa phương

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Vu Manh Tien

Thesis title: “Evaluation of land consolidation to serve the building of new

countryside in Phu Cu district, Hung Yen province”

- Method of surveying, collecting primary and secondary information

- Selecting the study area

2 Over the past years, Phu Cu district has implemented law enforcement, the situation of land use management has step by step become disciplined, stable The exploitation of land resource has become more effective ; cadastral mapping with ratios of 1/2000 and 1/1000 was established in 14/14 communes and towns The issuance of the certificate changing of rights land after land consolidation is being carried out urgently

3 During the 2012- 2014 period, Phu Cu district completed land consolidation in 14/14 communes and towns The result is that after land consolidation, the district has 18,533 parcels (decreasing by 28,362 plots compared with land consolidation) After

Trang 12

plots/households compared with that before land consolidation) with the acreage of each householde increased from 1.152,33ha to 2.915,81ha, created favorable conditions to promote the restructuring of plants and animals in agriculture and rural development, gradually improving the efficiency of agricultural land use per unit area Until the last os

2015, all district have 27 models of “large field” with sum of area 1,228 hectares Along with that, there have been 372 households engaging in husbandry with farm model, of which 19 farms meet the criteria of the Ministry of Agriculture and Rural Development

Land consolidation has served three criteria of new rural construction as follows : + Criterion 1 - Planned: Completedly implement use planning and infrastructure planning essential for the development of agriculture commodities, industrial , handicraft and services across the district

+ Criterion 2 - Transportation: there is 12/14 communes and towns had completed 70% of kilometers criteria infield spindle is hardened, motor vehicle travel convenience

+ Criterion 3 - Irrigation : there is 11/14 communes and towns had completed 85

% kilometers criteria canals managed by communes solidified

4 Land consolidation has created the premise for the construction of concentrated area of goods production, contributing to improving the efficiency of agricultural production To improve the efficiency of land consolidation, Phu Cu district needs to soon issue certificates of land use right to households, have appropriate agricultural encouraging policies and apply overall solutions to further improve efficiency of land consolidation works for the construction of new countryside, then, replicate good models internally and externally fitting the local practice

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những năm trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cả nước, trong đó điển hình là Luật Đất đai năm 1993 Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ “Ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp” Theo đó ruộng đất được chia đến tận tay người nông dân Những chính sách mới về quyền sử dụng đất đai đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình Đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phòng miền Nam Điều đó đã đưa Việt Nam từ một nước hàng năm phải nhập khẩu một lượng lớn lương thực, vươn lên thành một nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như: gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, thuỷ sản…

Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như nói trên là không thể phủ nhận Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội nhập kinh tế quốc

tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu mà còn là yếu tố quan trọng xây dựng nông thôn (NTM) mới hiện nay Dồn điền đổi thửa (DĐĐT) không phải là một trong những tiêu chí trong xây dựng NTM nhưng dồn điền đổi thửa sẽ giải quyết được cơ bản tình trạng manh mún và phân tán ruộng đất cho người nông dân, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung, thuận lợi để áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa cơ giới hoá vào nông nghiệp, giúp giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu suất lao động, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, tạo quỹ đất để có mặt bằng xây dựng các công trình phúc lợi thực hiện nhóm tiêu chí xây dựng cơ sở vật chất trong nông thôn mới, tạo quỹ đất công cho cơ sở để thực hiện đấu giá huy động nguồn nội lực cho xây dựng nông thôn mới

Trang 14

Nắm bắt được tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ chương “Dồn điền đổi thửa” để việc sử dụng đất có hiệu quả hơn

Trên thực tế, một số tỉnh đã triển khai làm điểm, thậm chí có những nơi đã đưa

ra những chính sách riêng để triển khai dồn điền đổi thửa giữa các hộ xã viên Việc dồn điền đổi thửa cũng đã thành công ở nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng cũng có những địa phương không thành công Mặt khác mức độ thành công ở mỗi nơi là khác nhau: có nơi công việc chỉ diễn ra nhanh chóng trong một vài tháng, nhưng có nơi kéo dài hàng năm, gây tốn kém sức người và tiền của

Phù Cừ là một huyện của tỉnh Hưng Yên đang thực hiện công tác đồn điền đổi thửa, song công tác đồn điền đổi thửa có ảnh hưởng đến việc phục vụ xây dựng nông thôn mới như thế nào thì chưa đánh giá và tổng kết lại để đưa ra các kinh nghiệm, những vấn đề tồn tại và những đề nghị hữu ích cho địa phương thực hiện được hiệu quả hơn

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên”

- Về không gian: địa bàn huyện Phù Cừ

- Về thời gian: biến động sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa (2012-2014)

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Như chúng ta đã biết quy hoạch nông thôn mới phù hợp với các tiêu chí nông thôn mới là rất quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Công tác dồn điền đổi thửa là một phần quan trọng trong việc hoàn thành các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới

Việc đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ nông thôn mới tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên là cơ sở quan trọng để phát huy tốt hơn những ưu thế đã đạt được, tìm ra những tồn tại và đưa ra giải pháp khắc phục để công tác xây dựng nông thôn mới được tốt hơn

Trang 15

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Manh mún đất đai và sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa

b Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún đất đai

Một là, do sự phức tạp của địa hình đất nước ta, đất đai bị chia cắt theo 3 dạng: đất cao, đất vàn và đất thấp trũng Đây được xem là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ruộng đất manh mún

Hai là, chế độ chia đều ruộng đất cho con cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha

mẹ thường được chia đều cho tất cả con cái sau khi lập gia đình và tách hộ ra ở riêng

Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ;

Ba là, các hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ mang tâm lí ngại thay đổi ruộng đất

vì họ đã quen với tư duy, tập quán sản xuất, phương thức canh tác trên thửa đất quen thuộc

Bốn là, do phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc có tốt, có xấu,

có xa, có gần khi thực Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 về việc ban hành quy định

về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp

Trang 16

c Ảnh hưởng của manh mún đất đai tới sản xuất nông nghiệp

Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây nhiều khó khăn cho người nông dân

và các nhà quản lý Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra những tác động tiêu cực của sự manh mún ruộng đất, cụ thể như sau:

- Manh mún ruộng đất, dẫn đến giảm đất sản xuất nông nghiệp do bờ ngăn,

bờ thửa (theo tính toán có thể làm giảm 2,4 - 4% diện tích đất nông nghiệp);

- Manh mún ruộng đất làm tăng chi phí sản xuất cao hơn do chi phí lao động cao bởi nông dân phải tốn nhiều thời gian hơn để đi từ mảnh ruộng này đến mảnh ruộng khác hoặc thực hiện tưới tiêu cho nhiều mảnh nhỏ hoặc do chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra cao hơn;

- Manh mún ruộng đất làm hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, hạn chế việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất;

- Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Tóm lại, manh mún ruộng đất dẫn đến tình trạng hiệu quả sản xuất thấp, chất lượng sản phẩm thấp, thiếu khả năng cạnh tranh, không đáp ứng được việc xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa, gây cản trở cho quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Vì thế Đảng và Nhà nước ta chủ trương cần phải dồn điền đổi thửa, dồn đổi từ ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn

2.1.1.2 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa

Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu trong quá trình sản xuất nói chung, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp Xuất phát điểm là một quốc gia thuần nông, Việt Nam có những thế mạnh về đất đai và đã tạo ra được những thành tựu nhất định trong ngành sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, năng suất lao động của nông nghiệp Việt Nam hiện nay còn thấp so với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng đó là do vấn đề manh mún đất đai trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam Hiện nay, theo tiêu chuẩn của thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ manh mún đất đai cao nhất

so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Theo điều tra, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52 ha, trong khu vực là 0,36 ha thì ở Việt Nam là 0,25 ha

Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ

Trang 17

trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa

Bảng 2.1 Thực trạng manh mún đất đai năm 2010

(trung bình)

Diện tích đất canh tác (trung vị)

Số mảnh đất

Tổng khoảng cách đến các mảnh (m)

Nguồn: Số liệu của dự án DANIDA (2010)

Trong giai đoạn 10 năm (2001 - 2010), diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm Theo số liệu của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn hécta, đặc biệt năm 2007 giảm 120 nghìn hécta Cùng với đó là sự gia tăng dân số ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, nhất là dân số ở vùng nông thôn làm cho bình quân đất sản xuất trên đầu người ngày càng giảm mạnh Năm 2000 trung bình diện tích đất nông nghiệp tính trên đầu người là 680 m2, năm 2005: 630 m2, năm 2011: 437 m2(Nguồn: Niên giám Thống kê đât đai năm 2000, 2005, 2011)

Trang 18

Cùng với sự sụt giảm trong diện tích bình quân đầu người là sự thu hẹp về quy mô sản xuất; 70,36% hộ nông dân có diện tích canh tác khoảng 0,5 ha; chỉ có 3,46% số hộ có diện tích canh tác lớn hơn 3 ha Đến năm 2010, tỷ lệ hộ có diện tích đất canh tác nhỏ hơn 0,5 ha có giảm nhưng không đáng kể: cả nước tỷ lệ này vẫn là 67,38% Trong đó, Đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất với 94,46%, Miền núi phía Bắc: 63,9%, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: 79,54%, Tây Nguyên: 24,08%, Đông Nam Bộ: 35,48%, Đồng bằng sông Cửu Long: 47,96%

(Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2011)

Theo Điều tra nông thôn của dự án DANIDA (2010) với bộ số liệu điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình Việt Nam (VARHS) được tiến hành điều tra trên địa bàn 12 tỉnh của Việt Nam trong khoảng thời gian từ tháng 7/2008 đến tháng 8/2010 tại 12 tỉnh cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ nông dân là 0,85 ha, trung bình mỗi hộ có 4,7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ nơi ở đến ruộng của các hộ nông dân khoảng 4,7 km

Theo số liệu điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đến năm 2011 Việt Nam vẫn còn 69% số hộ sử dụng đất sản xuất có quy mô dưới 0,5 ha; 34,7% số hộ

có quy mô dưới 0,2 ha Như vậy, có thể thấy đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đang bị phân tán lớn, quy mô sản xuất nhỏ, số thửa canh tác nhiều

Hình 2.1 Quy mô sản xuất nông nghiệp các vùng

Sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn cho quá trình sản xuất và phát triển cơ giới hoá trong nông nghiệp, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thực

Trang 19

hành thâm canh và chuyển dịch cơ cấu cây trồng Việc đưa máy móc vào trong sản xuất nông nghiệp sẽ khó có thể thực hiện hiệu quả khi diện tích quá nhỏ Phần lớn hiện nay ở Việt Nam diện tích đất canh tác nhỏ hơn 0,5 ha/thửa, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng Do đó hình thành rất nhiều đường bờ để ngăn cách các thửa ruộng với nhau Sự tồn tại của những đường bờ ngăn cách đó gây khó khăn cho sự vận hành của máy móc hiện đại Ngoài ra, những đường bờ ngăn đó cũng sẽ lấy đi một phần diện tích đất sản xuất không nhỏ

Đồng thời manh mún ruộng đất gây cản trở cho việc quy hoạch giao thông, thuỷ lợi và các cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất; gây nên sự phức tạp, tốn kém trong công tác quản lí ruộng đất, xây dựng hồ sơ địa chính từ đó mà dễ phát sinh tiêu cực trong quản lí đất đai Tiền của Nhà nước cũng bị lãng phí trong quá trình lập hồ sơ ruộng đất (chi tăng 35-50% nếu như ruộng đất vẫn còn manh mún)

Chi phí sản xuất sẽ gia tăng vì các hộ phải tốn nhiều thời gian để di chuyển giữa các thửa ruộng Theo bảng số liệu trên, trung bình khoảng cách giữa các thửa ruộng gần 5 km; với con số trung bình là 5 thửa ruộng thì hộ nông dân cần phải đi một đoạn đường gần 25 km trên lượt di chuyển đến tất cả các thửa ruộng Chi phí đi lại về thời gian và tiền bạc tốn kém hơn rất nhiều Ngoài ra việc phải canh tác trên nhiều thửa ruộng với quy mô nhỏ sẽ gia tăng chi phí đầu vào đối với sản xuất (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2011)

Vấn đề thủy lợi trong sản xuất quy mô nhỏ sẽ có nhiều khó khăn Với một hệ thống thủy lợi chung cho một cánh đồng có thể không đạt hiệu quả vì còn tồn tại quá nhiều đường bờ ngăn ruộng Ngoài ra việc sản xuất quy mô nhỏ còn làm gia tăng mâu thuẫn giữa các hộ nông dân, gây ra những tác động xấu về mặt xã hội trong đời sống nông thôn

Tình trạng manh mún hạn chế chính đến các quyền của hộ nông dân sử dụng đất như quyền được thế chấp, thừa kế

Như vậy, đất đai trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hiện nay đang rất manh mún Tình trạng này sẽ có tác động trực tiếp xấu đến tính hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp Những tác động gián tiếp đến việc làm, thu nhập của nông dân

và tác động đến tăng trưởng chung của cả nền kinh tế là khó tránh khỏi Vì vậy, Việt Nam cần phải có những chính sách thích hợp để hạn chế mức độ manh mún đất sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trang 20

2.1.2 Tác động của dồn điền đổi thửa tới sử dụng đất nông nghiệp

2.1.2.1 Dồn điền đổi thửa đã tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất

Sau dồn điền đổi thửa (DĐĐT) diện tích trên một thửa đất tăng lên, nông dân

có điều kiện áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, luân canh tăng vụ và chuyển đổi

cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành các mô hình cánh đồng mẫu lớn cho thu nhập cao

- Những vùng đất úng trũng cấy lúa một vụ hoặc 2 vụ bấp bênh đã được chuyển sang đào ao, lập vườn nuôi trồng thủy sản kết hợp trồng cây ăn quả hoặc khoanh vùng cải tạo để phát triển mô hình cá lúa…

- Những vùng đất cao, vàn cao thuận tiện việc giao thông hoặc gần các trung tâm đô thị thường được chuyển sang trồng các loại cây rau màu cao cấp, trồng hoa cây cảnh hoặc xây dựng trang trại chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp…

- Trên chân đất vàn đã tiến hành quy hoạch lại đồng ruộng thành vùng chuyên canh lúa, cùng với việc hoàn thiện hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng để

tổ chức sản xuất thâm canh các giống lúa cho năng suất cao, chất lượng đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực ở địa phương

2.1.2.2 Dồn điền đổi thửa tạo ra lãnh thổ hợp lý cho quá trình tổ chức sản xuất

Chính sách DĐĐT đã tạo ra quy mô ô thửa lớn, một mặt tiết kiệm được diện tích làm bờ, mặt khác có nhiều khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt là cơ giới hóa mạnh trong khâu làm đất tưới tiêu chủ động nên đã tiết kiệm được chi phí sản xuất, nhờ vậy mà hiệu quả sử dụng đất tăng lên

2.1.2.3 Dồn điền đổi thửa tạo tâm lý cho người nông dân an tâm đầu tư sản xuất

Hộ nông dân sẽ an tâm hơn sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, họ được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ phát huy tối đa hơn các quyền sử dụng đất theo luật định; đầu tư đúng hướng để khai thác tiềm năng đất đai đồng thời cải tạo, bồi bổ đất làm tăng độ phì nhiêu cho đất để sử dụng ổn định và lâu dài

2.1.3 Vai trò của dồn điền đổi thửa đối với xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống, văn hoá, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa nông thôn và thành thị Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong những nội dung trọng

Trang 21

tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối, chủ trương phát triển đất nước

và của các địa phương trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài

Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế -

xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Dồn điền đổi thửa là một phương thức để thực hiện xây dựng nông thôn mới trong thời đại hiện nay Dồn điền đổi thửa khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, tạo ra các ô thửa có diện tích lớn, các vùng sản xuất chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá, bền vững; đảm bảo theo quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới được phê duyệt Phấn đấu sau thực hiện dồn điền đổi thửa mỗi hộ còn từ 1 đến 2 thửa Hình thành các mô hình cánh đồng mẫu lớn tạo điều kiện sản xuất hàng hóa cho người dân, từ đó thu nhập của người dân cao hơn góp phần nâng cao đời sống nhân dân

Sau khi dồn điền đổi thửa, nhiều hộ đã đầu tư sản xuất theo hướng đa canh, sản xuất lớn Việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất đã thuận lợi hơn, năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp từng bước được nâng cao…

Thông qua dồn điền đổi thửa để dồn đổi lại quỹ đất công và phân định cụ thể đất công ích, đất dự trữ theo quy hoạch; đặc biệt đất quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; làm cơ sở để việc quản lý, sử dụng đất đai đảm bảo theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật Thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính đảm bảo đồng bộ để quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp của các xã, thị trấn được hiệu quả

và chặt chẽ hơn

Một trong những nội dung trong việc thực hiện dồn điền đổi thửa là quy hoạch mạng lưới đường giao thông nông thôn và thủy lợi nội đồng Giao thông và thủy lợi là huyết mạch của sản xuất nông nghiệp; muốn thực hiện sản xuất hàng hóa, quy mô lớn trong nông nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, nâng cao hiệu quả sản xuất và đời sống của người nông dân thì không thể bỏ qua khâu giao thông và thủy lợi Nhưng muốn có hệ thống giao thông, thủy lợi hiện đại phục vụ cơ giới hóa, phục vụ sản xuất chuyên canh và nâng cao chất lượng, giá trị nông sản cần

Trang 22

có quỹ đất để xây dựng Trong khi đó, nhiều nơi nguồn quỹ đất này lại hạn hẹp nên cần tạo nguồn bằng cách dồn các thửa ruộng nhỏ lẻ để tạo ra mặt bằng cho quỹ đất xây dựng giao thông và thủy lợi nội đồng (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2011)

2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.2.1 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi và nhiều nước trên thế giới tại các thời kỳ khác nhau của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún cũng rất đa dạng, như: Đặc điểm phân bố địa lý, sức ép gia tăng dân số, tính chất của nền nông nghiệp còn kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất hoặc

sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả trong công tác quản lý đất đai, … muốn giải quyết triệt để tình trạng này đòi hỏi phải có những hiểu biết cụ thể về nguyên nhân của vấn đề này

Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2011) tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thâm canh tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suất nông sản hàng hóa, giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm Vì vậy việc tích tụ ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa hầu như đã trở thành quy luật, diễn ra ở nhiều nước Tuy nhiên chủ trương, biện pháp và mức độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau

2.2.1.1 Trung Quốc

Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp và nông thôn từ năm 1978 Quá trình cải cách được chia thành 2 giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 1978 đến 1984, giai đoạn 2 từ năm 1985 đến 1990 và sau đó có đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp và nông thôn cho thập kỷ 90

Văn kiện số 01 năm 1984 quy định “ Kéo dài thời hạn khoán ruộng đất để khuyến khích nông dân đầu tư, bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh” Chủ trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ nông dân, khắc phục tình trạng nông dân "bóc ngắn cắn dài”, sản xuất có tính chất lạm dụng độ màu mỡ của đất đai Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên, đối với loại kinh doanh chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn, rừng, đồi hoang,… thì thời hạn khoán

Trang 23

cần phải dài hơn Trước khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điều chỉnh” (nghĩa là, về cơ bản phải ổn định nhưng có thể điều chỉnh một phần nhỏ ruộng đất khoán chưa hợp lý) thông qua thương lượng một cách đầy đủ sau đó tập thể thống nhất điều chỉnh Ngoài ra văn kiện này còn cho phép hộ nông dân có quyền nhượng ruộng khoán, cụ thể là “khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những người làm ruộng giỏi”

Bảng 2.2 Diện tích và số thửa ruộng của mỗi hộ nông dân Trung Quốc

(ha)

Số thửa ruộng/hộ (thửa)

Nguồn: Bộ Nông nghiệp Trung Quốc (2000)

Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung Quốc quy định “ổn định quan hệ ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và

số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ vào nguyện vọng của quần chúng mà tiến hành điều chỉnh theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng” Trong quá trình thực hiện khoán ruộng đất cho các hộ nông dân, một số địa phương đã thực hiện việc khoán đất tốt kèm đất xấu, cho nên ruộng đất nhận khoán phân tán, manh mún không thuận tiện cho nông dân canh tác Trong những năm gần đây một số địa phương đã căn cứ nguyện vọng của quần chúng, tiến hành nhận ruộng đất và điều chỉnh Kết quả đã diễn ra tốt, nhưng cần phải giữ vững hai nguyên tắc:

Một là, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng, không được áp đặt

Hai là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng

Như vậy từ những năm 1978 Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp, thực hiện hình thức khoán sản lượng đến hộ nông dân mà thực chất là khoán ruộng đất hoàn thành công cuộc thiết kế lại đồng ruộng thông qua chuyển đổi ruộng đất Tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc cũng đã thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa từ năm 1988, quy định quy mô tối đa là 4 thửa/hộ, giúp giảm từ 7,6 thửa/hộ xuống còn 3,4 thửa/hộ Khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng từ 7 đến 15% so với trước dồn điền đổi thửa Tuy nhiên, đến năm 1998, đa số nông dân

Trang 24

chống đối phong trào này vì dồn điền đổi thửa không phù hợp với điều kiện và chiến lược phát triển sản xuất của nông hộ Kinh nghiệm này cho thấy dồn điền đổi thửa cần dựa trên sự tự nguyện của nông dân và áp dụng một cách linh hoạt đối với từng địa bàn, khu vực khác nhau sao cho phù hợp

Không chỉ Trung Quốc, nhiều nước khác cũng nóng vội muốn can thiệp hành chính một lần để giảm chi phí giao dịch vì họ cho rằng nếu để hộ nông dân tự làm thông qua thị trường điều chỉnh thì chi phí sẽ rất cao và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, việc can thiệp hành chính này không đảm bảo được rằng ruộng đất sẽ không

bị chia nhỏ lại sau dồn điền đổi thửa (bán một lần, chia thừa kế cho con cái, …) Hơn nữa các biện pháp can thiệp hành chính thường phải tiến hành song song với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nhưng Chính phủ lại thường thiếu vốn để đầu tư cho việc này

2.2.1.2 Nhật Bản

Xuất phát điểm từ chính sách trước những năm 1960 mỗi hộ nông dân Nhật

có nhiều thửa ruộng phân tán, xa nhau quy mô mỗi thửa chỉ từ 500 m2 đến 1000 m2 Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công và sức kéo gia súc Đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa lao động nông nghiệp và lao động của các ngành khác Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật Cơ bản về nông nghiệp Một trong ba mục tiêu chính của Luật Cơ bản nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy

mô lớn Để thực hiện mục tiêu này Bộ Nông nghiệp đề ra “Sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu”

- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha

- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay mùn trên cơ sở kiến thiết xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và toàn khu vực để có thể sử dụng máy móc thuận lợi

- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1 m (theo các chuyên gia Nhật Bản thì Nhật Bản học tập kinh nghiệm chuyển đổi xử lý đất của Cộng hoà Liên bang Đức)

Để đáp ứng nhu cầu trên phải làm hai việc:

- Về mặt hành chính: đó là xử lý chuyển đổi đất từ các thửa nhỏ ở xa nhau thành các thửa có kích thước lớn

- Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng Việc chuyển đổi đất là công việc rất

Trang 25

phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành đồng thời với một số biện pháp, công việc khác mới phát huy có hiệu quả Trước khi chuyển đổi phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho mục đất phi nông nghiệp với yêu cầu ít nhất 8 năm kể từ khi xử lý, không được thay đổi mục đích Việc quy hoạch đất nông nghiệp và mục đích phi nông nghiệp cũng nhằm mục đích kêu gọi đầu tư tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, giảm việc nông dân

di cư vào thành phố Giới hạn tối đa cho diện tích này là 30% diện tích toàn khu nông nghiệp

Việc chuyển đổi đất dựa trên nguyên tắc tương ứng về diện tích và giá trị với

lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3000 kg gạo/ha năm 1960, lên 6000 kg gạo/ha năm 1992 Hiện nay việc chuyển đổi xử lý ruộng đất được tiếp tục khuếch trương lên 1 ha hoặc 2 ha, có thể lên tới 3 ha hoặc 6 ha, tiến gần đến quy mô thửa ruộng

2.2.1.3 Thái Lan

Đồng bằng Chao phraya của Thái Lan có sức ép về dân số thấp hơn Quá trình phân nhỏ ruộng đất tuy chưa đến mức quá manh mún nhưng nó lại có một nguyên nhân khác đó chính là việc xây dựng siêu đô thị Băng Kok Một sự phát

Trang 26

triển theo chiều thuận là công nghiệp sẽ rút bớt lao động nông thôn ra thành thị làm cho quy mô ruộng đất nông nghiêp tăng lên Tuy nhiên ở Chao phraya lại khác, cách đây khoảng 120 năm vùng này dân cư vẫn còn thưa thớt, cả vùng có đến 2 triệu ha đất nhưng dân cư chỉ có khoảng trên 300 ngàn người Nhưng bắt đầu xây dựng đô thị khổng lồ Băng Kok kể từ vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng tăng nhanh bình quân 3% năm Đất nông nghiệp mất đi trung bình 1% năm kể từ năm 1970 trở lại đây Các trang trại bị chia nhỏ giảm dần về quy mô ruộng đất Trung bình một hộ năm 1950 có 4,8 ha đến năm 1963 còn 4,5 ha, năm 1978 là 4,1

ha và 15 năm sau, năm 1993, chỉ còn 3,5 ha Sự giảm quy mô trung bình ruộng đất

ở Thái Lan một phần nữa còn được giải thích bởi sự chia đều ruộng đất cho con cái thừa kế và sự chậm tiến bộ về mặt công nghệ, kỹ thuật sản xuất Giai đoạn 20 năm

từ 1955 đến 1975 là giai đoạn giá nông sản (lúa) khá thấp, công nghệ sản xuất “bão hoà” (Molle và Srijant, 2000) không khuyến khích được tập trung ruộng đất Trên thực tế, giá nông sản thấp và sự bần cùng hoá nông dân luôn đi cùng với sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư ruộng đất lúc đó không cao, bởi vì người

ta cần chia nhỏ và đa dạng hoạt động để tránh rủi ro và cũng còn bởi vì thiếu những người có đủ tiền bạc, thực lực để mà mua đất vào

2.2.1.4 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Âu, Châu Mỹ

Các nước Âu Mỹ bình quân ruộng đất trên đầu người khá cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu lao động công nghiệp nhiều, chính quyền khuyến khích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằng các chế độ và chính sách cụ thể, khuyến khích sản xuất kinh doanh của các trang trại lớn

Tuy nhiên để tránh tích tụ ruộng đất quá lớn trong tổng địa phương, một số nước như Pháp, Anh có biện pháp quản lý thông qua hội đồng quy hoạch đất đai của tỉnh, huyện, với hội đồng quản trị gồm những đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai ủy viên Chính phủ Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ và bán lại công khai cho các hộ nông dân mua đất theo giá thị trường

Kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thế kỷ 19 đầu hế kỷ 20, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại bỏ thay thế vào đó là các trang trại quy mô vừa năng suất lao động cao Ví dụ ở Pháp năm 1950 có xấp xỉ 2,29 triệu nông hộ với quy đất 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 0,8 triệu hộ với quy

mô 35 ha/hộ

Trang 27

Bảng 2.3 Tình hình biến động về số lượng và quy mô trang trại nông nghiệp

ở một số nước Châu Âu

Nguồn: Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền (1996)

Ở nước Mỹ năm 1950 với quy mô bình quân 86 ha/hộ đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu hộ với quy mô 198 ha/hộ Tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các nông hộ ở các nước phát triển chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2

Ngoài ra có một số nghiên cứu khác trong các nước phát triển về quá trình tập trung hay phân hoá quy mô nông hộ trong đó có quy mô ruộng đất Quy mô ruộng đất được thể hiện qua kinh tế quy mô trong nông nghiệp ở hai khía cạnh:

+ Sự phù hợp giữa quy mô các nguồn lực (đất đai, đàn gia súc, vốn, lao động

và công nghệ) và khả năng quản lý sử dụng các nguồn lực trong nông hộ Theo khái niệm này, quy mô kinh tế được mở rộng nhằm hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của nông sản Các chi phí có thể được giảm nhờ tăng quy mô bao gồm: chi phí quản lý trang trại, chi phí áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chi phí tư vấn, đào tạo,… + Sự phù hợp giữa quy mô các mảnh thửa trong trồng trọt và các đàn gia súc trong chăn nuôi với khả năng đầu tư thâm canh và áp dụng hiệu quả khoa học tiến

bộ kỹ thuật

Phương thức tăng quy mô ô thửa có thể hỗ trợ quá trình đầu tư, thâm canh, cơ giới hoá qua đó có thể làm tăng hiệu quả sản xuất/1 đơn vị diện tích

Trang 28

Nhưng nhiều ý kiến cho rằng quá trình tập trung thâm canh trên đây chỉ phát huy tác dụng khi sản xuất hàng hoá phát triển Nói cách khác quy mô của các ô thửa, đàn gia súc, phụ thuộc vào quy mô sản xuất, trình độ sản xuất và khả năng đầu

tư của nông hộ Trong trường hợp lao động dư thừa và sản xuất có nhiều rủi ro, người nông dân nhỏ thường chọn giải pháp đầu tư vào lao động hơn là đầu tư vào các nguồn lực khác và vì thế họ ít quan tâm đến việc dồn điền đổi thửa Quy

mô sản xuất phụ thuộc vào đặc điểm của các loại hình nông hộ và khả năng áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất …Ví dụ như quy mô sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp là từ 50 ha đến 100 ha/nông hộ, nhưng ở Mỹ (do khả năng cơ giới hoá cao) quy mô ruộng đất nông hộ phải từ 200 ha đến 300 ha thì mới đạt hiệu quả cao nhất

2.2.2 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở Việt Nam

2.2.2.1 Khái quát việc thực hiện dồn điền đổi thửa ở Việt Nam

Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế của mình vào năm 1986 Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là công nhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai) và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đã dẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khác chưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến nông dân có thể ít có động cơ đầu tư dài hạn trên đất Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo đó nông dân được giao đất ổn định và lâu dài Họ được giao 5 quyền sử dụng đất bao gồm: quyền chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng Thông thường ở nhiều nơi trên miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu) Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách

xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau

Trang 29

Vào năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh miền Bắc, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng đã thành lập các hội đồng thực hiện thí điểm công tác dồn điền, đổi thửa Theo báo cáo, trên toàn quốc có khoảng trên 700

xã ở 18 tỉnh đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính sách này (1998 – 2001) Trung bình số thửa ruộng của một hộ đó giảm từ 7,8 thửa xuống còn 3,8 thửa (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, năm 2003) Trong các báo cáo gửi Chính phủ và UBND (Ủy ban nhân dân) tỉnh, khi rút kinh nghiệm công tác dồn điền, đổi thửa, các địa phương đều đưa ra kết luận công tác dồn điền, đổi thửa nên áp dụng ở những vùng mà manh mún đất đai đang là vấn đề lớn và không có mâu thuẫn về đất đai Điều đó có nghĩa dồn điền, đổi thửa không nên dẫn đến những mâu thuẫn mới liên quan đến đất đai Nguyên tắc quan trọng nhất trong dồn điền, đổi thửa là các hộ nông dân tự nguyện đổi đất cho nhau để tạo thành những thửa lớn hơn Tuy nhiên, ở rất nhiều tỉnh quá trình giao lại đất đã xảy ra, trong đó các hộ nông dân được tham gia rất ít vào quá trình này, ngoại trừ việc đánh giá chất lượng đất và xác định hệ số trao đổi giữa các hạng đất

2.2.2.2 Công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương

Dồn điền đổi thửa không phải là một tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới (NTM), song với những địa phương có diện tích đất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, bình quân mỗi hộ dân sở hữu nhiều ô, thửa ruộng phân tán trên nhiều cánh đồng như hầu hết các xã của Thành phố Hà Nội thì việc làm này hết sức cần thiết Nếu tiến hành thành công DĐĐT sẽ có tác động tích cực tới các tiêu chí trong xây dựng NTM Chính vì vậy, để triển khai thắng lợi Chương trình 02-CTr/TU, Ban chỉ đạo thành phố Hà Nội đã xác định một trong những khâu đột phá là tập trung chỉ đạo thực hiện công tác DĐĐT diện tích đất nông nghiệp không nằm trong quy hoạch công nghiệp và quy hoạch đô thị Ngay sau khi UBND Thành phố Hà Nội có

kế hoạch và hướng dẫn, các huyện, thị xã đã nhanh chóng xây dựng kế hoạch và ban hành nghị quyết về công tác DĐĐT, đồng thời giao chỉ tiêu kế hoạch cụ thể để các xã căn cứ phấn đấu thực hiện Các xã đã bám sát hướng dẫn của Sở NN-PTNT tiến hành xây dựng phương án DĐĐT trình duyệt, đồng thời rà soát nhân khẩu, hộ khẩu, diện tích đất nông nghiệp giao theo Nghị định số 64/CP, một số xã đã và đang tiến hành đo đạc, quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng

Trang 30

Sau 2 năm thực hiện (2012 - 2013), toàn thành phố Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 75.965,3 ha/76.365,07 ha, một diện tích đất nông nghiệp rất lớn mà hơn

10 năm qua chưa làm được Như vậy, Hà Nội đã dồn điền đổi thửa được 99,48% kế hoạch Một số huyện thực hiện dồn được diện tích lớn như: Chương Mỹ hơn 10,2 nghìn ha, Sóc Sơn hơn 10,3 nghìn ha, Phú Xuyên hơn 8,9 nghìn ha, Mỹ Đức hơn 7,5 nghìn ha… Trong đó, có nhiều huyện thực hiện vượt chỉ tiêu theo kế hoạch dồn điền đổi thửa như Phú Xuyên, Sóc Sơn, Ba Vì, Sơn Tây, Thạch Thất

(Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, 2014)

Trong quá trình triển khai, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp đã dồn điền đổi thửa đều được quy hoạch lại và đào đắp giao thông, thủy lợi nội đồng theo tiêu chuẩn, tiêu chí nông thôn mới Cơ giới hóa đã và đang được các xã, hợp tác xã và cá nhân đầu

tư ở một số khâu chính như: làm đất, gieo cấy và thu hoạch… Thực tế, mỗi hộ gia đình trước dồn điền đổi thửa có 7-15 ô, thửa, thậm chí 27-39 ô, thửa như ở Sóc Sơn, Chương Mỹ… Đến nay, chỉ còn 1-2 ô, thửa, cá biệt một vài nơi còn 3 ô, thửa/hộ, rất thuận lợi cho người dân trong tổ chức sản xuất, giảm đỡ ngày công, tiết kiệm chi phí vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu nên đa số người dân nông thôn của Hà Nội rất phấn khởi, tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Thành phố

Sau dồn điền đổi thửa, nhiều cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa chất lượng cao

đã hình thành ở hầu hết các huyện có qui hoạch sản xuất lúa Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa đem lại giá trị kinh tế cao ra đời, như: mô hình hoa ở một số xã thuộc huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Mê Linh, Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh,… với giá trị 0,5-1,5 tỷ/ha/năm; mô hình chăn nuôi tập trung xa khu dân

cư như ở Sơn Tây, Ba Vì, Ứng Hòa, Chương Mỹ, Thanh Oai, Đan Phượng, Quốc Oai… với giá trị 1-2 tỷ/ha/năm và các mô hình chăn nuôi thủy sản ở một số xã thuộc huyện Thanh Trì, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thanh Oai… với giá trị 200 - 300 triệu đồng/ha/năm

Với những kết quả tích cực trên cũng đồng nghĩa với năng lực tổ chức thực hiện các nội dung chương trình xây dựng NTM nói chung và công tác DĐĐT nói riêng của cán bộ từ huyện đến xã đã được nâng lên rõ rệt, củng cố lòng tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tạo công bằng, dân chủ trong cộng đồng nông thôn

Tuy nhiên, công tác DĐĐT là một việc làm rất khó, bởi nó đụng chạm tới quyền lợi của hầu hết các hộ dân, phải tiến hành một khối lượng công việc rất lớn từ

Trang 31

xây dựng phương án, kế hoạch triển khai, đến tổ chức tuyên truyền, họp ở nhiều cấp, đo đạc, lên bản đồ, gắp thăm, chia đất, cấp hồ sơ giấy tờ chính vì vậy cán bộ địa phương ở một số nơi ngại, không muốn làm Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ở một số nơi hạn chế, chưa làm cho người dân thấy được ích lợi trước mắt

và lâu dài của công tác DĐĐT Những nguyên nhân đó đã dẫn đến một số hạn chế, khó khăn trong công tác DĐĐT trong thời gian qua tại các địa phương và rất cần phải khắc phục

Tại tỉnh Hà Nam, đất trồng cây hàng năm được chia thành 6 hạng Đất đai

được chia bình quân theo bình quân theo nhân khẩu Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh mún đất đai

Theo báo cáo của các huyện, thành phố kết quả thực hiện công tác dồn đổi ruộng đất, kinh phí được hỗ trợ đầu tư phục vụ công tác dồn đổi ruộng đất Tính đến ngày 12 tháng 12 năm 2014 kết quả đạt được như sau:

Trên địa bàn toàn tỉnh có 88 xã, thị trấn thực hiện công tác DĐĐT theo chương trình xây dựng nông thôn mới Cụ thể:

- Số xã hoàn thành xong dồn đổi ruộng đất: 65/88 xã (Duy Tiên: 12/13 xã, Thanh Liêm: 14/17 xã, Phủ Lý: 01/3 xã, Bình Lục: 17 xã/18 xã, Lý Nhân: 8/22 xã Kim Bảng: 13/15 xã)

- Số xã đang thực hiện DĐRĐ chưa xong: 23 xã (Duy Tiên: 01 xã, Thanh Liêm: 03 xã, Phủ Lý: 02 xã, Bình Lục: 01 xã, Lý Nhân: 14 xã, Kim Bảng: 02 xã)

- Tổng diện tích đất nông nghiệp đã thực hiện dồn đổi xong: 30.709,78 ha/36.381,05 ha tham gia dồn đổi

(Sở Tài nguyên và Môi truờng tỉnh Hà Nam, 2014)

Tại tỉnh Nam Định, huyện Trực Ninh của tỉnh là một trong những huyện đi

đầu và làm tốt công tác chuyển đổi đất nông nghiệp để thực hiện cùng một lúc nhiều mục tiêu, đó là: khắc phục tình trạng đất manh mún, giảm thiểu số thửa ruộng trên mỗi hộ; kết hợp quy hoạch lại đồng ruộng phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá; tập trung lại đất công của từng xã lâu nay nằm tản mạn trong các hộ, việc quản lý và

sử dụng diện tích đất này không hiệu quả Trong năm qua có 19 xã, thị trấn đã hoàn

Trang 32

thành kế hoạch công tác dồn điền đổi thửa Qua tổng hợp, công tác dồn điền đổi

thửa đã đạt được một số mục đích, yêu cầu đề ra, đó là:

+ Số thửa đất nông nghiệp bình quân/hộ đã giảm trên 34%: Từ 4,80 thửa/hộ xuống còn 3,16 thửa/hộ Những xã có số thửa bình quân/hộ giảm nhiều là Trực Nội giảm 3,78 thửa/hộ, Trực Mỹ giảm 3,6 thửa/hộ, Trực Thanh giảm 2,98 thửa/hộ + Đất công ích và đất dành cho quy hoạch đã được dồn đổi cơ bản tập trung theo vùng và theo quy hoạch; số thửa đất công ích giảm 2.627 thửa (= 44,7%) số thửa, từ 5.868 thửa xuống còn 3.241 thửa

+ Song song với công tác dồn điền đổi thửa, việc lập hồ sơ cấp đổi GCN QSDĐ nông nghiệp đã được triển khai, đến nay đã lập xong hồ sơ cấp đổi GCN sau dồn điền đổi thửa tại 11 xã với 21.005 hộ đạt 47,55%

Tỉnh Phú Thọ, chọn 4 xã: Lương Lỗ (Thanh Ba), Nga Sơn (Sông Thao), Bản

Tuyên (Phong Châu) và xã Trung Vương (TP Việt Trì) tổ chức làm thí điểm và sau khi sơ kết, tỉnh đã quyết định mở rộng thí điểm 60 xã ở các vùng khác nhau

Tóm lại: Chính sách DĐĐT đã làm cho đồng ruộng được cải thiện, tạo được

những thửa ruộng lớn, thuận lợi cho việc cơ giới hoá, nông dân có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp, giải phóng sức lao động, nhất là những khâu lao động nặng nhọc như làm đất, bơm nước, tuốt lúa và dịch vụ phục

vụ sản xuất trong nông thôn có điều kiện phát triển Bên cạnh đó, dồn đổi ruộng đất thành công đã làm thay đổi cách nghĩ cách làm của nhiều hộ nông dân: trước đây họ còn do dự, chần chừ với thói quen canh tác trên những thửa ruộng nhỏ lẻ, chật hẹp, nay chuyển sang sản xuất, canh tác trên những thữa ruộng có quy mô lớn hơn khiến cho nếp nghĩ, cách làm cũng vượt khỏi tầm suy nghĩ "tự túc, tự cấp" để vươn lên sản xuất hàng hoá, vươn lên làm giàu phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đaị hoá nông nghiệp nông thôn

2.2.3 Công tác dồn điền đổi thửa trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên

Trong tất cả các văn bản pháp lý của tỉnh Hưng Yên thì cụm từ "Dồn điền đổi thửa" được sử dụng là "Dồn thửa đổi ruộng"

Trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền các cấp và nhân dân trong tỉnh

đã tổ chức thực hiện Chỉ thị số 16-CT/TU ngày 06/6/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh

ủy về việc tiếp tục thực hiện dồn thửa, đổi ruộng đất nông nghiệp trong toàn tỉnh đạt kết quả tích cực, tiếp tục khắc phục tình trạng manh mún, phân tán về ruộng đất; giảm chi phí, tạo thuận lợi hơn trong canh tác và thu hoạch nông sản; quá trình thực

Trang 33

hiện đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, công bằng, dân chủ Đến hết năm 2003, toàn tỉnh có 219.878 hộ gia đình, cá nhân đã thực hiện dồn thửa, đổi ruộng, đạt 85,7% so với tổng số hộ sử dụng đất nông nghiệp; bình quân mỗi hộ nhận 3,16 thửa và tổng

số thửa ruộng hiện nay đã giảm 57% so với trước dồn thửa, đổi ruộng, đã cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân thực hiện dồi thửa, đổi ruộng đạt 82,65, tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp trên địa bàn, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa

Tuy nhiên, số thửa đất của mỗi hộ gia đình, cá nhân vẫn còn nhiều, cản trở sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; công tác quản lý nhà nước về ruộng đất chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, nhất là việc quản lý và sử dụng đất công ích Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do cấy ủy Đảng, chính quyền một số nơi chưa chú trọng đúng mức công tác dồn thửa, đổi ruộng, trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chưa sâu sát, cụ thể, không ít địa phương thực hiện còn hình thức, năng lực một số cán bộ, công chức địa chính còn hạn chế, nhất là ở cấp cơ sở; nhận thức của một bộ phận nông dân còn hạn chế, nên chưa tích cực tham gia dồn thửa, đổi ruộng

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên, tiếp tục thực hiện dồn thửa, đổi ruộng nhằm tạo ra các ô thừa có diện tích lớn, các vùng sản xuất chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hóa, bền vững, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới Đồng thời, thông qua dồn thửa, đổi ruộng để dồn đổi lại quỹ đất công và phân định cụ thể đất công ích, đất dự trữ theo quy hoạch, nhất là quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ…; làm cơ sở để việc quản lý, sử dụng đất đai đúng quy hoạch, kế hoạch

và pháp luật; thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính đảm bảo đồng bộ để quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp của các xã, thị trấn được hiệu quả và chặt chẽ hơn; phấn đấu cơ bản hoàn thành việc dồn thửa, đổi ruộng vào năm 2015, với tỷ lệ đạt trên 60% hộ gia đình, cá nhân có 1 thửa, số hộ còn lại có 2 thửa đất sản xuất nông nghiệp sau dồn thửa, đổi ruộng Từ năm 2013 đến nay toàn tỉnh đã thực hiện theo Chỉ thị số 21 – CT/TU của Ban thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục dồn thửa, đổi ruộng đất nông nghiệp thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh

.- Kết quả DTĐR thực hiện quy hoạch NTM trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2013

- 2015 (đến ngày 30/4/2015) của 110/153 xã, thị trấn như sau:

Trang 34

+ Đã giao xong ruộng ngoài thực địa cho hộ gia đình, cá nhân có 52/110 xã (năm 2013 có 15 xã, năm 2014 có 29 xã) Trong đó, huyện Văn Lâm có 03 xã/11 xã, thị trấn (Việt Hưng, Chỉ Đạo, Lương Tài); huyện Mỹ Hào có 02 xã/13 xã, thị trấn (Hòa Phong, Ngọc Lâm); huyện Ân Thi có 13 xã/21 xã, thị trấn (Hồng Quang, Hồ Tùng Mậu, Vân Du, Nguyễn Trãi, Bắc Sơn, Quảng Lãng, Tiền Phong, Hồng Vân, Hạ Lễ, Cẩm Ninh, Hoàng Hoa Thám, Văn Nhuệ, Xuân Trúc); huyện Yên Mỹ có 01 xã (Việt Cường)/ 17 xã, thị trấn; huyện Phù Cừ có 14 xã, thị trấn /14 xã, thị trấn (Quang Hưng, Phan Sào Nam, Đình Cao, Nguyên Hòa, Minh Tiến, Nhật Quang, Minh Tân, Tống Trân, Minh Hoàng, Tống Phan, Tiên Tiến, Tam Đa, thị trấn Trần Cao, Đoàn Đào - còn

01 thôn); huyện Tiên Lữ có 10 xã/15 xã, thị trấn (Thiện Phiến, Hải Triều, Thủ Sỹ, Nhật Tân, Hưng Đạo, Lệ Xá, Trung Dũng, Thụy Lôi, Dị Chế, Ngô Quyền); huyện Kim Động có 09 xã/17 xã, thị trấn (Đức Hợp, Song Mai, Nhân La, Thọ Vinh, Vĩnh Xá, Ngọc Thanh, Phạm Ngũ Lão, Phú Thịnh, Chính Nghĩa)

+ Giao một phần ruộng ngoài thực địa cho hộ gia đình, cá nhân có 32/110 xã, thị trấn (năm 2013 có 02 xã, năm 2014 có 30 xã);

+ Chưa giao ruộng ngoài thực địa cho hộ gia đình, cá nhân có 35/110 xã, thị trấn (năm 2013 có 01 xã, năm 2014 có 34 xã);

- Không phải thực hiện DTĐR giai đoạn 2013 - 2015 có 43/153 xã, thị trấn (năm 2013 có 05 xã, năm 2014 có 38 xã);

Trang 35

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

- Chọn điểm 2 xã thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

- Về không gian: địa bàn huyện Phù Cừ

- Về thời gian: biến động sử dụng đất trước dồn điền đổi thửa năm 2012 và sau dồn điền đổi thửa năm 2014

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Là công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.4.1 Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội đến công tác dồn điền đổi thửa

- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, thủy văn, địa hình, …

- Điều kiện kinh tế – xã hội: Cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng, dân số, lao động, trình độ dân trí tình hình xây dựng nông thôn mới ở Phù Cừ

3.4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

- Tình hình quản lý đất đai của huyện Phù Cừ

- Biến động sử dụng đất đai của huyện Phù Cừ qua các năm trước và sau dồn điền đổi thửa 2012 và 2014

3.4.3 Thực trạng công tác dồn điền ở huyện Phù Cừ phục vụ xây dựng nông thôn mới

- Công tác tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa

- Kết quả dồn điền đổi thửa ở huyện Phù Cừ

- Đánh giá hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới

Trang 36

3.4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dồn điền đổi thửa

để phục vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phù Cừ

- Giải pháp về chính sách

- Giải pháp về tổ chức

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp

- Điều tra, thu thập thông tin số liệu thứ cấp: đó là những thông tin, số liệu

có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức ở các cấp, ngành Các thông tin chủ yếu gồm: số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp qua các năm, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, các văn bản về chính sách đất đai, các chính sách

về khuyến khích đầu tư sản xuất và các thông tin, số liệu khác

3.5.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí 2 xã chọn điểm nghiên cứu

Trang 37

Hiện nay cơ bản 14 xã, thị trấn trên toàn huyện: thị trấn Trần Cao, 13 xã: Đình Cao, Đoàn Đào, Minh Hoàng, Minh Tân, Minh Tiến, Nguyên Hòa, Nhật Quang, Phan Sào Nam, Quang Hưng, Tam Đa, Tiên Tiến,Tống Phan, Tống Trân đã thực hịên xong công tác dồn điền đổi thửa Tuy nhiên còn 02 thôn của hai xã Tống Trân và xã Đoàn Đào chưa dồn xong vì còn vướng mắc

Theo kết quả nghiên cứu địa hình và vùng sinh thái của các xã, thị trấn trong huyện, chọn điểm 2 xã riêng biệt có kết quả thực hiện công tác dồn điền đổi thửa tốt

là xã Minh Tiến và Đình Cao để tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên

3.5.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Phương pháp phỏng vấn nông hộ: điều tra nông hộ bằng phiếu với bộ câu hỏi soạn sẵn về các vấn đề liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa và hiệu quả sử dụng đất sau DĐĐT Mỗi xa điều tra 30 hộ và tổng hai xã là 60 phiếu

3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mềm Excel

- Tiến hành xử lý số liệu bằng phần mềm Excel sau khi điều tra, phỏng vấn nông hộ theo mẫu phiếu đã xây dựng

Trang 38

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN PHÙ CỪ

4.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên huỵên Phù Cừ

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Phù Cừ nằm phía Đông Nam của tỉnh Hưng Yên với tổng diện tích tự nhiên

là 9385,73 ha (93,86 km 2 ) huyện có 13 xã và 1 thị trấn Dân số trong toàn huyện là

77.687 người, chiếm 7,87% dân số của tỉnh, có vị trí tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Ân Thi

- Phía Nam giáp tỉnh Thái Bình

- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương

- Phía Tây giáp huyện Tiên Lữ

Hình 4.1 Sơ đồ hành chính huyện Phù Cừ

Trang 39

Trên địa bàn huyện Phù Cừ có hệ thống các tuyến giao thông quan trọng gồm: Quốc lộ 38, các tuyến đường huyện lộ 201, 202, 203, 202B…và có sông Luộc tiếp giáp phía Nam của huyện Vị trí địa lý thuận lợi của Phù Cừ đã tạo nhiều lợi thế

về giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội với các địa phương trong tỉnh và các vùng lân cận như Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng vị trí trên cũng đem lại cho Phù Cừ lợi thế có thị trường tiêu thụ rộng rãi, có khả năng trao đổi nông sản, hàng hoá với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Là huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, đất đai tương đối bằng phẳng Trên địa bàn huyện có độ dốc theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, chia thành 2 vùng

4.1.1.3 Khí hậu

Huyện Phù Cừ nói riêng và tỉnh Hưng Yên nói chung đều nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ và chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết trong năm được phân làm 2 mùa rõ rệt:

- Mùa hè: Nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10 năm sau

- Mùa đông: Lạnh, khô hanh thường kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng

Trang 40

* Mưa:

Lượng mưa tập trung và phân bố theo mùa, mùa hè thường có mưa to, bão lớn, gây úng lụt, làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn huyện, mùa đông thời tiết hanh khô kéo dài, lượng mưa ít, nước ở các ao, hồ cạn, không đủ để phục vụ sản xuất nông nghiệp, nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt cũng

bị hạn chế

* Gió bão:

Phù Cừ chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: gió đông Bắc thổi vào mùa lạnh và gió đông Nam thổi vào mùa nóng Hàng năm Phù Cừ còn bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của 3 đến 4 trận bão với sức gió và lượng mưa lớn gây thiệt hại cho sản xuất, tài sản, làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân trong huyện

* Độ ẩm không khí:

Độ ẩm không khí trung bình năm là 84% Phù Cừ có khí hậu đặc trưng là nóng, ẩm, mưa nhiều vào mùa hè Lạnh, khô, hanh vào mùa đông Khí hậu này thích hợp với nhiều loại cây trồng, tạo điều kiện để sản xuất nông nghiệp phát triển

đa dạng và phong phú về sản phẩm Tuy nhiên huyện cũng cần có các biện pháp để phòng chống lụt bão, cũng như hạn hán làm ảnh hưởng xấu để sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, có vậy sản xuất nông nghiệp mới đạt được hiệu quả cao

4.1.1.4 Thuỷ văn

Thuỷ văn của huyện Phù Cừ chịu ảnh hưởng và phụ thuộc vào chế độ thủy

văn và lưu lượng dòng chảy thượng nguồn của sông Luộc (chạy dọc từ Tây xuống

Đông với chiều dài 12,30 km)

Cùng với hệ thống sông, ngòi, nằm trong hệ thống đại thuỷ nông Bắc - Hưng Hải, đảm bảo tương đối chủ động cung cấp nước trong mùa khô hạn và tiêu úng trong mùa mưa lũ Tuy nhiên do địa hình thấp, mùa mưa tập trung gặp nước sông Luộc dâng cao nên khả năng tiêu nước hạn chế, úng lụt cục bộ kéo dài huyện cần có biện pháp chủ động trong giai đoạn tới

4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất

Theo số liệu thống kê đất đai đến 01/01/2014 tổng quỹ đất tự nhiên của Phù

Cừ là 9385,73 ha bằng 10,15% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Hưng Yên Đã khai

thác đưa vào sử dụng 9361,71 ha (chiếm 99,74%) Đất chưa sử dụng còn lại 24,02

Ngày đăng: 13/04/2017, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
33. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (2011). Giải quyết vấn đề ruộng đất của nông dân truy cập ngày 15/11/2015 tại http://www.vnep.org.vn/vi- vn/Nong-nghiep-Nong-thon-Nong-dan/Giai-quyet-van-de-ruong-dat-cua-nong-dan.html Link
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003). Nghị quyết số 26 - NQ/TW ngày 12/2/2003 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Khác
2. Ban chỉ đạo dồn điền đổi thửa (2011). Hướng dẫn số 03/HD - BCĐ ngày 14/9/2013 về tiếp tục triển khai thực hiện dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cừ Khác
3. Ban Kinh tế Trung ương (2004). Báo cáo tổng hợp nội dung, bước đi và biện pháp phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá và hợp tác hoá, dân chủ hoá, Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2000, 2005, 2011). Niên giám thồng kê đất đai năm 2000, 2005, 2011 Khác
7. Chi cục Thống kê huyện Phù Cừ (2014). Niên giám thống kê huyện Phù Cừ giai đoạn 2010 - 2014 Khác
8. Đinh Thị Dung (2004). Những kinh nghiệm và hiệu quả Dồn điền đổi thửa ở Ninh Bình, Báo Đảng, số 10/2004 Khác
9. Bùi Quang Dũng, Đặng Thị Việt Phương (2011). Ruộng đất và vấn đề phát triển nông thôn Việt Nam,Viện Xã hội học. Viện Khoa học xã hội Việt Nam Khác
10. Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền (1996). Nông nghiệp Việt Nam: Từ cội nguồn đến đổi mới. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
11. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1993). Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 về việc ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Khác
12. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2008). Nghị quyết số 24/NQ - CP ngày 28/10/2008 về Chương trình hành động của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác định Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới Khác
13. Chính phủ nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2009). Quyết định số 491/QĐ - TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hôi Chủ nghĩa Việt Nam về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
14. DANIDA (2010). Báo cáo nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình hỗ trợ khu vực kinh doanh (BSPS) và Chương trình hỗ trợ Khu vực nông nghiệp (ASPS): Đặc điểm kinh tế nông thôn Việt Nam, Kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn năm 2008- 2010 tại 12 tỉnh. Nhà xuất bản Thống kê Khác
15. Lâm Quang Huyên (2002). Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội Khác
16. Nguyễn Trung Kiên (2012). Tập trung ruộng đất ở Việt Nam: thực trạng và gợi ý chính sách. Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp Khác
17. Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Phù Cừ (2013). Báo cáo thống kê đất đai huyện Phù Cừ năm 2012 Khác
18. Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Phù Cừ (2015). Báo cáo thống kê đất đai huyện Phù Cừ năm 2014 Khác
19. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (1993). Luật Đất đai năm 1993. NXB Chính trị Quốc gia Khác
20. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2013). Luật Đất đai. Nhà xuất bản Tài nguyên – Môi trường và bản đồ Việt Nam Khác
21. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên (2013). Hướng dẫn số 04/HD – STNMT ngày 01/10/2013 về việc dồn thửa, đổi ruộng đất nông nghiệp gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013 – 2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thực trạng manh mún đất đai năm 2010 - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 2.1. Thực trạng manh mún đất đai năm 2010 (Trang 17)
Hình 2.1. Quy mô sản xuất nông nghiệp các vùng - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 2.1. Quy mô sản xuất nông nghiệp các vùng (Trang 18)
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí 2 xã chọn điểm nghiên cứu - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 3.1. Sơ đồ vị trí 2 xã chọn điểm nghiên cứu (Trang 36)
Hình 4.1. Sơ đồ hành chính huyện Phù Cừ - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 4.1. Sơ đồ hành chính huyện Phù Cừ (Trang 38)
Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu ngành nghề huyện Phù Cừ qua các năm - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu ngành nghề huyện Phù Cừ qua các năm (Trang 45)
Bảng 4.2 Dân số, mật độ dân số phân theo đơn vị hành chính xã, thị trấn - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.2 Dân số, mật độ dân số phân theo đơn vị hành chính xã, thị trấn (Trang 48)
Bảng 4.3 Biến động sử dụng đất huyện Phù Cừ giai đoạn 2012 - 2014 - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.3 Biến động sử dụng đất huyện Phù Cừ giai đoạn 2012 - 2014 (Trang 55)
Bảng 4.4. Tình hình dồn điền đổi thửa trong toàn huyện Phù Cừ - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.4. Tình hình dồn điền đổi thửa trong toàn huyện Phù Cừ (Trang 64)
Hình 4.4. Nhà văn hóa thôn Đồng Minh xã Đoàn Đào - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 4.4. Nhà văn hóa thôn Đồng Minh xã Đoàn Đào (Trang 66)
Bảng 4.7. Tình hình sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa tại 2 xã điều tra - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.7. Tình hình sử dụng đất trước và sau dồn điền đổi thửa tại 2 xã điều tra (Trang 70)
Hình 4.5. Mô hình cánh đồng mẫu lớn 50 ha ở xã Đình Cao - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 4.5. Mô hình cánh đồng mẫu lớn 50 ha ở xã Đình Cao (Trang 73)
Bảng 4.9. Quá trình phát triển trang trại giai đoạn 2012 -2014 - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.9. Quá trình phát triển trang trại giai đoạn 2012 -2014 (Trang 73)
Hình 4.6. Mô hình trang trại chăn nuôi hỗn hợp ở xã Đình Cao - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 4.6. Mô hình trang trại chăn nuôi hỗn hợp ở xã Đình Cao (Trang 74)
Bảng 4.10. Số lượng gia súc, gia cầm huyện Phù Cừ năm 2012 và năm 2014 - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Bảng 4.10. Số lượng gia súc, gia cầm huyện Phù Cừ năm 2012 và năm 2014 (Trang 74)
Hình 4.7. Đường giao thông nội đồng và kênh tưới cứng hóa ở xã Minh Tiến - đánh giá công tác dồn điền đổi thửa phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện phù cừ, tỉnh hưng yên
Hình 4.7. Đường giao thông nội đồng và kênh tưới cứng hóa ở xã Minh Tiến (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w