Trong điều kiện các nguồn tài nguyên đất đai có hạn, diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM PHÚC ÁNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Nguyên Hải
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Phúc Ánh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Đỗ Nguyên Hải đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch sử dụng đất, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Phúc Ánh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn xi
Thesis Abstract xiv
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 2
2.1 Khái quát về đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 2
2.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 6
2.2 Những vấn đề về hiệu quả và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
2.2.1 Khái quát hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 7
2.2.2 Đặc điểm và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 10
2.2.3 hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 11
2.3 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 13
2.3.1 Khái niệm về sản xuất hàng hóa 13
2.3.2 Cơ sở lý luận của sản xuất hàng hóa 13
2.3.3 Cơ sở thực tiễn của sản xuất hàng hóa 14
2.4 Cơ sở thực tiễn và bài học kinh nghiệm về sử dụng đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 15
2.4.1 Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa 15
2.4.2 Các nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa trên thế giới và ở Việt Nam 19
2.4.3 Bài học kinh nghiệm cho hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa 22
Trang 52.5 Định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở
Việt Nam 23
Phần 3 Nội dung và phương pháp nhiên cứu 27
3.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Đối tượng nghiên cứu 27
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh 27
3.4.2 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình biến động đất đai huyện Đông Anh 27
3.4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Đông Anh 27
3.4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của huyện Đông Anh 28
3.4.5 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Đông Anh theo hướng sản xuất hàng hóa đến năm 2020 28
3.4.6 Một số giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 28
3.5 Phương pháp nghiên cứu 28
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28
3.5.2 Phương pháp chọn điểm 29
3.5.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 29
3.5.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 29
Phần 4 Kết quả và thảo luận 32
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh 32
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 32
4.1.2 Đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 39
4.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40
4.1.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 47
4.2 Hiện trạng sử dụng đất và tình hình biến động đất đai huyện Đông Anh 48
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện 48
4.2.2 Tình hình biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2010 - 2015 huyện Đông Anh 51
Trang 64.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên
địa bàn huyện Đông Anh 52
4.3.1 Tình hình chung 52
4.3.2 Tình hình sản xuất ngành trồng trọt 56
4.3.3 Thị trường tiêu thụ nông sản 57
4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 57
4.4.1 Cácloại hình và kiểu sử dụng đất 57
4.4.2 Hiệu quả kinh tế 64
4.4.3 Hiệu quả xã hội 73
4.4.4 Hiệu quả môi trường 78
4.4.5 Đánh giá tổng hợp hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa ở huyện Đông Anh 83
4.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đông Anh theo hướng sản xuất hàng hóa đến năm 2020 85
4.5.1 Cơ sở định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 85
4.5.2 Định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đến năm 2020 86
4.6 Một số giải pháp tăng cường hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 91
4.6.1 Giải pháp thị trường 91
4.6.2 Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng 91
4.6.3 Giải pháp khoa học kỹ thuật 91
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 93
5.1 Kết luận 93
5.2 Kiến nghị 94
Tài liệu tham khảo 95
Phụ lục 97
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng việt
CPTG Chi phí trung gian
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc GTGT Giá trị gia tăng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Hình thức tưới tiêu và khả năng canh tác nông nghiệp trên địa bàn
huyện Đông Anh 36
Bảng 4.2 Các loại đất và hướng sử dụng trên địa bàn huyện Đông Anh 37
Bảng 4.3 Tổng hợp tình hình dân số tính đến ngày 31/12/2015 43
Bảng 4.4 Hệ thống chợ đầu mối và chợ bán lẻ trên địa bàn huyện Đông Anh 47
Bảng 4.5 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh 50
Bảng 4.6 Biến động diện tích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2010 – 2015 53
Bảng 4.7 Hiện trạng các LUT canh tác huyện Đông Anh năm 2015 57
Bảng 4.8 Hiện trạng các kiểu sử dụng đất mang tính hàng hóa trên địa bàn huyện Đông Anh 58
Bảng 4.9 Hiện trạng các loại hình và kiểu sử dụng đất canh tác thuộc tiểu vùng 1 của huyện Đông Anh 59
Bảng 4.10 Hiện trạng các loại hình và kiểu sử dụng đất canh tác thuộc tiểu vùng 2 của huyện Đông Anh 61
Bảng 4.11 Hiện trạng các loại hình và kiểu sử dụng đất canh tác thuộc tiểu vùng 3 của huyện Đông Anh 63
Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất chính tiểu vùng 1 64
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất chính tiểu vùng 2 67
Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng chính đất tiểu vùng 3 69
Bảng 4.15 Mức đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất hàng hóa trên địa bàn huyện Đông Anh 71
Bảng 4.16 Giá trị công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 74
Bảng 4.17 Giá trị công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 75
Bảng 4.18 Giá trị công lao động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 3 76
Bảng 4.19 Mức đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất hàng hóa trên địa bàn huyện Đông Anh 77
Bảng 4.20 Lượng phân bón sử dụng trên địa bàn huyện Đông Anh 79
Bảng 4.21 Mức độ sử dụng thuốc BvTV của người nông dân huyện Đông Anh 81
Bảng 4.22 Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất hàng hóa trên địa bàn huyện Đông Anh 82
Bảng 4.23 Hiệu quả các loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa ở huyện Đông Anh 84
Trang 9Bảng 4.24 Hiện trạng và định hướng sử dụng đất, bố trí cơ cấu cây trồng
Tiểu vùng 1 87 Bảng 4.25 Hiện trạng và định hướng sử dụng đất, bố trí cơ cấu cây trồng
Tiểu vùng 2 88 Bảng 4.26 Hiện trạng và định hướng sử dụng đất, bố trí cơ cấu cây trồng
Tiểu vùng 3 90
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Bản đồ vị trí huyện Đông Anh 33
Hình 4.2 Cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện Đông Anh trong năm 2010 – 2015 40
Hình 4.3 Biến động cơ cấu lao động trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2011 - 2015 44
Hình 4.4 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 49
Hình 4.5 Diện tích, cơ cấu đất đai năm 2015 51
Hình 4.6 Biến động sử dụng đất đai từ năm 2010 - 2015 huyện Đông Anh 52
Hình 4.7 Mô hình trồng rau nhà lưới xã Vân Nội, huyện Đông Anh 66
Hình 4.8 Mô hình canh tác Ngô xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh 68
Hình 4.9 Mô hình canh tác rau xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh 69
Hình 4.10 Cảnh quan ruộng khoai tây xã Hải Bối, huyện Đông Anh 70
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Phạm Phúc Ánh
Tên luận văn: “Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa
trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”
Chuyên ngành: Quản lý đất đai Mã số: 60.85.01.03
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập, điều tra về tình hình quản lý sử dụng đất, điều kiện tự nhiên và KT-XH huyện Đông Anh
- Phương pháp chọn điểm: huyện Đông Anh được phân thành 3 tiểu vùng và khu vực nghiên cứu được thực hiện trên 7 xã thuộc 3 tiểu vùng là xã Tiên Dương, Nam Hồng, Vân Nội, Vĩnh Ngọc, Hải Bối, Vân Hà, Liên Hà
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra và phỏng vấn trực tiếp về tình hình sản xuất các nông hộ qua 140 phiếu tại 7 xã trên địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Đánh giá dựa trên 3 khía cạnh hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường:
+ Hiệu quả kinh tế được phân tích, đánh giá thông qua chỉ tiêu:
Thu nhập thuần (TNT): phần thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài và công lao động gia đình
+ Hiệu quả xã hội: Được tính bằng giá trị công lao động và việc thu hút lao động trong sản xuất nông nghiệp, giải quyết việc làm Trong đó: Giá trị công lao động = TNHH / Số công lao động gia đình; Chỉ tiêu thu hút lao động là tổng số công lao động cần thiết để thực hiện canh tác cho 1 loại hình sử dụng đất
- Hiệu quả môi trường: Được đưa ra đánh giá dựa trên 2 chỉ tiêu:
+ Mức sử dụng phân bón và chủng loại sử dụng
+ Mức dụng dụng và sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật
Trang 123 Các kết quả nghiên cứu chính
Tổng diện tích tự nhiên huyện Đông Anh là 18.213,90 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 50,03%, với lợi thế quỹ đất nông nghiệp lớn thuận lợi cho sản xuất hàng hóa Tiểu vùng 1 có diện tích sản xuất nông nghiệp là 1.923,88 ha, vùng có địa hình cao, vàn cao Tiểu vùng 2 có tổng diện tích canh tác là 1.338,50 ha gồm các xã tập trung ven các con sông lớn nên Tiểu vùng 3 có diện tích canh tác là 1.571,86 ha gồm các xã
có địa hình thấp, trũng
Ở tiểu vùng 1 LUT có hiệu quả kinh tế cao nhất là LUT trang trại với TNT là 115,12 triệu đồng/ha, sau đó là LUT chuyên rau với TNT là 106.58 triệu đồng/ha LUT chuyên rau là LUT có hiệu quả xã hôi cao nhất ở tiểu vùng 1 với giá trị công lao động là 197,713 đồng/công và thu hút 1164 công lao động, sau đó là LUT trang trại với giá trị công lao động là 182,717 đồng/công
Ở tiểu vùng 2, các LUT cho giá trị kinh tế cao là LUT chuyên rau và LUT hoa, cây cảnh với TNT lần lượt là 65,31 triệu đồng/ha và 59,23 triệu đồng/ha LUT có hiệu quả xã hội cao nhất là LUT lúa – màu thu hút 854,8 công và có giá trị ngày công trung bình là 112.335,34 đồng/công
Ở tiểu vùng 3 cho hiệu quả kinh tế cao nhất là LUT trang trại với kiểu sử dụng đất Chăn nuôi – Cá cho TNT là 143,85 triệu đồng/ha Những LUT cho hiệu quả xã hội cao
ở tiểu vùng 3 là LUT Trang trại (thu hút 1.542 công lao động, giá trị ngày công đạt 178.730,29 đồng/ha), LUT Lúa – màu (thu hút 658,2 công lao động, giá trị ngày công đạt 95,112,17 đồng/ha)
Định hướng phát triển hàng hóa của huyện Đông Anh theo từng tiểu vùng là:
Tiểu vùng 1 khu vực có địa hình cao và vàn cao cần đẩy mạnh canh tác theo LUT rau – màu, LUT chuyên rau và LUT trang trại
Tiểu vùng 2 là khu vực gồm các xã nằm bám dọc các con song lớn có địa hình vàn, là vùng đất phù sa được bồi nên đất chủ yếu là cát pha và thịt nhẹ, tơi xốp thành phần dinh dưỡng khá cân đối thuận lợi cho phát triển các LUT Lúa – màu, LUT chuyên rau và LUT hoa, cây cảnh
Tiểu vùng 3 là khu vực các xã miền Đông của huyện, có địa hình thấp trũng, thường xuyên hay bị ngập úng, tiêu thoát chậm Đối với khu vực này cần tập trung phát triển các LUT cá và LUT trang trại
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Phuc Anh
Thesis title: "Evaluation of the effect of land use types of agricultural commodities in
Dong Anh district, Hanoi city"
Major: Land Management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
2 Materials and Methods
- Method secondary data collection: The collection, investigation on the situation
of land use management, socio-economic and natural conditions in Dong Anh District
- Selection method: Dong Anh district is divided into 3 sub - zones and research regional was carried out on 7 communes as Tien Duong, Nam Hong, Van Noi, Vinh Ngoc, Hai Boi, Van Ha, Lien Ha of about mentioned subzones
- Methods of primary data collection: Make surveys and direct interviews on the situation at the farm production by 140 votes in 7 communes
- Methods of synthesis and analysis of data: Evaluated based on three aspects of economic efficiency, social efficiency, environment effectiveness:
+ Economic efficiency is analyzed, assessed through indicators:
Net income (TNT): the income after deducting intermediate expenses, taxes or rent, depreciation, labor costs and labor outsourcing families
+ Social effect: Calculated as the value of labor and attracting labor in agricultural production, creation of jobs Where: The value of labor = Limited / Number of family labor; Attract labor indicators of labor is needed to implement the first cultivated land use types
- Environmental Effectiveness: Given evaluated based on two criteria:
+ Fertilizer usage and types of use
+ The level of chemicals use of Plant Protection
Trang 143 Main findings and conclusions
With a total area of 18.213,90 hectares is natural, of which agricultural land accounting for 50,03% Subzone 1 agricultural area is 1.923,88 hectares are areas with high terrain Subzone 2 has a total area of 1.338,50 ha cultivation is concentrated, including the communes along the large rivers Subzone 3 arable land is 1.571,86 hectares locating on low and depression on terrain
In the subzone 1, the LUT having highest economic efficiency, the net income is obtained 115,12 milion VND The net income of the LUT vegetable giving highest social efficiency, the calue of manday is 197.713 VND; and attracted 1.164 mandays/ha LUT farm producton giving the value os a manday of 182.717 and VND and attracted
1463 mandays/ha
In the second subzone, the net income from LUT specialized vegetable and LUT flower – decorative plant is 65,71 million VND/ha and 59,23 million VND/ha, respectively LUT rice – dubsidiary crop giving highest social efficiency; the value of a manday is 112.335 VND and atteacted 854,8 mandays/ha
In the thrid subzone, the animal and fishery farm aquaculture giving hightest economic efficiency, the net income is 143,85 million VND/ha The LUT farm production giving highest social efficiency with the value os a manday is 178.730 VND and attracted 1542 manday/ha The LUT rice – subsidiary crop giving the value of a manday of 95.112 VND, and attracted 658,2 manday/ha
Development orientation of Dong Anh commodity product by each sub-zone are:
Subzone 1 high terrain areas with high and still need to promote LUT vegetable – subdiary crop, LUT vegetable specialized and LUT farm prodiction
Subzone 2 including the communes, which located along the large rivers with level terrain, the alluvial soil have sandy and sandy texture, porous structure abd balance nutrients favorable for development the LUT rice – subsidiary crop, LUT vegetable specialized and LUT flower – decorative plant
Subzone 3 including the communes located in thieastern area of the district with lowlying terrain, which frequently flooded This area should be used foron development
of LUT aquaculture and LUT farm production
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng,… là nguồn vốn, nguồn nội lực trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Nhưng đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, việc sử dụng nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của từng địa phương và cả nước một cách khoa học và đạt hiệu quả cao là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn Trong những năm gần đây, việc khai thác sử dụng đất đai tại nhiều địa phương ở nước ta ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên tại nhiều khu vực, nhất là các khu vực ven đô thị, thực trạng sử dụng đất đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Do yêu cầu của quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và đang chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Mặt khác với vai trò là khu vực ven đô, diện tích đất nông nghiệp cần được quy hoạch sử dụng có hiệu quả cao nhằm cung cấp lương thực, rau quả cho nội thành và cải thiện môi trường sinh thái đô thị
Nền sản xuất nông nghiệp nước ta với những đặc trưng như: sản xuất còn manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng còn chưa cao, khả năng hợp tác, liên kết cạnh tranh trên thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp còn yếu Trong điều kiện các nguồn tài nguyên đất đai có hạn, diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là hướng đi hết sức cần thiết nhằm tạo ra hiệu quả cao về kinh tế đồng thời tạo ra tính đột phá cho phát triển nông nghiệp của từng địa phương cũng như cả nước
Đông Anh là huyện ngoại thành ở phía Đông Bắc Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô 15 km theo đường quốc lộ số 3 (Hà Nội - Thái Nguyên), với tổng diện tích tự nhiên là 18.213,90 ha Năm 2015 dân số của huyện Đông Anh
là 329.938 người với 56.496 hộ, trong đó có 273.385 nhân khẩu nông nghiệp (chiếm 80% tổng dân số) Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 1.811 người/km2 Nhìn chung, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện đã phần
Trang 16nào khai thác được tiềm năng vốn có của đất, hiệu quả sử dụng đất về phương diện kinh tế đã được người sử dụng đặc biệt quan tâm, nhưng sử dụng đất như thế nào để tài nguyên đất đai được khai thác thích hợp cả về hiệu quả KT-XH cũng như duy trì được hiệu quả và bền vững đang là mục tiêu quan trọng đối với
sự phát triển lâu dài của huyện Đông Anh hiện nay
Từ tất cả những vấn đề trên, được sự phân công của khoa Quản lý đất đai, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Đỗ Nguyên Hải, tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hàng
hóa trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” Nhằm phát huy những
lợi thế và khắc phục trở ngại trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sản xuất hàng hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Đông Anh
- Định hướng và đề xuất các giải pháp cho hướng sử dụng đất nông nghiệp sản xuất hàng hoá tại địa bàn huyện Đông Anh
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu thực hiện trên đối tượng là điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến nông nghiệp và điều kiện đất đai, các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn huyện Đông Anh;
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong năm 2015 và thực hiện điều tra nghiên cứu tại 7 xã Liên Hà, Vân Hà, Vĩnh Ngọc, Hải Bối, Vân Nội, Tiên Dương, Nam Hồng, các xã có điều kiện tự nhiên và đặc điểm canh tác đặc trưng trên địa bàn huyện Đông Anh
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Đề tài giúp đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất hàng hóa và có
ý nghĩa trong việc định hướng canh tác nông nghiệp hiệu quả cao trên địa bàn huyện Đông Anh
Góp phần giải quyết vấn đề lựa chọn loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao cho người nông dân trên địa bàn huyện Đông Anh
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp lâu đời với truyền thống canh tác, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp chiếm phần lớn trong cơ cấu sử dụng đất Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong
sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất,tạo ra sản phẩm cần thiết là nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến, phục vụ nhu cầu phát triểnvà các hoạt động sống của con người
2.1.1.2 Sử dụng đất nông nghiệp
a) Khái niệm sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Quy luật phát triển KT-XH cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại
Trang 18Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian
b)Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ
số sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách KT-
XH trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lương, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sửdụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệmôi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài Nguyễn Hoàng Đan và Đỗ Đình Đài (2003)
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
Trang 19c) Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý Vì vậy, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng Theo Smyth và Dumanski sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc (FAO, 1990):
- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước (bảo vệ)
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)
- Được xã hội chấp nhận (sự chấp nhận)
Năm nguyên tắc nêu trên được coi là kim chỉ nam của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được Nếu chỉ một hay một vài mục tiêu mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận Ngoài ra còn có các quan điểm sau:
- Tận dụng các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyện môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển KT-XH của cả nước
Trang 20d) Loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất (Land Use Type – LUT) là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả và phân loại một cách chi tiết Có thể phân loại theo thời gian sinh trưởng của cây trồng, phân loại theo nhóm sản phẩm, phân loại chi tiết theo cây trồng và mùa vụ Nói cách khác thì LUT là một hoặc một nhóm cây trồng được bố trí sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế hiện hành (cụ thể) Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về LUT, đưa việc xác định LUT vào nội dung các bước đánh giá đất và coi LUT là một đối tượng của quá trình đánh giá đất Theo FAO, LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, KT-XH và kỹ thuật được xác định (FAO, 1988)
Có thể liệt kê một số LUT khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay, như:
- Chuyên trồng lúa: có thể canh tác nhờ nước mưa hay có tưới chủ động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm;
- Chuyên trồng màu: thường được áp dụng cho những vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ;
- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một số tháng trong năm, nhất là mùa khô
- Trồng cỏ chăn nuôi;
- Nuôi trồng thủy sản;
- Trồng rừng
2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê năm 2015 (tính đến ngày 30/6/2015), tổng diện tích
tự nhiên của cả nước là 33.096.731 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 26.822.953 ha (chiếm 81,04% tổng diện tích tự nhiên) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015) Hiện nay việc sử dụng đất nông nghiệp của cả nước đang đứng trước thời cơ mới Nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao được đưa vào sản xuất mang lại lợi ích kinh tế cho người nông dân (Trung tâm tin học và thống kê, 2015)
Trang 21Việt Nam có 8 vùng đất nông nghiệp gồm: Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc bộ, Tây Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long Mỗi vùng đều có đặc trưng cây trồng rất đa dạng Trong đó, Đồng bằng Sông Cửu Long chủ yếu là lúa; Tây Nguyên là cà phê, rau, hoa, trà; miền Đông Nam bộ là cao su, mía, bắp, điều… Đất nông nghiệp ở nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có tỷ trọng đất nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước, chiếm 67,1% diện tích toàn vùng và vùng đất nông nghiệp; ít nhất là vùng Duyên hải miền Trung Đồng bằng Sông Hồng với Đồng bằng Sông Cửu Long đất đai ở hai vùng này được bồi tụ phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ, mỗi năm đất phù sa bồi tụ ở Đồng bằng Sông Cửu Long thêm 80m Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ phần lớn là đất bazan
Tuy nhiên, Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ phân mảnh đất đai cao nhất so với khu vực và thế giới Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người trên thế giới là 0,52ha, trong khu vực là 0,36ha thì ở Việt Nam là 0,25ha (Huy Thông, 2015)
2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.2.1 Khái quát hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Hiệu quả sử dụng đất đai là kết quả của một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học – kĩ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên (Ban soạn thảo Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Hiệu quả sử dụng đất là mối quan hệ giữa đầu vào các nhân tố khan hiếm
và sản lượng hàng hóa dịch vụ, mối quan hệ này được thể hiện bằng hiện vật hoặc giá trị Hiệu quả sử dụng chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại (Nguyễn Thị Vòng, 2011)
Trang 22Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là kết quả đạt được về mặt kinh tế, xã hội và môi trường từ việc đầu tư, sử dụng các loại đất nông nghiệp Bên cạnh việc đánh giá việc sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như gắn sản xuất nông nghiệp trong nước với thị trường quốc tế…
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất nông nghiệp trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị (lợi nhuận) thu được bằng tiền; đồng thời về mặt xã hội, là thể hiện hiệu quả của lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất
Hiệu quả sử dụng đất bao gồm ba mặt là hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội Mục đích của việc sử dụng đất là làm thế nào để tạo ra được hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội ở mức cao nhất trong điều kiện tài nguyên (đất đai, vốn, lao động…) có hạn, đảm bảo được lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của việc sử dụng đất
2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả quan trọng nhất Đó là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc sử dụng đất nông nghiệp Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất, hiệu quả kinh tế hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là mức tăng thêm của các kết quả sản xuất và mức tiết kiệm chi phí lao động xã hội Hiệu quả kinh tế là hiệu quả được quan tâm hàng đầu, cốt lõi của sử dụng đất và là khâu trung tâm để đạt các loại hiệu quả khác và có khả năng lượng hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính Đối với sản xuất nông nghiệp, việc đánh giá đúng hiệu quả kinh tế sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp và quy hoạch phát triển nền kinh tế của địa phương: Giúp lựa chọn đúng các LUT phù hợp với cây trồng, vật nuôi để đưa ra hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong từng giai đoạn và là cơ sở để xây dựng kịch bản phát triển kinh tế; Nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người nông dân; Tạo động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất, nâng cao hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, bảo đảm sử dụng đất bền vững
Trang 232.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Các chỉ tiêu hiệu quả xã hội thể hiện mức thu hút lao động, mức độ sử dụng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, trình độ dân trí, trình độ hiểu biết khoa học…
Hiệu quả xã hội của các LUT bao gồm việc giải quyết việc làm cho lao động dư thừa trong nông thôn, mức độ đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên một công lao động của mỗi kiểu sử dụng đất
Hiệu quả xã hội chính là sự bền vững về xã hội, thể hiện ở việc: Đáp ứng nhu cầu nông hộ về lương thực, thực phẩm, về tiền mặt và về các nhu cầu khác; Tăng cường khả năng người dân về tham gia các khâu; Được cộng đồng chấp nhận, phù hợp với văn hoá dân tộc, phù hợp với tập quán địa phương
2.2.1.3 Hiệu quả môi trường sinh thái
Hiệu quả môi trường sinh thái thể hiện qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ diện tích đất đai được bảo vệ và cải tạo, bị ô nhiễm hay thoái hóa, mức độ bảo vệ môi trường sinh thái trong vùng (đất - nước - không khí, động, thực vật); Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau Cây trồng chỉ phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng
sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, bao gồm hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường:
- Hiệu quả hoá học môi trường trong sản xuất nông nghiệp được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
- Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Trang 24- Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào (Đỗ Nguyên Hải, 1999) Sản xuất muốn phát triển phải quan tâm tới cả ba loại hiệu quả: kinh tế, xã hội, môi trường, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh
tế không có nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không vững chắc (Đỗ Nguyên Hải, 1999)
2.2.2 Đặc điểm và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2.1 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Trước hết và quan trọng nhất là đánh giá hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất diễn ra trên diện tích đất nông nghiệp đó Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất Điều đó khẳng định rằng, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trước hết, phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể, kết quả thu được trên một đồng chi phí, trên một lao động đầu tư
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Điều đó khẳng định thêm rằng, hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Thực chất vấn đề này là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu nhiều tác động và cũng có tác động nhiều đến môi trường cũng như hệ sinh thái Chỉ có thể phát triển nông nghiệp bền vững được khi con người biết cách bảo vệ và cải thiện môi trường cùng hệ sinh thái
Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Trang 252.2.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Đối với đất nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường do xã hội đặt ra, cụ thể là: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng sản lượng xuất khẩu đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1967), có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là: bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội, nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và
tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau
2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3.1 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
- Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc (Bùi Văn Ten, 2000)
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm
và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
- Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn nhất theo tiêu chuẩn và quan điểm đã vạch ra ở trên để soi sáng sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại cuả nền kinh tế
- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
- Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải
có tác dụng kích thích sản xuất phát triển (Nguyễn Văn Vọng, 2013)
Trang 262.2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
a) Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của các LUT trên các đơn vị đất đai khác nhau được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
- Giá trị sản xuất (GTSX): giá trị tính bằng tiền của toàn bộ các loại sản phẩm trên một đơn vị sản xuất (tính trong một vụ hoặc một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ
sử dụng trong quá trình sản xuất như thức ăn, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuỷ lợi phí, lao động thuê ngoài
- Giá trị gia tăng (GTGT): phần giá trị tăng thêm của người lao động trong một chu kỳ sản xuất, tính bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian
- Thu nhập thuần (TNT): phần thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế hoặc tiền thuê đất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài và công lao động gia đình
b) Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả xã hội thông qua các chỉ tiêu:
- Thu nhập bình quân, sản lượng bình quân;
- Trình độ hiểu biết về khoa học kỹ thuật;
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết về xã hội;
- Khả năng đầu tư của các hộ nông dân;
- Tập quán canh tác;
- Tỷ lệ lao động có việc làm;
- Giá trị bình quân công lao động lao động: được tính bằng tỷ số TNHH/1 công lao động;
c) Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Đánh giá hiệu quả môi trường thông qua các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ diện tích đất được bảo vệ, cải tạo, bị ô nhiễm và thoái hóa;
- Mức độ bảo vệ môi trường sinh thái trong vùng (đất, nước, không khí, thực vật );
- Sự thích hợp về môi trường khi thay đổi kiểu sử dụng đất;
- Ảnh hưởng của phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường đất;
Trang 272.3 QUAN ĐIỂM SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA
2.3.1 Khái niệm về sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị marx-Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất
ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất
ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Hay nói một cách khác, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế
mà sản phẩm sản xuất ra là để bán (Vũ Anh Tuấn, Phạm Quang Phân và Tô Đức Hạnh, 2007)
Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hóa sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa (sản xuất theo hướng hàng hóa) (Nguyễn Hoàng Long, 2008)
Sản xuất hàng hóa là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội,
nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó
Sản xuất hàng hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất là không thể tránh khỏi
2.3.2 Cơ sở lý luận của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại dựa trên hai điều kiện:
* Phân công lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội tức là là sự chuyện môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau Phân công lao động xã hội là cơ sở, là tiền đề của sản xuất hàng hóa Phân công lao động xã hội càng phát triển, thì sản xuất và trao đổi hàng hóa càng mở rộng hơn,
đa dạng hơn
Do sự phân công lao động xã hội nên việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Khi có phân công lao động xã hội, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài thứ sản phẩm nhất định, nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó, họ cần đến sản phẩm của nhau, buộc phải trao đổi với nhau Phân công lao động xã hội, chuyện môn hóa sản xuất đồng thời làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều nên càng thúc đẩy sự trao đổi sản phẩm
Trang 28Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuất phụ thuộc vào nhau, còn sự tách biệt tương đối về mặt kinh
tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ họ, làm cho họ độc lập với nhau Đây là một mâu thuẫn Mâu thuẫn này được giải quyết thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm của nhau Đó là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hóa Cả hai điều kiện không được thiếu một điều nào, thiếu một trong hai điều kiện đó sẽ không
có sản xuất hàng hóa
Như vậy sản xuất nông nghiệp hàng hóa là sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp (nông sản) để bán nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp nước ta đã đạt được những tiến bộ vượt bậc: từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp đang chuyển dần sang nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa với nhiều thế mạnh An ninh lương thực trong nước được bảo đảm và đứng hàng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo, xuất khẩu cà phê, xếp thứ tư về xuất khẩu cao su, dẫn đầu thế giới về xuất khẩu điều, hồ tiêu Thành tựu sản xuất nông nghiệp qua giá trị tổng sản phẩm xã hội tăng tương đối ổn định và liên tục
2.3.3 Cơ sở thực tiễn của sản xuất hàng hóa
Đảng ta xác định: Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại; xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn gắn với phát triển các đô thị; nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho cư dân nông thôn, nhất là vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đổi mới cơ chế chính sách, huy động các nguồn lực; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước về phát triển nông nghiệp nông thôn… Trong đó hai nhóm giải pháp quan trọng và là đổi mới tình thức tổ chức dịch vụ, sản xuất, quy hoạch vùng sản xuất nông sản hàng hóa dựa trên thế mạnh cử từng vùng Phát triển nhanh nghiên cứu khoa học - công nghệ, chuyển giao ứng dụng vào thực tiễn đời sống nông thôn để tạo
Trang 29ra nhiều nông phẩm hàng hóa, tăng giá trị thu nhập trên đơn của người nông
dân là những nhóm giải pháp quan trọng và then chốt Đó là cách tốt nhất và
nhanh nhất để giúp người nông dân giảm nghèo nhanh, bền vững và sống sung
túc trên mảnh đất sinh kế của mình Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa, trong đó vai trò của khoa học công nghệ có tính then chốt là một định
hướng quan trọng Vai trò của kinh tế nông nghiệp trong tương lai vẫn mang ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nước ta trên đường đổi mới và phát triển (Vũ Thị Ngọc Trân, 1997)
2.4 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ SỬ DỤNG ĐẤT,
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG
SẢN XUẤT HÀNG HÓA
2.4.1 Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
2.4.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là sự biểu hiện của lực lượng sản xuất đã phát triển có sự
tồn tại của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Sản xuất hàng hóa phản ánh về
trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Sự phân công
lao động xã hội này càng sâu sắc bao nhiêu thì sản xuất hàng hóa càng phát triển
bấy nhiêu, sự phát triển hàng hóa phải gắn với sự trao đổi của thị trường và chính
sách của Nhà nước Nông nghiệp sản xuất hàng hóa phải gắn liền với trình độ
canh tác của người nông dân, người nông dân cần phải biết chuyện môn hóa, tập
trung trong sản xuất nhằm tạo ra nông sản phẩm nhiều về số lượng, tăng cường
về chất lượng, đa dạng về chủng loại để thỏa mãn nhu cầu của thị trường, đem lại
hiệu quả cao nhất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất mang tính chất cơ bản của mỗi quốc
gia Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỷ trọng của sản xuất công
nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn, nông nghiệp chỉ
chiếm một phần nhỏ, nhưng những khó khăn trong nông nghiệp đã gây ra không
ít những xáo động trong đời sống xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế chung Để nông nghiệp có thể thực hiện
được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nông
nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc Con đường tất yếu để phát
triển nông nghiệp nước ta là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự cấp tự túc sang sản
xuất hàng hóa
Trang 30Tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam năm 2014 ước đạt 30,8 tỷ USd, tăng 11,2% so với năm 2013, điển hình như gỗ, tôm, cao su, cà phê, gạo, rau quả (Hoàng Tùng, 2014) Tuy nhiên, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Điều đó làm cho các sản phẩm hàng hóa khó tiêu thụ, ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên
là do bố trí cây trồng, vật nuôi chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên mà chưa dựa vào các luận cứ khoa học, chưa tổ chức tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hóa sụt giảm là chúng ta chưa
có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về kinh tế thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa Do đó, sản xuất hàng hóa còn mang tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu định hướng thị trường Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có định hướng và thị trường ổn định (Hà Hồng Quân, 2013)
Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hóa là quy luật khách quan của mọi hình thái KT-XH, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó Theo Lê Nin thì nguồn gốc của sản xuất hàng hóa là sự phân công lao động xã hội Vì thế, nền kinh tế tự cung tự cấp gắn liền với nền kinh tế đóng cửa và gần như tách biệt với thị trường làm cho nông dân có cuộc sống thấp do năng suất lao động thấp, thế vận động kinh tế hộ nông dân tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hóa, kích thích sự phát triển kinh tế nông hộ nên sản xuất hàng hóa là đúng quy luật, nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa (Hà Hồng Quân, 2013)
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất
và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản
Trang 31xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn (Vũ Anh Tuấn, Phạm Quang Phân và Tô Đức Hạnh, 2007) Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối
đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng Vì thế nó là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hóa nhiều với nhiều chủng loại phong phú,
đa dạng
Việc đưa nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hóa là quá trình lâu dài
và đầy những khó khăn phức tạp, cần phải gắn liền với việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyện canh và thâm canh ngày càng cao và phải gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến và được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xã hội hóa sản xuất, ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất (Hà Hồng Quân, 2013)
Từ những vấn đề trên cho thấy xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là hướng đi đúng, là sự tiến hóa hợp quy luật Do đó, tìm kiếm thị trường và những giải pháp sản xuất, đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có hiệu quả cao, ổn định là rất cần thiết
2.4.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa bao gồm:
- Khoa học - công nghệ là đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, là yếu tố quyết định của nông nghiệp hàng hóa Nhờ nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật con người đã hạn chế được ảnh hưởng của tự nhiên đồng thời tạo ra sự chủ động trong hoạt động nông nghiệp.Khoa học công nghệ cũng góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hình thành vùng chuyện canh: lúa, rau,… là tiền đề của sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Các biện pháp kĩ thuật được sử dụng trong nông nghiệp như: Điện khí hóa,
Cơ giới hóa, Thủy lợi hóa, Hóa học hóa, Sinh học hóa… nếu được áp dụng rộng rãi thì năng suất trên 1 đơn vị diện tích và năng suất của một người lao động sẽ được nâng cao (Hà Hồng Quân, 2013)
- Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới con đường phát triển và các hình thức sản xuất nông nghiệp Việc thay đổi quan hệ sở
Trang 32hữu ruộng đất ở mỗi quốc gia thường gây ra những tác động rất lớn tới phát triển nông nghiệp Quan trọng nhất là việc “dồn điền đổi thửa” Lợi ích của việc tập trung ruộng đất bao gồm khả năng tăng năng suất thông qua cơ giới hóa, tăng năng suất lao động thông qua việc tổ chức và giám sát sản xuất một cách hiệu quả, tối ưu hóa vốn cố định; giảm chi phí đầu vào tính theo bình quân đơn vị (giống, phân bón ); tăng hiệu quả vận tải Việc tập trung ruộng đất còn cho phép chính quyền địa phương dễ dàng cải tạo hệ thống hạ tầng phục vụ nông nghiệp
mà trước đây chưa làm được do những mảnh ruộng quá bé và bố trí không thuận lợi Lợi thế cuối cùng của tập trung ruộng đất là quy mô sản xuất lớn cho phép áp dụng những công nghệ hiện đại
Ở Việt Nam, hơn hai mươi năm qua, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những chính sách chuyển từ sản xuất nông nghiệp theo hướng tập thể sang làm ăn cá thể dựa trên nền tảng là hộ nông dân theo cơ chế thị trường Chính sách đất đai đã giao quyền sử dụng đất đai cho từng hộ nông dân Nếu coi quyền sở hữu gắn với quyền sử dụng thì nông dân có quyền gần như quyền sở hữu Chính sách đất đai
có thể ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của hộ để đáp ứng nhu cầu tự cung,tự cấp của hộ và có thể bán sản phẩm dư thừa; tình trạng kinh tế của hộ; và khuyến khích hộ sử dụng đất đai bền vững (Hà Hồng Quân, 2013)
- Nguồn vốn và thị trường tiêu thụ là nhân tố có tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, giá cả nông sản Nguồn vốn có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển và phân bố nông nghiệp nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam Nguồn vốn tăng nhanh được phân bố và sử dụng có hiệu quả sẽ tác động đến tăng trưởng và mở rộng sản xuất, đáp ứng các chương trình phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đánh bắt xa bờ, đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào nông nghiệp… Do vậy cần khai thác và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư Muốn vậy cần phải có cơ chế chính sách phù hợp để khai thác tối đa các nguồn vốn: đầu tư nhà nước, đầu tư nước ngoài…
Sự phát triển của thị trường trong và ngoài nước sẽ thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp và giá cả nông sản Thị trường rộng lớn, ít sự cạnh tranh gay gắt,…
sẽ thuận lợi cho sự tiêu thụ và định mức giá cả nông sản Ngoài ra yếu tố thị trường còn có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển các vùng nông nghiệp chuyện môn hóa (Hà Hồng Quân, 2013)
Trang 332.4.2 Các nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa trên thế giới và ở Việt Nam
2.4.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới cũng đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới, các kỹ thuật canh tác mới Đặc biệt, Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) cũng đóng góp nhiều thành tựu về giống lúa và hệ thống canh tác trên đất lúa Xu hướng chung trên thế giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2006)
Một số nước đã ứng dụng công nghệ thông tin xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Philipin, Hà Lan, Mỹ, Nhật , kết hợp giữa bón phân vào đất, phun phân qua lá, phân vi lượng, chất kích thích, điều hòa sinh trưởng đã mang lại hiệu quả sản xuất rất cao (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2006)
Ở Châu Á những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều vùng đã đưa các cây trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa làm tăng hiệu quả sử dụng đất Nông nghiệp Ấn Độ thực hiện sự chuyển dịch từ cây trồng truyền thống kém hiệu quả sang cây trồng có hiệu quả cao bằng cách trồng mía thay cho lúa gạo và lúa mì, trồng đậu tương thay cho cao lương ở vùng đất đen, trồng cây lúa ở vùng có mạch nước ngầm cao thay cho cây lấy hạt có dầu, bông và đậu đỗ (Nguyễn Văn Luật, 2005)
Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lúa xuân trong công thức luân canh Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên
rõ rệt, nhờ đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao Ngoài ra, Uỷ ban chính sách Quốc gia Thái Lan đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt (Nguyễn Hoàng Long, 2008)
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới
Trang 34tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của
Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn (Nguyễn Hoàng Long, 2008)
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất để từ đó
có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế
so sánh của từng vùng
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu
tố quyết định đến phát triển KT-XH nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc
đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng
tạo của nông dân trong sản xuất.Thực hiện chủ trương “nông bất ly hương” đã
thúc đẩy phát triển KT-XH nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp (Đỗ Thị Tám, 2001)
2.4.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm qua, nhờ sự đổi mới về chính sách của Đảng, Nhà nước
và sự trú trọng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, nhiều công trình nghiên cứu được hội đồng khoa học đánh giá cao, được
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đã đưa vào áp dụng trong sản xuất, đưa năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng trong những năm qua, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được người sản xuất đánh giá cao
Một số cơ sở nghiên cứu trong nước như: Viện Công nghệ Xạ Hiếm, Liên hiệp đất hiếm Việt Nam, Viện Khoa học Vật liệu thuộc Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Viện Nông hóa Thổ nhưỡng đã tiến hành một số nghiên cứu thử nghiệm ứng dụng các nguyên tố đất hiếm trong thâm canh một số cây trồng như: lúa, ngô, đậu tương, lạc, bắp cải Các nghiên cứu cho thấy, việc
sử dụng vi lượng các nguyên tố đất hiếm có khả năng tăng năng suất bắp cải là 11,2%, tăng số nốt sần hấp thụ đạm của cây đậu tương và tăng năng suất từ 5,1 - 7,5%, tăng năng suất thân cây ngô từ 20,5 - 33,2% và năng suất bắp ngô từ 4 - 15,1% (Nguyễn Hà, 2003)
Trang 35Các cây trồng biến đổi gen là những nguồn giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định lâu dài, thích nghi được với biến đổi khí hậu và khả năng sinh thái của Việt Nam Tại Việt Nam, từ đầu năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cấp giấy phép khảo nghiệm diện hẹp, tiếp theo khảo nghiệm diện rộng cho 5 sản phẩm ngô biến đổi gen Cuối tháng 8/2015, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đã chính thức có các quyết định về việc công nhận các sản phẩm ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam (Thanh Tâm, 2014)
Tiến sỹ Đào Xuân Tân và Đào Thị Thảo, Trường đại học sư phạm Hà Nội
2, đã nghiên cứu, chọn tạo thành công giống lúa nếp Phu thê, thỏa mãn các tiêu chí: có khả năng chống chịu khá với các loại sâu bệnh chính, phổ thích nghi rộng, năng suất cao, chất lượng tốt, được nhiều người tiêu dùng ưa thích , hiệu quả kinh tế đạt 120-150 triệu đồng/ha/năm Theo thống kê mới nhất, giống lúa nếp Phu thê đã được chuyển giao thành giống hàng hóa tại 15 tỉnh, thành phố trên cả nước như Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Lai Châu, Quảng Nam, Gia Lai (Minh Nguyệt, 2015)
Đã có nhiều công trình có giá trị nghiên cải thiện nông nghiệp như Đánh giá
và lựa chọn một số loại thực vật bản địa có khả năng trừ cỏ vùng Đông Bắc Bùi Lan Anh (2010), Nghiên cứu mốt số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất gấc tại Thái Nguyên của Nguyễn Viết Hưng (2010),Nghiên cứu và tuyển chọn một số dòng, giống lúa chất lượng cao, có khả năng chịu rét cho vùng miền núi phía Bắc Việt Nam của Đặng Quý Nhân (2010), Nghiên cứu, trồng rau thủy canh công nghệ cao trong điều kiện nhà có mái che sản xuất trong nước phục vụ phát triển KT-XH các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam của Lê Sỹ Lợi (2011) Những nghiên cứu này giúp người sản xuất có những hiểu biết và kiến thức để đưa ra được những quyết định, lựa chọn đúng đắn trong các hoạt động nông nghiệp Như vậy, có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ đất cũng như xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hoá trong điều kiện cụ thể của từng vùng
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc nghiên cứu về đất và sử dụng đất mới được thực hiện trên phạm vi vùng không gian rộng, cho nên tính thực tiễn của nó chưa cao Do vậy, trong thời gian tới cần phải có những nghiên cứu về đất và sử dụng đất mang tính cụ thể hơn, thực tiễn hơn cho từng địa phương (cấp xã, cụm xã, cấp huyện), có như vậy thì mới mang lại hiệu quả cao trong sử dụng đất
Trang 362.4.3 Bài học kinh nghiệm cho hướng sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Một là, từ thực tiễn việc nghiên cứu về đất và sử dụng đất ở Việt Nam cho thấy, hiệu quả sử dụng đất chỉ có thể phát huy khi sản xuất tập trung theo vùng sinh thái với các đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định Các vùng sinh thái khác nhau sẽ có những đặc trưng sinh thái thích hợp với từng loại cây trồng và công thức luân canh Vì vậy, việc phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa theo vùng sinh thái sẽ cho kết quả chính xác hơn về loại hình sử dụng đất thích hợp, làm cơ sở cho việc lựa chọn loại hình
sử dụng đất cho năng suất cao, đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp hàng hóa Hai là,hiệu quả từ việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở Ấn Độ, việc thay đổi công thức luân canh ở Thái Lan, hay các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất gấc tại Thái Nguyên… cho thấy, cần phải nâng cao khả năng thâm canh, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp hữu cơ để cải thiện trình độ sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp hàng hóa
Ba là, trước sự phát triển về công nghệ sạch và sự tăng lên về nhu cầu tiêu thụ nông sản chất lượng cao của con người, một sản phẩm nông nghiệp muốn cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế cần đáp ứng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, sản phẩm phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng Sản phẩm sạch sẽ là sự lựa chọn tối ưu cho người tiêu dùng và là mục tiêu sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa trong tương lai
Bốn là, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã đem lại hiệu quả sản xuất cao, tạo bước tiến lớn trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển nông nghiệp Ở Việt Nam, cần nghiên cứu, xây dựng hệ thống thông tin về đất đai và hệ thống phân tích các yếu tố môi trường tác động đến các loại hình sử dụng đất để đem lại hiệu quả sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa Đồng thời, cần tăng cường trao đổi thông tin, mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp
Năm là, các sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng các nhu cầu sử dụng trực tiếp như ăn, uống mà còn tham gia vào quá trình sản xuất, chế biến, xuất khẩu ra thị trường tiêu thụ thế giới Vì vậy, để phát huy hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hóa trong việc cung ứng các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của con người cần nâng cao năng lực công nghệ chế biến để giải quyết vấn đề đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp
Trang 372.5 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM
Theo nghị quyết số 26/NQ-TW Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ: “Phát triển ngành trồng trọt, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thực hiện đầu tư thâm canh, áp dụng các giống và quy trình sản xuất mới có năng suất, chất lượng cao; hoàn thiện hệ thống tưới tiêu; đẩy nhanh cơ giới hoá đồng
bộ các khâu sản xuất; hiện đại hoá công nghiệp bảo quản, chế biến, nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa Bố trí lại cơ cấu cây trồng, mùa vụ và giống để giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phù hợp với điều kiện của từng vùng Tiếp tục đẩy mạnh thâm canh sản xuất lúa, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng ” Định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hóa Việt Nam cụ thể như sau:
1 Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng kinh tế thị trường hiện đại trong các đơn vị, ngành, vùng đã hình thành Đồng thời, từng bước chuyển các đơn vị, ngành, vùng nông nghiệp còn căn bản tự cấp, tự túc ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít người lên sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu tập trung, nhằm đáp ứng được nguồn cầu về nông sản của thị trường trong nước và thế giới theo hướng số lượng ngày càng nhiều, chủng loại ngày càng đa dạng, chất lượng ngày càng cao, giá ngày càng rẻ, trong đó chất lượng nông sản là vấn đề cần đặc biệt quan tâm
Để nâng cao chất lượng nông sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, trước hết cần đổi mới cách tiếp cận với thị trường, đó là cung cấp những sản phẩm căn cứ vào nhu cầu của thị trường chứ không phải từ khả năng có của Việt Nam, nên cần
có sự nghiên cứu kỹ lưỡng những yêu cầu này.Tiếp đến, phải áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng, thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiên tiến ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất, từ khâu chọn giống, kỹ thuật trồng, nuôi, chăm sóc đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch, bảo quản, chế biến và trong khâu lưu thông phân phối đến người tiêu dùng.Phải tổ chức quản lý tốt việc tổ chức, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, tránh chạy theo lợi nhuận mà xem nhẹ chất lượng (Nguyễn Trần Trọng, 2012)
2 Tiếp tục đẩy mạnh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng năng suất ruộng đất, đồng thời chú ý tới tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị nông sản.Để thực hiện chiến lược này cần đưa công nghệ hiện đại vào
Trang 38nông nghiệp, trong đó chú trọng áp dụng những tiến bộ của công nghệ sinh học.Từ thực tiễn sản xuất, đòi hỏi cần có một sự tính toán khoa học để giảm chi phí, hạ giá thành nông sản, tăng giá trị tối đa trên một đơn vị diện tích ruộng đất Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải có bước đi phù hợp trong chiến lược tăng năng suất lao động trong nông nghiệp nước ta Cụ thể, trong điều kiện nông nghiệp Việt Nam hiện nay, chúng ta chỉ nên thực hiện cơ giới hóa ở một số khâu nhất định phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi ở một số vùng và vào lúc thời
vụ thiếu lao động (như trong các khâu thủy lợi, làm đất, thu hoạch, vận chuyển ) (Nguyễn Trần Trọng, 2012)
3 Hoàn thiện cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển toàn diện trên cơ sở chuyện môn hóa, tập trung hóa trong từng ngành, từng vùng sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả lợi thế so sánh của nông nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã chuyển đổi theo hướng kinh tế thị trường, hình thành được nhiều đơn vị sản xuất, ngành, vùng sản xuất hàng hóa lớn, như: ngành sản xuất lúa gạo vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, ngành cao su ở Đông Nam Bộ, ngành cà phê ở Tây Nguyên, ngành chè ở trung du miền núi phía Bắc, ngành trồng rau, hoa ở Đà Lạt và quanh các thành phố lớn, ngành cây ăn trái và ngành nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Trần Trọng, 2012)
4 Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến Để phát triển công nghiệp chế biến, xây dựng các vùng nguyên liệu vững chắc, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu, cần có cơ chế bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người chế biến, với người sản xuất nguyên liệu; ràng buộc trách nhiệm giữa các bên trong quá trình phát triển, đồng thời tăng cường sử dụng công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng nông, lâm, thủy sản đã qua chế biến nhằm tăng lợi ích cho các bên tham gia (Nguyễn Trần Trọng, 2012)
5 Cùng với các việc trên cần xây dựng các loại hình thức kinh tế phù hợp trong nông nghiệp
Kinh tế hộ gia đình hiện nay là loại hình kinh tế phổ biến nhất với gần 10 triệu hộ, chiếm khoảng 98% tổng số lao động và đóng góp 92% giá trị sản xuất nông nghiệp Khi đất nước tiến hành đổi mới, kinh tế hộ gia đình đã tỏ ra một
Trang 39loại hình kinh tế lý tưởng cần được khuyến khích Tuy nhiên, đến nay loại hình kinh tế này lại bộc lộ nhiều nhược điểm vì phân tán, ruộng đất manh mún, cản trở việc sử dụng kỹ thuật hiện đại, việc nâng cao chất lượng sản phẩm… Vì vậy, trong giai đoạn 2011 - 2020 cần gắn kinh tế hộ với các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ lớn hiện đại trong nông nghiệp và ngoài nông nghiệp để làm chỗ dựa cho loại hình này đi lên sản xuất hàng hóa lớn
Cần có các chính sách phát triển các trang trại tư nhân lớn trong những vùng, ngành có điều kiện cho phép, khuyến khích phát triển các trang trại tư nhân trong ngành chăn nuôi theo hướng hiện đại.Trong điều kiện bình quân ruộng đất
ít, đất hoang không còn nhiều, nên khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và sử dụng ít đất (Nguyễn Trần Trọng, 2012) Đối với các doanh nghiệp Nhà nước trong nông nghiệp cần được sắp xếp đổi mới theo hướng:
+ Cổ phần hóa những doanh nghiệp nông, lâm nghiệp có đủ điều kiện + Chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nhà nước ở những địa bàn cần thiết
+ giải thể những nông, lâm trường quốc doanh, công ty nông, lâm nghiệp yếu kém, sản xuất, kinh doanh không có hiệu quả
+ Xác định quy mô ruộng đất tối ưu cho các doanh nghiệp; số đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, rừng dôi ra, giao lại cho địa phương quản lý để thực hiện việc giao đất, giao rừng cho nông dân(Nguyễn Trần Trọng, 2012)
6 Thực hiện một số chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp cần thực hiện những chính sách chủ yếu sau đây:
+ Chính sách đầu tư Hiện nay tốc độ tăng đầu tư cho nông nghiệp chỉ đạt 3,2% - 3,4%/năm chưa tương xứng với vai trò quan trọng và sự đóng góp của nông nghiệp cho nền kinh tế quốc dân Cần tăng cường đầu tư nhiều hơn nữa cho nông nghiệp, hướng vào nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ hiện đại trong nông nghiệp, tăng cường khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và xây dựng các
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất, cho giai đoạn sau thu hoạch, chế biến, bảo quản nông sản cho đến khi đưa đến người tiêu dùng trong và ngoài nước (Nguyễn Trần Trọng, 2012)
Trang 40+ Chính sách tín dụng Tạo điều kiện cho nông dân tiếp cận với nguồn tín dụng, giải quyết tình trạng luôn thiếu vốn của nông dân, cho nông dân vay kịp thời trong những thời kỳ cần vốn sản xuất để tránh phải bán tháo nông sản với giá thấp, hoặc tránh phải đi vay nặng lãi
+ Chính sách thị trường Ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong nước và trên thế giới; hỗ trợ nâng cao năng lực cho nông dân trong việc tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản; cung cấp đầy đủ và chính xác cho nông dân những thông tin về thị trường; có chính sách gắn kết giữa sản xuất của nông dân với thị trường tiêu thụ
+ Chính sách về ruộng đất Ban hành chính sách thay thế cơ chế thu hồi và đền bù quyền sử dụng đất bằng cơ chế mua và bán quyền sử dụng đất trên thị trường để hoàn thiện thể chế thị trường trong nông nghiệp và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nông dân - vốn luôn là người yếu thế trong cơ chế thu hồi và đền
bù quyền sử dụng đất Đối với việc tập trung và tích tụ ruộng đất cần phải có bước đi phù hợp, phải dựa vào tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa, để rút lao động ra khỏi nông nghiệp, tuyệt đối không được làm cho nông dân mất đất, thất nghiệp và bần cùng hóa (Nguyễn Trần Trọng, 2012)
7 Bảo vệ môi trường sinh thái trong nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch và hạn chế đến mức tối đa sự tác động từ bên ngoài
Cương quyết chấm dứt nạn chặt phá, thu hẹp rừng dưới mọi hình thức Đẩy mạnh phát triển rừng, trồng rừng và bảo vệ rừng để đạt lại độ che phủ ít nhất 48% Việc xây dựng các công trình thủy điện, hồ đập, khai khoáng cần được tính toán hết sức khoa học, không được gây tai họa cho môi trường sinh thái nông nghiệp, gây thiệt hại cho dân cư Chấm dứt sự ô nhiễm gây ra bởi các hoạt động ngoài nông nghiệp Tích cực tham gia chương trình hạn chế sự biến đổi khí hậu toàn cầu, tích cực nghiên cứu và chuẩn bị ứng phó đặc biệt khi nước biển dâng (Nguyễn Trần Trọng, 2012)