Kết quả chính và kết luận Luận văn nêu được các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Thuận Thành, nêu lên tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của huyện, các
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN LAM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐẾN ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Vân
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Lam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thày cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè đồng nghiệp và gia đình để hoàn thành bản luận văn này
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi bày bỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Phạm Văn Vân, Khoa Quản lý đất đai-Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban giám đốc, Ban quản lý đào tạo, Bộ môn hệ thống thông tin đất - Khoa Quản lý đất đai- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan: UBND huyện Thuận Thành, Phòng TN&MT huyện, Phòng NN&PTNT huyện, phòng Công thương, Ban quản lý dự án khu công nghiệp huyện, Chi cục thống kê huyện, UBND xã Thanh Khương, UBND xã An Bình, UBND Thị trấn Hồ cùng các trưởng thôn,
bà con nhân dân các xã ở địa bàn nghiên cứu đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương để tôi có điều kiện thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Lam
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Các vấn đề cơ bản của dự án đầu tư 4
2.1.1 Khái niệm, phân loại và các yếu tố liên quan đến dự án đầu tư 4
2.1.2 Mối quan hệ giữa các dự án đầu tư và quản lý sử dụng đất đai 7
2.1.3 Vai trò của các dự án đầu tư trong phát triển kinh tế - xã hội 8
2.2 Các vấn đề cơ bản về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 10
2.2.1 Khái niệm về đất và đất đai 10
2.2.2 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 10
2.2.3 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp 11
2.2.4 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp 11
2.2.5 Mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp 12
2.3 Các vấn đề cơ bản về đời sống, việc làm và sinh kế của người dân 14
2.3.1 Khái niệm và nội dung sinh kế 14
2.3.2 Khung sinh kế bền vững 15
2.3.3 Các thành phần của khung sinh kế bền vững 16
Trang 62.4 Thay đổi đời sống việc làm và sinh kế hộ nông dân ở một số nước trên thế
giới và việt nam khi bị thu hồi đất 18
2.4.1 Kinh nghiệm về vấn đề sinh kế và nâng cao thu nhập cho nông dân trong phát triển các khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới 18
2.4.2 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam 21
2.4.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề việc làm và sinh kế cho hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 23
2.4.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến tác động của các DAĐT đến đời sống việc làm và sinh kế của hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp 26
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
3.1 Địa điểm nghiên cứu 28
3.2 Thời gian nghiên cứu 28
3.3 Đối tượng nghiên cứu 28
3.4 Nội dung nghiên cứu 28
3.4.1 Đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện 28
3.4.2 Công tác quản lý và sử dụng đất của huyện giai đoạn 2010-2015 28
3.4.3 Thực trạng các dự án nghiên cứu trên địa bàn huyện Thuận Thành 29
3.4.4 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến người bị thu hồi đất 29
3.4.5 Đề xuất các giải pháp trong thời gian tới 29
3.5 Phương pháp nghiên cứu 29
3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 29
3.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 30
3.5.3 Phương pháp lựa chọn điểm nghiên cứu 30
3.5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
3.5.5 Phương pháp chuyên khảo 32
Phần 4 Kết quả và thảo luận 33
4.1 Khái quát khu vực nghiên cứu 33
4.1.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 33
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu 34
Trang 74.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập địa bàn nghiên cứu 36
4.1.4 Nhận xét chung 38
4.2 Hiện trạng sử dụng và quản lý đất đai trên địa bàn huyện 39
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện 39
4.2.2 Hiện trạng các đối tượng sử dụng đất trên địa bàn huyện 41
4.2.3 Công tác quản lý nhà nước về đất đai của huyện qua một số năm 42
4.3 Thực trạng các dự án nghiên cứu trên địa bàn huyện thuận thành 43
4.3.1 Thực trạng các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Thuận Thành 43
4.3.2 Thực trạng các dự án nghiên cứu (DATTII và DATTIII) 46
4.4 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến người dân bị thu hồi đất 50
4.4.1 Ảnh hưởng của các dự án đến việc làm của người dân 51
4.4.2 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến đời sống người dân 57
4.4.3 Tiếp cận các cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội sau khi bị thu hồi đất 61
4.4.4 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến tình hình an ninh trật tự xã hội 62
4.4.5 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến môi trường trên địa bàn huyện 63
4.4.6 Ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến công tác quản lý đất đai 65
4.5 Tồn tại và khó khăn trong quá trình thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư 65
4.6 Đề xuất các giải pháp trong thời gian tới 66
4.6.1 Giải pháp đối với công tác bồi thường hỗ trợ đất đai 66
4.6.2 Giải pháp với lao động và việc làm của người dân khi bị thu hồi đất 67
4.6.3 Giải pháp với cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội sau khi bị thu hồi đất 67
4.6.4 Giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện 68
4.6.5 Giải pháp với các chính sách cho các dự án 68
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 70
5.1 Kết luận 70
5.2 Kiến nghị 71
Tài liệu tham khảo 72
Phụ lục 75
Trang 8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ANLT An ninh lương thực
BCHTW Đảng Ban chấp hành trung ương Đảng
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
CPTG Chi phí trung gian
DAĐT Dự án đầu tư
FAO Tổ chức Lương thực và nông nghiệp GDP Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Cơ cấu kinh tế các ngành qua một số năm của huyện Thuận Thành 36
Bảng 4.2 Diện tích đất theo đối tượng sử dụng huyện Thuận Thành 2015 42
Bảng 4.3 Tổng hợp diện tích thu hồi để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Thuận Thành năm 2015 45
Bảng 4.4 Tình hình thu hồi đất của DATTII và DATTIII 47
Bảng 4.5 Diện tích các loại đất phải thu hồi của DATTII và DATTIII 47
Bảng 4.6 Tổng hợp tỷ lệ diện tích thu hồi đất của các hộ dân 48
Bảng 4.7 Tình hình bồi thường sau thu hồi đất của 2 dự án 49
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn 2005 - 2015 50
Bảng 4.9 Giới tính và trình độ học vấn của các hộ bị thu hồi đất trong DATTII và DATTIII 52
Bảng 4.10 Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra 53
Bảng 4.11 Thay đổi cơ cấu ngành nghề của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất 54
Bảng 4.12 Thay đổi việc làm của người dân trước và sau khi bị thu hồi đất 55
Bảng 4.13 Phương thức sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ của người dân 58
Bảng 4.14 Đánh giá về thay đổi kinh tế của các hộ sau khi bị thu hồi đất so với trước 60
Bảng 4.15 Tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất so với trước 62
Bảng 4.16 Tình hình an ninh, trật tự xã hội trong khu dân cư sau khi bị thu hồi đất so với trước 63
Bảng 4.17 Kết quả đánh giá chất lượng môi trường của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất so với trước 64
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ Khung sinh kế bền vững 16
Hình 2.2 Tài sản sinh kế của người dân 17
Hình 4.1 Cơ cấu các loại đất huyện Thuận Thành, Bắc Ninh năm 2015 40
Hình 4.2 Quy hoạch tổng thể DA Thuận Thành II 46
Hình 4.3 Quy hoạch tổng thể DA Thuận Thành III 46
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Lam
Tên Luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến đời sống và
việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp địa bàn huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh”
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra số liệu thứ cấp; Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp; Phương pháp chọn điểm nghiên cứu; Phương pháp phân tích và xử lý số liệu; Phương pháp chuyên khảo
Kết quả chính và kết luận
Luận văn nêu được các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Thuận Thành, nêu lên tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của huyện, các tác động của DAĐT đến đời sống việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Luận văn đã đưa ra những kết luận chủ yếu sau:
Các dự án đầu tư đã tác động tích cực vào tăng trưởng kinh tế của huyện Thuận Thành trong giai đoạn 2005-2015, bình quân đạt trên 11%/ năm Đời sống của các hộ dân
đã tăng lên và giảm tỷ lệ hộ nghèo, từ 9,45% năm 2005 xuống còn 2,83% năm 2015, kinh tế có bước tăng trưởng khá, đời sống của người dân đã có bước cải thiện rõ rệt Tổng diện tích đất phải thu hồi của dự án đầu tư là 742,36 ha; Trong đó đất nông nghiệp chiếm tới trên 95% còn lại là đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Diện tích đất nông nghiệp mất đi dẫn đến diện tích sản xuất nông nghiệp giảm; Số lao động mất việc làm tăng lên và chuyển đổi việc làm cũng tăng lên Đến thời điểm điều tra, tính
Trang 12trung bình cứ 1 ha đất nông nghiệp mất đi sẽ làm ảnh hưởng đến 4,2 hộ gia đình và ảnh hưởng đến 6,5 lao động
Bước đầu khi các dự án vào đầu tư đã có những dấu hiệu ô nhiễm trên khu vực các khu công nghiệp, chất thải, khí thải, nước thải tại các khu công nghiệp chưa được xử
lý một cách đồng bộ
Các giải pháp được đề xuất trong thời gian tới cần quy hoạch đất nông nghiệp gắn với quy hoạch dạy nghề, tạo việc làm Đẩy nhanh việc đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng các KCN Giải quyết tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng Huy động các nguồn vốn đảm bảo cho đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ Tăng cường phát hiện, ngăn chặn và xử lý triệt để những hành vi gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức,
cá nhân, giải quyết tốt các đơn thư kiến nghị của người dân
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Lam
Thesis title: “ Research about the effects of the investment project on the people’s life and work when the State recovers agricultural land in Thuan Thanh district, Bac Ninh province”.
Major: Land Management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives: This dessertation analyses the impacts of the investment
projects on: real-life conditions, employment, income and other criterias of social life in rural communities after the Government evicts agricultural land It also recommends needed solutions to implement in the near future in order to stabilize and improve the lives of the people whose land is recovered, both now and in the future
Materials and Methods
Primary data collection methods; Secondary data collection methods; Select data point research methods; Analysis and processing data methods; Monograph methods
Main findings and conclusions
This dessertation addresses the natural, economic, social and cultural conditions
of Thuan Thanh district, accentuates the management and use situation of agricultural land in the district, the impacts of the investment projects on the people’s employment when the Government evicts agricultural land
This dessertation has brought the following main conclusions:
The investment projects have impacted positively on the economic growth of Thuan Thanh district in the period 2005-2015, an average of over 11% per year The citizen’s life has increased and the poverty rate fell from 9.45% in 2005 to 2.83% in
2015, the economy has grown significantly, people's lives have improved specifically The total area of land evicted by the investment project is 742.36 ha, in which agricultural land accounted for over 95%, the rest are non-agricultural and unused land The lost area of agricultural land lead to agricultural area decreased; The unemployment rate and the job conversion are also increased By the time of the research, on average, every 1 ha of lost agricultural land affected to 4.2 household and 6.5 workers
Trang 14Initially, the investment projects have caused pollution in the area of industrial parks, pollutant, sewage, exhaust emission in industrial areas have not been processed synchronously
The solutions that were recommended in the future needs to scheme agricultural land associated with the planning of vocational training and job creation Speeding up the construction of infrastructure synchronously in industrial parks is also necessary Besides, the adequate compensation for site clearance needs to be implemented fairly Mobilize funds to ensure the construction of technical infrastructure is taken in sync We need to strengthen detecting, preventing and handling acts of environmental pollution of organizations, individuals, and settle properly all the letters of recommendations of the citizen
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam, nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên quốc gia này không chỉ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Khu vực nông thôn có
13 triệu hộ trong đó có khoảng 11 triệu hộ chuyên sản xuất nông nghiệp Hiện nay, ở Việt Nam đã có trên 200 các khu công nghiệp lớn, gần 300 các cụm công nghiệp và hàng nghìn các khu đô thị (Trung tâm Phát triển Quỹ đất Bắc Ninh, 2009), nơi đây tập trung một lượng lớn các lực lượng lao động trực tiếp và đóng góp vào ngân sách hàng tỉ USD cho sự phát triển chung của đất nước
Trong tổng số đất thu hồi trên có hơn 80% là đất nông nghiệp Hiện có khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong các vùng kinh tế trọng điểm, nơi đất đai màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm (Mai Thành, 2009) Sau khi bị thu hồi đất, có nhiều hộ đã được tạo điều kiện chuyển đổi sang các ngành nghề khác, nhưng cũng có rất nhiều hộ phải đối mặt với mất việc làm Hàng năm có khoảng
50 - 60 nghìn ha đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp, tương ứng với khoảng 1.5 lao động/hộ bị mất việc làm Việc thu hồi đất không chỉ làm các hộ nông dân mất đi tài sản sinh kế đặc biệt quan trọng là đất đai mà còn làm mất đi địa vị, các cơ hội, nguồn thực phẩm, thu nhập của hộ gia đình và cộng đồng, gây ra sự xáo trộn xã hội
Trong giai đoạn vừa qua, các địa phương có tốc độ phát triển nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh, cũng là nơi có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều, như: Tiền Giang (20.300 ha), Đồng Nai (19.700 ha), Bình Dương (16.600 ha), Hà Nội (7.700 ha), Vĩnh Phúc (5.500 ha) Theo tính toán, do bị thu hồi đất, diện tích trồng lúa sẽ thu hẹp, vì vậy có thể làm giảm sản lượng lúa hằng năm của cả nước tới trên 1 triệu tấn (Mai Thành, 2009) Tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn (2001-2012) đã chuyển 12.385 ha đất để sử dụng vào mục đích đất phi nông nghiệp, phần lớn đất phi nông nghiệp tăng thêm này là chuyển từ đất sản
Trang 16xuất nông nghiệp, đất chưa sử dụng chuyển sang đất phi nông nghiệp chỉ chiếm
tỷ trọng chưa đến 2% (Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, 2013)
Hiện nay, cả nước có 12 triệu hộ gia đình, nhưng chỉ có 9,4 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ chỉ có 0,7 - 0,8 ha, mỗi lao động có 0,3 ha và mỗi nhân khẩu có 0,15 ha Ở đồng bằng Bắc Bộ con số này còn thấp hơn Càng ít đất người nông dân càng khó có điều kiện tích lũy để đào tạo nghề và chuyển dịch
cơ cấu lao động (Mai Thành, 2009) Trên thực tế, sau khi bị thu hồi đất, có tới 67% số lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ, 13% chuyển sang nghề mới và có tới 25% -30% không có việc làm hoặc không có việc làm ổn định Thực trạng này là nguyên nhân chính của 53% số dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm, mỗi héc-ta đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc phải tìm cách chuyển đổi nghề nghiệp (cá biệt ở địa phương như Hà Nội có tới gần 20 người lao động bị mất việc) (Mai Thành, 2009)
Thuận Thành là một trong những vùng đất cổ của người Việt, quê hương của những huyền thoại-lịch sử, cái nôi của văn minh lúa nước Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, mảnh đất và con người Luy Lâu, Siêu Loại, Thuận Thành đã tạo dựng nên những giá trị văn hóa kì diệu, giàu tính nhân văn và đậm đà sắc thái riêng có của người Bắc Ninh-Kinh Bắc Thuận Thành có diện tích là 117,9
km2 trong đó đất nông nghiệp chiếm 62,16%; dân số tính đến năm 2015 là 157.220 người
Để làm rõ nội dung việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế đất nước trong thời gian qua ảnh hưởng trực tiếp đến một bộ phận không nhỏ dân
cư nông thôn cả về đời sống và việc làm là một thực tế khách quan Tình trạng thiếu việc làm cho người lao động hiện nay đang diễn ra hết sức bức thiết, đặc biệt
là đối với lao động nông thôn, lao động phải chuyển đổi nghề nghiệp do quá trình
đô thị hoá và bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị,
Để giải quyết những bức xúc trong vấn đề việc làm và thu nhập cho người nông dân - đối tượng bị tác động lớn nhất sau khi thu hồi đất nông nghiệp và gặp
nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của các dự án đầu tư đến đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp địa bàn huyệnThuận Thành tỉnh Bắc Ninh”
Trang 171.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập và các tiêu chí khác của đời sống xã hội cộng đồng dân cư nông thôn sau khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Đề xuất các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi cả trong hiện tại và tương lai
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi không gian: huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
Phạm vi thời gian: thời điểm là năm 2010 và năm 2015
Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
- Dự án khu công nghiệp Thuận Thành III; Địa điểm: Xã Thanh Khương huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
- Dự án khu Công nghiệp - Đô thị Thuận Thành II; Địa điểm: Xã An Bình, Mão Điền, Hoài Thượng và thị trấn Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN Những đóng góp mới
- Đánh giá một cách khách quan, trung thực về thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập và các tiêu chí khác của đời sống xã hội cộng đồng dân cư nông thôn sau khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư
- Góp phần vào công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện
Ý nghĩa khoa học
Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ
sở thực tiễn để đánh giá chung tình hình đời sống việc làm của người dân trước và sau khi bị Nhà nước thu hồi đất
Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài ngoài việc đóng góp để giải quyết vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra hiện nay ở huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các địa phương có cùng hoàn cảnh
- Giúp nhà quản lý nắm bắt nhanh chóng những tác động đến đời sống, việc làm của các dự án đầu tư sử dụng đến đất nông nghiệp hiện tại cũng như trong tương lai để có những giải pháp điều chỉnh phù hợp
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2.1.1 Khái niệm, phân loại và các yếu tố liên quan đến dự án đầu tư
Theo luật đầu tư năm 2014: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” (Quốc hội, 2014) Tuy nhiên vấn đề dự án đầu tư còn
có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau như về mặt hình thức, về góc độ quản lý, về góc độ kế hoạch hóa, về mặt nội dung
Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu được trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động, chi phí một cách kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện các mục tiêu nhất định trong tương lai
Về góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật
tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính trong một thời gian dài
Về góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ
Về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua các nguồn lực xác định Đầu tư luôn gắn liền với rủi ro và mạo hiểm, do vậy các nhà đầu tư phải nhìn nhận trước những khó khăn này để có biện pháp phòng ngừa Mục tiêu của đầu tư là hiệu quả Nhưng ở những vị trí khác nhau, người ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau Với các doanh nghiệp thường thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận Còn đối với Nhà nước lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích
xã hội Trong nhiều trường hợp lợi ích xã hội được đặt lên hàng đầu
* Phân loại dự án đầu tư
Trong thực tế, các dự án đầu tư rất đa dạng và phong phú trong nghiên cứu
ở đây chúng ta có thể phân loại các dự án dựa trên các căn cứ sau (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008)
Căn cứ vào người khởi xướng: Dự án cá nhân, dự án tập thể, dự án quốc
Trang 19án xây dựng v v
Căn cứ vào mức độ tương quan lẫn nhau: Dự án độc lập, dự án loại trừ lẫn nhau (nếu chấp nhận dự án này thì buộc phải từ chối các dự án còn lại)
Căn cứ theo hình thức đầu tư: Dự án đầu tư trong nước, dự án liên doanh, dự
án 100% vốn nước ngoài Căn cứ theo quy mô và tính chất quan trọng của dự án và luật đầu tư 2005 chia thành các nhóm dự án như sau (Chính Phủ, 2009):
- Dự án nhóm A, là những dự án cần thông qua hội đồng thẩm định của nhà nước sau đó trình Thủ tướng Chính phủ quyết định
- Dự án nhóm B, là những dự án được Bộ kế hoạch - Đầu tư cùng Chủ tịch hội đồng thẩm định nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xem xét và thẩm định
- Dự án nhóm C, là những dự án còn lại do Bộ kế hoạch - Đầu tư cùng phối hợp với các Bộ, ngành, các đơn vị liên quan để xem xét và quyết định
* Các yếu tố liên quan đến dự án đầu tư
- Tình hình kinh tế xã hội liên quan đến dự án đầu tư: Theo tác giả Nguyễn Bạch Nguyệt (2008), điều kiện địa lý tự nhiên (Địa hình, khí hậu, địa chất…) có liên quan đến việc lựa chọn thực hiện và phát huy hiệu quả của các dự án này Điều kiện
về dân số và lao động có liên quan đến nhu cầu và khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm, đến nguồn lao động cung cấp cho dự án Tình hình chính trị, môi trường pháp lý, các luật lệ và các chính sách ưu tiên phát triển của đất nước tạo điều kiện thuận lợi hoặc khó khăn cho dự án đầu tư Tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước của địa phương, tình hình phát triển kinh doanh của ngành có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện và vận hành dự án đầu tư Tình hình ngoại hối, dự trữ ngoại tệ, cán cân thanh toán và nợ nần có ảnh hưởng đến các dự án phải xuất nhập khẩu hàng hoá
- Yếu tố thị trường: Thị trường cung cầu sản phẩm hoặc dịch vụ hiện tại của dự án, tiềm năng phát triển của thị trường này trong tương lai Đánh giá mức
Trang 20độ cạnh tranh, khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại có sẵn hoặc các sản phẩm ra đời sau này Các chính sách tiếp thị và phân phối cần thiết để có thể giúp việc tiêu thụ sản phẩm của dự án Ước tính giá bán và chất lượng sản phẩm Dự kiến thị trường thay thế khi cần thiết
- Phương diện kỹ thuật: Phân tích kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành phân tích kinh tế tài chính của các dự án đầu tư Mục đích chính việc nghiên cứu
kỹ thuật của một dự án là nhằm xác định kỹ thuật công nghệ và quy trình sản xuất, địa điểm nhu cầu để sản xuất một cách tối ưu và phù hợp nhất với những điều kiện hiện có mà vẫn đảm bảo về các yêu cầu chất lượng và số lượng sản phẩm (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008) Tuy nhiên tuỳ theo từng dự án cụ thể mà vấn đề kĩ thuật nào cần được nghiên cứu, xác định và nhấn mạnh hơn vấn đề kia Dự án càng lớn thì các vấn đề càng phức tạp hơn, cần phải xử lý nhiều thông tin hơn và tất cả đều tương quan lẫn nhau, cũng như thứ tự ưu tiên các vấn đề này trong khi nghiên cứu tính khả thi của chúng
- Yếu tố tài chính: Việc phân tích phương diện tài chính của dự án nhằm các mục đích: Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư Xem xét những kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ hạch toán kinh tế mà dự án sẽ tạo ra (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008) Theo tác giả Vũ Công Tuấn (2007), để phân tích đánh giá một chủ thể, hoặc đối tượng nào đó, người ta phải áp dụng các phương pháp, các tiêu chuẩn cụ thể nhằm rút ra những kết luận xác đáng
- Yếu tố hiệu quả kinh tế - xã hội: Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có hoạt động đầu
tư phải được xem xét từ hai góc độ, người đầu tư và nền kinh tế Ở góc độ người đầu tư, mục đích có thể nhiều, nhưng quan trọng hơn cả thường là lợi nhuận Khả năng sinh lợi của dự án là thước đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việc làm mạo hiểm của nhà đầu tư Khả năng sinh lợi càng cao thì sức hấp dẫn các nhà đầu
tư càng lớn (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2008)
- Yếu tố đất đai và các dự án đầu tư: Khác với các ngành và lĩnh vực khác, đất đai trong các dự án đầu tư được quan tâm dưới góc độ là địa điểm bố trí dự án, đây là một trong những chìa khóa để thực hiện thành công các dự án đầu tư Đối với các dự án đầu tư không phải nông nghiệp người ta ít quan tâm đến các tính
Trang 21chất vật lý, hóa học, sinh học, độ màu màu mỡ của đất đai, mà quan tâm nhiều đến
vị trí vị trí đất đai Địa điểm bố trí dự án được đánh giá thông qua các khía cạnh như: địa điểm bố trí dự án gây khó khăn hav thuận lợi cho việc cung cấp các nguyên, nhiên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm; Kết cấu hạ tầng (điện, cấp và thoát nước, nhà ở, thông tin liên lạc, giao thông, ); Môi trường tự nhiên, kinh tế -
xã hội của khu vực xây dựng dự án đầu tư
2.1.2 Mối quan hệ giữa các dự án đầu tư và quản lý sử dụng đất đai
- Từ sau khi được ban hành và có hiệu lực, Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành việc quản lý nhà nước về đất đai thông qua công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được tăng cường, góp phần tích cực vào việc phân bố
và sử dụng ngày càng hợp lý, có hiệu quả nguồn lực đất đai Đã cơ bản chấm dứt tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất ngoài quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất cho các dự án đầu tư
- Công tác quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng đã được các Bộ: Tài nguyên và Môi trường cùng với các Bộ, ngành liên quan đã và đang hoàn thiện “hệ thống pháp luật về đất đai, đặc biệt chú trọng các quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích
sử dụng đất; về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về quyền
và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc phải thu hồi để thực hiện dự án đầu tư theo quy hoạch (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)
- Bên cạnh đó các Bộ như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải và các Bộ, ngành liên quan đã kết hợp kiểm tra rà soát các quy hoạch, dự án có sử dụng đất, nhất là quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu đô thị mới, hệ thống giao thông và các công trình hạ tầng về văn hóa, xã hội để giúp cho nhà nước có các quyết định hợp
lý trong quá trình thực hiện
- Các cơ quan nhà nước các cấp đã hoàn thành các văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể về quản lý đất đai, về giá đất, về vận dụng thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho phù hợp với tình hình thực tế của của từng địa phương;
Đối với các dự án đầu tư “khi công bố kế hoạch thu hồi đất có công trình, nhà ở
Trang 22để thực hiện quy hoạch phải đồng thời công bố kế hoạch tái định cư gắn với giải quyết việc làm, ổn định đời sống của người có đất bị thu hồi” (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)
- Các dự án đầu tư đã “thực hiện đúng chính sách bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, bảo đảm ổn định đời sống của người có đất bị thu hồi (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)
- Trong quá trình thực hiện “công tác giao đất, cho thuê đất, đặc biệt phải xem xét kỹ nhu cầu sử dụng đất, hiệu quả và tính khả thi của dự án, khả năng thực sự của nhà đầu tư trước khi quyết định giao đất, cho thuê đất” (Nguyễn Tấn Dũng, 2007)
2.1.3 Vai trò của các dự án đầu tư trong phát triển kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Vai trò của dự án đầu tư và phát triển
Theo Vũ Công Tuấn (2007); Khả năng phát triển của một quốc gia được hình thành bởi các nguồn lực về: vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên thiên nhiên Đó là hệ thống các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã làm thay đổi về phương thức sản xuất cũ và đã có
sự chuyên môn hoá cao hơn trong sản xuất, tạo ra sự phát triển các khu dân cư tập trung
2.1.3.2 Vai trò của dự án đầu tư trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
- Dự án đầu tư là phương tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế, có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng, tùy theo mục tiêu của nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các
bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyển dịch kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô tốc độ giữa các ngành và các vùng Những cơ cấu kinh
tế chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân bao gồm kinh tế ngành, lãnh thổ, theo thành phần kinh tế (Đinh Văn Đãn, 2009) Dự án đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấu ngành, vốn đầu tư vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả thấp hay cao…đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó, làm dịch chuyển cơ cấu kinh
tế ngành (Đinh Văn Đãn, 2009)
Trang 23- Dự án đầu tư giải quyết quan hệ cung - cầu về vốn trong phát triển: Việt nam
là nước đang phát triển, ở trình độ khiêm tốn, thu nhập bình quân hàng năm trên đầu người còn thấp; Trong khi ở trình độ trung bình trên thế giới cao hơn rất nhiều Đẩy mạnh hoạt động đầu tư, chính là tăng cường cho việc phát huy mọi tiềm năng về vốn của các thành phần kinh tế trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhằm phục vụ cho sự phát triển Thực hiện vốn đầu tư xã hội năm 2007 theo giá thực tế ước đạt 521 nghìn tỷ đồng, tương đương với 45,6% GDP Theo giá so sánh năm 1994, vốn đầu tư xã hội năm 2007 tăng khoảng 25,8%, tăng lên rất nhiều so với mức 13,7% của năm 2006 Trong ba thành phần kinh tế, vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh nhất, khoảng 93,2%, cao gấp gần 7,8 lần mức tăng của vốn nhà nước Khu vực ngoài quốc doanh cũng có mức tăng trưởng cao 19,7% Vốn đầu
tư nhà nước chỉ tăng 12,4% (Cục thống kê, 2007)
- Dự án đầu tư góp phần xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật nguồn lực mới cho
phát triển: Các dự án đầu tư cho khả năng hình thành các công ty, nhà máy, xí nghiệp,
các trung tâm thương mại đặc biệt là tạo ra những lực lượng sản xuất mới và tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho xã hội, thúc đẩy phát triển (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)
- Dự án đầu tư với phát triển nguồn nhân lực nâng cao chất lượng tăng
trưởng kinh tế: Vấn đề phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực là một
trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất ở nước ta hiện nay Đất nước đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với rất nhiều cơ hội và thách thức, nhưng với thực trạng nguồn nhân lực, nếu không được đầu tư một cách hiệu quả, rất có thể nền kinh tế của chúng ta sẽ trở nên lạc hậu so với thế giới Lao động là yếu tố dồi dào nhất của Việt Nam, hiện lại đang có xu hướng dư thừa bởi số người đến
độ tuổi bổ sung vào đội quân lao động hằng năm vẫn khá lớn (hơn 1 triệu người) Tuy nhiên, yếu tố này đã không được sử dụng hiệu quả để tạo ra tăng trưởng GDP lớn hơn Nguồn nhân lực của nước ta đã không được sử dụng hết, thậm chí lãng phí (Đinh Văn Đãn, 2009)
- Dự án đầu tư góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân, cải thiện bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước: Với chính sách
đổi mới, mở cửa và kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định về tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo Đến nay Việt Nam được Ngân hàng Thế giới đánh giá là một trong những điển hình về xoá đói giảm nghèo trên thế giới Tính riêng giai đoạn 2001-2006,
Trang 24vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh với sự ra đời của các khu công nghiệp, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam đã giảm từ 6,42% xuống chỉ còn 4,82% (Nguyễn Sinh Cúc, 2008)
2.2 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.2.1 Khái niệm về đất và đất đai
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng
“Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” (Đặng Kim Chi, 2003), và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của
bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại” (Trần Thị Minh Châu, 2007)
Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính ) tạo ra điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch-đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự
sử dụng đất nhất định (Lê Đình Thắng và Trần Tú Cường, 2007)
2.2.2 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp: Đối với khái niệm đất nông nghiệp tại Khoản 1, Điều 13, luật đất đai 2003 quy định (Quốc hội, 2004): đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất như: đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác
- Theo khoản 1 Điều 10 Luật đất đai 2013 quy định: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ;
Trang 25Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh;
- Sử dụng đất nông nghiệp là hành vi lấy đất kết hợp với sức lao động, vốn,
để sản xuất nông nghiệp tạo ra lợi ích, tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế xã hội, ý thức của loài người về môi trường sinh thái được nâng cao, phạm vi sử dụng đất nông nghiệp được mở rộng ra các mặt sản xuất, sinh hoạt, sinh thái
2.2.3 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp
- Sử dụng đất nông nghiệp đặc biệt coi trọng việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất: Nghề trồng trọt gắn liền với việc sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng trên đất làm tiêu hao một lượng lớn chất hữu cơ trong đất Vì vậy duy trì độ phì nhiêu trong đất là có lợi cho sản xuất
- Sử dụng đất nông nghiệp theo các vùng khác nhau: Do việc sử dụng đất nông nghiệp chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xu thế phát triển của kinh tế xã hội, nên sự khác biệt theo khu vực là khá rõ ràng
- Hiệu quả kinh tế của quy mô sử dụng đất nông nghiệp không lớn: Nếu so sánh với công nghiệp về quy mô trên một đơn vị diện tích đất đai thì hiệu quả kinh
tế không cao như trong công nghiệp
2.2.4 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý: Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây
trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao: Đây là kết quả của việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua tính toán các chỉ tiêu khác nhau Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn Hoàng Đan, 2003)
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững: Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải
Trang 26được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi
trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài
2.2.5 Mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp
- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu kinh tế: Các đối tượng sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng luôn đặt ra mục tiêu làm ra nhiều sản phẩm hơn, đạt lợi nhuận cao hơn Nếu thấy việc đó không có lợi, họ có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không có lợi, họ có thể chuyển quyền sử dụng phần đất của họ cho người khác có khả năng sử dụng đất mang lại hiệu quả hơn Trong khi đó cộng đồng luôn có những mối quan tâm kinh
tế lâu dài trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng, trước hết là đảm bảo các mục tiêu kinh tế và cần thiết cho cả cộng đồng Như vậy, các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể có mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng Các mục tiêu kinh tế trong việc sử dụng đất đai được xem
là hợp lý không có ý nghĩa thoả mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất biệt lập với toàn thể cộng đồng, mà là quá trình xem xét, cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể
- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu xã hội: Sử dụng đất đai nói chung
và đất nông nghiệp nói riêng trước tiên là liên quan tới những người sống trên mảnh đất đó, họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu rõ rệt của bất cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà có tác dụng thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là phương pháp hữu hiệu nhằm một lúc đạt 3 mục tiêu: xã hội, kinh tế và môi trường Những nhu cầu thiết yếu này bao gồm những cơ sở vật chất công cộng hoặc phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập…
- Sử dụng đất nông nghiệp với mục tiêu môi trường: Đối với bất kì vùng đất nào trong sử dụng đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng đều gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra tiêu chuẩn và mục tiêu môi trường Việc nhìn nhận môi trường không chỉ có ý nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học thuần tuý Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, khí hậu và cảnh quan thiên nhiên…là các tài sản có giá trị cần được bảo vệ và sử dụng lâu dài
Trang 27- Sử dụng đất nông nghiệp phải kết hợp vừa khai thác sử dụng theo chiều rộng với vừa đi vào sử dụng theo chiều sâu và hướng đi lâu dài là chiều sâu: Quá trình phát triển xã hội, cũng là quá trình diễn biến việc sử dụng đất đai Theo mức gia tăng của dân số và sự phát triển của kinh tế, khoa học kĩ thuật và văn hoá, khuynh hướng của chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Tuy nhiên quá độ từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất là một tiến trình lịch sử lâu dài Muốn nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, nhất thiết phải không ngừng nâng mức đầu tư về lao động, vốn liếng, thường xuyên cải tiến kĩ thuật và quản lý
- Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp phải phát triển theo khuynh hướng kết hợp giữa đa dạng hoá và chuyên môn hoá: Theo đà phát triển của khoa học kĩ thuật và kinh tế của xã hội, cơ cấu sử dụng đất cũng dần chuyển sang xu thế đa dạng hoá và chuyên môn hoá Trước những tiến bộ của khoa học kĩ thuật, khả năng kiểm soát tự nhiên của con người gia tăng, có thể dựa vào các biện pháp sử dụng để cải tạo để nâng cao sức sản xuất của đất đai nhằm thoả mãn các nhu cầu của xã hội Trước yêu cầu phát triển vùng sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có quy mô lớn, tập trung nhân tố thúc đẩy sự chuyên môn hoá khu vực với mức độ khác nhau về hình thức và quy mô, từ đó hình thành những khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất tương ứng khác nhau
- Sử dụng đất nông nghiệp phải phát triển theo xu hướng xã hội hoá: Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu của sự phát triển xã hội hoá sản xuất, nó được quyết bởi yêu cầu khách quan của xã hội hoá sản xuất, cho nên xã hội hoá sử dụng đất là xu thế tất yếu Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hoá sản xuất, một vùng đất sản xuất tập trung một loại sản phẩm chính là tiền
đề cho nơi khác sản xuất tập trung sản phẩm chính khác, nhằm phát huy lợi thế so sánh của mỗi vùng
- Sử dụng đất nông nghiệp phải đảm bảo an ninh lương thực quốc gia: Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á cùng với đó là tốc độ phát triển dân số tương đối nhanh Hiện Việt Nam có dân số khoảng gần 90 triệu người, dự kiến đến 2020 dân số sẽ tăng lên 100 triệu người Do vậy, những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong việc đảm bảo nhu cầu ăn uống, đảm bảo dinh dưỡng cho thế hệ sau là rất lớn Uớc tính mỗi năm nước ta giảm khoảng
20 nghìn héc ta đất trồng lúa Nguyên nhân của tình trạng này là quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang lấy đi một phần không nhỏ diện tích đất nông
Trang 28nghiệp, đặc biệt là diện tích đất trồng lúa nước, đã làm cho diện tích canh tác trên đầu người của Việt nam xếp vào hạng thấp nhất thế giới
Như vậy: Để đảm bảo an ninh lương thực cần đầu tư cho sản xuất nông nghiệp sẵn có, phân phối, phải có các chính sách minh bạch…Đất đai dành cho nông nghiệp phải được quản lý chặt chẽ, không nên để tình trạng xây dựng các khu công nghiệp - khu chế xuất, các cơ sở giải trí, thể thao, khu dân cư, một cách tràn lan và không theo quy hoạch Bên cạnh đó chúng ta phải tạo ra nguồn lương thực lớn trên một diện tích đất canh tác không thay đổi và có nguy cơ bị thu hẹp Đây là vấn đề không riêng gì Việt Nam mà là vấn đề chung của các quốc gia trên toàn thế giới
Đảng và Chính phủ ta đã thấy những vấn đề trên và đang có những giải pháp cụ thể và khả thi để khắc phục những khó khăn trong quá trình phát triển nông nghiệp, cũng như công tác quản lý và sử dụng quỹ đất nông nghiệp
2.3 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐỜI SỐNG, VIỆC LÀM VÀ SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
2.3.1 Khái niệm và nội dung sinh kế
2.3.1.1 Khái niệm về sinh kế
Phương pháp tiếp cận sinh kế là một trong các phương pháp tiếp cận mới trong phát triển nông thôn nhằm không chỉ nâng cao mọi mặt đời sống hộ gia đình
mà còn phát triển nông nghiệp, nông thôn theo xu hướng bền vững và hiệu quả Người đi đầu về nội dung sinh kế đó là Robert Chambers trong tác phẩm của ông vào những năm 1980 (sau đó được phát triển và hoàn thiện hơn nữa bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh kế và cố gắng đưa vào thực hiện Phương pháp tiếp cận sinh kế đã được phát triển và hoàn thiện ở các nước phát triển trên thế giới, dựa trên khuôn khổ cam kết hỗ trợ của Bộ phát triển quốc tế Anh (DFDI)
về “Những chính sách và hành động cho việc xúc tiến các loại hình sinh kế bền vững” Đây là một trong ba mục tiêu mà DFDI đã đặt ra trong Sách Trắng năm
1997 nhằm đạt được những mục đích chung về xoá đói giảm nghèo
2.3.1.2 Nội dung về sinh kế
Theo khái niệm của DFID đưa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như
là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những
Trang 29quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”
Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ
2.3.2 Khung sinh kế bền vững
Khung sinh kế bền vững bao gồm những nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh
kế của con người, và những mối quan hệ cơ bản giữa chúng Nó có thể sử dụng để lên kế hoạch cho những hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp vào sự bền vững sinh kế của những hoạt động hiện tại Cụ thể là:
- Cung cấp bảng liệt kê những vấn đề quan trọng nhất và phác hoạ mối liên
hệ giữa những thành phần này
- Tập trung sự chú ý vào các tác động và các quy trình quan trọng
- Nhấn mạnh sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố khác nhau, làm ảnh hưởng tới sinh kế
Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:
Chú thích: N (Natural Capital): Nguồn lực tự nhiên
H (Human Capital): Nguồn lực con người
P (Physical Capital): Nguồn lực vật chất
F (Financial Capital): Nguồn lực tài chính
S (Social Capital): Nguồn lực xã hội
Trang 30Hình 2.1 Sơ đồ Khung sinh kế bền vững
Đây là khung giúp cho người sử dụng hiểu được các loại hình sinh kế hiện hữu và dùng nó làm cơ sở để lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển và các hoạt động khác Điều này kéo theo việc phân tích và sử dụng nhiều loại công cụ hiện có như phân tích xã hội và phân tích các bên liên quan, các phương pháp đánh giá nhanh và đánh giá kinh tế về:
- Bối cảnh sống của người dân, trong đó bao gồm những ảnh hưởng của các
xu hướng bên ngoài với họ (xu hướng về kinh tế, xu hướng phát triển dân số)
- Khả năng tiếp cận của người dân đối với các loại tài sản sinh kế và khả năng sử dụng chúng vào sản xuất
- Những thể chế, những chính sách và tổ chức định hình cho các loại hình tài sản sinh kế của người dân
- Các chiến lược mà người dân áp dụng để theo đuổi mục đích của mình
2.3.3 Các thành phần của khung sinh kế bền vững
Tiếp cận sinh kế cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người Nó cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người (tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh kế hữu ích
CƠ SỞ NGUỒN LỰC CỦA HỘ
KẾT QUẢ ĐẦU RA
- Cuộc sống của hộ
ra sao? (cải thiện an ninh lương thưc? Thu nhập tốt hơn? Giảm tính dễ bị tổn thương?)
- Năng lực của hộ có được cải thiện? (sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên)
- Các hoạt động tạo thu nhập
- Xây dựng năng lực
- Các lựa chọn khác được xem như quá trình điều chỉnh và thích ứng sau sốc
Các tài sản (N, H, P,
Trang 31Nguồn: http://www.livelihoods.org/info/guidance_sheets_rtfs/Sect2.rtf
Hình 2.2 Tài sản sinh kế của người dân
Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế: Nguồn vốn con người, nguồn vốn xã hội, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật thể, nguồn vốn tài chính
- Nguồn vốn nhân lực: Nguồn nhân lực bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu
kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ, trình
độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ
- Nguồn vốn xã hội: Vốn xã hội là những nguồn lực xã hội dựa trên những
gì mà con người vẽ ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm: Các tương tác và mạng lưới, cả chiều dọc (người bảo lãnh/khách hàng quen) và chiều ngang (giữa các cá nhân có cùng mối quan tâm) có tác động làm tăng cả uy tín và khả năng làm việc của con người, mở rộng tiếp cận với các thể chế, như các thể chế chính trị và cộng đồng Trong năm yếu tố cơ bản của kế sinh nhai, nguồn vốn xã hội có quan hệ sâu sắc nhất đối với sự chuyển dịch quá trình và chuyển dịch cơ cấu Thực sự có thể là hữu ích nếu xem vốn xã hội như sản phẩm của một tiến trình hoặc cấu trúc, thông qua các mối quan hệ đơn giản này các tiến trình và cấu trúc trở thành sản phẩm của nguồn vốn xã hội Mối quan hệ này đưa ra hai con
Trang 32đường và có thể làm cho nó phát triển hơn
- Nguồn vốn tự nhiên: Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương kế kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hoá công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng Trong khung sinh kế bền vững Mối quan hệ giữa nguồn vốn tự nhiên và các tổn hại có sự gắn kết thực sự Nhiều thảm hoạ tàn phá
kế sinh nhai của người nghèo thường xuất phát từ các tiến trình của tự nhiên, tàn phá nguồn vốn tự nhiên (cháy rừng, lũ và động đất làm thiệt hại về hoa màu và đất nông nghiệp) và tính mùa vụ thì ảnh hưởng lớn đến những biến đổi trong năng suất và giá trị của nguồn vốn tự nhiên qua các năm
- Nguồn vốn vật thể: Vốn vật thể gồm các cơ sở hạ tầng xã hội, tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như: giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống ngăn, tưới tiêu, cung cấp năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin
- Nguồn vốn tài chính: Vốn tài chính thể hiện nguồn lực tài chính được con người sử dụng để hướng tới mục tiêu sinh kế của họ Định nghĩa được sử dụng ở đây không mang tính chất kinh tế mà nó bao gồm những dòng tích trữ và có thể góp phần vào việc tiêu dùng sản phẩm Tuy nhiên, nó phải được thực hiện để đạt được một nền tảng sinh kế quan trọng, đó là sự giá trị của tiền mặt hoặc tính thanh khoản, người ta có thể làm theo những cách sinh kế khác
2.4 THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG VIỆC LÀM VÀ SINH KẾ HỘ NÔNG DÂN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM KHI BỊ THU HỒI ĐẤT 2.4.1 Kinh nghiệm về vấn đề sinh kế và nâng cao thu nhập cho nông dân trong phát triển các khu công nghiệp ở một số nước trên thế giới
2.4.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán tương đối giống Việt Nam Là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1,3 tỷ người nhưng cũng giống như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động Vì thế nhu cầu giải quyết việc làm càng trở nên gay gắt Sau cải cách và mở cửa nền kinh tế năm 1978, Trung Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương
Trang 33Trấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội ở nông thôn, từ đó rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị Trung Quốc coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết vấn đề việc làm và sinh kế của người dân Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã thu hút lực lượng lao động dôi dư ở nông thôn Bên cạnh đó, chính sách khuyến khích đầu tư của nhà nước cùng với sự đầu tư của kinh tế tư nhân vào khu vực phi nông nghiệp đã thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương Trong những năm đầu đã
có đến 20% thậm chí có nơi 50% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh nghiệp địa phương
Cùng với việc đưa ra các chính sách phát triển thì nhà nước cũng đẩy mạnh xây dựng CSHT nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân sản xuất hàng hoá, thu mua bảo trợ hàng hoá nông nghiệp, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thị trường tín dụng
Chỉ trong vòng hơn 10 năm (từ 1978 đến 1991) Trung Quốc đã thu hút được 96 triệu lao động vào các xí nghiệp Hương Trấn (bằng 13,8% lực lượng lao động ở nông thôn), tạo ra được 1162 tỷ nhân dân tệ (chiếm đến 60% giá trị sản phẩm khu vực nông thôn, 1/3 giá trị sản lượng công nghiệp và 1/4 GDP cả nước) Đây là một thành công lớn, nó đã làm cho tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ trên 70% (năm 1978) xuống còn dưới 50% (năm 1991)
Trong những năm gần đây, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (vấn đề tam nông) vẫn được chú trọng phát triển ở Trung Quốc Những chính sách nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân luôn được coi trọng Trong đó đặc biệt chú trọng việc nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người nghèo bằng việc mở mang các ngành nghề dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, chính sách vốn, tín dụng
Từ thực tiễn phát triển công nghiệp và giải quyết vấn đề sinh kế cho người dân nông thôn Trung Quốc trong thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Thứ nhất: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá
ngành nghề, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn để phát triển sản xuất, mở mang hoạt động phi nông nghiệp đã góp phần lớn tạo nên tốc độ phát triển kinh
tế và làm đa dạng mô hình sinh kế cho người dân nông thôn, thu hút nhiều lao động vào các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
- Thứ hai: Trong một giai đoạn nhất định, nhà nước bảo hộ sản xuất trong
Trang 34nước Điều này giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở nông thôn Từ đó sinh kế của người dân cũng được cải thiện hơn
- Thứ ba: Việc hạn chế lao động di chuyển giữa các vùng, miền làm hạn
chế sinh kế của người dân nông thôn Do các doanh nghiệp sẽ gây khó dễ trong việc trả lương hoặc hạn chế trong việc sử dụng tay nghề của người dân
2.4.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia có nhiều sự tương đồng với sự phát triển kinh tế của Việt Nam Trước những năm 70, Hàn Quốc cũng là một nước nông nghiệp, nông nghiệp chiếm 50% GDP Hàn Quốc Nông dân Hàn Quốc cũng là người Châu Á, mang ý thức hệ của người Á Đông: mặc cảm, tự ti Trước năm 1970, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc tương tự nước ta vào năm 1991, 1992, khoảng 300 - 350 USD/người/năm
Cũng là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm 1954 thực hiện cải cách ruộng đất Nhà nước mua lại đất của chủ có trên 3 ha để bán lại cho nông hộ thiếu đất với phương thức trả dần để tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965 đến năm 1971 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 2,5% Năm 1971 đến năm 1978 tăng 6,9%, 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao Năm 1975 tự túc được nhiều lương thực và nhiều nông sản khác, chăn nuôi tăng 8 - 10%/năm Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng hàng hóa với hệ thống cây, con, ngành nghề có giá trị kinh tế cao Thu nhập phi nông nghiệp chiếm 35% tổng số (Bài giảng kinh tế hộ nông dân: TS Đỗ Văn Viện và ThS Đặng Văn Tiến, 2000) Trước năm 1970 Hàn Quốc lấy CNH - HĐH làm trọng điểm, công nghiệp tăng trưởng rất nóng nhưng lại không có cơ hội vì không có thị trường Trong khi đó nông nghiệp tăng chậm Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa giàu – nghèo lớn Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra 1 con đường giải phóng đó là phong trào
“Sumomidon” (phong trào xây dựng nông thôn mới) Học tập phương châm “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp” Một mặt vẫn phát triển công nghiệp, mặt khác đầu tư vào nông nghiệp, phát huy nội lực của người nông dân trên mảnh đất của họ để phát triển kinh tế Chính phủ đầu tư, hỗ trợ vào nông nghiệp bằng vật chất để phát triển nông nghiệp, nông thôn Với tư tưởng là chỉ đầu tư tài chính một phần mà chủ yếu là vật chất bằng cách đưa sản phẩm công nghiệp không thể ra thị trường tiêu thụ về nông thôn như sắt, thép xây dựng cơ sở
Trang 35vật chất như: đường giao thông, các công trình công cộng (trường học, bệnh viện ) Mặt khác chuyển giao một số khoa học công nghệ tiên tiến vào lĩnh vực nông thôn Xây dựng các phương án, dự án phát triển theo từng cấp:
Cấp 1: Nâng cao điều kiện sống cho người dân
Cấp 2: Nâng cao cơ sở hạ tầng
Cấp 3: Tăng thu nhập cho nông dân
Làm từ thấp đến cao, chỉ khi nào hoàn thành cấp 1 mới được làm tiếp cấp 2
Từ thực tiễn của Hàn Quốc rút ra kinh nghiệm : Phát triển công nghiệp song song với đầu từ phát triển nông nghiệp Như vậy vừa thực hiện được CNH-HĐH đất nước vừa đảm bảo được an ninh lương thực Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo từng bước không nóng vội, hoàn thành cấp này mới làm tiếp cấp kia
2.4.2 Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải quyết việc làm và sinh kế cho hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở nông thôn và làm nông nghiệp Theo thống kê của hội Nông dân Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, tương ứng với mỗi hộ có khoảng 1,5 lao động mất việc làm Điều này đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có biện pháp giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất, làm sao để đảm bảo sinh kế bền vững cho họ Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 11/2006/CT-TTG yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương có định hướng quy hoạch,
kế hoạch về chuyển đổi mục đích sử dụng, chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm và vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động ngay trong quá
trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thu hồi đất nông nghiệp
- Thứ nhất là việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sao cho có hiệu quả,
nâng cao độ phì của đất, bồi dưỡng đất, tăng hiệu quả kinh tế của đất Vì đất đai là
tư liệu sản xuất đặc biệt, không sinh thêm mà lại ngày càng thu hẹp lại cho nên phải có kế hoạch sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đất nào sử dụng với mục đích ấy Hạn chế tối đa việc sử dụng đất 2 vụ lúa vào xây dựng KCN, khu đô thị Nên sử dụng đất đồi, đất bãi để xây dựng KCN Trước khi quy hoạch sử dụng đất để xây dựng KCN, khu chế xuất, khu đô thị mới thì cần thông báo công khai cho nhân dân biết Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, chính quyền các cấp để tuyên truyền chủ trương, chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước Thu hồi đất,
Trang 36giải phóng mặt bằng và đền bù phải theo quy định
- Thứ hai là việc giải quyết việc làm cho nông dân đang là vấn đề bức
xúc Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ cho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề Các cấp chính quyền nên tạo điều kiện cho những
hộ nông dân bị mất đất sản xuất có việc làm mới ngay trên địa bàn, cho họ vào làm tại các nhà máy, xí nghiệp ngay trên mảnh đất của họ trước đây Thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” Phải có biện pháp bắt buộc thực hiện chính sách dạy nghề miễn phí cho người dân trong vùng bị lấy đất Phải có lớp tập huấn, đào tạo để giúp người nông dân có kiến thức về sản xuất, kinh doanh, giúp họ tiếp cận thị trường Chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cũng cần cải cách Ngoài ra, một biện pháp đang được đánh giá ưu việt là khi thu hồi đất nhà đầu tư không bồi hoàn tất cả mà để lại cho người dân một phần cổ phần nhất định trong dự án đó Nếu bồi hoàn toàn bộ 1 lượng tiền, người nông dân không có nghề nghiệp có thể sẽ tiêu hết tiền và trở thành người trắng tay, trong khi nếu có cổ phần họ sẽ có được lợi ích lâu dài để đảm bảo cuộc sống
Để tạo việc làm một cách bền vững và phát triển mạnh thị trường xuất khẩu lao động, chiến lược đào tạo của quốc gia cần có sự định hướng rõ ràng ngay từ cấp trung học Trên cơ sở chiến lược phát triển Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có những định hướng đào tạo nghề cho học sinh ngay từ bậc trung học: Khoảng 1/3 số học sinh PTTH sẽ tiếp tục học lên Cao đẳng, Đại học; 1/3 đào tạo nghề theo mô hình công nhân
kỹ thuật cao, số này sẽ cung cấp lao động cho các KCN, khu chế xuất và phục vụ xuất khẩu, 1/3 còn lại sẽ được đào tạo nghề kỹ thuật cơ bản, nghề thủ công truyền thống, số này có thể đáp ứng được lực lượng lao động cho khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ Với những hộ nông dân có nhu cầu đến vùng khác để sinh sống thì chính quyền địa phương nên phối hợp với hội nông dân và các ban ngành khác để có chính sách hỗ trợ việc di dân, định canh, định cư
- Thứ ba là tình trạng hộ nông dân thiếu đất sản xuất do phát triển KCN
ngày càng có xu hướng tăng Vì vậy việc giao đất ở địa phương không chỉ giao cho những hộ có hộ khẩu trong vùng, mà phải mở rộng cho các đối tượng nghèo không có ruộng khác Tuy nhiên phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, không để bị lợi dụng giao đất sai đối tượng, giao đất sai mục đích Chính quyền các cấp kết
Trang 37hợp với các đoàn thể, đặc biệt là hội nông dân vận động người dân nâng cao nhận thức, tuân thủ luật pháp nói chung và luật đất đai nói riêng
2.4.3 Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề việc làm và sinh kế cho hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
2.4.3.1 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội
Theo thống kê của Bộ Lao động-TBXH trong 5 năm (2001-2004) số người mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu: xây dựng KCN, khu chế xuất, khu đô thị ở Hà Nội là gần 800.000 người Trong 8 năm (từ 2001 đến 2007), Hà nội đã triển khai hơn 2800 dự án đầu tư liên quan đến thu hồi đất Thành phố đã bàn giao cho chủ đầu tư gần 1300 dự án với 6300 ha đất, trong đó trên 80% là đất nông nghiệp, liên quan đến gần 180.000 hộ dân Bình quân mỗi năm Hà Nội đã giải phóng mặt bằng gần 1000ha
Trong những năm qua, mặc dù Trung Ương và Thành phố đã có những chính sách về hỗ trợ việc làm và học nghề nhưng lại chưa đồng bộ và hiệu quả, dẫn đến nguy cơ thất nghiệp ở người nông dân mất tư liệu sản xuất là đất đai rất lớn Bởi họ khó học nghề mới, phần lớn lại ở độ tuổi cao, trình độ văn hoá hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu lao động chất lượng cao Một bộ phận nông dân khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp đã trở thành hộ nghèo Ở 5 quận, huyện bị thu hồi nhiều nhất, có 1223 hộ nghèo với 4389 nhân khẩu
Hạn chế chủ yếu trong cơ chế chính sách hỗ trợ hiện có được Hà Nội chỉ ra
là việc bồi thường, hỗ trợ đều dưới hình thức chi trả trực tiếp tiền cho người dân bị thu hồi (tức là mới chỉ quan tâm đến khía cạnh vật chất) dẫn đến tình trạng người dân dùng tiền để mua sắm chứ ít quan tâm đến học nghề, chuyển đổi nghề để có thể đảm bảo cuộc sống ổn định khi Nhà nước thu hồi đất
Mới đây Hà Nội đã đưa ra các chủ trương tìm cách hỗ trợ nông dân bị thu hồi đất như sau:
- Một là, UBND thành phố đề xuất thành lập Quỹ hỗ trợ ổn định đời sống,
phổ cập giáo dục, học nghề và việc làm cho các hộ nông dân bị mất trên 30% đất sản xuất nông nghiệp được giao theo NĐ84/CP của Chính phủ Quỹ này sẽ có vốn ban đầu là 40 tỷ đồng từ ngân sách thành phố cấp, tiếp theo sẽ trích nguồn kinh phí của các nhà đầu tư khi được giao đất
- Hai là, trẻ em của các gia đình bị thu hồi đất sẽ được hỗ trợ học phí phổ
Trang 38thông trong 3 năm Người lao động có nhu cầu học nghề sẽ được cấp thẻ học nghề
có giá trị tối đa 6 triệu đồng, ưu tiên những người này tham gia kinh doanh các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị và KCN Hỗ trợ 100% kinh phí BHYT cho người trên 60 tuổi đối với nam và trên 55 tuổi đối với nữ
Ngoài ra các giải pháp khác được UBND Thành phố quan tâm đó là xây dựng, ban hành quy chế ưu tiên đấu thầu kinh doanh dịch vụ tại các khu đô thị, KCN mới hình thành, xã hội hoá các hoạt động dịch vụ tại các khu đô thị, KCN xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp Cho người dân có đất bị thu hồi tham gia kinh doanh, đặc biệt sẽ ưu tiên cho lao động của hộ bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất Có cơ chế về đầu tư, xây dựng hạ tầng nông thôn tại các khu vực thu hồi nhiều đất nông nghiệp để tạo điều kiện kinh doanh dịch vụ phục vụ các KCN, khu đô thị, giải quyết việc làm tại chỗ, đảm bảo sự gắn kết hạ tầng của khu đô thị và KCN với vùng dân cư
Từ thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân mất đất tại Hà Nội ta thấy:
Thứ nhất, chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng thẻ học nghề sẽ tránh
được việc người dân sử dụng tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề vào việc khác mà không phải là việc học nghề Tuy vậy, Hà Nội chưa quan tâm rõ đến từng đối tượng, chưa có chính sách cho những người lao động đã qua độ tuổi lao động hoặc gần hết tuổi lao động Họ không có điều kiện chuyển đổi nghề mới
Thứ hai, Hà Nội đã có chính sách hỗ trợ học phí cho con em những hộ bị
mất đất Lập quỹ hỗ trợ ổn định đời sống
2.4.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ
1997 đến 2007) nhờ phát triển các KCN tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 17,1% Nhưng cũng chính vì thế mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, KCN… Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân bị mất việc làm Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sau
10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000 hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp
Trang 39tục bị thu hồi để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa Số lượng nông dân không còn tư liệu sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm Trước thực trạng đó, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết cơ bản
Với quan điểm: Có “an cư” mới “lạc nghiệp” Để sớm ổn định đời sống cho người dân có đất ở bị thu hồi phải nhanh chóng giải quyết tốt vấn đề tái định cư cho dân Đây là quan điểm nhất quán của tỉnh Vì vậy, tỉnh chủ trương khi tái định
cư cho dân phải bảo đảm nơi ở mới có điều kiện sống, sinh hoạt tốt hơn nơi ở cũ Trên thực tế đã có nhiều địa phương làm khá tốt việc này, được dư luận nhân dân đánh giá cao như Vĩnh Yên, Mê Linh, Phúc Yên…
Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề án, từ thời điểm thực hiện cho đến năm 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc thiết bị; hỗ trợ học phí cho 14.000 lao động nông thôn (chủ yếu là thanh niên); phát triển hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm… Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 45% vào năm 2010 Đến nay toàn tỉnh đã có 52 cơ
sở đào tạo nghề, với cơ cấu nghề đào tạo khá đa dạng, quy mô đào tạo hơn 31.000 lao động mỗi năm, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của người lao động Ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đã tổ chức 385 lớp đào tạo về các nghề chăn nuôi, trồng trọt, thuỷ sản, thú y, điện, kinh tế, tin học cho trên 11.640 nông dân tham gia học tập Để nâng cao hơn nữa số lượng thanh niên nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhận vào làm việc tại các khu, cụm công nghiệp, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ như: các hộ gia đình dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếu tham gia các khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; tham gia học bổ túc văn hóa và nghề
sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗ trợ 200.000 đồng/học viên/tháng) Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động nông thôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa được đào tạo nghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã được đào tạo nghề), hỗ trợ học phí với mức từ 250 ngàn đến 300 ngàn đồng/tháng/ học viên /khoá học đào tạo nghề; hỗ trợ 1 triệu đồng/người/ khoá đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng xuất khẩu lao động Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗi lao động thuộc hộ có đất chuyển đổi mục đích sử dụng đi làm việc ở các tỉnh phía Bắc được hỗ trợ 300 nghìn đồng, đi miền Trung 500 nghìn đồng và đi miền Nam
Trang 40là 700 nghìn đồng Đến năm 2010, tỉnh sẽ mở 3.000 lớp đào tạo các nghề mới cơ khí, may, điện, điện tử cho trên 90.000 nông dân; đồng thời mở các điểm tư vấn, thông tin việc làm, cơ chế chính sách, thị trường lao động từ tỉnh đến huyện, xã phục vụ người dân Chính từ những chủ trương đúng đắn này mà đến nay, 23% lao động nông thôn có đất bị thu hồi đã được nhận vào làm việc ổn
định trong các khu công nghiệp
Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổi nghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ Để làm được điều này, một mặt, tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống, các nghề thủ công, tiểu thủ công… Huy động Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… vào cuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp, có nhu cầu Mặt khác, một mô hình được dư luận đánh giá có tính
“đột phá” đã và đang được tỉnh áp dụng rộng rãi Đó là mô hình “đổi đất lấy dịch vụ” Quyết định 2502/2004/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đất dịch vụ cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị… đã nêu rõ: các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp
bị thu hồi chiếm 40% tổng diện tích đất nông nghiệp trở lên của hộ gia đình, cá nhân đó sẽ được cấp đất để làm dịch vụ Cứ 1 sào (360m2) đất thu hồi sẽ được cấp 10m2 đất dịch vụ (tối thiểu 20m2, tối đa 100m2) Đất “dịch vụ” sẽ được nông dân
sử dụng để xây nhà cho công nhân thuê, kinh doanh hàng ăn, tạp phẩm… tùy từng gia đình Đây thực sự là một quyết định đúng đắn, được sự đồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân có đất bị thu hồi Đất “dịch vụ” không những giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng…
Từ thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân tỉnh Vĩnh Phúc ta thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cụ thể cho từng đối tượng Tỉnh cũng đã có những hỗ trợ dành cho những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao Tuy nhiên đó mới chỉ là những giải pháp bước đầu giải quyết được tình trạng thiều việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân Các biện pháp đó chưa mang tính đồng bộ và dài hạn, chưa gắn kết với các Sở, Ban, Ngành và lồng ghép sâu rộng với các chương trình, dự án của Tỉnh cũng như trên phạm vi toàn quốc
2.4.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến tác động của các DAĐT đến đời sống việc làm và sinh kế của hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp