Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp cao su, cà phê, trồng cây cảnh, câ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN CẢNH QUYỀN
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HIỆU QUẢ THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG HÓA TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Cảnh Quyền
Trang 3- Các thầy, cô giáo khoa Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và đồng nghiệp;
- Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hưng Hà, Phòng Tài nguyên
và Môi trường huyện Hưng Hà, các phòng, ban và UBND, HTX DVNN các xã, thị trấn thuộc huyện Hưng Hà
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cá nhân, tập thể và cơ quan nêu trên đã giúp
đỡ, khích lệ và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Cảnh Quyền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3 2.1 Khái niệm về sử dụng đất 3
2.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 4
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả 4
2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6
2.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất 6
2.2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 9
2.2.3 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp 12
2.2.4 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp hàng hóa 23
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27 3.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Đối tượng nghiên cứu 27
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hưng Hà 27
Trang 53.4.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 27
3.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 27
3.4.4 Xác định các LUT sản xuất hàng hoá và hướng thị trường tiêu thụ 28
3.4.5 Định hướng và giải pháp sản xuất nông nghiệp hàng hóa huyện Hưng Hà 28
3.5 Phương pháp nghiên cứu 28
3.5.1 Phương pháp điều tra số liệu, tài liệu thứ cấp 28
3.5.2 Phương pháp thu thập, điều tra số liệu sơ cấp 28
3.5.3 Phương pháp xác định các LUT sản xuất hàng hóa 29
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 30
3.5.5 Phương pháp so sánh 30
Phần 4 Kết quả và thảo luận 31 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
4.1.3 Thuận lợi 37
4.1.4 Khó khăn 38
4.2 Hiện trạng và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 38
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 38
4.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 43
4.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tại huyện Hưng Hà 55
4.3.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 55
4.3.2 Thực trạng sản xuất và tiêu thụ một số mặt hàng nông sản chính 57
4.4 Định hướng và giải pháp sản xuất nông nghiệp hàng hóa huyện Hưng Hà 60
4.4.1 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 60
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 62
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 64 5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 66
Tài liệu tham khảo 67
Phụ lục 70
Trang 6WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 huyện Hưng Hà 39
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng, tỷ lệ sử dụng sản phẩm của một số cây trồng chính năm 2015 huyện Hưng Hà 40
Bảng 4.3 Tổng số gia súc – gia cầm và sản lượng sản phẩm chăn nuôi năm 2015 41
Bảng 4.4 Diện tích nuôi trồng và khai thác thuỷ sản năm 2015 42
Bảng 4.5 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất chủ yếu của huyện Hưng Hà 43
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất vùng 1 46
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất vùng 2 47
Bảng 4.8 Tổng hợp hiệu quả kinh tế bình quân theo các loại hình sử dụng đất huyện Hưng Hà 48
Bảng 4.9 Số công lao động và thu nhập trên ngày công lao động vùng 1 50
Bảng 4.10 Số công lao động và thu nhập trên ngày công lao động vùng 2 51
Bảng 4.11 Bảng tổng hợp mức độ và liều lượng sử dụng NPK, thuốc BVTV trên các LUT hàng hóa 53
Bảng 4.12 So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại địa phương với tiêu chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 54
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp hệ thống tiêu thụ sản phẩm nông sản trên địa bàn huyện Hưng Hà 56
Bảng 4.14 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hưng Hà 61
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ huyện Hưng Hà trong tỉnh Thái Bình 31 Hình 4.2 Sơ đồ các loại đất nông nghiệp năm 2015 huyện Hưng Hà 38 Hình 4.3 Giá trị gia tăng trên một ha của một số cây trồng chính huyện Hưng Hà 45 Hình 4.4 Tổng hợp hiệu quả kinh tế trên một ha của các loại hình sử dụng đất
huyện Hưng Hà 48 Hình 4.5 Nhà máy xay xát gạo và chế biến nông sản công ty TNHH Hưng Cúc 57 Hình 4.6 Sản xuất, thu mua cây Phát lộc tại xã Hồng Lĩnh trên QL39 59
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Cảnh Quyền
Tên luận văn: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hóa tại địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình”
Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp kết hợp với khảo sát thực địa
- Sử dụng phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường từ đó xác định LUT sản xuất hàng hóa
Kết quả chính và kết luận
- Huyện Hưng Hà là huyện thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, tổng diện tích tự nhiên 21.028,68 ha gồm 33 xã và 02 thị trấn trong đó diện tích đất nông nghiệp của huyện là 14.631,84 ha chiếm 69,58% so với tổng diện tích
tự nhiên Hưng Hà tiếp giáp với các huyện Đông Hưng (phía Đông Nam), Vũ Thư (phía Nam), Quỳnh Phụ (phía Đông Bắc) và hai tỉnh Hưng Yên ở phía Tây Bắc, Hà Nam (huyện Lý Nhân) ở phía Tây Nam Hưng Hà có ba mặt giáp sông Hồng (phía Tây) cùng hai phân lưu của nó là sông Luộc (phía Bắc) và sông Trà Lý (phía Nam) Ngoài ra huyện
có một mạng lưới các con sông nhỏ, kênh rạch nhỏ, nối thông với các sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý Huyện có vị trí thuận lợi, hệ thống giao thông quốc lộ QL39 chạy qua
7 xã, tuyến đường bộ cấp 2 đồng bằng nối 2 tỉnh Thái Bình – Hà Nam với đường cao tốc Cầu Giẽ (đường Thái Hà) đã hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa, kinh tế chính trị và thu hút đầu tư đẩy mạnh thông thương hàng hóa đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa Nhìn chung là với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển cho ngành nông nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế của huyện Hưng Hà nói chung
Trang 10- Tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện Hưng Hà là 14.631,84 ha chiếm 69,58% so với tổng diện tích tự nhiên, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 13.234,50 ha chiếm 90,45% đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản 1.300,7 ha chiếm 8,89 % so đất nông nghiệp, đất nông nghiệp khác 96,7 ha chiếm 0.66% đất nông nghiệp Toàn huyện có
04 loại hình sử dụng đất (LUT) chính: LUT Chuyên lúa, LUT Lúa – Rau, màu, LUT Chuyên rau, màu, LUT Hoa cây cảnh được chia thành 2 tiểu vùng gồm tiểu vùng đồng bằng trong đê và tiểu vùng đồng bằng ngoài đê Thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hưng Hà còn nhỏ lẻ, chưa tập trung chuyên canh hệ thống cây trồng, phương thức sản xuất nông nghiệp theo cách truyền thống, áp dụng tiến bộ khoa học chậm do đó chưa hình thành mô hình nông nghiệp tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa
- Đánh giá được hiệu quả sử dụng đất của huyện Hưng Hà:
+ Về hiệu quả kinh tế, qua nghiên cứu ta thấy tiểu vùng I có hiệu quả kinh tế cao nhất ở LUT 4 (Hoa, cây cảnh) và LUT 3 (chuyên Rau, màu) Thấp nhất là LUT 1 (chuyên lúa) Tiểu vùng II (chuyên Rau-màu) có hiệu quả kinh tế tương đối cao do có lợi thế về đất đai chủ yếu là đất phù sa có độ phì khá màu mỡ, song lại chịu ảnh hưởng lớn của mưa bão
về mùa mưa
+ Về hiệu quả xã hội, ở cả 2 tiểu vùng nghiên cứu thì LUT Hoa, cây cảnh, LUT chuyên Rau-màu cho hiệu quả xã hội cao thu hút được nhiều lao động, giá trị ngày công lao động tương đối cao và ổn định Hiệu quả xã hội ở mức thấp là kiểu sử dụng đất Lúa xuân – Lúa mùa
+ Về hiệu quả môi trường: Trên địa bàn huyện Hưng Hà sử dụng các chủng loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm thuốc được phép sử dụng, kết quả điều tra người dân không sử dụng chất cấm để bảo quản nông sản Tiều vùng 1 LUT Hoa, cây cảnh sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật với liều lượng cao và thời gian cách ly thấp Tiểu vùng
2 sử dụng phân bón ở mức trung bình, song việc sử dụng liều lượng thuốc bảo vệ thực vật tương đối cao
- Định hướng sản xuất cho huyện Hưng Hà trong vài năm tới sẽ phát triển mở rộng LUT Hoa, cây cảnh tại các xã ven thị trấn, thị tứ, LUT chuyên rau màu, LUT Lúa-Rau màu cho thu nhập khá, thu hút được lao động nông thôn Giảm diện tích chuyên lúa cho năng suất thấp, chiếm diện tích nhiều
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện Hưng Hà: giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, giải pháp về vốn; giải pháp về ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; giải pháp về chất lượng nông sản
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Mr Nguyen Canh Quyen
Thesis title: “Assess the current situation and propose the type of agricultural
land use efficiency in the direction of commodity production in Hung Ha district , Thai Binh province”
Major: Land Management Code: 60 85 01 03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives
- Evaluate the effectiveness of use of agricultural land and identifying the type of goods produced in Hung Ha district, Thai Binh province
- Orientation and propose solutions to improve the efficiency of use of agricultural land
in the direction of producing goods Hung Ha district
Materials and Methods
- Using secondary data collection, combined with the primary field surveys
- Using the method of calculation of economic efficiency, social and
environmental thereby determining LUT producing goods
Main findings and conclusions
- Hung Ha District is a district of the Red River Delta, located in the Pacific Northwest of the province, a total area of 21028.68 hectares consisting of 33 natural and
02 communes and towns in the area of agricultural land in the district is 14.631,84 ha accounted for 69,58% of the total natural area Hung Ha adjacent to the Dong Hung District (southeast), Vu Thu (south), Quynh Phu (northeast) and Hung Yen provinces in the northwest, Ha Nam (Ly Nhan district) in the southwest Hung Ha has three sides of the Red River (west) along its two distributaries Luoc (north) and Tra Ly (south) Also the district has a network of small rivers, small canals, connect it to the Red River, Boiled River, Tra Ly River The district has a favorable location, highway transportation system runs through 7 QL39 commune roads connecting 2 level 2 delta province of Thai Binh -
Ha Nam Cau Gie highway (Thai Ha Street) perfected facilitate districts in facilitating economic exchanges, cultural, economic, political and investment boost trade goods especially agricultural products goods Generally the natural conditions, economic, social partly meet the development needs of the agricultural sector in particular and the whole economy in general Hung Ha district
- The total area of agricultural land of Hung Ha District is 14631.84 hectares, accounting for 69.58% of the total natural area, of which agricultural land accounted for
Trang 1290.45% 13234.50 hectares of agricultural land, aquaculture land 1300.7 hectares, accounting for 8.89% of agricultural land, other agricultural land 96.7 hectares, accounting for 0.66% of agricultural land The district has 04 land use type (LUT) main rice
Professionals LUT, LUT Rice - Vegetables cultivation, LUT Vegetables cultivation, LUT
Flowers and bonsai is divided into two sub-regions included in the delta primary and primary dike plains outside the dike Current situation of agricultural production in Hung
Ha district may be small, not concentrated intensive cropping systems, methods of agricultural production in the traditional way, applying scientific advances slowly so no tissue formation Figure agricultural focus towards commercial production
- Evaluate the efficiency of land use Hung Ha district:
+ In terms of economic efficiency, through sub-regional research I have seen the
highest economic efficiency in the LUT 4 (Flowers and bonsai) and LUT 3(Vegetables cultivation) LUT 1 is lowest (special rice) Subregion II (Vegetables cultivation) with
economic efficiency is relatively high due to the advantages of land mainly alluvial soil fertility quite fertile, but are heavily influenced by the typhoon on the rainy season
+ On social performance, in both studies, the sub-region 2 LUT Flowers, bonsai,
specialized Vegetables cultivation LUT for high social efficiency attracted many workers,
labor day values are relatively high and stable nail Social efficiency is low land use spring rice - Rice seasons
+ Regarding environmental effectiveness: On Hung Ha district, the vaccine used in plant protection group is allowed to use drugs, a survey of people do not use banned substances for preserving agricultural products Subregion 1 LUT States, bonsai fertilizer and plant protection drugs in high doses and low-entry times Subregion 2 fertilizer use in the average, but the use of doses of plant protection products is relatively high
- Orientation production for Hung Ha district in the next few years will be expanded LUT Flowers and bonsai at the edge of town communes, towns, specialized
vegetable LUT, LUT Rice-Vegetables for good income, attracting rural workers are
Reduce specialized area for low-yield rice, occupying an area of more
- Propose some solutions to improve the efficiency of agricultural land in the direction of commodity production in Hung Ha District: solutions expand agricultural markets, measures of capital; solutions for scientific and technical applications in production; Solutions for the quality of agricultural products
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, là yếu tố cấu thành lãnh thổ của mỗi quốc gia
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại Từ bao đời nay nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người Đất đai
là tư liệu sản xuất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Trong quá trình phát triển xã hội, gắn liền với các hoạt động mở rộng sản xuất công nghiệp, dịch vụ đất đai không chỉ sử dụng vào trồng trọt, chăn nuôi mà còn sử dụng ngày càng nhiều để phát triển các ngành nghề khác Điều đó có nghĩa là trong quá trình phát triển kinh tế gắn liền với việc chuyển dịch đất đai trong nông nghiệp sang các ngành khác, phản ánh quy luật tất yếu của chủ trương giảm diện tích đất trong sản xuất nông nghiệp Điều này phản ánh sự tiến bộ của xã hội, song đó lại là mối đe dọa cho cuộc sống loài người trong việc sản xuất ra lương thực, thực phẩm nhằm đảm bảo cho nhu cầu lương thực ngày càng tăng và người nông dân gắn bó với đất nông nghiệp như ở Việt Nam
Hưng Hà, là huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, bao gồm 35
xã và thị trấn (33 xã và 02 thị trấn) với tổng diện tích tự nhiên là 21.028,68 ha, chiếm 12,96% tổng diện tích tỉnh Thái Bình, do sự gia tăng về dân số, và áp lực
về nhà ở đã làm cho diện tích đất dùng trong nông nghiệp giảm mạnh trong những năm gần đây Hưng Hà là huyện có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng diễn
ra nhanh chóng, đã tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại địa phương theo hướng hàng hoá còn nhỏ lẻ, mang tính tự phát, chưa
có quy hoạch và phương án giải quyết đầu ra nên chưa phát huy hết các tiềm năng sẵn có
Từ thực tế trên, cho thấy việc nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đưa ra những loại hình sử dụng đất đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, có tính hàng hoá và bền vững cho huyện Hưng Hà là rất cần thiết
Trang 14Để góp phần giải quyết vấn đề này, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiện trạng và đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả theo hướng sản xuất hàng hóa tại địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và xác định các loại hình sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tại địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất được những giải pháp có tính khả thi phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của vùng nghiên cứu
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình từ năm 2015
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Đề tài giúp đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính của huyện và có ý nghĩa trong việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Góp phần giải quyết vấn đề lựa chon các loại hình sử dụng đất để mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường đạt kết quả cao nhất cho người dân
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI NIỆM VỀ SỬ DỤNG ĐẤT
2.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp
Theo Luật đất đai năm 2013, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác được sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và
kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa, không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, xói mòn đất, thoái hoá đất Theo Hà Văn Đổng (2013) qua 3 cuộc Tổng điều tra đất đai (năm 2000, 2005 và 2010) cho thấy, một số tỉnh, thành phố có sự suy giảm đáng kể về diện tích đất nông nghiệp, ví dụ như vùng Đồng bằng sông Hồng giảm tới 32.000 ha chỉ sau 5 năm (2005-2010) Cùng với đó là sự gia tăng về quy
mô diện tích đất sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp Sự suy giảm này là do một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã được chuyển sang sử dụng cho các mục đích phi nông nghiệp và mục đích khác, như: xây dựng các công trình công nghiệp, công trình thủy lợi, giao thông, nhà ở, các công trình hạ tầng xã hội, trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha Có 41/63 tỉnh giảm diện tích đất trồng lúa Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất phi nông nghiệp (công trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn, hoặc đất sản xuất, kinh doanh)
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tình hình hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn đối với các nhà quản lý, quy hoạch đất đai, các nhà hoạch định chính sách và người sử dụng đất đai
Trang 162.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Vùng khí hậu nhiệt đới ẩm là một vùng chiếm một diện tích rộng lớn của thế giới và chứa các phần lãnh thổ của khoảng 60 quốc gia Việc sử dụng sáng suốt tài nguyên đất và nước trong vùng nhiệt đới ẩm là những vấn đề chủ yếu của toàn thế giới hiện tại, vì những sự tương tác giữa dân số con người, các yếu tố xã hội - kinh tế và chính sách, với tài nguyên thiên nhiên của các vùng sinh thái mong manh này Quản lý sai lầm tài nguyên đất và các hệ thống nông nghiệp dựa trên tài nguyên không hiệu quả đang gây ra sự xuống cấp nghiêm trọng các vùng sinh thái này cùng với tình trạng thiếu lương thực, suy dinh dưỡng và nghèo nàn đang đeo bám dai dẳng các cộng đồng dân cư Hiện nay nhiều diện tích rộng lớn của rừng mưa nhiệt đới đang bị biến mất hàng năm do lửa rừng, búa rìu, cưa xích, máy ủi, và thuốc khai quang, để sản xuất lương thực nuôi sống một dân số không ngừng tăng lên, nguyên liệu cho công nghiệp, và nông sản hàng hoá để xuất khẩu cũng như để phát triển cơ sở hạ tầng cho những người nhập cư mới đến khu vực và cho nhu cầu công nghiệp hoá Các phương pháp không tương thích về mặt sinh thái của sự chuyển hoá rừng, các hệ thống sử dụng đất không phù hợp, và sự quản lý đất và hoa màu không khoa học dựa trên các kỹ thuật bóc lột độ phì của đất, đã thúc đẩy xói mòn đất, góp phần ô nhiễm các mặt nước tự nhiên, phá vỡ cân bằng nước và năng lượng ở các hệ sinh thái với các cấp độ từ
vi mô cho đến trung và vĩ mô, và phá vỡ các chu trình của các nguyên tố (ví dụ,
C, N, và S) cùng với các hệ quả sinh thái toàn cầu Một hệ quả toàn cầu chính của sự mất, đốt, và chuyển hoá rừng thành các hệ thống sử dụng đất không bền vững là sự phóng thích của những lượng lớn CO2 và các chất hoạt động phóng
xạ hay các khí gây hiệu ứng nhà kính vào khí quyển
Hiện nay, ở các vùng nhiệt đới, việc canh tác sử dụng đất nông nghiệp theo hướng thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ, áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là những nguyên nhân gây tình trạng thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất Điều đó đặt ra vấn đề là phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững
2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
2.1.3.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
Ngày nay nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng trong khi quỹ đất chỉ có hạn Đất đai đang là nguồn tài nguyên được con người khai thác
Trang 17với nhiều mục đích khác nhau, một phần lớn diện tích đất nông nghiệp đang được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác Do đó, cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cũng là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Chính vì vậy, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng vùng
Sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp có nghĩa là có thể chuyển đổi việc sử dụng đất vào nhiều mục đích sản xuất khác nhau phù hợp với điều kiện và cơ hội sản xuất khác nhau nhằm đa dạng hóa cây trồng Việc sử dụng đất linh hoạt cho phép nông dân có thể ứng xử với các tín hiệu thị trường như là giá cả của các yếu
tố đầu vào và đầu ra Nông dân sẽ có lợi nhiều khi sử dụng đất linh hoạt và sẽ giúp họ giảm thiểu rủi ro, đồng thời tiết kiệm chi phí, giảm thiểu tổn thất và do
đó tăng thu nhập cho họ
2.1.3.2 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả
Hiện nay, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất hiệu quả Đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định và đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân trong vùng thì sẽ được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp cần được thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm
* Bền vững về mặt xã hội
Là đáp ứng được nhu cầu lao động, thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân trong vùng, đảm bảo đời sống xã hội Thỏa mãn được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội (bảo vệ đất, môi trường…)
Trang 18* Bảo vệ môi trường
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hóa, xói mòn đất, bảo vệ môi trường sinh thái
Theo Khổng Ngọc Thuận, (2009) sử dụng đất hiệu quả được dựa trên 5 quan điểm sau:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học,
kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu
- Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hoá hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
- Chú ý đầu tư có trọng điểm để tạo ra các vùng kinh tế làm động lực lôi cuốn nhưng không lãng quên đầu tư diện rộng nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư
2.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được chú ý hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người – đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên khác và môi trường Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công
Trang 19nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đảm bảo sự thống nhất giữa các ngành, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững, đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất
Vì vậy, việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống:
- Hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội
và hiệu quả môi trường
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích chung của
2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế, xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuât xã hội
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động (vật hóa và lao động sống) giữa các ngành” Theo quan điểm của C Mác đó là quy luật “tiết kiệm”, là “tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “ Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Samuel – Nordhuas cho rằng: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng
Trang 20hóa này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế
có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó”
Theo L.M Canirop: “Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hóa trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực đã sử dụng”
Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của vấn đề là: Người sản xuất muốn thu được những kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn… và tiêu chuẩn của hiệu quả đối với họ là sự tối đa hóa khối lượng sản phẩm thu được với một lượng chi phí định trước, hoặc tối thiểu hóa chi phí để đạt được một kết quả nhất định
Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí nguồn lực đầu tư
2.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp mà chỉ tiêu quan trọng nhất là giá trị của sản phẩm nông nghiệp đạt cao nhất trên một đơn vị diện tích
Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
2.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Môi trường luôn là một vấn đề nóng bỏng đang được toàn xã hội quan tâm Nó không chỉ bó hẹp ở một quốc gia, một vùng, một tiểu vùng mà nó mang tính toàn cầu Hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường như
Trang 21đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại, quá trình sản xuất đó làm cho môi trường tốt hơn, mang lại một môi trường xanh, sạch, đẹp hơn trước
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất
và môi trường sinh thái
Bên cạnh cách phân loại hiệu quả sử dụng đất nói trên người ta còn căn cứ vào những yếu tố như: tổ chức và quản lý kinh tế , tổ chức sản xuất, phương hướng để tác động vào sản xuất, kế hoạch sản xuất, căn cứ vào mặt không gian
và thời gian Tuy nhiên, nếu xem xét ở bất kỳ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất đều bao gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Cả ba mặt này có một mối quan hệ tương tác, thống nhất và không thể tách rời nhau Trong đó, hiệu quả kinh tế là trọng tâm
Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và
sử dụng đất nông nghiệp bền vững Độ che phủ rừng phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Trong đó đa dạng sinh học cũng là một giải pháp quan trọng
2.2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:
- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, đảm bảo tính so sánh có thang bậc
- Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định chỉ tiêu chính, chỉ tiêu cơ bản, biểu hiện mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn
Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học, phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
Trang 222.2.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Xuất phát từ bản chất của hiệu quả là nói lên mối quan hệ giữa kết quả và chi phí, mối quan hệ này có thể là quan hệ hiệu số hoặc quan hệ thương số nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả là:
* Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp gồm:
+ Giá trị sản xuất (GTSX)
Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời
kỳ nhất định, thường là 1 năm GTSX chính là giá trị sản lượng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
+ Chi phí trung gian (CPTG)
Bao gồm toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra
để thuê và mua các yếu tố đầu vào (trừ khấu hao tài sản cố định) và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT)
Giá trị gia tăng được tính theo công thức:
GTGT = GTSX – CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ, TNHH/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
Trang 23+ Thu nhập hỗn hợp (TNHH): là phần thu nhập từ công lao động của một gia đình và lợi nhuận có thể nhận được trong năm
Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất rất quan tâm đến GTGT, đặc biệt trong các quyết định ngắn hạn Nó là kết quả của việc đầu tư các chi phí vật chất và lao động sống của từng hộ và khả năng quản lý của người chủ hộ
Các chỉ tiêu được phân tích, đánh giá định lượng bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
+ Thu nhập thuần (TNT): là phần thu nhập từ công lao động của một gia đình và lao động thuê mướn và lợi nhuận có thể nhận được trong năm
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:
+ Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội, khoa học, kỹ thuật;
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân; + Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân; + Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật; + Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường
Trong sử dụng đất luôn có sự mâu thuẫn giữa những lợi ích vật chất, cá nhân trước mắt với những lợi ích xã hội, lâu dài Việc người dân khai thác từ đất nhiều hơn, trong khi cung cấp cho đất lượng phân hữu cơ ít và tăng các dạng phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đều là những nguyên nhân làm tổn hại môi trường Sử dụng đất thực sự đạt hiệu quả khi nó không có mâu thuẫn trên Vì vậy, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là:
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng;
+ Mức đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu và các hóa chất khác;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Trang 24* Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất nông nghiệp:
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển nền kinh tế - xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước
2.2.3 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật (1995), trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề sau:
- Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
- Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay phải thay thế bằng máy móc, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức;
- Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
* Công nghiệp hóa nông nghiệp: là quá trình chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp một cách toàn diện về mọi mặt như thực hiện việc chăn nuôi công nghiệp, hay cơ giới hóa nông nghiệp, hiện đại hóa quá trình canh tác, sản xuất theo hình thức canh tác hiện đại (thâm canh, tăng vụ, bón thúc trong trồng trọt), hiệu quả nhờ vào việc ứng dụng khoa học công nghệ, khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực nông nghiệp để nâng cao năng suất của nông sản như gia súc, cá, gia cầm và cây trồng Các phương pháp gồm cả về mặt thể chế kinh tế (các quy luật kinh tế như cung cầu, giá trị, cạnh tranh ) và thể chế chính trị pháp lý (các quy định của pháp luật phải tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất nông nghiệp)
* Nông nghiệp sinh thái: Khái niệm nông nghiệp sinh thái được đưa ra nhằm khắc phục những nhược điểm của nông nghiệp công nghiệp hoá Nông
Trang 25nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp (Đường Hồng Dật và cộng sự, 1994)
Mục tiêu của nông nghiệp sinh thái là:
- Tránh những tác hại do sử dụng hoá chất và phương pháp công nghiệp gây ra;
- Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
- Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng hàm lượng mùn trong đất…
- Giảm thiểu ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau Cụ thể như:
- “Cách mạng xanh” đã được thực hiện ở các nước đang phát triển ở Châu
Á, Mỹ la tinh và đã đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó và những năm của thập kỷ 60 Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc
áp dụng các giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, mì, ngô,…) xây dựng hệ thống thủy lợi, sử dụng nhiều loại phân hóa học “Cách mạng xanh”
đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hóa học và cả thành tựu của công nghiệp
- “Cách mạng trắng” được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc
có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang
ít nhiều tính chất công nghiệp Cuộc cách mạng này đã tạo được những bước phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối quan
hệ chặt chẽ với “Cách mạng xanh”
- “Cách mạng nâu” diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó khăn trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài
và bền vững Giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức
độ cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản
lý được vận dụng phù hợp, với điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng
Trang 262.2.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới
Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu
Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, trong báo cáo chiến lược nông nghiệp nông thôn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã xác định phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới sẽ là:
- Sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng kinh tế thị trường hiện đại trong các đơn vị, ngành, vùng đã hình thành Đồng thời, từng bước chuyển các đơn vị, ngành, vùng nông nghiệp còn căn bản tự cấp, tự túc ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc ít người lên sản xuất hàng hoá, xây dựng các vùng sản xuất nông sản xuất khẩu tập trung, nhằm đáp ứng được nguồn cầu về nông sản của thị trường trong nước và thế giới theo hướng số lượng ngày càng nhiều, chủng loại ngày càng đa dạng, chất lượng ngày càng cao, giá ngày càng rẻ, trong đó chất lượng nông sản là vấn đề cần đặc biệt quan tâm
- Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài
- Duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt khoảng từ 2,5 - 3%/năm, trong đó giai đoạn 2011 - 2015 là khoảng 2,7%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 là khoảng 2,6%/năm Điều chỉnh cơ cấu phù hợp với xu hướng biến đổi nhu cầu tiêu dùng theo mức tăng thu nhập của nhân, duy trì quy mô sản xuất lương thực hợp lý, đảm bảo nhu cầu an ninh lương thực cho mức dân số ổn định tương lai
- Tập trung phát triển các cây trồng nhiệt đới mà Việt Nam có lợi thế và thị trường thế giới phát triển trong tương lai có nhu cầu (lúa, cà phê, cao su, điều, tiêu, chè, rau hoa quả nhiệt đới,…), giảm thiểu những cây trồng kém lợi thế, chấp nhận nhập khẩu với quy mô hợp lý phục vụ chế biến và nhu cầu tiêu dùng trong nước (bông, thuốc lá, rau hoa quả ôn đới, Đậu tương…)
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, tăng sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc
Trang 27biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông nghiệp nhằm tạo ra các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá
- Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu
Báo cáo chiến lược phát triển ngành nông nghiệp nông thôn đến năm 2020 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục đề cập đến một nội dung rất
quan trọng là “vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn” (thường được gọi là
"tam nông") Đây được coi là “đại vấn đề” mà việc xử lý đúng sai sẽ trực tiếp
quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN
2.2.3.3 Xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa
a) Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa
Nông nghiệp là một hoạt động sản xuất cơ bản của mỗi quốc gia Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn Tuy nhiên những khó khăn, trở ngại trong nông nghiệp đã gây ra không ít xáo động trong đời sống xã hội và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn, nông nghiệp lại càng đóng vai trò thiết yếu Để nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi sản xuất nông nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc
Đặc biệt ngày nay khi Việt Nam trở thành viên thứ 150 của WTO Hơn hai mươi năm nay, hàng nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đi nhiều nước, nhiều mặt hàng năm trong tốp đứng đầu thế giới Theo kết quả thực hiện kế hoạch giai đoạn 2000 – 2010 tại báo cáo Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 của Bộ NN & PTNT, năm 2009 Việt Nam có lượng xuất khẩu nông sản tương đối lớn: gạo 5,5 triệu tấn, cà phê 1 triệu tấn, cao su 600.000 tấn, hồ tiêu 100.000 tấn, hạt điều chế biến 150.000 tấn,… Vào WTO, trong vòng 5-7 năm, thuế nhập khẩu bình quân giảm từ 17,4% xuống còn 13,4%; riêng hàng nông sản
Trang 28trong 5 năm tới thuế nhập khẩu giảm từ 23,5% hiện xuống còn 20,9% Chúng ta phải nhanh chóng đổi mới nền nông nghiệp để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, đảm bảo chất lượng Con đường tất yếu để phát triển nông nghiệp nước ta
hiện nay là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa
Theo học thuyết của Các Mác, hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải để cho người sản xuất tiêu dùng mà nó được sản xuất ra để bán Hàng hoá được bán ở thị trường Như vậy, sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm
để bán Đó là hình thức tổ chức nền sản xuất xã hội trong đó mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất biểu hiện qua thị trường qua việc mua bán sản phẩm lao động của nhau
Theo Hà Thị Thanh Bình (2000) đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hoá sản xuất được bán ra thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% thị gọi là hệ thống trồng trọt thương mại
hoá (sản xuất theo hướng hàng hoá)
Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng cung cho thị trường là các loại nông sản phẩm còn cầu nông nghiệp là các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa là sự tiến hóa hợp quy luật Đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, manh mún,
lạc hậu thành nền nông nghiệp hiện đại
Trước đây, nền kinh tế tự cung, tự cấp gắn liền với nền kinh tế đóng cửa
và gần như tách biệt với thị trường làm cho nông dân có mức sống thấp, năng suất lao động thấp Vì thế, xu thế vận động của kinh tế hộ nông dân từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa, kích thích sự phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất hàng hóa là đúng quy luật nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, tạo nhiều sản phẩm hàng hóa
Báo cáo Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020 đã nêu rõ: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài” Định hướng phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng là: “sản xuất thâm canh lúa đặc sản, rau, hoa và cây trồng vụ đông; phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới và dịch vụ”
Trang 29Nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, đòi hỏi phải đẩy mạnh sản xuất nông - lâm - thuỷ sản theo hướng hàng hoá với cơ cấu và chất lượng sản phẩm đa dạng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường trong nước
và quốc tế Do vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đẩy nhanh việc hình thành các vùng sản xuất tập trung và chuyên môn hoá nông sản hàng hoá cả
về số lượng và quy mô diện tích với chất lượng sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước là vấn đề cấp bách
Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa có những ưu thế đặc biệt Nó thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động xã hội Trong kinh tế hàng hóa có sự tác động của quy luật giá trị, sự nghiệt ngã của cạnh tranh, sự khắt khe của thị trường và quy luật cung cầu, buộc người nông dân phải năng động và biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao chất lượng các sản phẩm nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu xã hội Khi có sản xuất hàng hóa, quá trình xã hội hóa sản xuất nhanh chóng được thúc đẩy làm cho sự phân công chuyên môn hóa sản xuất ngày càng sâu sắc, hợp tác hóa chặt chẽ, hình thành các mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, hình thành thị trường trong nước và thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, bình đẳng và tiến bộ xã hội Vì vậy, sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá mang lại rất nhiều lợi ích
b) Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam
- Yếu tố tự nhiên
+ Yếu tố khí hậu
Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng muốn sống, sinh trưởng và phát triển đòi hỏi phải có đầy đủ các yếu tố sinh trưởng là ánh sáng, nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng Trong đó, ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí chính là các yếu tố khí hậu Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,50C, lượng mưa trung bình
từ 1.500 - 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm Trong khi đó, ở
Trang 30miền nam, khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,50C, lượng mưa trung bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp Nếu như ở trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp
lơ xanh, ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới, thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt, hay miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long, là những cây nhiệt đới điển hình Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với các mức độ khác nhau Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, nhiệt độ thấp vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới Trời âm u thiếu ánh sáng cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng
+ Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí Độ phì là một trong những yếu
tố quan trọng nhất của đất Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì của đất Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao
+ Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho xuất khẩu
Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất
Trang 31Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá
- Yếu tố kinh tế, xã hội
+ Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất Khi dân số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm
phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn Việc đảm bảo cân bằng giữa sử
dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao động cho sản xuất Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu
không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra Đặc biệt, đối với một
nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên cần thiết
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý thức trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao
+ Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và ngược lại Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng
+ Cơ chế chính sách
Do có tầm quan trọng đặc biệt nên nông nghiệp, nông thôn luôn giành được những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Trong mỗi nền kinh tế, người nông dân tiến hành sản xuất, kinh doanh ở những điều kiện khác
Trang 32nhau, đặc biệt là các điều kiện về tự nhiên và kinh tế, gây ra bất bình đẳng về thu nhập Mặt khác, thị trường luôn hàm chứa các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến một số người giàu lên do có những việc làm bất chính Vì vậy, Nhà nước cần can thiệp vào thị trường thông qua những chính sách có tính chất
trợ giúp và phân phối lại thu nhập nhằm đảm bảo sự công bằng xã hội Các chính
sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của những người nông dân
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá, người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường, sức mua Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả như: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ, có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực trong sản xuất
nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo ổn định và lâu dài Trong những năm qua, Chính phủ đã không ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn
Luật đất đai 2013 (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2014) đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa kế những đầu tư trên đất Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông
Trang 33nghiệp cũng là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh
và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về hàng hoá nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế Áp dụng khoa học (kiến thức), kỹ thuật (công cụ), công nghệ (kỹ năng) để tăng năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn một cách bền vững Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như giống cây trồng vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật trong canh tác, trong chế biến bảo quản,… làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật
nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động, vốn
Nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Cho đến giữa thế kỷ 20, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Lựa chọn các tác động khoa học kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật sẽ đạt được mục tiêu đề ra
c) Một số định hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Việt Nam trong những năm tới
Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu Theo báo cáo Chiến lược phát triển Nông nghiệp, Nông thôn đến năm 2020 phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
Trang 34hệ thống chính sách bù đắp thu nhập cho vùng này nhằm hoàn toàn đảm bảo nhu cầu trong nước (ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng)
+ Những khu vực có khả năng thích nghi cao, ngoài diện tích tối thiểu cần duy trì cho an ninh lương thực, được ưu tiên xây dựng thành vùng chuyên canh phục vụ xuất khẩu Cố định quy hoạch cho vùng chuyên canh nhưng quy mô sản xuất hàng năm có thể thay đổi tùy thuộc vào hiệu quả sản xuất lúa trên thị trường nhằm sản xuất lượng gạo xuất khẩu từ 3,5 đến 4,5 triệu tấn/năm
- Phát triển cây trồng hàng hóa có khả năng cạnh tranh mạnh, hiệu quả cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu:
+ Dựa trên cơ sở cân đối cung cầu, phát huy lợi thế của địa phương, tập trung xây dựng các chương trình phát triển ngành hàng mũi nhọn của Việt Nam với các thương hiệu quốc gia cho các cây trồng Việt Nam hiện đang có lợi thế so sánh và thị trường có nhu cầu cũng như những mặt hàng có lợi thế tiềm năng + Xây dựng một số vùng chuyên canh với các trang trại và doanh nghiệp sản xuất tập trung quy mô lớn gắn với nhà máy chế biến và hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ tiếp thị (kho tàng, bến bãi, cầu cảng )
+ Đối với cây rau, hoa, tiến hành nghiên cứu tiếp thu khoa học công nghệ
để hình thành tập đoàn giống, nâng sản lượng rau lên 15 triệu tấn vào năm 2015
và 18 triệu tấn vào năm 2020 Phấn đấu đạt sản lượng xuất khẩu rau từ 200 - 300 ngàn tấn/năm trong giai đoạn 2010 - 2015 và 350 - 400 ngàn tấn/năm trong giai đoạn 2016 - 2020
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá
- Phát triển hợp lý các loại cây trồng có lợi thế cạnh tranh trung bình hoặc thấp, thay thế nhập khẩu:
+ Xác định địa bàn và quy mô sản xuất tối ưu cho những mặt hàng này như: Lạc 1 triệu tấn, duy trì sản lượng tối đa hơn 6,5 triệu tấn ngô năm 2015 và 7,2 triệu tấn năm 2020, đậu tương 740 ngàn tấn năm 2015 và gần 1,1 triệu tấn năm 2020
+ Việc phát triển các cây trồng thay thế nhập khẩu phải trên cơ sở phân tích mức độ thích nghi sinh học, xác định rõ những nơi có điều kiện thuận lợi nhất Trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế hợp lý, quy hoạch diện tích đất thích hợp ở một số vùng chuyên canh địa phương để tổ chức sản xuất một số loại cây thay thế nhập khẩu như ngô, Đậu tương, dầu ăn,
Trang 35- Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu
* Chăn nuôi:
Phát triển các đối tượng nuôi chủ lực, chất lượng cao, phẩm chất tốt đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Đồng thời cần bảo tồn và phát triển các giống loài bản địa, đặc hữu có giá trị kinh tế cao
* Lâm nghiệp:
- Phát triển lâm nghiệp toàn diện từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo, làm
giàu rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo vệ môi trường cho du lịch sinh thái
- Có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện, khuyến khích các tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển rừng
* Làm muối:
- Qui hoạch phát triển sản xuất muối ở những vùng có lợi thế so sánh nhất,
có khả năng cạnh tranh với các vùng sản xuất muối trên thế giới (lượng mưa thấp, số giờ nắng cao, nồng độ muối trong nước biển cao) Đến năm 2020, đảm bảo sản lượng muối cả nước đạt 1.350.000 tấn trên tổng diện tích muối công nghiệp là 8.500ha
- Thu hẹp sản xuất muối thủ công ở những vùng sản xuất quy mô nhỏ, kém hiệu quả (số ngày nắng thấp, lượng mưa cao, nồng độ muối trong nước biển thấp), hỗ trợ để chuyển dần người làm muối sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và lao động phi nông nghiệp
- Cải thiện hệ thống kinh doanh phân phối, huy động cơ chế thị trường giải quyết hiệu quả việc xuất, nhập và phát triển thị trường đảm bảo nhu cầu trong nước và lợi ích của người sản xuất
2.2.4 Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp hàng hóa
2.2.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất để từ
đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Trang 36Các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới hàng năm cũng đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những công thức luân canh mới, các kỹ thuật canh tác mới Đặc biệt, viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI cũng đã đóng góp nhiều thành tựu về giống lúa và hệ thống canh tác trên đất trồng lúa Xu hướng chung trên thế giới là tập trung mọi nỗ lực nghiên cứu cải tiến hệ thống cây trồng trên những vùng đất bằng cách đưa thêm một số loại cây trồng vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm trên một đơn vị diện tích trong một năm
Ở châu Âu đã đưa chế độ luân canh 4 năm, 4 khu vực với hệ thống cây trồng gồm: khoai tây, ngũ cốc mùa xuân, cây cỏ ba lá và ngũ cốc mùa đông vào thay thế chế độ luân canh 3 năm, 3 khu với hệ thống cây trồng chủ yếu là: ngũ cốc, ngũ cốc, bỏ hóa làm cho năng suất ngũ cốc tăng gấp 2 lần và sản lượng lương thực, thực phẩm trên 1ha tăng gấp 4 lần Ở châu Á trong những năm đầu của thập
kỷ 70 nhiều vùng đã đưa các cây trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa làm
tăng hiệu quả sử dụng đất Nông dân Ấn Độ thực hiện sự chuyển dịch từ cây trồng
truyền thống kém hiệu quả sang cây trồng có hiệu quả cao bằng cách trồng mía thay cho lúa gạo và lúa mì, trồng đậu tương thay cho cao lương ở vùng đất đen, trồng cây lúa ở vùng có mạch nước ngầm cao thay cho cây lấy hạt có dầu, bông và
đậu đỗ Theo báo cáo của Tổ chức FAO, nhờ các phương pháp tạo giống hiện đại
như đột biến thực nghiệm, công nghệ sinh học bao gồm nuôi cấy bao phấn cứu phôi, dung hợp tế bào trần, kỹ thuật gen… các nước trồng lúa trên thế giới đã tạo
ra nhiều giống đột biến, trong đó có các nước như Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Mỹ
là những quốc gia đi đầu Sử dụng kỹ thuật nuôi cấy bao phấn Trung Quốc đã tạo
ra nhiều giống lúa thuần khác nhau, bằng kỹ thuật gen cũng đã chuyển được một
số gen kháng bệnh virus, kháng đạo ôn bạc lá, sâu đục thân
Gần đây, vấn đề khai thác đất gò đồi đã đạt được những thành tựu đáng kể
ở một số nước trên thế giới Hướng khai thác chủ yếu trên đất gò đồi là đa dạng hóa cây trồng, kết hợp trồng cây hàng năm với cây lâu năm, trồng rừng với cây
nông nghiệp trên cùng một vạt đất dốc
Một số nước đã ứng dụng công nghệ thông tin xác định hàm lượng dinh dưỡng dựa trên phân tích lá, phân tích đất để bón phân cho cây ăn quả như ở Israel, Philipin, Hà Lan, Mỹ, Nhật, kết hợp giữa bón phân vào đất, phun phân qua lá, phân vi lượng, chất kích thích, điều hoà sinh trưởng đã mang lại hiệu quả
rất cao trong sản xuất như ở Mỹ, Israel, Trung Quốc, Đài Loan, Úc, Nhật Bản
Trang 37Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên các loại đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tổ chức hàng hóa của sản phẩm…
Ở Thái Lan, Uỷ Ban chính sách quốc gia đã có những quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng cây trên từng loại đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn
Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỷ USD (chiếm 28,3% tổng thu nhập nông nghiệp), ở Canada là 5,7 tỷ USD (chiếm 39,1% tổng thu nhập nông nghiệp)
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ
sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất
Những năm gần đây, việc bảo quản nông sản sau thu hoạch đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đưa ra những tiến bộ kỹ thuật thiết thực nhằm giảm thiểu hiện tượng “ mất mùa trong nhà” Những thiết bị sau thu hoạch bao gồm: công nghệ sấy khô nông sản, công nghệ làm lạnh nông sản, cấu trúc kho tàng, công nghệ hoá học,… Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo chất lượng sau thu hoạch (chất lượng thực phẩm, vi sinh vật thực phẩm ), quản lý sau thu hoạch (quản lý trang trại, quản lý doanh nghiệp, kinh tế học), công nghệ bao gói sau thu hoạch (công nghệ polyme, công nghệ in ấn, ) cũng được nghiên cứu và áp dụng
thành công ở các nước Hà Lan, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Thái Lan
2.2.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trong những năm qua, nhờ sự đổi mới về chính sách của Đảng, Nhà nước
và sự trú trọng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, đội ngũ khoa học của ngành đã nghiên cứu thành công trên nhiều lĩnh vực như: giống cây trồng, vật nuôi, thú y, lâm nghiệp, thuỷ lợi, canh tác, bảo vệ thực vật, đất, phân bón Nhiều công trình nghiên cứu được hội đồng khoa học đánh giá cao, được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đã đưa vào áp dụng trong sản xuất, đưa năng suất,
Trang 38chất lượng sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng trong những năm qua, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được người sản xuất đánh giá cao
Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng, đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của Trần An Phong, phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà Những nghiên cứu này giúp người sản xuất có những hiểu biết và kiến thức để đưa ra được quyết định, lựa chọn đúng đắn trong các hoạt động nông nghiệp Kết quả của Vụ khoa học và công nghệ các tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận trong giai đoạn 1986 đến 2004 đã có 346 giống cây trồng các loại, trong đó lúa 149 giống; ngô 44 giống; đậu tương 19 giống, 14 giống lạc, cao su 14 giống; nhãn 5 giống; khoai tây 8 giống; sầu riêng 5 giống, riêng giai đoạn 1995 - 2004 trên lĩnh vực giống cây trồng đã tạo ra 230 giống cây trồng các loại
Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây trồng 3-4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao như: hoa, cây ăn quả, cây thực phẩm cao cấp… Nhìn chung công trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết phần nào vấn đề đặt ra trong việc sử dụng đất đai hoang Có những mô hình cho nghiên cứu kinh tế cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả thực tế rất thấp, có mô hình đạt hiệu quả cao trước mắt song chưa có gì đảm bảo việc khai thác ổn định lâu dài, đặc biệt có nơi còn làm hủy hoại môi trường phá hủy đất Vì vậy cần có các công trình nghiên cứu ở từng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở địa phương từ đó có các giải pháp thích hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững
Nông nghiệp là ngành đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết mọi quốc gia Do đó, đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác để đưa
ra những định hướng và giải pháp thiết thực cho việc sử dụng đất mang lại hiệu quả cao là vấn đề cấp thiết đang cần được giải quyết hiện nay, đặc biệt với một nước có truyền thống canh tác nông nghiệp lâu đời như Việt Nam
Trang 39PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Đề tài được thực hiện từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 03 năm 2016
- Số liệu điều tra nông hộ năm 2015
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đất sản xuất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hoá và hiệu quả của chúng đối với sản xuất nông nghiệp tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hưng Hà
- Đánh giá điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, thuỷ văn
- Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội: thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, tình hình quản lý đất đai, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm
- Đánh giá những thuận lợi cũng như những hạn chế trong sản xuất nông nghiệp
3.4.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp tại huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Thực trạng sản xuất nông nghiệp và khả năng tiêu thụ một số mặt hàng nông sản chính của huyện Hưng Hà
3.4.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa dựa trên các tiêu chí giá trị kinh tế, tỷ lệ sản phẩm bán ra
- Đánh giá hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất
+ Tính giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian của các kiểu sử dụng đất trên 1 ha đất canh tác
+ Tính giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian trên 1 công lao động quy đổi
Trang 40- Đánh giá hiệu quả về mặt về môi trường của các kiểu sử dụng đất
+ Đánh giá ảnh hưởng của các kiểu sử dụng đất của huyện đến 1 số chỉ tiêu chất lượng môi trường trong đất
+ Mức độ, liều lượng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật của các cây trồng, các kiểu sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả về mặt xã hội của các kiểu sử dụng đất
+ Mức độ sử dụng lao động
+ Giá trị ngày công lao động
3.4.4 Xác định các LUT sản xuất hàng hoá và hướng thị trường tiêu thụ
Lựa chọn các LUT của từng tiểu vùng được đánh giá trên các chỉ tiêu về mặt kinh tế, xã hội, môi trường cho giá trị gia tăng, giá trị ngày công cao, tỷ lệ sản phẩm bán ra cao
3.4.5 Định hướng và giải pháp sản xuất nông nghiệp hàng hóa huyện Hưng Hà
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp hàng hoá tại huyện Hưng Hà
- Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp điều tra số liệu, tài liệu thứ cấp
Phương pháp này là điều tra thu thập số liệu, tổng hợp từ các nguồn số liệu liên quan đến tài nguyên đất đai, đất sản xuất nông nghiệp, hiện trạng sử dụng đất, kết quả đánh giá sử dụng đất…ở các cơ quan chuyên môn như Sở tài nguyên
và môi trường, Phòng tài nguyên và môi trường, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn…
3.5.2 Phương pháp thu thập, điều tra số liệu sơ cấp
a Chọn điểm điều tra nghiên cứu
Do điều kiện tự nhiên, dân cư và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phương thức sản xuất huyện Hưng Hà xác định 02 tiểu vùng dựa vào vị trí trong và ngoài đê
- Tiểu vùng đồng bằng trong đê (TV1chuyên trồng cây hàng năm): Đây là tiểu vùng trung tâm kinh tế của huyện, có nhiều lợi thế là đồng ruộng bằng phẳng, màu mỡ, giáp ranh tỉnh Hưng Yên, huyện Quỳnh Phụ, huyện Đông Hưng nên được xác định là tiểu vùng sản xuất nông nghiệp và kinh doanh chủ lực của huyện Tiểu vùng này có thế mạnh về các loại cây trồng hàng năm