1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh

100 328 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 3,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách bồi thường, hỗ trợ bước đầu đã giúp người dân có đất bị thu hồi ổn định cuộc sống, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng 4 Để đẩy nhanh tiế

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ VĂN GIANG

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG VÀ HỖ TRỢ KHI THU HỒI ĐẤT DỰ ÁN TRƯỜNG HỌC

VÀ DỰ ÁN HẠ TẦNG KỸ THUẬT TRÊN ĐỊA BÀN

THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Mã số: 60 85 01 03 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Tám

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Văn Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo, PGS.TS Đỗ Thị Tám người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn, Phòng Tài Nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn, Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã Từ Sơn, Phòng Kinh tế, Phòng thống kê, chính quyền và nhân dân phường Đình Bảng và phường Trang Hạ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Văn Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục các hình vii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 3

2.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ 4

2.1.2 Bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ 4

2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ 5

2.1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế 9

2.1.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của Việt Nam 13

2.2 Cơ sở thực tiễn về công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 18

2.2.1 Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 18

2.2.2 Vấn đề đời sống, việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất 20

2.2.3 Một số khó khăn, hạn chế chung trong quá trình thu hồi đất để phát triển trường học và hạ tầng kỹ thuật 22

2.2.4 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ ở Việt Nam 22

2.2.5 Nhận xét chung về tổng quan các vấn đề nghiên cứu 27

Trang 5

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Địa điểm nghiên cứu 28

3.2 Thời gian nghiên cứu 28

3.3 Đối tượng nghiên cứu 28

3.4 Nội dung nghiên cứu 28

3.4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Từ Sơn 28

3.4.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất đai của thị xã Từ Sơn 28

3.4.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện 02 dự án nghiên cứu 29

3.4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất 29

3.5 Phương pháp nghiên cứu 29

3.5.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp 29

3.5.2 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp 30

3.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30

3.5.4 Phương pháp so sánh 30

Phần 4 Kết quả và thảo luận 31

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội thị xã Từ Sơn 31

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên nguyên thiên nhiên 31

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 33

4.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Từ Sơn 36

4.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn 37

4.2.1 Tình hình quản lý về đất đai trên địa bàn thị xã Từ Sơn 37

4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất thị xã Từ Sơn năm 2015 41

4.3 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu 43

4.3.1 Khái quát về 2 dự án 43

4.3.2 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ tại các dự án nghiên cứu 48

4.3.3 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến người dân 57

4.3.4 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ tại 02 dự án nghiên cứu 62

4.4 Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất 67

Trang 6

4.4.1 Giải pháp về chính sách và thực hiện chính sách 67

4.4.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện và trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ 67

4.4.3 Giải pháp về cơ chế bồi thường 68

4.4.4 Giải pháp về cơ chế hỗ trợ 68

4.4.5 Giải pháp khác 68

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 70

5.1 Kết luận 70

5.2 Kiến nghị 71

Tài liệu tham khảo 72

Phụ lục 74

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu sử dụng đất dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm phường

Trang Hạ 46

Bảng 4.2 Cơ cấu sử dụng đất dự án Trường Trung cấp nghề kỹ thuật cơ giới 48

Bảng 4.3 Kết quả bồi thường thiệt hại về đất 02 dự án 53

Bảng 4.4 Kết quả bồi thường thiệt hại về hoa màu 02 dự án 53

Bảng 4.5 Kết quả các khoản kinh phí hỗ trợ dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm phường Trang Hạ 54

Bảng 4.6 Kết quả các khoản kinh phí hỗ trợ dự án xây dựng trường Trung cấp nghề kỹ thuật cơ giới 55

Bảng 4.7 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm phường Trang Hạ 56

Bảng 4.8 Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng trường Trung cấp nghề kỹ thuật cơ giới 57

Bảng 4.9 Quan điểm của người dân có đất bị thu hồi tại 02 dự án 58

Bảng 4.10 Đánh giá mức độ hợp lý của giá đất bồi thường qua ý kiến của người bị thu hồi đất tại 02 dự án 59

Bảng 4.11 Bảng điều tra mức thu nhập của người bị thu hồi đất tại 02 dự án 60

Bảng 4.12 Bảng điều tra tình hình sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của người có đất bị thu hồi tại 02 dự án 61

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 4.1 Một góc khu đất thuộc dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm phường Trang Hạ 46

Hình 4.2 Một góc khu đất thuộc dự án Trường trung cấp nghề kỹ thuật cơ giới 47

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 4.1 Cơ cấu diện tích đất thị xã Từ Sơn năm 2015 46 Biểu 4.2 Ý kiến của người bị thu hồi đất về giá bồi thường về đất tại 02 dự án 61 Biểu 4.3 Mức thu nhập của người bị thu hồi đất tại 02 dự án 62

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Họ tên học viên: Lê Văn Giang

Tên luận văn: “Đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất Dự án

Trường học và Dự án Hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

Cơ sở đào tào: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

2 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, sử dụng kết hợp 2 nhóm phương pháp chính đó là thu thập tài liệu số liệu và xử lý số liệu và được chia thành 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Sau khi thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp, sơ cấp tiến hành chọn dự

án và điều tra 100 phiếu đại diện của các hộ gia đình cá nhân có đất bị thu hồi

Giai đoạn 2: Sử dụng phương pháp phân tích định lượng và định tính (thống kê mô tả) trong SPSS để thống kê đặc tính của các đối tượng điều tra theo nhóm; phương pháp thống kê so sánh; phương pháp so sánh, đánh giá

3 Kết quả nghiên cứu chính và kết luận

1) Từ Sơn là một thị xã nhỏ nằm cách trung tâm thành phố Bắc Ninh 13 km về phía Tây Nam Hệ thống giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện cho Từ Sơn phát triển đô thị, khu công nghiệp và dịch vụ

Trang 11

2) Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển kinh tế, xây dựng công nghiệp và dịch vụ phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

đã thực hiện tương đối tốt Công tác bồi thường, hỗ trợ luôn được chính quyền thị xã quan tâm và đã đạt được những kết quả quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3) Công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại các dự án cơ bản được thực hiện theo các quy định của pháp luật đất đai Tại 02 các dự án nghiên cứu, giá bồi thường cây trồng, vật nuôi, công trình kiến trúc trên đất nhìn chung là thỏa đáng Giá bồi thường đất nông nghiệp mặc dù chưa cao, nhưng cộng với các khoản hỗ trợ khác phù hợp nên đã được người dân chấp thuận Chính sách bồi thường, hỗ trợ bước đầu đã giúp người dân có đất bị thu hồi ổn định cuộc sống, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng

4) Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện giải phóng mặt bằng cần thực hiện các giải pháp: ổn định đời sống người bị thu hồi đất; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng phương án bồi thường

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Student full name: Le Van Giang

Thesis title: “Assessment of compensation and support when land acquisition

for school project and infrastructure project in Tu Son town, Bac Ninh province”

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

1 Research Objectives

Land is particularly capital goods an important resource for national development The Vietnam is in the period of implementation of the industrialization and modernization of the country, many projects such as industrial parks, factories, new urban areas, residential areas construction has ongoing In terms of land is limited, increasing land prices and the market economy growing, the interests of the state land use allocation and land acquisition is still a very hot issue and urgent So the assessment in order to determine the advantages and shortcomings in the process of compensation and support when land acquisition thus propose solutions to contribute to process of land acquisition in the Tu Son Town is essential The thesis would contribute to system solutions to improve the efficiency of land use management, contributing to the economic development of the district

2 Materials and Methods

In the thesis, two groups of method were used; they are gathering data and processing data, and is divided into two stages:

Phase 1: After collecting documents and secondary data, conducted surveys with

100 representatives of individual households who have acquired land

Phase 2: Using quantitative analysis and qualitative (descriptive statistics) in SPSS for statistical characteristics of the respondents as a group; comparative statistical methods; methods of comparison and reviews

3 Main findings and conclusions

1) Tu Son is a small town It is about 13 km to the southwest of Bac Ninh center Transportation system has created favorable conditions for Tu Son development urban, industrial parks and services

2) The land allocation, land lease, and change of purpose of use of land for economic development, industrial construction and services in line with planning and land

Trang 13

use planning have done relatively well Compensation and support have always been interested in local government and have achieved significant results in the cause of industrialization and modernization

3) Compensation and support when the State recovers land in the basic project shall comply with the provisions of the land legislation In 02 research projects, compensation prices for crop, livestock and buildings on the land are generally satisfactory Compensation prices of agricultural land is although not high, but combined with other appropriate grants people should have been approved Compensation policies, support initially helped people with acquired land to settle down and create conditions to accelerate compensation, clearance

4) In order to accelerate the implementation of clearance should implement the solutions: stable life of people who are recovered land; promote the dissemination and popularization of law; enhance the participation of people in the building plan of compensation

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn xây dựng và phát triển dân sinh, kinh tế sản xuất, an ninh quốc phòng Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam chương II điều 18 đã xác định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.”

Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa đất nước, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đáp ứng cho phát triển kinh tế - xã hội là việc làm tất yếu xẩy ra thường xuyên ở tất cả các địa phương trên toàn lãnh thổ Việt Nam Đặc biệt là chuyển diện tích đất nông nghiệp sang quỹ đất phi nông nghiệp thuộc các

dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, thương mại dịch vụ và du lịch

Thu hồi đất, bồi thường thiệt hại để giải phóng mặt bằng là khâu then chốt, quan trọng Bồi thường, giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai các dự án Bồi thường giải phóng mặt bằng là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, nó tác động tới mọi vấn đề đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng của cộng đồng dân cư Ảnh hưởng trực tiếp đến Nhà nước, Chủ đầu tư, đặc biệt là đối với người dân có đất bị thu hồi

Ngày 24 tháng 9 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ có Nghị định số

01/QĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, với 7 phường và 5 xã Thị xã Từ Sơn được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích của huyện Từ Sơn, với 12 đơn vị hành chính bao gồm các phường: Đồng Kỵ, Trang Hạ, Đồng Nguyên, Đình Bảng, Tân Hồng, Châu Khê, Đông Ngàn và các xã: Tam Sơn, Tương Giang, Hương Mạc, Phù Khê, Phù Chẩn

Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nằm ở vị trí địa lý rất thuận lợi: Cách không

xa các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là khu tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc:

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, đó là lợi thế cho Từ Sơn trong quá trình sản xuất và phát triển Cùng với sự phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của thị xã phát triển mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2008-2015 là 18,05%

Trang 15

Nhìn chung tình hình quản lý, sử dụng đất đai cơ bản thực hiện theo Luật đất đai, từng bước tuyên truyền hướng dẫn cho các đối tượng sử dụng đất hiểu rõ

về Luật đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất để họ yên tâm và có kế hoạch sử dụng đất đai đúng mục đích, đúng pháp luật

Tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa trên địa bàn thị

xã Từ Sơn diễn ra rất mạnh mẽ nhất là từ năm 2003 đến nay Diện tích đất nông nghiệp bị chuyển sang phi nông nghiệp là hơn 1000 ha để xây dựng các khu công nghiệp (KCN), khu đô thị mới, kiến thiết cơ sở hạ tầng Việc chuyển đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đã góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thị xã Tuy nhiên nó cũng gây tác động không nhỏ đến những vấn đề xã hội và môi trường như: Ảnh hưởng đến đời sống người dân có đất bị thu hồi; Ảnh hưởng đến môi trường sống và tính bền vững trong quá trình phát triển

Xuất phát từ tình hình thực tế trên tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá công tác bồi thuờng và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án Trường học và dự án

Hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đánh giá thực trạng nhằm tìm ra những ưu điểm, nhược điểm trong quá trình thực hiện bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất tại dự án Trường học và dự án Hạ tầng

kỹ thuật trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất một số giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện bồi thường, hỗ trợ nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các

dự án đầu tư trên địa bàn thị xã Từ Sơn

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Không gian nghiên cứu: thị xã Từ Sơn

- Đề tài tập trung nghiên cứu công tác bồi thường, hỗ trợ tại 02 dự án: Dự án

Đầu tư xây dựng Trường học và Dự án Hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã Từ Sơn

- Phạm vi, thời gian nghiên cứu:

+ Số liệu thống kê được lấy trong giai đoạn 2010 - 2015

+ Số liệu hiện trạng lấy đến 12/2015

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Ý nghĩa khoa học: góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ khi

Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các dự án

- Ý nghĩa thực tiễn: đề xuất các giải pháp cụ thể về công tác bồi thường,

hỗ trợ khi thu hồi đất trên địa bàn thị xã Từ Sơn

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

Chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được thực hiện dựa trên các quan điểm cơ bản như sau:

i) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra dựa trên cơ sở

quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ

ii) Xét về bản chất Nhà nước ta là Nhà nước do nhân dân lao động thiết

lập lên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân; phục vụ và chăm lo cho lợi ích, sự phồn vinh của người dân Do đó, thì khi Nhà nước thu hồi đất của người dân để sử dụng vào bất kể mục đích gì mà làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Nhà nước phải có bổn phận và nghĩa

vụ bồi thường;

iii) Xét về phương diện lý luận, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất

(SDĐ) là hậu quả phát sinh trực tiếp từ hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra

Vì vậy, Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho họ;

iv) Nhà nước ta đã và đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận

hành theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước biết tôn trọng và bảo hộ những quyền lợi chính đáng của người dân;

v) Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xây dựng dựa trên chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

sử dụng ổn định, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho người SDĐ Như vậy,

“kể từ đây quyền sử đất đã tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao cho người sử dụng đất thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất” hay nói cách khác, “Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện, còn quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất” Đặng Hùng Võ (2010) cho rằng: “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ, Quyền lợi và nghĩa vụ

sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước” Như vậy, khi pháp luật đã thừa nhận quyền SDĐ là một loại quyền về tài sản của người SDĐ, thì khi Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho người SDĐ

Trang 17

2.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ

2.1.1.1 Bồi thường

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi thường: đền bù những tổn hại đã gây ra” Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hình vi của chủ thể khác mang lại

Theo quan điểm của Luật Đất đai 2003: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” (khoản 6, Điều 4) Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)

Theo quan điểm của Luật đất đai 2013: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm quyết định thu hồi đất” (khoản 2, Điều 74) Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật (khoản 3, Điều 74) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)

2.1.1.2 Hỗ trợ

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Hỗ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào”

Theo quan điểm của Luật Đất đai 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” (khoản 7, Điều 4) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)

Theo quan điểm của Luật đất đai 2013: “ Người sử đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ” (điểm a, khoản 1, Điều 83) Việc hỗ trợ phải bảo đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật (điểm

b, khoản 1, Điều 83) (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2013)

2.1.2 Bản chất của việc bồi thường, hỗ trợ

Mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của Đảng và Nhà nước ta

đó là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Trong nhiều chiến lược phát triển của đất nước có chiến lược phát triển nhà ở nhằm tạo điều kiện cho nhân dân có chỗ ở rộng rãi hơn, tiện nghi hơn qua mỗi thời kỳ phát triển

Trang 18

Bài học của một số nước phát triển cho ta cách nhìn mới đó là bên cạnh những công sở nguy nga tráng lệ, những cao ốc trọc trời là những khu nhà “ổ chuột” của dân lao động, công bằng và dân chủ không thể chỉ thông qua việc hô hào mà thực tế lại không thực hiện

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Chúng ta không thể chỉ có những đô thị đẹp, hiện đại, những khu chế xuất khổng

lồ, những công trình công cộng khang trang mà kèm theo đó chỗ ở của người dân phải được nâng cấp tiện nghi và rộng rãi hơn… Chính vì vậy phải tính một cách toàn diện, không thể có một hiện tượng, một công trình mới ra đời lại kéo theo những người dân không có chỗ ở hoặc chỗ ở kém hơn nơi ở cũ

Nếu không nhìn rõ bản chất vấn đề, mỗi năm chúng ta có hàng ngàn dự án cần giải phóng mặt bằng, mỗi dự án chỉ kéo theo một gia đình không có chỗ ở thì đã

có hàng ngàn gia đình thiếu chỗ ở hoặc chỗ ở tạm bợ với công việc không ổn định Như vậy là sự phát triển sẽ thiên lệch, lợi ích của quốc gia, lợi công cộng không hài hoà với lợi ích cá nhân, gia đình Từ đó mục tiêu lớn của quốc gia sẽ không đạt được

Từ những nhận thức trên có thể giúp chúng ta hiểu được bản chất quan trọng của vấn đề, chính sách bồi thường, hỗ trợ nói chung và chính sách bồi thường, hỗ trợ nói riêng cơ bản phù hợp với nguyện vọng chính đáng của người dân, nhưng để chính sách đi vào cuộc sống cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nghành, các cấp có liên quan Đồng thời cần có sự chỉ đạo kịp thời, sự quan tâm đúng mức của những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong việc xảy ra những vướng mắc, khó khăn nhằm có những giải pháp phù hợp cho từng khu vực, từng dự án và cả từng hộ dân trong công tác bồi thường, hỗ trợ

2.1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ

2.1.3.1 Yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai

a Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và

tổ chức thực hiện các văn bản đó

Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế

Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong hoạt động khai thác sử dụng đất của Nhà nước cũng như công tác bồi thường, hỗ trợ phù hợp với yêu cầu

Trang 19

thực tế triển khai Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, hỗ trợ đã gặp không ít khó khăn

và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi

thường, hỗ trợ (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006)

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2007 của BTN&MT cho thấy UBND các cấp đều có

ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu Từ đó dẫn tới tình trạng

có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vấn đề về đất đai Tại nhiều địa phương, đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các

nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải phóng mặt bằng

b Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, giải phóng mặt bằng thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò là người tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường,

hỗ trợ nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi

có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

Tuy nhiên chất lượng quy hoạch ở nước ta còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp, đặc biệt là thiếu tính bền vững Phương án quy hoạch chưa dự báo sát tình hình, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan duy ý chí, áp đặt, nhiều trường hợp quy hoạch theo phong trào Đây chính là nguyên nhân chủ

Trang 20

yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch “treo”, dự án “treo”, (Bộ Tài nguyên và Môi

trường, 2007)

c Yếu tố giao đất, cho thuê đất

Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch là điều kiện bắt buộc, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác bồi thường, hỗ trợ Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính từ ngày 01/7/2004 đến ngày 28/2/2007 thì tổng diện tích đã giao, đã cho thuê là 1.081.011

ha, trong đó diện tích đất đã giao là 925.631 ha (giao đất có thu tiền sử dụng đất

là 581.620 ha, giao đất không thu tiền là 344.011 ha); diện tích đất đã cho thuê là 155.380 ha (trong đó diện tích đất cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê là 1.386 ha) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

d Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính

Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính (HSĐC) có vai trò quan trọng hàng đầu để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản”, là cơ

sở xác định tính pháp lý của đất đai Trước tháng 12 năm 2004, rất nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị

trấn chưa lập sổ địa chính để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC phải được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng còn nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chưa đầy đủ, chưa đồng bộ ở cả 3 cấp Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này có độ chính xác thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như không đủ cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Vì vậy, việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại HSĐC là rất cần thiết

e Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của hệ thống quản lý đất đai, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, bất động sản, sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006) Chức năng của đăng ký đất đai là cung cấp những căn

Trang 21

cứ chuẩn xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp thuận và từ chối các quyền về đất

Trong công tác bồi thường và hỗ trợ, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt công tác đăng ký biến động về

sử dụng đất; việc cấp GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, hỗ trợ đã gặp rất nhiều khó khăn

f Yếu tố thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai

Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là một việc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính, chính quyền địa phương cấp trên Hồi đồng thẩm định phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật để xử lý tạo niềm tin trong nhân dân

2.1.3.2 Yếu tố giá đất và định giá đất

Hiện nay, ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng là tổng hòa giá trị hiện hành địa tô nhiều năm Một trong những điểm mới của Luật đất đai 2003 là các quy định về giá đất Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau thì Luật đất đai 2003 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau

Mặc dù các cấp chính quyền luôn khẳng định, áp giá bồi thường trong thu hồi đất phải tiệm cận với giá thị trường Nhưng trên thực tế, việc xây dựng bảng giá đất sát với giá thị trường là điều rất khó Trong đó, nguyên tắc định giá đất chưa định lượng được thế nào là sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường Thông thường thì hệ thống giá do Nhà nước quy định thường ở trạng thái tĩnh và thấp trong khi đó giá thị trường thì ở trạng thái động và cao hơn giá của Nhà nước Khuyến cáo của Ngân hàng thế giới đáng phải xem xét, thực tế cho thấy bảng giá đất tại nhiều địa phương, nhất là tại các đô thị lớn hiện nay (trong đó có Hà Nội), vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường, thậm chí chỉ bằng khoảng 20 - 60% Trong khi bảng giá đất chuẩn quốc tế phải đạt 70 - 75% giá thị trường Đây được xem là một trong những nguyên nhân khiến các dự án chậm trễ, bởi người có đất bị thu hồi chờ đợi để được giá cao hơn, gây khó khăn trong công tác bồi thường và hỗ trợ, đặc biệt

là đối với các dự án lớn thu hồi đất trong nhiều năm

Trang 22

2.1.3.3 Thị trường Bất động sản

Ngày nay thị trường bất động sản đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống các loại thị trường của nền kinh tế quốc dân, nó có những đóng góp vào ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong thời gian qua

và trong tương lai

Luật đất đai 1987 và pháp lệnh về nhà ở (1991) là cơ sở đầu tiên mở đường cho thị trường bất động sản hình thành và phát triển, (Tôn Gia Nguyên và Nguyễn Đình Bồng, 2006) Luật đất đai 2003 là văn bản pháp quy tập trung nhất phản ánh chính sách đất đai hiện hành trên cơ sở tổng kết hoạt động thực tiễn của 17 năm đổi mới, đã quy định chi tiết hơn về các điều kiện để hình thành thị trường bất động sản

và các hoạt động về tài chính đất đai, thể hiện tập trung trong các mục “Tài chính

về đất đai và giá đất”, “Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản”

Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư; đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường sẽ có tác động tới giá đất tính bồi thường

2.1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước và các tổ chức ngân hàng quốc tế

2.1.4.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của một số nước

- Quy định về trưng mua nhà

trên đất thuộc sở hữu nhà

nước và bồi thường (2011),

Điều 19

• Có một số hình thức bồi thường và tái định

cư cho những hộ nông dân như sau:

• Chỉ bồi thường tiền

Úc - Luật quản lý đất đai

WA1997

• Bồi thường được trả bằng tiền mặt

Trang 23

• Bồi thường Công trình xây dựng:

Trung

Quốc

- Luật quản lý đất đai của TQ

(2004), Điều 47, Đoạn 4

- Quy định về trưng mua nhà

trên đất thuộc sở hữu nhà

nước và bồi thường (2011),

Điều 19

• MBT cho giá trị nhà ở bị trưng mua sẽ không thấp hơn giá thị trường

• Giá trị nhà ở bị trưng mua sẽ được thẩm định

và quyết định bởi các đơn vị định giá có đủ chuyên môn, theo những quy trình định giá nhất định

• MBT sẽ do chính quyền địa phương quyết định

Ấn

Độ

- Đạo luật thu hồi đất đai

- Chính sách quốc gia về tái

định cư và ổn định cuộc sống

sau tái định cư 2007

Giá thị trường

Úc

- Luật về thu hồi TS 1989

- Luật quản lý đất đai

WA1997, Điều 189 (2)

Giá thị trường

• Bồi thường Đất nông nghiệp:

- Quy định về trưng mua nhà

trên đất thuộc sở hữu nhà

nước và bồi thường (2011),

điều 19

• MBT từ 6 đến 10 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước khi bị thu hồi

• Trợ cấp TĐC bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình

• Bồi thường cho các công trình và hoa màu sẽ

do chính quyền địa phương quyết định

• Luật giới hạn tổng MBT và hỗ trợ TĐC không vượt quá 30 lần giá trị sản lượng hàng năm trung bình của 3 năm trước nếu như các quy định trong luật không đủ duy trì mức sống hiện tại của người nông dân

Úc - Luật quản lý đất đai

WA1997, Điều 189(2)

• Dựa trên giá thị trường

Trang 24

• Bồi thường đối với Người thuê đất:

Trung

Quốc

- Luật quản lý đất đai của

TQ (2004)

• Không bồi thường cho cá nhân thuê đất

• Không có điều khoản dành cho người thuê đất

• Hộ gia đình BAH có nghĩa là những người chủ

sở hữu, người đi thuê đất, người thuê hoặc chủ

sở hữu tài sản khác bị thu hồi một cách bắt buộc

• Người thuê nhà riêng được bồi thường chi phí cho việc di chuyển và ổn đinh tại nơi ở mới, có thể được thu xếp thuê nhà ở xã hội

Úc

- Luật về thu hồi TS 1989;

Luật quản lý đất đai

WA1997, Điều 189

• Chỉ có chủ sở hữu mới được bồi thường

• Những trường hợp không được đền bù:

Trung

Quốc

- Luật quản lý đất đai của

TQ (2004), Đ 46

- Quy định về trưng mua

nhà trên đất thuộc sở hữu

nhà nước và bồi thường

(2011), Điều 24

• Trước khi quyết định trưng mua nhà ở, chính quyền địa phương sẽ thành lập các bộ phận để điều tra, xác định các tòa nhà trong diện trưng mua nhưng chưa đăng ký

• Đối với những tòa nhà xây bất hợp pháp và không đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian xây dựng thì sẽ không được bồi thường

dự án, và những người mà nguồn thu nhập của

Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012)

Trang 25

Ngoài ra, các Quốc gia này còn quy định cụ thể các khoản bồi thường cho hoạt động kinh doanh đảm bảo quyền lợi cho các chủ cơ sở kinh doanh, người lao động tại cơ sở và những bên liên quan khác Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện thu hồi, bồi thường, hỗ trợ Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc còn đề cao công tác tham vấn người dân nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho mỗi người dân bị ảnh hưởng

2.1.4.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của các tổ chức ngân hàng quốc tế

Ngân hàng Thế giới là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiên đưa

ra chính sách về TĐC bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách TĐC được ban hành dưới dạng một Thông báo Hướng dẫn Hoạt động nội bộ (OMS 2.33) cho nhân viên Từ đó đến nay chính sách TĐC đã được sửa đổi và ban hành lại nhiều lần

Như chúng ta đã biết, khi Nhà nước thu hồi đất và TĐC thì những người BAH là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, cộng đồng, hệ thống

hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hoá và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái

Kinh nghiệm của WB cho thấy việc TĐC không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm hoạ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hoá khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hoá đời sống dân cư

Từ tháng 2/1994, ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng bản Hướng dẫn hoạt động của WB về TĐC và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này

đã có chính sách riêng của Ngân hàng về TĐC bắt buộc

Nhìn chung, phương châm của ADB cũng tương tự như của WB đều có xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời

có chính sách thoả đáng, phù hợp đảm bảo cho người BAH không gặp phải bất lợi trong cuộc sống, khôi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khoá dẫn tới sự thành công đó là phải chấp

Trang 26

nhận và thực hiện chính sách phát triển mà con người là trung tâm Kinh nghiệm về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, TĐC thành công là những chính sách phù hợp của Chính phủ: nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thức hiện các dự án

Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường TĐC hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện

Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường TĐC được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người BAH và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường TĐC phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ BAH Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới

2.1.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ của Việt Nam

2.1.5.1 Thời kỳ trước năm 1945

Chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt nam gắn liền với việc hình thành các triều đại phong kiến Ở mỗi kiểu Nhà nước các hình thức sở hữu đất đai luôn được các giai cấp thống trị chú trọng Bắt đầu từ thời vua Gia Long, Nhà nước thật sự thừa nhận quyền sở hữu ruộng đất không chỉ thuộc

sở hữu Nhà nước mà cả sở hữu tư nhân và sở hữu làng xã Tuy nhiên sở hữu Nhà nước bao giờ cũng lấn át sở hữu tư nhân và sở hữu làng xã Chính sách bồi thường cho người bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường cho ruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức bồi thường được quy định chặt chẽ, tương ứng với những thiệt hại của người bị thu hồi đất, (Đặng Thái Sơn, 2002)

2.1.5.2 Thời kỳ sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1975

Sau cách mạng tháng 8/1945, với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04 tháng 12 năm 1953, Luật cải cách ruộng đất ra đời nhằm thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai bán nước ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến về chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông

Trang 27

dân, đồng thời tịch thu, trưng dụng, trưng mua ruộng

Khi trưng dụng ruộng đất, Nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất là vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng dụng để

họ tiếp tục sản xuất Trường hợp không làm được như vậy, về đất sẽ được bồi thường bằng tiền từ 1đến 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất bị trưng dụng Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định [Điều 6, Nghị định số 159 – TTg ban hành ngày 14/04/1959] Có thể nói, Nghị định số 151/TTg ra đời phần nào đáp ứng nhu cầu trưng dụng ruộng đất trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định này chưa có quy định cụ thể về mức bồi thường mà chủ yếu dựa vào sự thoả thuận giữa các bên

2.1.5.3 Thời kỳ sau năm 1975 đến trước sự ra đời Luật đất đai năm 1993

Trên cơ sở hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Vì vậy việc thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện đền bù tài sản gắn liền với đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên.Ngày 01/07/1980 hội đồng chính phủ ra quyết định 201/CP về việc: “Không được phát canh thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất với bất

kỳ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi nhuận không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng

Ngày 31/5/1990, hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị định 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác, điều 1 của NĐ này quy định rõ mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng sử dụng vào mục đích khác phải đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng không phụ thuộc các khoản đền bù về đất Khung giá đền

bù thiệt hại do UBND tỉnh, thành phố, dặc khu trực thuộc trung ương quy định cụ thể Mức bồi thường đối với quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn giá quy định của chính phủ

2.1.5.4 Thời kỳ sau khi ban hành Luật đất đai 1993 đến năm 2003

Hiến pháp năm 1992 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1980 đã quy định:

“Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” Và điều 18 quy

Trang 28

định: “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được

chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”

Trên cơ sở hiến pháp năm 1992 kế thừa có chọn lọc Luật đất đai năm

1988, Luật đất đai năm 1993 ra đời Đây là văn kiện chính sách quan trọng đối với việc thu hồi đất và đền bù thiệt hại của Nhà nước, Luật đất đai quy định rõ hơn về quyền của người được giao đất gồm quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp Đồng thời chính phủ quy định khung giá cho từng loại đất, từng vùng và theo thời gian, quy định cụ thể trong Nghị định số 87/CP ngày 17 tháng 08 năm 1994 và sử đổi bổ sung Khoản 2, Điều 4 của Nghị định này tại Nghị định số 17/1998/NĐ - CP Sau khi Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/CP-NĐ ngày 17 tháng 08 năm 1994 để cụ thể hoá chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất

và nội dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, đây là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá Tuy nhiên, chính sách bồi thường trong Nghị định này vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa bù đắp một cách đầy đủ những thiệt hại gây ra từ việc thu hồi đất, chỉ bồi thường thiệt hại về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản

Đến năm 1998, Chính phủ ban hành nghị định số 22/1998 ngày 24 tháng 4 năm 1998 để thay thế Nghị định 90/CP và Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 22/1998/NĐ -

CP, quy định rõ phạm vi áp dụng bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đối tượng phải bồi thường thiệt hại, đối tượng được bồi thường thiệt hại, phạm vi bồi thường thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường thiệt hại về đất, tài sản

gắn liền với đất

Những quy định về bồi thường, hỗ trợ của Luật đất đai năm 1993 đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ giải phóng mặt bằng đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001

2.1.5.5 Thời kỳ sau khi ban hành Luật đất đai 2003 đến nay

Trang 29

Luật đất đai số 13/2003/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2004 đã khắc phục được những thiếu sót trong công tác bồi thường Trong đó có những quy định cụ thể về việc tính bồi thường về đất Trong suốt thời gian này, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản duới Luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật, trong đó có những quy định chi tiết về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để giải phóng măt bằng, cụ thể:

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai;

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm

2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Về cơ bản, chính sách bồi thường, hỗ trợ theo Luật đất đai 2003 đã kế thừa những ưu điểm của chính sách trong thời kỳ trước, đồng thời có những đổi mới nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc trong việc bồi thường, hỗ trợ hiện nay Tuy nhiên để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong công tác bồi thường, hỗ trợ ngày 25 tháng 5 năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại

về đất đai; Thông tư 06/2007/TT-BTNMT hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP, Thông tư 145/2007/TT-BTC Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất; Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng

01 năm 2008 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP

Trang 30

ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Nghị định 84/2007/NĐ/CP tập trung vào việc làm rõ, bổ sung Nghị định 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP về một số những vấn đề cơ bản chính sách bồi thường, trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ Nguyên tác xuyên suốt của Nghị định 84/2007/NĐ-CP là đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hòa 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà đầu tư và quyền của Nhà nước theo quy định của pháp luật

Ngày 13/8/2009 của Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định

69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường và

hỗ trợ Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/10/2009, gồm 3 chương, 41 điều quy định

cụ thể về quy hoạch sử dụng đất; giá đất; bồi thường, hỗ trợ; trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất; phát triển quỹ đất, cấp GCNQSDĐ, sử dụng đất công trình ngầm và gia hạn sử dụng đất Nghị định đã góp phần giải quyết nhiều khó khăn, vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất đai Với nhiều thay đổi tích cực

và thông thoáng về các quy trình thủ tục ở các khâu: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

2.1.5.6 Chính sách bồi thường, hỗ trợ ở tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh được tái lập năm 1997 Thực hiện các quy định của Nhà nước trong công tác thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ, tỉnh đã ban hành các quy định theo phân cấp quản lý trong công tác bồi thường và hỗ trợ trong từng thời điểm, cụ thể như sau:

- Quyết định số 137/UB ngày 04/6/1997 về việc Ban hành quy định đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng thị xã Bắc Ninh

- Quyết định số 74/1998/QĐ-UB ngày 11/9/1998 về việc Ban hành bản quy định tạm thời thực hiện Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (thay thế Quyết định số 137/UB ngày 04/6/1997)

- Quyết định số 144/QĐ-UB ngày 01/11/2005 về việc Ban hành Quy định

cụ thể hoá một số nội dung thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 (thay thế Quyết định số 74/1998/QĐ-UB ngày 11/9/1998)

- Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 Ban hành quy định

Trang 31

một số nội dung thực hiện các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (thay thế Quyết định số 144/QĐ-UB ngày 01/11/2005)

- Quyết định số 157/2011/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 Về việc sửa đổi khoản 1, Điều 10 của Quy định một số nội dung thực hiện các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 (Nâng mức hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp từ 2,5 lần giá đất nông nghiệp lên thành 5 lần)

Và các Quy định về giá đất hàng năm; Quy định bồi thường, hỗ trợ hoa màu, cây trồng, vật nuôi; Quy định bồi thường, hỗ trợ công trình, vật kiến trúc từng thời điểm theo các văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ, ngành

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thực hiện các văn bản quy định về giá bồi thường, hỗ trợ sau:

- Quyết định số 157/2010/QĐ- UBND ngày 17/12/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh v/v quy định đơn giá bồi thường cây trồng, thủy sản khi Nhà nước thu hồi đất

- Quyết định số 652/QĐ- UBND ngày 28/5/2012 v/v ban hành đơn giá nhà cửa, vật kiến trúc áp dụng cho công tác bồi thường, hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

- Quyết định số 140/2012/QĐ- UBND ngày 25/12/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh v/v quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh năm 2013;

- Quyết định số 18/QĐ- UBND ngày 18/01/2013 v/v phê duyệt giá đất ở trung bình và hỗ trợ đất nông nghiệp thuộc địa giới hành chính các phường trên địa bàn thị xã Từ Sơn năm 2013

Như vậy ngay sau khi tái lập, Tỉnh đã ban hành các văn bản quy định trong công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ theo tinh thần các văn bản của Chính phủ

và các Bộ, ngành đáp ứng kịp thời trong công tác quản lý đất đai nói chung và công tác bồi thường, hỗ trợ nói riêng

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

2.2.1 Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

Mặc dù các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng rõ ràng, cụ thể về nguyên tắc, điều kiện,

Trang 32

đơn giá thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất đai và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, về lý thuyết kinh tế đất đai, việc bồi thường một giá trị lớn hơn giá trị mà họ nhận được từ đất có thể được coi là đã phù hợp, nhưng đất đai có những đặc trưng riêng, ngày càng khan hiếm, điều này tương ứng với giá đất luôn luôn có xu hướng tăng ngay cả khi nó không được sử dụng, vì vậy người sử dụng đất luôn có xu hướng yêu cầu giá bồi thường về đất cao hơn nhiều lần so với thực

tế (Đặng Thái Sơn, 2002) Chính điều này đã làm nảy sinh nhiều vướng mắc trong việc thực hiện các thủ tục khi thu hồi đất và thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng Theo kết quả nghiên cứu của đề tài: “Đánh giá thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ theo quy định của Pháp luật” - Tạp chí Khoa học và Phát triển, 2013, tập 11, số 3: 328 – 336, có tới 1096/ 1445 hộ điều tra trên 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Long An, Bình Dương cho rằng đối với các dự án phát triển kinh tế nên để các doanh nghiệp tự thỏa thuận với người dân về mức bồi thường và có đến 87% doanh nghiệp được điều tra quan tâm đến chính sách thỏa thuận với người dân để có đất thực hiện các dự án (Đào Trung Chính và cs., 2013) Trong quá trình lập phương án thu hồi đất, giải phóng mặt bằng có tới 95,8% số hộ tham gia vào quá trình đàm phán đền bù; 4,2% số hộ không tham gia đàm phàn do không có mặt tại địa phương 48% số hộ trả lời thời gian đàm phán đền bù thông thường là từ 1-2 tháng 79,2% số hộ hài lòng với kết quả đàm phán; 11,8% số hộ không hài lòng với kết quả đàm phán ngay trong lần 1 và nguyên nhân chủ yếu là

do các hộ không đồng thuận về giá đền bù, họ cho rằng việc vận dụng xác định mốc thời gian quy định để tính giá cho các loại đất là không phù hợp Tỷ lệ số hộ không hài lòng với kết quả đàm phán chủ yếu tập trung tại các địa bàn như thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc

Nhìn chung, Chính sách giá đất hiện hành còn nhiều mâu thuẫn do vừa quy định khung giá vừa quy định phải sát với giá thị trường đã dẫn đến phức tạp hoá trong quá trình áp dụng, khi bồi thường dân luôn khiếu nại Nhà nước và doanh nghiệp định giá bồi thường thấp (đòi bồi thường giá cao) nhưng khi thu tiền sử dụng đất lại khiếu nại giá cao (đòi nộp tiền ít), gây nhiều khó khăn, trở ngại cho doanh nghiệp khi tìm kiếm mặt bằng sản xuất kinh doanh Theo số liệu điều tra thực tế, có 628/1.445 hộ có kiến nghị nâng giá bồi thường vì với mức bồi thường hiện nay không đảm bảo sự ổn đời sống Có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi khung giá đất được xây dựng và ban hành định kỳ 1 - 3 năm một lần; khi thu hồi đất,

Trang 33

phải xác định giá đất cụ thể Cũng vẫn nội dung về giá đất, đa số ý kiến của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nghiêng về phương án tiếp tục duy trì khung giá đất và giữ ổn định 5 năm, quy định cụ thể về nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất cụ thể, quy định cơ chế cụ thể để xử lý vấn đề giá giáp ranh nhằm giải quyết tận gốc các khiếu kiện về giá đất bồi thường đối với

những trường hợp công trình, dự án đi qua nhiều tỉnh, thành phố (Bộ Tài nguyên

và Môi trường, 2012)

Về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, kết quả điều tra cho thấy, 100% các hộ dân bị thu hồi đất đều không được tham gia đào tạo trực tiếp mà được Nhà nước trả bằng tiền Một số hộ đã đi học nghề, tuy nhiên chỉ có 17% lao động đã học nghề có thể áp dụng ngành nghề đã đào tạo, còn đến 83% lao động đi học nghề trả lời không

áp dụng vào công việc ngành nghề đã đào tạo Trong 1.445 hộ phỏng vấn, chỉ có 345 lao động của các hộ này tìm kiếm được công việc tại chính dự án đã thu hồi đất, 313 lao động của các hộ tìm kiếm được công việc tại các dự án khác Đối với hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, kết quả điều tra thu được 470 ý kiến của những hộ trong diện được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất cho thấy một số địa phương đã có những đổi mới để khôi phục nguồn thu nhập cho người dân

2.2.2 Vấn đề đời sống, việc làm của người dân sau khi bị thu hồi đất

2.2.2.1 Tình hình chung

Việc triển khai các dự án chủ yếu thu hồi vào đất nông nghiệp, đối tượng

bị thu hồi đất làm sản xuất nông nghiệp cũng chiếm đến 69%, tiếp đó là thu hồi vào đất ở tại khu dân cư nông thôn Việc thu hồi đất thực hiện các dự án nêu trên không chỉ ảnh hưởng đến địa bàn sinh sống mà còn ảnh hưởng đến phương kế sinh nhai của các hộ, đặc biệt là các hộ sản xuất nông nghiệp Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp của người dân biến động giảm, phần giảm đó chủ yếu chuyển sang đất phi nông nghiệp phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng và một vài mục đích khác, khiến cho rất nhiều nông hộ không còn đất hoặc thiếu đất để sản xuất nông nghiệp, tạo ra ở nông thôn nạn thất nghiệp triền miên, tệ nạn xã hội bùng phát

Ở mỗi địa phương khi có dự án phải thu hồi đất sẽ có những cách làm, cách vận dụng khác nhau, vì thế mức độ hài lòng của người dân đối với chính sách bồi thường, hỗ trợ cũng rất khác nhau, thể hiện qua việc đánh giá về mức độ

ổn định đời sống, mức độ đảm bảo đời sống của nguồn thu nhập sau thu hồi đất Long An là địa phương có tỷ lệ cao nhất về số hộ hài lòng với cuộc sống sau thu hồi đất, tuy nhiên tỷ lệ này cũng chỉ đạt 50%

Trang 34

Qua điều tra các hộ về việc sử dụng số tiền bồi thường, có 65% tổng số hộ điều tra sử dụng tiền để xây nhà, mua sắm các trang thiết bị cơ bản và chia cho con cái, chỉ có khoảng 25% số hộ sử dụng tiền để sản xuất kinh doanh chuyển đổi nghề và 10% số hộ gửi tiền vào các ngân hàng Đã xuất hiện nhiều trường hợp sử dụng khoản tiền bồi thường không có kế hoạch nên chỉ sau một thời gian ngắn các hộ này lại lâm vào tình trạng thất nghiệp, đói nghèo

Vấn đề đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi đang được khá nhiều cơ quan, đơn vị quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu Tốc độ đô thị hoá nhanh cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp và đô thị ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong những năm gần đây nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã phải chuyển sang để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật Việc thu hồi đất phát triển các khu công nghiệp đem lại nguồn thu lớn cho quốc gia và hàng năm góp phần vào giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhập cao và ổn định Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp chính là điều kiện và thời cơ tốt nhất để chuyển một bộ phận quan trọng lực lượng lao động nông nghiệp, là khu vực có năng suất lao động thấp, sang công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, nhiều nông dân vẫn thiếu việc làm là do sự thất hứa của các chủ sử dụng lao động trước và sau khi đầu tư tại địa phương, một phần nguyên do là họ quá tuổi hoặc không có khả năng làm việc trong các khu công nghiệp Bên cạnh đó việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên còn ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của người dân có đất bị thu hồi cũng như những người dân trong khu vực có dự án

2.2.2.2 Một số đề tài nghiên cứu về tình hình đời sống việc làm của các hộ dân

có đất bị thu hồi

- Trường Đại học kinh tế quốc dân phối hợp với một số Bộ, ngành có liên quan thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

- Năm 2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành khảo sát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp xây dựng các khu công nghiệp và đời sống việc làm của người có đất bị thu hồi Đây mới chỉ là khảo sát sơ bộ, tập trung vào việc thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp Đề án được triển khai trên

Trang 35

địa bàn 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Bộ Tài nguyên và Môi

- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hết là vùng đất tốt, có điều kiện thuận lợi cho canh tác

- Việc thực hiện định giá đền bù đất cũng như tài sản trên đất không được người dân ủng hộ vì giá đất tại khu vực bị thu hồi tăng lên rất nhiều khi dự án đi vào hoạt động

- Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài gây bất lợi đến tâm lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằm trong diện bị thu hồi đất Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đến trong định giá đất bù cho người dân Đặc biệt là những dự án sau khi đi vào thực hiện thường là động lực

để phát triển kinh tế xã hội của vùng

- Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa thực sự hiệu quả Do vậy lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp Hầu hết các lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi đất sản xuất bị thu hồi: chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng vài %) chuyển sang nghề mới và tìm được việc làm ổn định Có tới 67 % số lao động nông nghiệp bị thu hồi đất vẫn giữ nguyên nghề sản xuất nông nghiệp; 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định

- Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ nhiều nơi lại thiên về bảo vệ quyền lợi của Nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi với người dân bị thu hồi đất

2.2.4 Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ ở Việt Nam

2.2.4.1 Những vấn đề đạt được

Ở nước ta, các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Quan

Trang 36

tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, Nghị định 197/2004/NĐ-CP sau một thời gian thực hiện, đặc biệt là sau sự ra đời của Nghị định 84/2007/NĐ-CP

đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật Vì thế, công tác bồi thường, hỗ trợ trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan, thể hiện trên một số khía cạnh chủ yếu sau:

i) đối tượng được bồi thường, hỗ trợ ngày càng được xác định đầy đủ

chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng

ii) mức bồi thường, hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị

thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất

iii) việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần

đất với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất

iv) trình tự thủ tục tiến hành bồi thường, hỗ trợ đã giải quyết được nhiều

khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ đạt hiệu quả

v) các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm

2003, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Chẳng hạn như: Quyết định 143/QĐ-UB sửa đổi bổ sung một số vấn đề về bồi thường, hỗ trợ của UBND thành phố Hồ Chí Minh ngày 15/08/2007; Quyết định số 80/2005/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội…Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện

vi) nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức

tạp của vấn đề thu hồi đất của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực để tạo điều kiện

Trang 37

vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ có năng lực và có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả

Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đã giúp cho đất nước ta xây dựng cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp phần chuyển

đổi cơ cấu nền kinh tế, ổn định đời sống sản xuất cho người có đất bị thu hồi

2.2.4.2 Những vấn đề hạn chế

Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước đã thu hồi đất, giải phóng mặt bằng phục vụ cho các dự án phát triển Tuy nhiên, vấn đề bồi thường, hỗ trợ cho những người bị thu hồi đất ở nhiều địa phương gặp không ít khó khăn, vướng mắc Giá đất bồi thường thấp hơn giá đất cùng loại trên thị trường, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp trong khu vực đô thị, khu dân cư nông thôn Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự hoặc không đủ để nhận chuyển nhượng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp để chuyển sang làm nghành nghề khác

Tại nhiều dự án, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, hỗ trợ để giải phóng mặt bằng chưa thực hiện đúng trình tự, thủ tục ngay từ khâu công khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi, v.v…cho tới khâu cưỡng chế Một số dự án thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng một thời gian sau lại quyết định sử dụng vào mục đích xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền Nhiều nhà đầu tư không đủ khả năng về tài chính để bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi Việc ngân hàng rút bỏ cam kết, không cho vay vốn khi thị trường nhà đất chững lại cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của nhà đầu tư để triển khai dự án

Trong nhiều trường hợp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đã được giải quyết đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người sử dụng đất hoặc do không

Trang 38

hiểu pháp luật, hoặc cố ý trì hoãn để được bồi thường, hỗ trợ thêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với

cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc việc giải phóng mặt bằng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2007)

Trong quá trình tham vấn lấy ý kiến của người bị thu hồi đất tại một số địa phương, Tổ chức Liên minh đất đai (LANDA) cho biết: Hầu hết ý kiến của người dân tại các địa phương tổ chức lấy ý kiến đều cho rằng quá trình thực hiện thu hồi đất luôn thiếu minh bạch, người dân luôn bị đặt vào thế bị động, thậm chí là ép buộc di dời và mất chỗ ở Họ cũng mất cả sinh kế từ nông nghiệp mà gần như không có cơ hội tìm sinh kế mới Khảo sát ý kiến về cơ chế đồng thuận của người dân đối với phương án bồi thường, hỗ trợ cho thấy có tới 95% ý kiến cho rằng cần đạt được sự đồng thuận của người dân, trong đó 64% cho rằng cần lấy ý kiến của toàn bộ cộng đồng dân cư địa phương (không chỉ lấy ý kiến của người bị thu hồi đất) và phương

án chỉ được phê duyệt khi đạt được 70% ý kiến đồng thuận 93% ý kiến cho rằng người mất đất có quyền giới thiệu các tổ chức cung cấp dịch vụ định giá đất độc lập tham gia vào danh sách đấu thầu cung cấp dịch vụ giá đất Như vậy, mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật công nhận chưa được giải quyết tốt Nổi cộm nhất vẫn là việc định giá đất bồi thường, cụ thể như sau:

i) chính sách giữa các địa phương trong tỉnh, giữa tỉnh với trung ương còn

chưa đồng bộ nhất là trong lĩnh vực đền bù giải tỏa khi người dân bị thu hồi đất

Cơ quan có thẩm quyền quy định về giá đất lại thường xuyên thay đổi nâng giá theo quy luật, theo thời gian và giá biến động ngoài thị trường làm cho tình trạng giá đất không ổn định; khi thanh toán tiền đền bù đất cho người dân, hộ dân giao đất sớm lại nhận tiền đền bù thấp hơn hộ dân giao đất muộn vì khi hộ dân giao đất muộn thì giá đất được đền bù đã thay đổi theo thời gian và giá mới thường cao hơn giá cũ

ii) để việc xây dựng bảng giá đất sát với thực tế ở từng địa phương khác

nhau, tại Thông tư liên tịch số 02/2010/TTLT-BTNMT-BTC ngày 08 tháng 1 năm

2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng, thẩm định và ban hành bảng giá đất, điều chỉnh bảng giá đất thuộc thẩm quyền Ủy

Trang 39

ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Tuy nhiên, giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh đưa ra so với giá thị trường còn chênh lệch quá lớn, giá thực tế ở nhiều khu vực cao hơn nhiều so với giá quy định của Nhà nước Việc điều chỉnh không kịp thời dẫn đến cơ quan Tòa án gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết tranh chấp đất đai Sự chênh lệch giữa giá đất Nhà nước quy định với giá đất thực

tế trên thị trường xuất phát từ sự yếu kém của hệ thống tài chính đất đai và hệ thống quản lý đất đai, ít sử dụng đến các công cụ kinh tế để điều tiết quản lý đất đai

iii) giữa quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng luật trong vấn đề giá

đất bồi thường cho người dân vẫn không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Quy định tại Khoản 4 Điều 56 Luật Đất đai 2003 là chưa hợp lý, bởi đối với những dự án lớn, có thời gian giải phóng mặt bằng kéo dài thì việc thay đổi khung giá đất hàng năm dẫn đến thay đổi giá trị đền bù gây khó khăn cho chủ đầu tư, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Mặt khác việc giữ nguyên giá đất công bố từ đầu năm trong khi giá đất trên thị trường thường xuyên biến đổi theo hướng ngày càng tăng gây thiệt hại cho người dân bị áp giá đền bù vào cuối năm Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ mặc

dù đã bổ sung, sửa đổi quy định cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể linh hoạt điều chỉnh mức giá để phù hợp với giá thực tế trên thị trường nhưng trên thực tế vẫn không phát huy được hiệu quả như mong muốn Vì vậy, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền vẫn thường xuyên nhận được các khiếu nại, khiếu kiện

về các quyết định thu hồi quyền sử dụng đất và bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân có đất bị thu hồi

iv) Điều 48 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy

định về bồi thường bằng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi trên 30% diện tích đất nông nghiệp trong trường hợp không được Nhà nước bồi thường bằng đất nông nghiệp tương ứng mà không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch” Tuy nhiên, một số tỉnh, thành phố quỹ đất nông nghiệp hạn chế nên không thể bồi thường hết bằng đất nông nghiệp cho người có đất bị thu hồi mà

Trang 40

phải bồi thường bằng tiền Chính vì áp dụng không thống nhất hình thức đền bù

nên tình trạng khiếu nại, khiếu kiện về bồi thường đất bị kéo dài

Tóm lại, những vấn đề nảy sinh trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ là không thể tránh khỏi đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Khắc phục những tồn tại đó sẽ đảm bảo sự ổn định, nâng cao điều kiện sống cho người dân ở những khu vực có đất bị thu hồi, góp phần vào sự vận hành và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam

2.2.5 Nhận xét chung về tổng quan các vấn đề nghiên cứu

- Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất hoặc trưng thu đất là vấn đề không thể tránh khỏi trong mọi giai đoạn phát triển của bất kỳ quốc gia nào

- Bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ tác động sâu rộng tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội

- Một trong những vấn đề cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội và môi trường bền vững là đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất để phát triển công nghiệp và đô thị

- Chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất

Từ đó cần phải nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất

Ngày đăng: 13/04/2017, 18:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Hội Khoa học đất Việt Nam - Dự án ENABLE (2009). Hội thảo “Chính sách pháp luật đất đai liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn” ngày 05/5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật đất đai liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Hội Khoa học đất Việt Nam - Dự án ENABLE
Năm: 2009
1. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Báo cáo kết quả tổng hợp về tăng cường quản lý sử dụng đất của quy hoạch và dự án đầu tư trên phạm vi cả nước Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005). Đề án tìm hiểu thực trạng tìm hiểu đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp mới Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007). Hội nghị kiểm điểm công các quản lý Nhà nước về Tài nguyên và Môi trường ngày 27/02/2007, Hà Nội Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012a). Báo cáo tổng kết thi hành Luật đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012b). Kinh nghiệm của nước ngoài về quản lý và pháp luật đất đai Khác
6. Hội đồng Chính phủ (1980). Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước Khác
8. Huyên Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng (2006). Quản lý đất đai và thị trường đất đai, NXB Bản đồ, Trung tâm điều tra quy hoạch - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Khác
9. Dương Tùng Linh - Giáo sư Khoa Địa chính - Đại học học Quốc lập Chính trị Bình Đông - Đài Loan (1999). Thảo luận về đảm bảo và hạn chế quyền sở hữu, bồi thường khi trưng thu, (Tôn Gia Huyên dịch) Khác
10. Nguyễn Đức Minh (2001). Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản, hội thảo một số vấn đề hình thành và phát triển thị trường bất động sản Việt Nam, ngày 15- 16 tháng 11 năm 2001, Hà Nội Khác
11. Ngân hàng Phát triển Châu Á (1998). Cẩm nang về tái định cư (Hướng dẫn thực hành) Khác
12. Trương Phan - Cục Công nghiệp - Bộ Kinh tế Đài Loan (1996). Quan hệ giữa quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế (nội dung thu hồi đất, chế độ bồi thường và tính công bằng) Khác
13. Lê Du Phong (2007). Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, phục vụ lợi ích quốc gia. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Khác
15. Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Văn Quân (2006). Giáo trình Định giá đất, NXB Nông nghiệp I Hà Nội Khác
16. Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998). Đại từ điển tiếng việt, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Khác
17. UBND tỉnh Bắc Ninh (1997). Quyết định số 137/UBND ngày 04/6/1997 quy định đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để xây dựng thị xã Bắc Ninh Khác
19. UBND tỉnh Bắc Ninh (2005). Quyết định số 144/QĐ-UB ngày 01/11/2005 về việc Ban hành Quy định cụ thể hoá một số nội dung thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 Khác
20. UBND tỉnh Bắc Ninh (2009). Quyết định số 171/2009/QĐ-UBND ngày 18/12/2009 Ban hành quy định một số nội dung thực hiện các Nghị định của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Khác
22. UBND thị xã Từ Sơn (2016). Báo cáo tình thình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2015, phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2016 Khác
23. Viện Nghiên cứu Địa chính (2003). Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài điều tra nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Một góc khu đất thuộc dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Hình 4.1. Một góc khu đất thuộc dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm (Trang 59)
Bảng 4.1. Cơ cấu sử dụng đất dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.1. Cơ cấu sử dụng đất dự án Hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm (Trang 59)
Hình 4.2. Một góc khu đất thuộc dự án Trường trung cấp nghề kỹ thuật cơ giới - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Hình 4.2. Một góc khu đất thuộc dự án Trường trung cấp nghề kỹ thuật cơ giới (Trang 60)
Bảng 4.2. Cơ cấu sử dụng đất dự án Trường Trung cấp nghề - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.2. Cơ cấu sử dụng đất dự án Trường Trung cấp nghề (Trang 61)
Bảng 4.4. Kết quả bồi thường thiệt hại về hoa màu 02 dự án - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.4. Kết quả bồi thường thiệt hại về hoa màu 02 dự án (Trang 66)
Bảng 4.6. Kết quả các khoản kinh phí hỗ trợ dự án xây dựng - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.6. Kết quả các khoản kinh phí hỗ trợ dự án xây dựng (Trang 68)
Bảng 4.7. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án Hạ tầng kỹ thuật - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.7. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án Hạ tầng kỹ thuật (Trang 69)
Bảng 4.8. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng trường Trung - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.8. Tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ dự án xây dựng trường Trung (Trang 70)
Bảng 4.9. Quan điểm của người dân có đất bị thu hồi tại 02 dự án - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.9. Quan điểm của người dân có đất bị thu hồi tại 02 dự án (Trang 71)
Bảng 4.10. Đánh giá mức độ hợp lý của giá đất bồi thường qua ý kiến - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.10. Đánh giá mức độ hợp lý của giá đất bồi thường qua ý kiến (Trang 72)
Bảng 4.12. Bảng điều tra tình hình sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
Bảng 4.12. Bảng điều tra tình hình sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ (Trang 74)
Phụ lục 2. Sơ đồ hiện trạng thị xã Từ Sơn năm 2015 - đánh giá công tác bồi thường và hỗ trợ khi thu hồi đất dự án trường học và dự án hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh
h ụ lục 2. Sơ đồ hiện trạng thị xã Từ Sơn năm 2015 (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm