- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thực hiện - Luận văn đã nghiên cứu được điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thàn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐINH XUÂN ĐẠT
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ MỘT SỐ DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG GIAO THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH,
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đinh Xuân Đạt
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS.Nguyễn Thị Vòng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Vinh, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Vinh, ban Quản lý dự án xây dựng công trình hạ tầng thành phố Vinh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Đinh Xuân Đạt
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt và ý nghĩa vi
Danh mục bảng biểu vii
Danh mục hình viii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis Abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
2.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 4
2.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư 4
2.1.3 Những yếu tố tác động đến công tác bồi thường bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 5
2.2 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số nước trên thế giới 9
2.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tổ chức WB và ADB 9
2.2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một số nước trên thế giới 10
2.3 Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam qua các giai đoạn 13
2.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1987 13
2.3.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 1987 15
2.3.3 Giai đoạn Luật Đất đai năm 1993 16
2.3.4 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003 19
2.3.5 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2013 đến nay 20
2.4 Thực trạng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Việt Nam 21
2.5 Thực trạng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở tỉnh Nghệ An 24
Trang 5Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26
3.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.3 Đối tượng nghiên cứu 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 26
3.4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội 26
3.4.2 Thực trạng Quản lý Nhà nước về đất đai 26
3.4.3 Tình hình chung về công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Vinh 26
3.4.4 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại hai dự án 26
3.4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thực hiện 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 27
3.5.3 Phương pháp thống kê và xử lý số số liệu thống kê 28
3.5.4 Phương pháp đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư các dự án nghiên cứu 28
Phần 4 Kết quả và thảo luận 29
4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Vinh 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 31
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 33
4.2 Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Vinh 33
4.2.1 Tình hình thực hiện quản lý đất đai 33
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất 35
4.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 36
4.3.1 Khái quát chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư 36
4.3.2 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Vinh năm 2014 37
Trang 6v
4.3.3 Công tác bồi thường, hỗ các dự án đường giao thông dạng tuyến trên địa
bàn thành phố Vinh năm 2014 39
4.4 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện tại 2 dự án nghiên cứu 41
4.4.1 Giới thiệu khái quát 2 dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Vinh 41
4.4.2 Trình tự, công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 43
4.4.3 Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường 45
4.4.4 Kết quả bồi thường về đất tại 02 dự án 53
4.4.5 Kết quả bồi thường về tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu 54
4.4.6 Chính sách hỗ trợ 56
4.4.7 Chính sách tái định cư 60
4.5 Đánh giá tác động về bồi thường đến đời sống của hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dự án 64
4.5.1 Tác động đến kinh tế 66
4.5.2 Tác động đến xã hội 68
4.5.3 Những kiến nghị của người dân 70
4.5.4 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thông qua điều tra cán bộ trực tiếp thực hiện 70
4.5.5 Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Vinh qua hai dự án 72
4.6 Đề xuất các giải pháp thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 73
4.6.1 Căn cứ để đưa ra các giải pháp 73
4.6.2 Các giải pháp cụ thể: 74
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 76
5.1 Kết luận 76
5.2 Kiến nghị 77
Tài liệu tham khảo 78
Phụ lục 81
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
(Asian Development Bank)
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1 Cơ cấu giá trị tăng theo ngành 31
Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu tổng hợp về dân số 31
Bảng 4.3 Lao động, cơ cấu lao động 32
Bảng 4.5 Bảng tổng hợp kết quả thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Vinh năm 2014 38
Bảng 4.6 Bảng khái quát các dự án nghiên cứu 43
Bảng 4.7 Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 53
Bảng 4.8 Bảng kết quả thực hiện bồi thường tài sản, cây cối hoa màu 55
Bảng 4.9 Tổng hợp kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân tại dự án 1 59
Bảng 4.10 Tổng hợp kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân tại dự án 2 60
Bảng 4.11 Tổng hợp đơn giá giao đất tái định cư tại dự án 1 63
Bảng 4.12 Tổng hợp ý kiến của người dân về đơn giá bồi thường 65
Bảng 4.13 Ý kiến của người dân về việc sử dụng tiền bồi thường hỗ trợ tại hai dự án 66
Bảng 4.14 Tình hình an ninh trật tự xã hội sau thu hồi đất 68
Bảng 4.15 Tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi sau thu hồi đất 68
Bảng 4.16 Đánh giá của người dân bị thu hồi đất về thực trạng môi trường 69
Bảng 4.17 Những kiến nghị của cán bộ thực hiện 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sơ đồ vị trí thành phố Vinh 29 Hình 4.2 Khu vực thi công đường giao thông nối tuyến QL1A-Đại lộ Xô Viết
Nghệ Tĩnh (Dự án 1) 42 Hình 4.3 Khu vực thi công nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A đoạn Quán Bánh –
Quán Hành (Dự án 2) 42 Hình 4.4 Khu tái định cư đường giao thông nối tuyến Quốc lộ 1A-Đại lộ Xô
Viết Nghệ Tĩnh 62 Hình 4.5 Tổng hợp ý kiến người dân về công tác bồi thường, hỗ trợ 70
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: ĐINH XUÂN ĐẠT
Tên luận văn: “Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư một số dự
án xây dựng đường giao thông trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các địa bàn cần nghiên cứu từ các phòng ban chuyên môn: UBND tỉnh Nghệ An, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An, UBND thành phố Vinh, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Vinh, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Vinh
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra các hộ dân được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án theo mẫu phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp cán bộ thực hiện các dự án trên
- Phương pháp xử lý và phân tích, tổng hợp số liệu: Xử lý số liệu thu thập được bằng việc sử dụng phần mềm Microsoftoffice Excel 2003 để tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đánh giá: So sánh, đánh giá thực tế quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với các quy định pháp lý dựa trên các tiêu chí đã xây dựng tại phiếu điều tra
3 Kết quả chính và kết luận
- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
- Thực trạng Quản lý Nhà nước về đất đai
- Tình hình chung về công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Vinh
Trang 11x
- Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại hai dự án
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thực hiện
- Luận văn đã nghiên cứu được điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của thành phố Vinh, thực trạng Quản lý Nhà nước về đất đai cũng như tình hình chung về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố cũng như 2 dự án nghiên cứu Luận văn đã có những đóng góp mới rất cơ bản về khoa học và thực tiễn đối với lĩnh vực bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và thành phố Vinh nói riêng
- Từ những nghiên cứu đánh giá trên luận án đã có những ý kiến đề xuất góp phần hoàn thiện hơn công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như nâng giá trị bồi thường, giá tiền đền bù về đất và tài sản, nâng mức hỗ trợ cho người dân
và cán bộ thực hiện
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: DINH XUAN DAT
Thesis title: “Assessment of compensation, support and resettlement of some
construction projects of roads in Vinh City, Nghe An Province”
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
in Vinh City, Nghe An Province
2 Materials and Methods
- Secondary data collection method: Data and figures related to works of compensation, support and resettlement of some construction projects of roads in areas which need to be researched collected from specialized departments and units: Nghe An Provincial People’s committee; Department of Natural resources and Environment of Nghe An province, Vinh city’s People’s committee, Division of Natural resources and Environment of Vinh city, the Center for Development of Land fund of Vinh city, etc
- Primary data collection method: Survey of households receiving compensation, support and resettlement of some construction projects of roads is performed under a form of survey and direct interview on executing staff of the above projects
- Method of processing and aggregate analysis of data: To process and synthesize the collected data by application of software Microsoftoffice Excel 2003
- Method of comparison and assessment: To compare and assess actual the performance process of compensation, support and resettlement with legal regulations basing on criterion built in survey form
3 Main findings and conclusions:
Main findings:
- Natural, economic and social conditions
- Current status of state management on land
Trang 13- General situation of compensation works in case of the State’s land acquisition
in Vinh city
- Implementation of compensation, support and resettlement of two projects
- To offer some solutions to improve and accelerate works of compensation, support and resettlement during implementation
Conclusions:
- The thesis has studied conditions of nature, economy and society of Vinh city and current status of state management on land, as well as General situation of compensation works for ground clearance in areas of Vinh city and two projects for research The thesis offers new and basic contributions at both science and reality in field of compensation for ground clearance in Nghe An province in general and Vinh city in particular
- From the above research and assessment, the thesis has offered opinions to improve compensation, support and resettlement in case of the State’s land acquisition such as raising the value of compensation, the compensation value of land and property, enhancement of support level for people and executing staff
Trang 141
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong những năm gần đây đã diễn ra hết sức mạnh mẽ, nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển với sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, dẫn đến nhu cầu sử dụng đất để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị và khu dân cư ngày càng tăng Nhờ đó, bộ mặt của đất nước đã thay đổi nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại và văn minh Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng là một tất yếu khách quan, tác động sâu sắc đến nhiều mặt của xã hội và cộng đồng dân cư
Hiện nay, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ngày càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn do đất đai ngày càng có giá trị và khan hiếm Có những dự án kéo dài gần chục năm do không thể giải phóng mặt bằng Thực tiễn cho thấy, công tác thu hồi đất của công dân để phục vụ phát triển các dự án đầu tư và việc bồi thường cho những người bị thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm, giải quyết không tốt, không thoả đáng quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi sẽ cản trở tiến độ dự án, dẫn đến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông người, sẽ trở thành vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, gây mất ổn định xã hội
Trong những năm qua, thành phố Vinh đã và đang quyết tâm tập trung nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất thực hiện vai trò là “Đô thị trung tâm kinh
tế - văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ” theo Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg về định hướng Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020 Chính
vì vậy tốc độ phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị, việc xây dựng kết cấu
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng, diễn ra rất nhanh, quá trình đó đi liền với việc thu hồi đất, bao gồm cả đất nông nghiệp của một bộ phận dân cư, chủ yếu là vùng ven đô, vùng có điều kiện giao thông thuận lợi, có điều kiện phát triển kinh tế xã hội Việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung và thành phố Vinh nói riêng cũng đã đạt được kết quả nhất định như như phần lớn bàn giao mặt bằng cho các dự án đầu từ trên địa bàn, các dự án đầu tư trọng điểm được thực hiện đúng tiến độ Tuy
Trang 152
nhiên, nó còn nhiều hạn chế như: Tiến độ lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định và thực hiện giải phóng mặt bằng của một số dự án còn chậm, chưa đáp ứng kế hoạch đề ra Việc giải quyết tồn tại, vướng mắc trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất có lúc, có nơi chưa kịp thời; một số trường hợp chưa được sự đồng thuận cao của người bị thu hồi đất Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của Ban giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Viêt Nam, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo - PGS TS Nguyễn Thị
Vòng, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư một số dự án xây dựng đường giao thông trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư một số dự án xây dựng các đường giao thông trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Xác định khó khăn vướng mắc qua đó đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hai dự án xây dựng các đường giao thông trên địa bàn thành phố Vinh, cụ thể như sau:
- Dự án bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng đường giao thông nối tuyến Quốc lộ 1A - Đại lộ Xô viết Nghệ Tĩnh (đường 72m) trên địa bàn thành phố Vinh thực hiện năm 2012 – 2014 có diện tích là 22.913 m2 với số hộ bồi thường là 90 hộ thuộc phường Hà Huy Tập và xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Vinh thực hiện vào năm 2013 - 2014 với diện tích là 9.481 m2 với số hộ thu hồi là 138 hộ thuộc
2 xã Nghi Kim và Nghi Liên, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Cả 2 dự án nghiên cứu là dự án trọng điểm trong sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Vinh nói riêng và tỉnh Nghệ An nói chung, đều là dự án thu hồi dạng tuyến và thể hiện được nhiều yếu tố bất cập trong công tác bồi thường, hỗ trợ hiện nay trên địa bàn thành phố Vinh
Trang 163
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Góp phần phát hiện những tồn tại, đóng góp cho việc hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn cho công tác bồi thường GPMB và giúp cho việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có hiệu quả, góp phần đẩy nhanh tiến độ các dự án trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 174
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ
2.1.1 Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
2.1.1.1 Bồi thường
"Bồi thường" hay “đền bù” có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác
Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất thu hồi cho người sử dụng đất (Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013)
ở hoặc giao đất ở mới và có thể bồi thường bằng tiền để người bị thu hồi đất tự lo chỗ ăn ở, sinh hoạt của mình
2.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có tính phức tạp và tính đa dạng cao
2.1.2.1 Tính phức tạp
Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trọng đời sống kinh tế
- xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm
Trang 185
chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này (Phạm Phương Nam, 2013)
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau: Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán của người dân là ngại di chuyển chỗ ở; nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý khác nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên; thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu; dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống
bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển
2.1.2.2 Tính đa dạng
Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do
đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể (Phạm Phương Nam, 2013)
2.1.3 Những yếu tố tác động đến công tác bồi thường bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
2.1.3.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Hiến pháp Nước công hoà xã hôi chủ nghĩa Việt Nam quy định: Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bổi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Đối với tài sản là đất đai thuôc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và làm đại diện chủ sở hữu Luật Đất đai năm 1988 quy định:
Trang 196
khi cần sử dụng cho nhu cầu của Nhà nước hoặc của xã hôi thì Nhà nước thu hổi
có bổi thường tài sản gắn liền trên đất và môt phần giá trị kinh tế đất (nếu đất có giá trị sinh lợi cao) Luật Đất đai năm 1993 quy định: trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hổi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công công thì người bị thu hổi đất được bổi thường hoặc hỗ trợ Luật Đất đai năm 2003 quy định: Nhà nước thu hổi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công công và phát triển kinh tế, người bị thu hổi đất được Nhà nước bổi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh và phát triển kinh tế, người bị thu hồi đất được Nhà nước bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của pháp luật
Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Đất đai và các luật liên quan khác, Chính phủ ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành; các bô, ngành liên quan ban hành các thông tư hướng dẫn về chuyên môn, nghiêp vụ; UBND cấp tỉnh ban hành các quy định nhằm cụ thể hoá các văn bản của Trung ương và tạo sự phù hợp đối với tình hình thực tế ở địa phương
Như vây, tuỳ theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hôi, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luât về bổi thường, hỗ trợ và tái định cư nhằm tạo khung pháp lý để những đối tượng liên quan làm căn cứ áp dụng, thực hiên (theo hình thức bắt buôc) Nhà nước thực hiên tốt quyền định đoạt của mình đối với đất đai
Các văn bản quy phạm pháp luât có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bổi thường, hỗ trợ và tái định cư Cụ thể:
- Nếu khung chính sách quy định về nguyên tắc, đối tượng, điều kiên được bổi thường, hỗ trợ, tái định cư và các quy định khác có liên quan được xây dựng môt cách đầy đủ, đổng bô, kịp thời, nhất quán, phù hợp với tình hình thực
tế tại các địa phương; giá bổi thường đất, bổi thường tài sản: được ban hành đầy
đủ, kịp thời, chi tiết và sát với giá thực tế trên thị trường tại thời điểm; khu tái định cư được quy hoạch đáp ứng được yêu cầu đảm bảo thuân tiên về sinh hoạt
và sản xuất cho các hô sau khi tái định cư, hạ tầng khu tái định cư tốt hơn hoặc ít nhất phải bằng nơi ở cũ; viêc tổ chức thực hiên được quy định rõ vị trí, chức năng, trách nhiêm của từng tâp thể, cá nhân có liên quan, phân công phân nhiêm
Trang 20đã được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh, thay thế đến ba lần, nhưng đến nay viêc tổ chức thực hiên bồi thường, hỗ trợ và tái định cư vẫn đang gặp phải nhiều khó khăn, bất câp, các dự án phải GPMB vẫn bị châm tiến đô, số lượng người dân thắc mắc, khiếu kiên vẫn còn nhiều, môt số địa phương vẫn đang còn lúng túng chưa có hướng giải quyết hiêu quả
Như vây, có thể nói rằng viêc ban hành các văn bản quy phạm pháp luât của Nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
2.1.3.2 Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đât, đăng ký đất đai
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là hê thống các biên pháp và cơ sở khoa học kỹ thuât, khoa học xã hôi để phân chia đất đai theo loại sử dụng chính
đã được Luât Đất đai quy định nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai Đối với công tác bồi thường GPMB và TĐC nôi dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác đông mang tính chất định hướng từ khâu ban đầu hình thành dự
án đến khâu cuối GPMB và tạo lâp khu tái định cư, tạo điều kiên cho tất cả các đối tượng có liên quan đến sử dụng đất chủ đông hơn trong viêc lựa chọn địa điểm đầu tư Thể hiên qua viêc chọn vị trí, quy mô phù hợp, giảm bớt phiền hà khi xây dựng dự án, tạo lâp khu tái định cư, chủ đông xác định nhu cầu, tạo cơ
sở thuyết phục vân đông nhân dân, tạo tiền đề cho công tác bồi thường GPMB được thuân lợi Ngược lại công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiên không tốt cũng sẽ có tác đông tiêu cực đến công tác bồi thường GPMB
Mặt khác, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng là môt trong những nhân
tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường, từ đó cũng góp phần tác động đến giá đất bồi thường
Trang 218
- Đăng ký đất đai: Các tổ chức, hô gia đình, cá nhân sau khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất phải đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyên để được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất Người
sử dụng đất sau khi được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất mới chính thức
có sự ràng buôc về trách nhiêm pháp lý của mình với Nhà nước Từ đó xác định quyền hợp pháp của người sử dụng đất Thời điểm được giao đất cũng là thời điểm xác lâp nguổn gốc hình thành nên thửa đất
Trong công tác bổi thường GPMB, giấy chứng nhân quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng và điều kiên để bổi thường, loại đất, diên tích đất tính bổi thường Nếu địa phương nào không làm tốt công tác này thì sẽ gặp muôn vàn khó khăn trong công tác bổi thường GPMB
2.1.3.3 Giá đất và định giá đất
Trước khi có Luât Đất đai 2013, các địa phương xây dựng giá đất đều căn
cứ vào khung giá đất do Chính phủ quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung môt số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP Nhưng hạn chế của Nghị định 188/2004/NĐ-CP là chỉ mới quy định về khung giá các loại đất, chưa có quy định đầy đủ về nguyên tắc
và phương pháp xác định giá đất, chưa quan tâm tới yếu tố giá thị trường khi xây dựng giá đất Giá đất chỉ được xem xét điều chỉnh trong trường hợp có đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, khu thương mại, khu công nghiêp, khu du lịch mới Do
đó, quá trình áp dụng để thực hiên bổi thường GPMB gặp rất nhiều khó khăn vì giá bổi thường phần lớn thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường Điều 56 Luât Đất đai 2013 quy định: “ Nhà nước quy định giá các loại đất
để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bổi thường thiêt hại khi thu hổi đất” Giá đất là công cụ kinh tế để Nhà nước quản lý và người sử dụng đất tiếp cân với cơ chế thị trường, đổng thời cũng là căn cứ để đánh giá sự công bằng trong phân phối đất đai, để người sử dụng đất thực hiên nghĩa vụ của mình và Nhà nước điều chỉnh các quan hê đất đai theo pháp luât Như vây giá đất do Nhà nước quy định chỉ nhằm để giải quyết mối quan hê kinh tế giữa Nhà nước và người sử dụng đất Để cụ thể hoá viêc xây dựng giá đất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về phương pháp xác định giá và khung giá các loại Theo đó, khi định giá đất người ta phải căn cứ vào nguyên tắc và phương pháp xác định
Trang 229
giá đất Thông thường người định giá đất áp dụng phương pháp so sánh, đảm bảo nguyên tắc định giá đất phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Đối với việc định giá đất nông nghiệp người ta thường áp dụng phương pháp thu nhập Giá bán quyền sử dụng đất được hình thành trong các giao dịch dân sự là do các bên tự thoả thuận và giá này thường được gọi là giá đất thực tế hay giá đất thị trường
Giá đất thị trường là giá bán quyền sử dụng đất của môt mảnh đất nào đó
có thể thực hiện phù hợp với quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, biểu hiện bằng tiền do người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng tự thoả thuận với nhau tại thời điểm xác định
Tuy nhiên, thực tế hiện nay nhiều địa phương công bố giá đất hàng năm có nhiều vị trí chưa sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường Như vậy, trên thực tế có hai loại giá đất: giá do Nhà nước quy định và giá đất thị trường, hai giá này đều có mặt trong các quan hệ đất đai giữa Nhà nước với người sử dụng đất Điều này cũng gây không ít khó khăn cho công tác bổi thường GPMB
2.2 QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của tổ chức WB và ADB
Mục tiêu chính sách bồi thường tái định cư của Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) là việc bồi thường tái định cư sẽ được giảm thiểu càng nhiều càng tốt và đưa ra những biện pháp khôi phục để giúp người bị ảnh hưởng cải thiện hoặc ít ra vẫn giữ được mức sống, khả năng thu nhập và mức
độ sản xuất như trước khi có dự án, phải đảm bảo cho các hộ di chuyển được bồi thường và hỗ trợ sao cho tương lai, kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương
tự như trong trường hợp không có dự án
Các biện pháp thu hồi được cung cấp là bồi thường theo giá thay thế nhà cửa và các kết cấu khác, bồi thường đất nông nghiệp là lấy đất có cùng hiệu suất
và phải thật gần với đất đã bị thu hồi, bồi thường đất thổ cư có cùng diện tích được người bị ảnh hưởng chấp thuận, giao đất tái định cư với thời hạn ngắn nhất Đối với đất đai và tài sản được bồi thường chính sách của WB và ADB là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện
Trang 23Khôi phục thu nhập là một yếu tố quan trọng của tái định cư khi những người bị ảnh hưởng bị mất cơ sở sản xuất, công việc kinh doanh, việc làm thay thế những nguồn thu nhập khác, bất kể là họ có mất nơi ở hay không
WB và ADB quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường tái định cư của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu chính đáng của người bị thu hồi trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường tái định cư cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch
Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường tái định cư được WB và ADB coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường tái định cư phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy
đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ bị ảnh hưởng Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hào nhập được với cộng đồng mới Để thực hiện các biện pháp này, nguồn tài chính và vật chất cho việc di dân luôn được chuẩn bị sẵn Phạm vi ảnh hưởng của dự án phải quan tâm theo ADB là rất rộng còn theo chính sách hiện hành của Việt Nam thì vẫn còn có những hạn chế (Ánh Tuyết, 2002)
2.2.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở một số nước trên thế giới
Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có những đặc thù riêng về cách triển khai và thực thi chính sách bồi thường, GPMB sao cho phù hợp, thuận lợi nhất đối với từng nước Với nỗ lực không ngừng của các Chính phủ ở các nước trong việc hoàn thiện và nâng cao chính sách pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư luôn nhằm khôi phục cuộc sống và khôi phục nguồn thu nhập cho người
bị ảnh hưởng, song mỗi chính sách của mỗi nước đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, để từ đó Nhà nước ta có những cách nhìn nhận đúng đắn, tiếp thu những tích cực nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để trong thời gian tới chúng ta đưa việc thực thi chính sách này vào thực tế đạt hiệu quả cao Ta có thể đi tìm hiểu chính sách bồi thường, GPMB ở một số nước sau, cụ thể như:
2.2.2.1 Trung Quốc
Pháp luật Đất đai Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Pháp luật đất đai Việt Nam Hình thức sở hữu đất đai của Trung Quốc là sở hữu Nhà nước nên ở Trung Quốc không có chính sách bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất kể
Trang 24cả đất nông nghiệp Tùy từng trường hợp cụ thể, Nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất Nhà nước chỉ bồi thường cho các công trình gắn liền với đất khi bị thu hồi đất của các chủ sử dụng (Phạm Phương Nam và Nguyễn Thanh Trà, 2011)
Về phương thức bồi thường, Nhà nước thông báo cho người sử dung đất biết trước họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường hoặc bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Giá bồi thường là giá thị trường Mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh lại chính thị trường đó Đối với đất nông nghiệp được bồi thường theo tính chất đất và loại đất
Về tái định cư, các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp thời, thường xuyên đáp ứng nhu cầu nhiều loaị căn hộ cới các nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền chú ý điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước có chính sách riêng Khi di dời thực hiện nguyên tắc chỗ ở mới tốt hơn chỗ ở cũ Khu TĐC được quy hoạch tổng thể (nhà ở, trường học, chợ), cân đối được giao thông tĩnh và động Trong quá trình bồi thương GPMB phải lập các biện pháp xử
lý đối với việc sắp xếp bồi thường khi không đạt được sự thống nhất, lúc này sẽ
xử lý theo phương thức trước tiên là dựa vào trọng tải, sau đó theo khiếu tố (Hoàng Thị Nga, 2010)
Trung Quốc là một nước khá thành công trong việc thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nguyên nhân dẫn đến thành công là do Trung Quốc xây dựng chính sách và thủ tục rất chi tiết ràng buộc với các hoạt động tái định
cư và hỗ trợ khác cho người dân, năng lực thể chế mạnh, quyền sở hữu đất tập thề, việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao và việc sử dụng đất tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độc định cư chậm, thiều đồng bộ thực hiện giải phóng mặt bằng trước khi xây xong nhà tái định cư
2.2.2.2 InĐônêxia
Vấn đề di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển của xã hội tại Inđônêxia từ trước đến nay vẫn được coi là sự
Trang 25“hy sinh” mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng Các chương trình bồi thường, tái định cư chỉ giới hạn trong phạm vi bồi thường theo luật cho đất bị dự án chiếm dụng hoặc một số ít trường hợp bị thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư;
Tái định cư được thực hiện theo ba tiêu chí:
+ Bồi thường tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất;
+ Hỗ trợ di chuyển, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ và phương tiện phù hợp;
+ Trợ cấp khôi phục để ít nhất người bị ảnh hưởng có được mức sống đạt hoặc gần đạt so với mức sống trước khi có dự án;
Việc lập kế hoạch, thiết kế nội dung là yếu tố không thể thiếu của việc lập dự
án đầu tư có di dân tái định cư và những nguyên tắc chính gồm:
* Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án;
* Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng kinh
tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không
có dự án;
* Các dự án về tái định cư phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt;
* Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường tái định cư
* Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất, trong
đó có những người không hoặc chưa có quyền lợi hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ.(Ánh Tuyết, 2002)
2.2.2.3 Thái Lan
Ở Thái Lan, cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường (Ánh Tuyết, 2002)
Trang 26Nhận xét, đánh giá
Để phục vụ lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế, mục đích an ninh, quốc phòng, các nước đều phải sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua các chính sách Pháp luật khác nhau để thu hồi đất hoặc trưng thu đất của người đang sở hữu hoặc sử dụng đất đai và được thể hiện ở các nội dung sau: Trách nhiệm bồi thường: Có thể do Nhà nước hoặc người được sử dụng đất thu hồi;
Đối tượng được bồi thường: Tất cả những người có đất bị ảnh hưởng bởi dự
án đều có quyền được bồi thường;
Phương thức bồi thường: Việc thực hiện bồi thường được thực hiện bằng tiền hoặc hiện vật do thiệt hại về đất đai;
Giá trị đất bị thu hồi hoặc trưng thu: Được tính trên cơ sở giá trị thực của đất trên nguyên tắc là giá thị trường hoặc giá thay thế;
Chính sách hỗ trợ: Các khoản hỗ trợ cho người bị thu hồi đất hoặc trưng thu đất nhằm tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định sản xuất, thu nhập và cải
thiện đời sống (Đào Trung Chính, 2010)
Thông qua việc ban hành và thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi nhà nước thu hồi đất của các nước và một số tổ chức ngân hàng quốc tế, rút
ra các kinh nghiệp mà Việt nam cần quan tâm được thể hiện ở một số điểm sau:
- Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về đất đai nói chung và chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng đảm bảo tính ổn định, thống nhất và phù hợp Tập trung quan tâm vấn đề giá đất và định giá đất; vấn đề tuyên truyền và phổ biến chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tới mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội (Đào Trung Chính, 2010)
2.3 QUY ĐỊNH VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN
2.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1987
Trong thời kỳ phong kiến từ triều Hồ Quý Ly (Đầu thế kỷ XV) đến thời kỳ nhà Nguyễn (Đầu thế kỷ XIX), chính sách bồi thường cho người bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, đã được xác lập và chủ yếu tập trung vào bồi thường ruộng đất canh tác và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lý, đất ở không được quan tâm nhiều so với các loại đất khác Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền qua từng triều đại được hình thành và phát triển rõ rệt, mức bồi thường
Trang 27ngày càng được quy định chặt chẽ, tương xứng với thiệt hại của người bị thu hồi đất Tuy nhiên xét về bản chất, những chính sách nêu trên mục đích là để phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị của các triều đại phong kiến đương thời
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngoài một số hiệp ước bất bình đẳng
để chiếm hữu đất không bồi hoàn, Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày
17 tháng 12 năm 1913 là những văn bản chính thức định ra những nguyên tắc nhượng địa, núp dưới hình thức mua bản để chiếm đoạt tài sản đất đai, mục đích chủ yếu là để cho tư bản Pháp khai thác tài nguyên của đất nước ta
Sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, chúng ta tiến hành xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân Đến năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cải cách ruộng nhằm phân phối lại ruộng đất cho nhân dân với khẩu hiệu: “Người cày có ruộng” và từ đó luật cải cách ruộng đất được ban hành Đồng thời Nhà nước ta cũng khẳng định đất đai được tồn tại dưới 3 hình thức đó là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Hiến pháp năm 1959, một lần nữa Nhà nước tái khẳng định việc tồn tại hình thức sở hữu đất đai nước ta gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân Thời kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thỏa thuận sau đó thống nhất giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường
Nghị định 151/TTg ngày 15/4/1959 của Thủ tướng Chính phủ quy định thể
lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, đây là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng công trình do Nhà nước quản lý, đó là: “Đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người có ruộng đất được trưng dụng, được bồi thường và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm ” Ngày 06/07/1959 Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông
tư liên bộ số 1424/TTLB về việc thi hành Nghị định 151-TTG để làm địa điểm xây dựng các công trình kiến thiết cơ bản với nguyên tắc : “Đảm bảo kịp thời và
đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống cho người có ruộng đất Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng thừa Hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy,
Trang 28trồng trọt…” Về bồi thường cho những người có ruộng đất bị trưng dụng thì:
“Có hai cách bồi thường: bồi thường bằng ruộng đất, bồi thường bằng tiền Nhưng bồi thường bằng ruộng đất là tốt nhất và là chủ yếu Giá bồi thường căn
cứ vào sản lượng của ruộng đất đã dùng để tính thuế nông nghiệp…bồi thường chủ yếu nhằm những ruộng đất có sản lượng và hoa lợi…”
Bên cạnh đó còn có các thông tư khác liên quan, cụ thể, chi tiết hơn, phù hợp với tình hình thực tế của những biến động xã hội thời kì này: Thông tư số 47/CP ngày 15/01/1946 do Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước ban hành về thể lệ tạm thời về lựa chọn địa điểm công trình và quản lý đất xây dựng Đặc biệt Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một
số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên nguyên tắc: “ Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và nhân dân” Tuy nhiên, Thông tư vẫn còn điểm hạn chế đó là chỉ mới quy định việc bồi thường tài sản trên đất chứ chưa quy định cụ thể về việc bồi thường về đất
2.3.2 Giai đoạn Luật Đất đai năm 1987
Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và điều này được khẳng định tại điều 19 của Hiến pháp: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” Và quan hệ đất đai thời kỳ này chỉ đơn thuần là mối quan hệ “ Giao-thu” giữa Nhà nước và người sử dụng
Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1980 Luật Đất đai năm 1987 được ban hành, tiếp tục khẳng định lại đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Về việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại thì Luật Đất đai 1987 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu phần nghĩa vụ của người sử dụng đất: “Đền bù thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của Pháp luật”
Tại Nghị định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Tại điều 1 của Nghị định này nêu rõ: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và
Trang 29tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợp pháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại về đất Khung mức giá bồi thường do UBND tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quy định cụ thể, mức bồi thường đối với từng quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh sát với giá địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn khung định mức bồi thường của Chính phủ
Hiến pháp năm 1992 công nhận và bảo vệ QSDĐ của các tổ chức, cá nhân
và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất Tại Điều 23 của Hiến pháp quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do An ninh - Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo giá thị trường”
2.3.3 Giai đoạn Luật Đất đai năm 1993
Luật Đất đai 1993 có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thay thế cho Luật đất đai 1987 Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Luật đất đai quy định các loại đất sử dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất là họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà Chính điều này làm căn cứ cho quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Để xác định nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước, Điều 12 Luật đất đai 1993 đã quy định: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất Tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng theo thời gian” Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người thu hồi đất được đền bù thiệt hại”
Để thực hiện Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới Luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản
đó, bao gồm:
- Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp
Trang 30của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường GPMB theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng và mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Xét về tính chất, nội dung, Nghị định đã đáp ứng được một số yêu cầu nhất định, so với các văn bản trước, Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất…
- Nghị định 87/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chinh phủ về việc ban hành khung giá các loại đất
- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14 tháng 11 năm 1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998, thay thế Nghị định 90/CP nói trên và quy định rõ phạm vi áp dụng, đối tượng phải bồi thường, đối tượng được bồi thường, phạm vi bồi thường, đặc biệt người có đất bị thu hồi có quyền được lựa chọn một trong ba phương án bồi thường bằng đất, bằng tiền hoặc bằng đất và bằng tiền Những nội dung mới đề cập trong Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 cụ thể như sau:
+ Về điều kiện được bồi thường về đất có những quy định cụ thể các đối tượng được bồi thường Giá đất để tính bồi thường thiệt hại được xác định trên
cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân với hệ
số K để đảm bảo giá đất tính bồi thường phù hợp với khả năng sinh lợi và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở địa phương
+ Về bồi thường tài sản trên đất hợp pháp và có khả năng hợp pháp hoá được bồi thường 100 % giá trị tài sản, tài sản trên đất hợp pháp sẽ được trợ cấp
70 % đến 80 % mức bồi thường
+ Về mức bồi thường, tài sản được bồi thường theo mức độ thiệt hại thực
tế, bằng giá trị hiện có của nhà và công trình, nhưng tổng mức bồi thường tối đa không lớn hơn 100 % và tối thiểu không nhỏ hơn 60 % giá trị của nhà, công trình phụ độc lập được bồi thường 100 % theo bảng giá xây dựng mới
Các Nghị định trước đây hầu như mới chỉ quan tâm đến nội dung bồi thường cho đất bị thu hồi và các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi thì Nghị định này đã đưa các nội dung về công tác tổ chức thực hiện, quy định trách nhiệm của UBND các cấp và Hội đồng bồi thường GPMB cấp huyện trong việc chỉ đạo lập
Trang 31phương án bồi thường, xác định mức bồi thường hoặc trợ cấp cho từng tổ chức
hộ gia đình, cá nhân và tổ chức thực hiện bồi thường theo phương án đã được phê duyệt, tạo sự chủ động cho các địa phương trong việc lựa chọn phương án bồi thường phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội quỹ đất của địa phương
Nội dung mới được quy định là ngoài các đối tượng bị thiệt hại về đất và các tài sản gắn liền với đất, cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp phải di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất cũng được công nhận là những người bị ảnh hưởng bởi dự án và được hưởng trợ cấp ngừng việc trong thời gian ngừng sản xuất kinh doanh nhưng không quá một năm
+ Về phương thức và mức bồi thường đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất làm muối, nuôi trồng thuỷ sản bồi thường bằng đất có cùng diện tích và chất lượng, nếu không có đất mới bồi thường bằng tiền; nếu đất được bồi thường có diện tích nhỏ hơn và chất lượng kém hơn đất bị thu hồi, người bị ảnh hưởng được bồi thường bằng tiền phần chênh lệch về diện tích và giá trị đất, nếu đất bồi thường
có giá trị cao hơn đất bị thu hồi thì người bị ảnh hưởng không phải nộp tiền phần chênh lệch đó
+ Quy trình tiến hành nhận tiền bồi thường: Việc lập Hội đồng bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 34: có thể tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất hoặc trước khi có quyết định thu hồi đất Dựa trên cơ sở bản kê khai diện tích, hạng đất, loại đất, số lượng tài sản… Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư kiểm tra, kiểm kê thực tế từ đó xác định thiệt hại về đất và tài sản của các tổ chức, hộ gia đình cá nhân có đất vị thu hồi và tài sản bị phá dỡ, tổng hợp lập án bồi thường trình các ngành các cấp có liên quan + Về cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo, đối với các dự án khi bồi thường
hỗ trợ, và tái định cư nếu người bị thu hồi đất thấy quyết định bồi thường không đúng với quy định của pháp luật, thì được quyền khiếu nại và được giải quyết theo quy định của Pháp lệnh khiếu nại và tố cáo Tuy nhiên, trong khi chờ giải quyết khiếu nại vẫn phải chấp hành di chuyển GPMB và giao đất đúng kế hoạch
- Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001.Luật sửa đổi
một số điều của Luật Đất đai năm 1998 được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998 vẫn dựa trên nền tảng cơ
bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp thực tế
Trang 32Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc bồi thưòng thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong đó, một số điều cơ bản đã được đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính bồi thường, giá bồi thường, lập khu tái định
cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư, Hội đồng bồi thường GPMB và thẩm định phương án bồi thường GPMB
- Thông tư 145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định
hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một số nội dung khác
- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04 tháng 9 năm 1999 của Cục quản lý Công sản, Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB
- Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 2001 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 ngày 6 năm 2001 quy định cụ thể hơn
về việc bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng
Nghị định 22/1998/NĐ-CP đã thể hiện tính bất cập trong việc áp dụng thi hành và có nhiều quy định không phù hợp với chính sách bồi thường và TĐC của các tổ chức đó, phần nào hạn chế hiệu quả đầu tư, tiến độ thực hiện và chính sách bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất Cần thiết phải có một văn bản pháp luật mới thay thế Nghị định 22/1998/NĐ-CP về chính sách bồi thường GPMB và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu sử dụng và lợi ích quốc gia
2.3.4 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003
Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định rất chi tiết và kèm theo nhiều văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thực hiện:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ;
Trang 33- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi
bổ sung một số Điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần
- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Thông tư liên tịch số 14/2008/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định
cư đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật
2.3.5 Giai đoạn Luật Đất đai năm 2013 đến nay
2.3.5.1 Một số văn bản quy phạm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định rất chi tiết và kèm theo nhiều văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thực hiện:
- Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2013 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai
Trang 34- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 của Bộ Tài nguyên môi trường về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
2.3.5.2 Nội dung chủ yếu của một số văn bản quy phạm pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Những nội dung chủ yếu của Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm
2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất: + Điều kiện được bồi thường về đất đã có những quy định cụ thể các đối tượng được bồi thường Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND cấp tỉnh công
bố theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng
+ Bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này được quy định như sau: Bồi thường hoặc hỗ trợ toàn
bộ diện tích đất Nhà nước thu hồi; bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi; hỗ trợ di chuyển,
hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và hỗ trợ khác cho người
bị thu hồi đất; Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư
+ Tái định cư:
Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; Bồi thường bằng giao đất ở mới; Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới
2.4 THỰC TRẠNG BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở VIỆT NAM
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong thời gian qua đã đạt được các kết quả khá khả quan:
- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy
đủ chính xác, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận đền bù cũng thấy thỏa đáng
Trang 35- Mức bồi thường hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị thu
hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho người dân ổn định về đời sống và sản xuất
- Việc bổ sung quy định về quyền tự thỏa thuận của các nhà đầu tư cần đất
với người sử dụng đất đã góp phần giảm sức ép cho các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất
- Trình tự thủ tục tiến hành bồi thường hỗ trợ tái định cư đã giải quyết được nhiều khúc mắc trong thời gian qua, giúp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công tác bồi thường, tái định cư đạt hiệu quả
- Các địa phương bên cạnh việc thực hiện các quy định Luật đất đai năm
2013, các Nghị định hướng dẫn thi hành, đã dựa trên sự định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thực tế tại địa phương để ban hành các văn bản pháp luật áp dụng cho địa phương mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả cao hơn Do đã vận dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành bình thường, mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể trong quá trình thực hiện
- Nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của vấn đề thu hồi đất, tái định cư của các nhà quản lý, hoạch định chính sách, của chính quyền địa phương được nâng lên Chính phủ đã có nhiều nỗ lực
để tạo điều kiện vật chất và kỹ thuật trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có năng lực và
có nhiều kinh nghiệm ngày càng đông đảo; sự chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa các bộ, ban, ngành có các dự án đầu
tư ngày càng được mở rộng và có hiệu quả
Nhờ những cải thiện về quy định pháp luật về phương pháp tổ chức, về năng lực cán bộ thực thi giải phóng mặt bằng, tiến độ giải phóng mặt bằng trong các dự án đầu tư gần đây đã được rút ngắn hơn so với các dự án cũ, góp phần giảm bớt tác động tiêu cực đối với người dân cũng như đối với dự án Việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã giúp cho đất nước ta xây dựng
cơ sở vật chất, phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các dự án trọng điểm của Nhà nước, cũng như góp
Trang 36đề giá đền bù, gây những tác động tiêu cực đối với thị trường bất động sản
- Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh do không đáp ứng được tiến
độ đầu tư đặt ra vì vậy nhiều dự án đã mất cơ hội kinh doanh dẫn đến lãng phí nguồn vốn không nhỏ
- Đối với các dự án đầu tư không kinh doanh thời gian thi công kéo dài tiến
độ thi công bị ngắt quãng đã gây ra sự lãng phí lớn và ảnh hưởng đến chất lượng công trình
- Nhiều nơi mặc dù việc bồi thường được thực hiện chủ yếu bằng các biện pháp hành chính đã dẫn tới sự khiếu kiện của nhân dân kéo dài không thể giải quyết được Nguyên nhân chính của những khiếu kiện đó vẫn là người dân không thoả mãn với sự bồi thường của các chủ dự án hoặc sự định giá bồi thường thiếu công bằng, không sát với thời điểm thực tế
- Việc tái định cư cho người bị mất đất và các hoạt động nhằm hỗ trợ về ổn định đời sống cho những người bị ảnh hưởng do việc thực hiện dự án gây ra, khôi phục và cải thiện mức sống tạo điều kiện phát triển những cơ sở kinh tế và văn hoá - xã hội của họ và cộng đồng cũng đã được quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế những vấn đề này vẫn chưa được phản ánh đầy đủ và thoả đáng trong triển khai dự án xây dựng khu tái định cư để di dân giải phóng mặt bằng nhiều vấn đề đang đặt ra cần được xem xét như:
+ Một số khu tái định cư không đảm bảo điều kiện cơ sở hạ tầng tối thiểu như: hệ thống điện, nước, đường giao thông, trường, trạm xá… Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của những người TĐC
+ Việc bố trí TĐC chưa quan tâm tới các yếu tố cộng đồng dân cư, các nhóm họ, tập quán sinh hoạt sản xuất
- Mặc dù trong quá trình thực hiện công tác GPMB các chủ đầu tư đã trú trọng tới việc hỗ trợ việc làm và ổn định đời sống nhưng đa số người dân bị mất đất thường phải sống bằng nghề buôn bán nhỏ và sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí thấp, không có khả năng tìm nghề nghiệp có thu nhập ổn định do đó đời sống khó khăn, nhiều rủi ro
Trang 37Vì vậy, trong bồi thường GPMB việc chuyển đổi nghề nghiệp phải được đặt ra như là trách nhiệm của Nhà nước và các chủ thể sử dụng đất sau bồi thường đối với người dân bị mất đất Vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm cụ thể
có thu nhập ổn định phải là mục tiêu của mọi dự án bồi thường GPMB, tạo điều kiện ổn định cuộc sống gia đình, ổn định xã hội từ đó tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển
Ngoài ra công tác phổ biến pháp luật đất đai và chính sách bồi thường, GPMB và TĐC của Hội đồng bồi thường cho người bị thu hồi đất tại các địa phương tính theo mặt bằng chung là chưa sát thực tế Phần lớn người dân rất quan tâm đến chính sách bồi thường GPMB nhưng công tác tuyên truyền ở các địa phương còn nhiều hạn chế, ở những vùng có trình độ dân trí cao thì kiến thức hiểu biết pháp luật, việc chấp hành các quy định của luật nghiêm minh và công tác GPMB đạt tiến độ và hiệu quả so với kế hoạch Trái lại, đối với những vùng nông thôn, miền núi, vùng xa, hải đảo, do không có điều kiện tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật, mặt bằng dân trí thấp dẫn đến việc GPMB gặp khó khăn Tóm lại, những vấn đề nảy sinh trong thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư là không thể tránh khỏi đối với bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Khắc phục những tồn tại đó sẽ đảm bảo sự ổn định, nâng cao điều kiện sống cho người dân ở những khu vực có đất bị thu hồi, góp phần vào sự vận hành và phát triển của thị trường bất động sản ở Việt Nam
2.5 THỰC TRẠNG BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ Ở TỈNH NGHỆ AN
Trong những năm gần đây để phát triển nền công nghiệp và hiện đại thì công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của tỉnh Nghệ An luôn được các cấp các ngành quan tâm, các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư từng bước được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế, cùng với đó là nỗ lực của các cán bộ tham gia GPMB UBND tỉnh đã đưa ra văn bản quy định về công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Nghệ An: Quyết định số 147/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2007 của UBND tỉnh Nghệ An về việc bồi thường, hỗ trợ, tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Quyết định số 27/QĐ-UBND ngày 20 tháng 02 năm 2009 sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 31 Quyết định số 147/QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2007 của UBND tỉnh Nghệ An; Quyết định số 04 /QĐ-UBND ngày 19 tháng 01 năm 2010 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
Trang 38hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An; Quyết định số 54/2014/QĐ-UBND ngày 08/09/2014 của UBND tỉnh Nghệ An ban hành quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An Qua những năm thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái đinh cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Luật đất đai 2013 (từ ngày 01/7/2004 đến 31/12/2014), toàn tỉnh đã có gần 993 dự án, với tổng diện tích đất thu hồi gần
9697 ha với tổng kinh phí bồi thường hơn 6750 tỷ đồng, các địa phương có số dự
án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cao như thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, huyện Diễn Châu trong đó có một số dự án lớn như dự án dây dựng thủy điện Hủa Na huyện Quế Phong, Dự án mở rộng quốc lộ 1A, dự án khu công nghiệp Bắc Vinh (Sở Tài Nguyên và Môi trường, 02/2015)
Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được UBND tỉnh quan tâm, công tác tuyên truyền được thực hiện thông qua kênh truyền hình tỉnh Nghệ An (kênh NTV) và đài truyền hình các huyện, công tác tuyên truyền thông qua hệ thống truyền thanh, các buổi tập huấn… Chính sách bồi thường về đất, tài sản, chính sách hỗ trợ và tái định cư còn nhiều bất cập nguyên nhân là do việc xác định điều kiện được bồi thường chưa được tốt, bảng giá đất do UBND tỉnh đưa ra còn thấp so với điều kiện thực tế, hỗ trợ việc làm cho đối tượng bị thu hồi đất nông nghiệp chủ yếu hỗ trợ bằng tiền
Trang 39PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa bàn nghiên cứu: Đánh giá chung về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và nghiên cứu chuyên tra chuyên sâu 2 dự án ở địa bàn các xã Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Phú và phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Phạm vi thời gian lấy số liệu nghiên cứu ở các nội dung nói chung: Từ tháng 3/2015 đến tháng 6/2015
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Vấn đề thực hiện công tác bồi thường,hỗ trợ, tái định cư được áp dụng ở các dự án xây dựng đường giao thông trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Vấn đề tái định cư, vấn đề đời sống và việc làm của các hộ dân trước và sau khi bồi thường, hỗ trợ trên địa bàn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với hai dự án xây dựng các đường giao thông trên địa bàn thành phố Vinh, cụ thể như sau:
- Dự án bồi thường giải phóng mặt bằng xây dựng đường giao thông nối tuyến Quốc lộ 1A - Đại lộ Xô viết Nghệ Tĩnh (đường 72m) trên địa bàn thành phố Vinh thực hiện năm 2012 – 2014 có diện tích là 22.913 m2 với số hộ bồi thường là 90 hộ thuộc phường Hà Huy Tập và xã Nghi Phú,thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Vinh thực hiện vào năm 2013 – 2014 với diện tích là 9.481 m2 với số hộ thu hồi là 138 hộ
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.4.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
3.4.2 Thực trạng Quản lý Nhà nước về đất đai
3.4.3 Tình hình chung về công tác bồi thường khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Vinh
3.4.4 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại hai dự án 3.4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy nhanh công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thực hiện
Trang 403.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập và nghiên cứu các văn bản liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và các dự án nghiên cứu;
- Thu thập tài liệu từ các cơ quan Nhà nước như: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Vinh,Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Vinh, UBND các xã, phường có dự án trên địa bàn, các chương trình dự án có liên quan đã thực hiện trên địa bàn thành phố …
3.5.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn các hộ được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại các dự án theo mẫu phiếu điều tra:
+ Thông tin về tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
+ Tình hình về bồi thường, hỗ trợ: Tổng diện tích đất đủ tiêu chuẩn để bồi thường, giá để bồi thường về đất, tài sản trên đất, số tiền được bồi thường
+ Tìm ra những ưu điểm và nhược điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
+ Đánh giá của các hộ gia đình, cá nhân đối với công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư
+ Nguyện vọng của người được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng như mức độ ảnh hưởng của dự án đến đời sống, việc làm, thu nhập của người bị thu hồi đất và người dân trong vùng dự án
- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
để tìm ra thuận lợi, khó khăn trong tổ chức thực hiện
* Số phiếu điều tra hộ dân của các dự án như sau:
+ Dự án 1 : điều tra 90 hộ trong đó 51 phiếu tại xã Nghi Phú và 39 phiếu tại phường Hà Huy Tập
+ Dự án 2: điều tra 138 hộ trong đó 41 phiếu tại xã Nghi Kim và 97 phiếu tại
xã Nghi Liên
* Số phiếu điều tra cán bộ của các dự án như sau: Điều tra 10 cán bộ
trong đó mỗi dự án 5 phiếu