Trên cơ cơ diễn biến của quá trình đô thị hóa, sự biến động sử dụng đất để lựa chọn vùng phù hợp và làm rõ được những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và ng
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
CUNG THỊ THU HẰNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Học
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2016
Tác giả luận văn
Cung Thị Thu Hằng
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn quy hoạch, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức (cơ quan nơi thực hiện đề tài) đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2016
Tác giả luận văn
Cung Thị Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis Abstract xi
Phần 1 Mở đầu 100
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 100
1.2 Giả thuyết khoa học 101
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 101
1.4 Phạm vi nghiên cứu 101
1.5 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 102
Phần 2 Tổng quan tài liệu 103
2.1 Đô thị hóa và các vấn đề liên quan 103
2.1.1 Một số khái niệm về đô thị và đô thị hoá 103
2.1.2 Những biểu hiện cơ bản của đô thị hoá 106
2.1.3 Đặc điểm của đô thị hoá 108
2.1.4 Tác động của quá trình đô thị hoá đối với kinh tế - xã hội 108
2.1.5 Quá trình đô thị hóa diễn ra ở trên thế giới và những bài học kinh nghiệm được rút ra 112
2.1.6 Quá trình đô thị hóa diễn ra ở Việt Nam 118
2.2 Những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất đai ở việt nam 124
2.2.1 Đất đai và vai trò của đất đai với đô thị hóa 124
2.2.2 Sự biến động đất đai dưới tác động của quá trình đô thị hóa 126
2.3 Những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân ở việt nam 127
2.3.1 Ảnh hưởng của đô thị hóa với phát triển nông thôn 127
2.3.2 Ảnh hưởng của đô thị hoá với phát triển nông nghiệp 129
Trang 5Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 132
3.1 Địa điểm nghiên cứu 132
3.2 Thời gian nghiên cứu 132
3.3 Đối tượng nghiên cứu 132
3.4 Nội dung nghiên cứu 132
3.4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện 132
3.4.2 Thực trạng của quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị: 132
3.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp 133
3.4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa và phát triển đô thị 133
3.5 Phương pháp nghiên cứu 133
3.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 133
3.5.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu tài liệu 134
3.5.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu 134
3.5.4 Phương pháp so sánh 135
Phần 4 Kết quả và thảo luận 136
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện thanh trì 136
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 136
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội theo hướng đô thị hóa 139
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 146
4.2 Thực trạng của quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị 147
4.3 Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp 152
4.3.1 Ảnh hướng của đô thị hóa đến chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp: 152
4.3.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến chuyển dổi cơ cấu cây trồng 154
4.3.3 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 160
4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa và phát triển đô thị 177
4.4.1 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa 177
4.4.2 Một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả trong quá trình đô thị hóa 178
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 184
5.1 Kết luận 184
5.2 Kiến nghị 185
Tài liệu tham khảo 185
Trang 6CPTG Giá phí trung gian
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Biến động đất nông nghiệp của cả nước 130
Bảng 4.1 Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển kinh tế năm 2005 – 2015 140
Bảng 4.2 Biến động dân số và lao động đoạn 2005 – 2015 142
Bảng 4.3 Cơ cấu sử dụng đất huyện Thanh Trì giai đoạn 2000 - 2015 149
Bảng 4.4 Biến động đất nông nghiệp huyện Thanh Trì giai đoạn 2000-2015 153
Bảng 4.5 Thực trạng phát triển nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2015 155
Bảng 4.6 Thống kê một số cây trồng, vật nuôi chính của huyện Thanh Trì 157
Bảng 4.7 Một số loại hình sử dụng đất chính ở huyện Thanh Trì 159
Bảng 4.8 So sánh hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 1 năm 2005 và năm 2015 161
Bảng 4.9 So sánh hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 2 giữa năm 2005 và 2015 163
Bảng 4.10 Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các loại hình sử dụng đất 2 năm 2005 và năm 2015 165
Bảng 4.11 So sánh hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất vùng 1 năm 2005 và năm 2015 168
Bảng 4.12 So sánh hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất vùng 2 năm 2005 và năm 2015 170
Bảng 4.13.Tổng hợp hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất năm 2005 và năm 2015 172
Bảng 4.14 Mức sử dụng phân bón của một số cây trồng năm 2005 và năm 2015 174
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Sự biến động đất ở đô thị huyện Thanh Trì giai đoạn 2000- 2015 147 Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất huyện Thanh Trì giai đoạn 2000 - 2015 150 Hình 4.3 Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Thanh Trì giai đoạn 2005-2015 153
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội”
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã chuyên ngành: 60.85.01.03
Họ và tên học viên: Cung Thị Thu Hằng
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Quang Học
1 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng của quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì
- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tớí sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy phát triển hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Thanh Trì phù hợp với tiến trình đô thị hóa theo hướng tích cực nhằm định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả trên địa bàn huyện Thanh Trì
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
+ Chọn điểm nghiên cứu đại diện cho các vùng trong huyện Trên cơ cơ diễn biến của quá trình đô thị hóa, sự biến động sử dụng đất để lựa chọn vùng phù hợp và làm rõ được những ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp và người nông dân Căn cứ vào điều kiện cụ thể của vùng chúng tôi chọn xã Tứ Hiệp, xã Tam Hiệp cho tiểu vùng I, xã Vạn Phúc cho tiểu vùng II
+ Chọn các hộ điều tra đại diện cho các vùng theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Tổng số hộ điều tra là 100 hộ
- Phương pháp điều tra thu thập số liệu tài liệu
+ Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan
nhà nước, phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban quản lý dự án, Ban bồi thường GPMB, phòng Kinh tế, phòng Thống kê, phòng Tài chính - Kế hoạch,
+ Thu thập các số liệu về hiện trạng và biến động sử dụng đất, danh mục các dự án liên quan đến phát triển đô thị trên địa bàn huyện tại phòng Tài nguyên
và Môi trường của huyện
+ Thu thập các số liệu liên quan đến phát triển sản xuất nông nghiệp tại phòng Kinh tế huyện
+ Thu thập các số liệu liên quan đến phát triển kinh tế xã hội của huyện tại phòng Thống kê của huyện
Trang 10+ Nguồn số liệu sơ cấp: Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập nhằm đánh
giá sử dụng đất nông nghiệp của nông hộ
Thu thập bằng phương pháp điều tra nông hộ thông qua bộ câu hỏi có sẵn Phương pháp này cung cấp số liệu tình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, mức thu nhập cũng như đặc điểm cơ bản của nông hộ
- Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu, số liệu
+ Trên cơ sở số liệu tài liệu thu thập được, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tổ thành nhiều loại khác nhau: loại cây trồng, các khoản chi phí, tình hình tiêu thụ Và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất, bao gồm:
+ Hiệu quả kinh tế: tính toán GTSX/ha, GTGT/ha, CPTG/ha Từ đó, tiến hành phân tích so sánh, đánh giá và rút ra kết luận
+ Hiệu quả xã hội: tính toán GTSX/lao động, GTGT/lao động, số lượng công lao động đầu tư cho 1 ha đất Từ đó, tiến hành phân tích so sánh, đánh giá
- Phương pháp so sánh
+ Sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá tình hình biến động đất đai trong giai đoạn 2005 – 2015 Từ đó thấy được xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
+ So sánh sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp giữa các loại hình sử dụng đất và giữa các vùng để làm rõ được ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
3 Kết quả nghiên cứu
Quá trình đô thị hoá làm hình thành các khu đô thị mới và hạ tầng kinh tế
kỹ thuật làm thay đổi lớn đến cơ cấu sử dụng đất ở đô thị nói riêng và cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp nói chung Cơ cấu sử dụng đất của huyện có sự thay đổi theo hướng giảm diện tích đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng, tăng diện tích đất phi nông nghiệp Năm 2000, đất phi nông nghiệp chiếm 41,71% tổng diện tích tự nhiên, đến năm 2015 tỷ lệ này tăng lên 48,06% tổng diện tích tự nhiên Ngược lại, đất nông nghiệp giảm từ 56,53% vào năm 2000 xuống còn
Trang 1151,66% vào năm 2015 Đất chưa sử dụng năm 2000 chỉ chiếm 1,76% đến năm
2015 còn 0,28% tổng diện tích tự nhiên
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp cho thấy dưới tác động của quá trình đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp để đáp ứng cho các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Giai đoạn 2000 – 2015, diện tích đất nông nghiệp toàn huyện giảm 296,6 ha, trong đó chuyển sang mục đích phát triển đô thị Diện tích đất nông nghiệp giảm chủ yếu tập trung vào đất sản xuất nông nghiệp
Qua việc nghiên cứu từ số liệu của Phòng Tài nguyên & môi trường huyện Thanh Trì; điều tra từ 100 hộ dân 3 xã điểm (xã Tứ Hiệp, xã Tam Hiệp, xã Vạn Phúc) cho thấy về đánh hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa cho thấy, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có xu hướng tăng lên Tính toán chi tiết năm 2015, bình quân GTSX/ha đất nông nghiệp tương đối cao 143,06 triệu đồng, GTGT/ha đất nông nghiệp là 76,77 triệu đồng; GTGT/công lao động
là 90,13 nghìn đồng; Xét hiệu quả tính trên một đơn vị diện tích và hiệu quả tính trên công lao động thì vùng 1 cho hiệu quả cao nhất Bình quân GTSX/ha là 149,44 triệu đồng, gấp 1,07 lần vùng 2; Một số LUT điển hình cho hiệu quả kinh
tế cao thu hút nhiều lao động với giá trị ngày công cao như: LUT chuyên rau màu, LUT lúa – rau màu
4 Kết luận
Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa cần phát triển để có được nền nông nghiệp “bền vững”, làm nền tảng cho nền kinh tế phát triển, cần hơn nữa sự chung sức, cuộc của các cấp, các ngành có liên quan nhằm giải quyết tốt và nhanh chóng những vấn đề phát sinh gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp Chúng ta cần quy hoạch một quỹ đất thích hợp để phát triển nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất tập trung theo hướng hang hoá Quan trọng hơn, chúng ta phải đầu tư một cách đồng bộ chính sách và các biện pháp kích thích sản xuất nông nghiệp; lấy lợi thế nông nghiệp của địa phương phục vụ trực tiếp cho quá trình đô thị hóa là một cách làm hay cần được nghiên cứu và nhân rộng
Trang 12Full name of student: Cung Thi Thu Hang
Supervisors: Assoc Nguyen Quang Hoc
1 Objectives of the project
- Assessment of the status of the process of urbanization in the district of Thanh Tri
- Assess the impact of urbanization on land use agricultural Thanh Tri district
- Propose some practical solutions to promote the development of efficient use of agricultural land suitable for Thanh Tri urbanization process in a positive direction to orient agricultural land use efficiency in the district Wall
2 Research Methodology
- Research selection method
+ Choose the study represents the area in the district On the mechanical movements of the process of urbanization, land use volatility to choose the appropriate and clarify the effects of urbanization on agricultural land use and farmers Based on the specific conditions of the region we chose Tu Hiep Commune, Tam Hiep commune for the first subregion, the subregion Van Phuc Commune II
+ Choose the surveyed households representing regions by random sampling method Total households surveyed 100 households
- Methods of data collection survey documents
+ Secondary Data source: Data collection, data available from the state agency, Department of Natural Resources and Environment, the project manager, site clearance compensation committee, Economic Division, Statistics Division, Room Finance - Planning,
+ To collect data on the current status and land use changes, the list of projects related to urban development in the district at the Department of Natural Resources and Environment of the district
Trang 13+ To collect data related to agricultural production development in District Economic room
+ To collect data related to socio-economic development of the district at the district's Statistical Division
+ Primary Data sources: primary data sources were collected to evaluate the use of agricultural land by farmers
Collected by means of household surveys through questionnaires available This method provides the user data of agricultural land, effective use of agricultural land, income and basic characteristics of the household
Synthesis method and document processing, data
+ On the basis of data collected documents, we conducted synthesis, broken down into several different categories: plants, expenditures, consumption situation And the construction of indicators land use efficiency, including: + Economic efficiency: calculation of production value / ha, VAT / ha, CPTG / ha From there, conducting comparative analysis, evaluation and drawing conclusions
+ Social effect: calculation of production value / labor, VAT / labor, labor quantity for 1 ha of land investment From there, conducting comparative analysis, evaluation and drawing conclusions
+ Environmental Efficiency: Based on the survey, account for usage of fertilizers and plant protection products Since then made recommendations to farmers
+ The data were statistically processed using EXCEL software and maps are scanned and digitized on Microstation software Results are presented in the tables of data, maps and charts
3 The results of the study
Urbanization process as the formation of new urban areas and economic and technical infrastructure make major changes to the structure of land use in urban areas in particular, and the structure of non-agricultural land use in general The
Trang 14structure of the district land use change towards reducing agricultural land and unused land, increasing the area of non-agricultural land In 2000, non-agricultural land accounted for 41.71% of the total natural area, in 2015 this percentage increased to 48.06% of the total natural area In contrast, agricultural land decreased from 56.53% to 51.66% in 2000 to 2015 Unused land accounts for only 1.76% in 2000 to 2015 was 0.28% of the total natural area
The research results on the impact of urbanization on agricultural land use shows the effect of the process of urbanization, agricultural land is increasingly shrinking in response to demand economic development foul The period 2000 -
2015, agricultural land decreased 296.6 hectares district, which transferred to urban development purposes Farmland area decreased mainly focused on agriculture land
By studying data from Natural Resources & Environment Department Thanh Tri district; survey of 100 households in three communes (Tu Hiep Commune, Tam Hiep Commune, Van Phuc commune) indicates the rated efficiency of agricultural land in the process of urbanization shows, efficient use
of agricultural land upward trend Detailed calculations in 2015, the average production value / ha of agricultural land is relatively high 143.06 million, VAT /
ha of agricultural land is 76.77 million; VAT / labor is 90.13 thousand; In terms
of efficiency per unit area and efficiency of labor based on the region 1 for the highest efficiency Average production value / ha was 149.44 million, 1.07 times more than the second; Some typical LUT for high economic efficiency attracts many day laborers with high public value, such as specialized vegetable LUT, LUT rice - vegetable
4 Conclusion
To improve the efficiency of use of agricultural land in the urbanization process should be developed to get agriculture "sustainable", as the basis for economic development, need more teamwork, life of levels and sectors related to well and quickly resolve issues arising impact negatively on agricultural production We need to plan a suitable land for agricultural development, formed the production areas of focus in the direction of the cave More importantly, we have to invest in a uniform policies and measures to stimulate agricultural production; taking advantage of local agricultural direct service to the urbanization process is a good practice should be studied and replicated
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đô thị hóa là quá trình tất yếu diễn ra ở tất cả các nước trên thế giới, nhất
là các nước đang phát triển Nền kinh tế càng phát triển thì quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Đất nước ta đang phát triển trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp hóa và đô thị hóa là hai quá trình phát triển tất yếu và diễn ra song song trong quá trình phát triển Đô thị hóa là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của mọi nền văn minh trên thế giới, nó góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội của khu vực, nâng cao đời sống nhân dân
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đã và đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước làm cho bộ mặt đất nước
có nhiều thay đổi Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, nhất là khu vực ngoại
ô và gần các thành phố lớn Có thể nói, đô thị hóa là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế - xã hội và là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, gắn với đô thị hóa và mở rộng đô thị là diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp Hệ quả kéo theo là các hộ nông dân bị mất đất sản xuất, dẫn đến mất việc làm, ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của người dân, nhất
là các hộ thuần nông
Hà Nội là trung tâm lớn về văn hóa, kinh tế, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế của cả nước, có vị trí địa lý, chính trị xã hội hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam Mặt khác, Hà Nội còn đóng vai trò rất to lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của cả nước Hà Nội có 17 huyện ngoại thành, với vị trí địa lý, những tiềm năng về tài nguyên như đất đai, khí hậu, lao động, trí tuệ và vị thế của Thủ đô cho phép phát triển một nền kinh tế có tốc
độ tăng trưởng nhanh trong thời gian tới
Thanh Trì là huyện ngoại thành nằm ở phía Nam của thành phố Hà Nội Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của huyện có những bước phát triển, làm thay đổi bộ mặt và đời sống của người dân Cùng với quá trình phát triển đó, quá trình đô thị hoá ở Thanh Trì diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh Có thể nói, đô thị hoá là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế xã hội và đó là xu thế tích cực tạo nên động lực mới cho phát triển kinh tế cho huyện Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá cũng gây nên một số tác động tiêu cực, đặc biệt là đối với nông nghiệp và
Trang 16của huyện Thanh Trì đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, các vấn đề về việc làm cho nông dân bị mất đất, phương thức giãn dân… đang phát sinh ngày càng phức tạp Nếu không có một chiến lược cụ thể, chúng ta sẽ gặp nhiều vướng mắc và sẽ lúng túng trong quá trình giải quyết
Để góp phần làm rõ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội”
1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
- Góp phần bổ sung lý luận về nghiên cứu quá trình đô thị hóa và các tác động của nó đến sử dụng đất nông nghiệp
- Góp phần đánh giá hướng sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nông dân dưới tác động của quá trình đô thị hóa
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng của quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì
- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tớí sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì
- Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy phát triển hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Thanh Trì phù hợp với tiến trình đô thị hóa theo hướng tích cực nhằm định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả trên địa bàn huyện Thanh Trì
Trang 171.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của quá trình đô thị hóa trên địa bàn huyện Thanh Trì; đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa tớí sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì
Đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy phát triển hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Thanh Trì phù hợp với tiến trình đô thị hóa theo hướng tích cực nhằm định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả trên địa bàn huyện Thanh Trì
Đề tài đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thanh Trì trong quá trình đô thị hóa
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
2.1.1 Một số khái niệm về đô thị và đô thị hoá
2.1.1.1 Khái niệm về đô thị
Đô thị là khái niệm được xuất hiện từ khá lâu và được quan tâm nghiên cứu trong vài chục năm trở lại đây
Thuật ngữ “đô thị” bắt nguồn từ tiếng La Tinh: Urbanus - thuộc về đô thị, Urban – thành thị, đô thị, châu thị, “Đô thị là một khái niệm cơ bản và được sử dụng khá thống nhất ở các quốc gia, nhằm chỉ những nơi có dân cư đông đúc, sinh sống bằng các nghề phi nông nghiệp”
Theo G.S Harold Chestnut trường đại học kỹ thuật Preden (Liên bang Mỹ): “Đô thị là các điểm dân cư ở đó biểu hiện quá trình kinh tế - xã hội - kỹ thuật gắn bó mật thiết với nhau Các hoạt động của đô thị được phản ánh thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, sinh sống, đi lại, vui chơi, giải trí, của dân cư, chúng tồn tại và phát triển theo quy luật của xã hội”
Theo G.S Đàm Trung Phường: Đô thị là một đơn vị kinh tế - xã hội phản ánh sự vận động của bản thân lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó làm cho cấu trúc của đô thị thường xuyên có sự chuyển hóa; sự chuyển hoá này vừa mang tính sinh học vừa mang tính cơ học Đô thị là một cơ thể sống luôn vận động, phát triển trên cơ sở đan kết tổng hoà cân bằng động của nhiều ngành trong một đơn vị lãnh thổ và sự tác động tương hỗ của các hệ thống nội lực, ngoại lực theo nhiều chiều khác nhau (Phạm Văn Nhật, 2003)
Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về phân loại đô thị quy định rằng: Đô thị bao gồm thành phố, thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập(Vũ Đình Thắng, Hoàng Văn Định, 2002)
Đô thị nước ta là một điểm dân cư tập trung với các tiêu chí cụ thể như sau: + Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh;
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định
Trang 19+ Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên + Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại
đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị, khu phố xây dựng tập trung của thị trấn
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% tổng số lao động + Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật
+ Kiến trúc, cảnh quan đô thị: Việc xây dựng phát triển đô thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên
Khái niệm đô thị của các quốc gia có sự khác nhau và thay đổi theo thời gian, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và dân cư của các khu vực Phân loại đô thị: Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại
I, loại II, loại III, loại IV và loại V, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận Các đô thị phân loại dựa trên sự khác biệt về chức năng kinh tế, qui mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, hệ thống công trình hạ tầng đô thị và kiến trúc cảnh quan đô thị Trong đó các chỉ tiêu về dân số
là cơ sở chủ yếu để phân loại đô thị
+ Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc Đô thị loại đặc biệt đa chức năng, với quy mô dân số từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số lao động
+ Đô thị loại I là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc với quy mô dân số từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân số tối thiểu là 12.000 người/km2 Đô thị loại I là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành, các xã ngoại thành có quy mô dân số từ 500.000 người trở lên, mật độ dân số từ 10.000 người/km2 trở lên Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại đô thị loại I phải trên 85%
Trang 20+ Đô thị loại II có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp phải từ 80% trở lên Nếu
là đô thị trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số từ 800.000 người trở lên, mật
độ dân số trên 10.000 người/km2 Đô thị loại 2 thuộc tỉnh có quy mô dân số trên 300.000 người với mật độ dân số từ 8.000 người/km2
+ Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, các xã ngoại thành, ngoại thị Quy mô dân số trên 150.000 người, mật độ dân số 6.000 người/km2 trở lên và tỷ lệ dân số phi nông nghiệp từ 75% trở lên
+ Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị Quy mô dân số từ 50.000 người trở lên với mật độ dân số trên 4.000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 70%
+ Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên, mật độ dân số trên 2.000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp từ 65% trở lên
Dựa trên sự phân loại này, thành phố Hà Nội được xếp vào loại đô thị đặc biệt với quy mô dân số năm 2012 trên 7,1 triệu người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% và mật độ dân số nội thành đạt trên 30.000 người/km2
2.1.1.2 Khái niệm về đô thị hoá
Có nhiều cách định nghĩa hay xây dựng khái niệm khác nhau về đô thị hoá
do cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về đô thị hoá
Đô thị hoá là quá trình tập trung dân cư đô thị Đồng thời đó là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông tăng Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở rộng Trong
đó dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những người lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị
Đô thị hoá là quá trình kinh tế - xã hội mà biểu hiện của nó là sự tăng
nhanh về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung của dân cư trong thành phố, nhất là các thành phố lớn, là sự phổ biến rộng rãi lối sống nơi thành thị
Đô thị hoá là một quá trình định cư của dân số nông nghiệp sang phi nông
nghiệp, với những chỉ số biểu trưng như: tỷ số dân số đô thị tăng lên trong khi tỷ
lệ dân số nông thôn giảm đi kèm theo sự mở rộng diện tích và không gian của của các đô thị đã có và sự xuất hiện các đô thị mới
Trang 21Đô thị hoá là sự biến đổi toàn diện kinh tế - xã hội nhiều mặt, trên cái
nhìn hẹp hơn đó là hiện tượng dịch cư nghề nghiệp từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó Và đô thị hoá là quá trình kinh tế -
xã hội tất yếu sẽ xảy ra mà không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào
Có thể tổng quát rằng đô thị hoá là một quá trình:
- Làm gia tăng dân số đô thị cả về tương đối (% so với tổng số dân-tỉ lệ
đô thị hoá và tăng tuyệt đối số dân đô thị) do chuyển dịch dân cư nông thôn vào các đô thị và qua đó làm tăng quy mô dân số của các đô thị
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế-xã hội, hoàn thiện và nâng cao điều kiện sống, phong cách sống đô thị theo hướng hiện đại, văn minh
- Làm chuyển hoá diện mạo và tính chất của các điểm dân cư nông thôn thành các đô thị hay theo kiểu đô thị
Như vậy quá trình đô thị hoá không chỉ tác động ảnh hưởng đến các đô thị
mà còn đến sự phát triển của các điểm dân cư nông thôn theo hướng đô thị (đô thị hoá nông thôn)
Và như vậy đô thị hoá được hiểu là một quá trình phát triển mang tính kinh tế - xã hội - lịch sử của các hình thái cư trú (định cư) và của các điều kiện sống đô thị hay theo kiểu đô thị Đô thị hoá không chỉ là sự gia tăng tương đối hay tuyệt đối của dân cư đô thị, sự phát triển của các đô thị hay quần cư đô thị (siêu đô thị), sự phát triển của hình thức cư trú kiểu đô thị mà còn gắn liền với những thay đổi kinh tế - xã hội ở đô thị và nông thôn, gắn kết với sự thay đổi về
cơ cấu xã hội, nghề nghiệp, nhân khẩu học, dân số học, phong cách sống, trình
độ văn hoá của dân cư cũng như sự phân bố của dân cư và lực lượng sản xuất xã hội trên phạm vi quốc gia và vùng lãnh thổ (Phạm Kim Giao, 2011)
2.1.2 Những biểu hiện cơ bản của đô thị hoá
2.1.2.1 Tỷ lệ dân số thành thị cao và tăng nhanh
Đô thị thế giới đang tăng nhanh chóng cả về số lượng đô thị, số dân đô thị
và tỷ lệ thị dân Dân đô thị tại các nước phát triển đạt tỷ lệ cao như Anh 90%, Australia 91%; Nhật Bản, Hoa Kỳ: 79%, Ngược lại các nước đang phát triển, tỷ
lệ dân số đô thị thấp (Trung Quốc 44%, Thái Lan 33%, Ấn Độ 28%, ) Một số nước NICs có tỷ lệ dân số đô thị rất cao như Singapore đạt 100%, Đài Loan 78%, Hàn Quốc 82%,
Trang 22Mức độ đô thị hoá ở Việt Nam thấp hơn nhiểu so với thế giới: Năm 2009,
tỷ lệ dân số đô thị ở Việt Nam chỉ đạt 29%, trong khi tỷ lệ dân số đô thị thế giới
là 49% Các vùng kinh tế trong nước cũng có mức đô thị hoá khác nhau: cao nhất
là Đông Nam Bộ với tỷ lệ dân số đô thị là 58%; thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc với tỷ lệ là 15,5%
2.1.2.2 Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Dân số đô thị thế giới tăng nhanh, đặc biệt tại các thành phố lớn Số thành phố lớn và cực lớn từ đó cũng gia tăng mạnh mẽ
Số lượng các đô thị lớn tăng nhanh, đặc biệt là tại các nước đang phát triển Theo số liệu báo cáo năm 2007, thế giới có 10 siêu đô thị lớn với trên 15 triệu dân, trong đó có 8 đô thị thuộc nhóm nước đang phát triển (Mumbai – Ấn Độ; Mexico City – Mexico; Sao Paulo – Brazil; New Delhi – Ấn Độ; Thượng Hải – Trung Quốc, Concata – Ấn Độ; Jakarta – Indonesia; Dhaka – Bangladesh) Trong những năm gần đây, dân số đô thị tại các nước đang phát triển tăng nhanh hơn các nước phát triển, làm cho sự cách biệt dân số đô thị giữa hai nhóm nước có sự thay đổi rõ rệt: dân số đô thị tại các nước đang và kém phát triển chiếm hơn 75% dân số đô thị toàn thế giới (năm 2009) (Trần Thị Bích Huyền, 2011)
2.1.2.3 Lãnh thổ đô thị mở rộng
Quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển Các đô thị chiếm một diện tích không nhỏ của Trái Đất Diện tích các đô thị hiện nay chiếm khoảng 3 triệu km2 (hơn 2% diện tích các lục địa và 13% diện tích đất có giá trị sử dụng cao – đất canh tác nông nghiệp) Hiện nay, đô thị ngày càng phát triển các tuyến đường giao thông, các khu công nghiệp, khu dân cư, khu thương mại, khu giải trí nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao của người dân Nhu cầu mở rộng diện tích đất ở, đất khu công nghiệp, đất công trình công cộng tăng cao Do đó, diện tích đất đô thị không ngừng mở rộng Đô thị phát triển phình to ra ngoài ranh giới hiện có để đáp ứng sự gia tăng dân số và sản xuất của đô thị (Trần Thị Bích Huyền, 2011)
2.1.2.4 Phổ biến rộng rãi lối sống thành thị
Lối sống bao gồm những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con người, đặc trưng của xã hội, giai cấp, tầng lớp nhất định Đô thị hóa là quá trình
có sự chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống đô thị
Trang 23Lối sống đô thị là lối sống hợp cư, dễ biến động và ít có sự liên kết về huyết thống, tập quán, truyền thống Người dân đô thị hiểu và có ý thức tôn trọng những chuẩn mực mang tính pháp lí cao
Đô thị hóa không chỉ gắn với sự phát triển công nghiệp mà còn gắn với sự phát triển các ngành dịch vụ khác như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tài chính – ngân hàng, khoa học giáo dục… Nhờ quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, những khu vực ven đô dễ dàng tiếp cận các nhóm ngành dịch vụ Từ đó, lối sống của người dân có sự thay đổi và chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao (Trần Thị Bích Huyền, 2011)
2.1.3 Đặc điểm của đô thị hoá
- Đô thị hoá mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị
- Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ, Do đó, đô thị hoá không thể tách rời với chế độ kinh tế - xã hội
- Đô thị hoá nông thôn: Là xu thế bền vững có tính quy luật, là quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn Thực chất đây là tăng trưởng đô thị theo hướng bền vững
- Đô thị hoá ngoại vi: Là quá trình phát triển mạnh vùng ngoại vi của thành phố do kết quả phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng, tạo ra các cụm đô thị góp phần đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn
- Đô thị hoá giả tạo: Là sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn dẫn đến tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, ô nhiễm môi trường, giảm chất lượng cuộc sống
2.1.4 Tác động của quá trình đô thị hoá đối với kinh tế - xã hội
2.1.4.1 Tác động tích cực
Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế
Đô thị hóa gắn liền với sự phát triển khoa học kĩ thuật, tập trung lao động, đặc biệt lao động có chất lượng cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển hoàn chỉnh Những yếu tố này giúp cho chi phí vận tải, chi phí sản xuất giảm đáng kể
Từ đó, hiệu quả kinh tế tăng, giúp tăng trưởng kinh tế nhanh chóng
Trang 24Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đô thị hóa thường diễn ra song song với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình này biến dân cư nông thôn trở thành dân đô thị, với sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp chuyển sang lao động công nghiệp và dịch vụ; biến quần cư nông thôn thành quần cư thành thị Tác động này làm ngành nông nghiệp giảm dần tỉ trọng, tăng dần tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ
Thay đổi đặc điểm dân số
+ Gia tăng dân số và tỉ lệ thị dân
Quá trình đô thị hóa tạo nên sức hút rất mạnh mẽ dân cư từ các vùng chuyển vào đô thị Vì thế, qui mô dân số và tỉ lệ dân thành thị tăng nhanh chóng Dân số tăng tạo nguồn cung cấp lao động dồi dào cho sự phát triển kinh tế Đồng thời nguồn lao động tập trung vào các đô thị phần lớn là lao động có chất lượng cao, tạo thuận lợi cho sự phát triển các ngành sản xuất hiện đại, mang giá trị cao như tài chính, tín dụng, công nghiệp chế biến, các hoạt động khoa học công nghệ Nguồn lao động này cũng chính là nguồn tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh chóng, hiệu quả
+ Thay đổi kết cấu dân số
Quá trình đô thị hóa làm thay đổi kết cấu theo độ tuổi: Do chất lượng cuộc sống người dân đô thị được nâng cao, tỉ lệ sinh tại các đô thị giảm xuống Thêm vào đó, số dân nhập cư vào các thành phố lớn chủ yếu trong độ tuổi lao động nên
tỉ lệ dân số phụ thuộc giảm mạnh, tỉ lệ dân số trong và trên tuổi lao động tăng lên Đây là lực lượng lao động dồi dào và là nguồn tiêu thụ rộng lớn, tạo điều kiện để phát triển kinh tế nhanh chóng
Bên cạnh đó đô thị hóa cũng làm thay đổi kết cấu lao động Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch rõ nét: giảm tỉ lệ dân số hoạt động nông nghiệp và tăng tỉ
lệ dân hoạt động phi nông nghiệp
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giúp nguồn lao động trong các ngành công nghiệp – dịch vụ tăng lên, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Đây là những ngành mang lại giá trị kinh tế cao nên sự chuyển dịch cơ cấu lao động sẽ giúp kinh tế đô thị phát triển nhanh và hiệu quả hơn
Trang 25Tăng cường hiệu quả sử dụng đất
Đất đô thị có giá trị rất lớn do chức năng và tính chất sử dụng cao độ của
nó Vì thế, quá trình đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình chuyển đổi mục đích
sử dụng đất: giảm diện tích đất nông nghiệp, tăng diện tích đất đô thị, làm giá đất
có sự biến động mạnh mẽ
Khi đất nông nghiệp được chuyển sang đất công nghiệp hay dịch vụ, giá trị sản xuất tăng lên, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Nâng cao chất lượng cuộc sống
+ Tăng thu nhập bình quân đầu người
Quá trình đô thị hóa có tác động rất mạnh mẽ đến sự tăng trưởng kinh tế, giúp tăng thu nhập bình quân đầu người, mà thu nhập bình quân đầu người lại là
cơ sở nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
+ Tăng chất lượng giáo dục
Do chất lượng cuộc sống và nhu cầu về lực lượng lao động có trình độ chuyên môn ngày càng cao, giáo dục tại đô thị được quan tâm phát triển
Chính sách xã hội hóa giáo dục tại các khu vực đô thị hóa được hưởng ứng tích cực từ các thành phần kinh tế Nhiều trường tư thục, dân lập các cấp hình thành và phát triển, tạo điều kiện đáp ứng số lượng học sinh và nhu cầu xã hội ngày càng tăng
+ Tuổi thọ dân cư cao
Do chất lượng cuộc sống tăng lên nhờ sự phát triển kinh tế – xã hội, điều kiện sống của người dân ngày càng nâng cao Các hoạt động vui chơi, giải trí, các câu lạc bộ rèn luyện thể lực và các cơ sở y tế nâng cao chất lượng, giúp cho người dân có tuổi thọ ngày càng cao hơn
Tác động đến môi trường tự nhiên
Do ý thức cải tạo và bảo vệ môi trường của người dân được nâng cao, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống người dân cải thiện, hoạt động của Sở vệ sinh – môi trường ngày càng hiệu quả… giúp môi trường sống của người dân đô thị được cải thiện đáng kể, đặc biệt tại các khu dân cư mới Bên cạnh đó, quá trình qui hoạch đô thị cũng khiến cảnh quan tự nhiên thay đổi: hệ thống cây xanh, ao hồ… được điều chỉnh hợp lí, làm tăng vẻ mĩ quan đô thị
Trang 262.1.4.2 Tác động tiêu cực
Đô thị hóa nếu không xuất phát từ công nghiệp hoá, không phù hợp, cân đối với quá trình công nghiệp hoá thì việc chuyển cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố sẽ làm cho nông thôn mất đi một phần lớn nhân lực Trong khi đó nạn thiếu việc làm, nghèo nàn ở thành phố ngày càng phát triển, điều kiện sinh hoạt ngày càng thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến hiện tượng tiêu cực trong trong đời sống kinh tế - xã hội
Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có, thông thường quá trình này không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thường thấp hơn nông thôn Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị như là sự nhập cư đến đô thị Đô thị hoá có tác động không nhỏ đến sinh thái và kinh tế khu vực Đô thị hoá sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô thị hoá, tâm lý và lối sống của người dân thay đổi Sự gia tăng quá mức của không gian
đô đô thị so với thông thường gọi là “sự bành trướng đô thị”, thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị Những người chống đối xu thế đô thị hoá cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật và có tác động xấu đến sự phân hoá xã hội do cư dân ngoại ô sẽ không quan tâm các khó khăn của khu vực trong đô thị
Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã dẫn đến tình trạng di dân từ nông thôn lên thành thị Sự chênh lệch này còn thể hiện ở chất lượng giáo dục, cơ hội nâng cao thu nhập gia đình, chất lượng các phúc lợi xã hội và các dịch vụ công cộng khác giữa vùng nông thôn và thành thị
Sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã dẫn đến mức độ đô thị hoá nhanh chóng, dẫn theo quy mô và vị trí của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế bị giảm dần Do không chú trọng đúng mức đến phát triển nông nghiệp, khu vực nông thôn đã gặp phải các vấn đề như ô nhiễm môi trường sinh thái do chất thải công nghiệp và phân hoá học, năng xuất nông nghiệp thấp do đất đai bị ô nhiễm, mức sống của nông dân không được nâng cao Chính sách
cơ giới hoá nông nghiệp đã khiến nông dân lâm vào cảnh nợ nần do gánh nặng
về vốn nông nghiệp, chi phí thuê lao động do thiếu nhân công ở vùng nông thôn, cùng các chi phí sinh hoạt
Trang 27Ngoài ra, đô thị hoá còn làm nảy sinh sự phân hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn Mặc ở hầu hết các quốc gia đã cố gắng thực hiện công bằng xã hội trong tăng trưởng kinh tế, nhưng hiện tượng phân hoá xã hội ngày càng tăng đã trở thành nguy cơ lớn, đòi hỏi phải giải quyết kịp thời và nhất quán
Nhiều thành phố không phát huy tác dụng trong quá trình đô thị hóa
Bất kỳ tỉnh hay vùng nào cũng quy hoạch, vay tiền để xây dựng các đô thị mới với kỳ vọng các thành phố này trở thành đòn bẩy kinh tế của mình Nhưng thực tế là không phải thành phố nào cũng thu hút được đầu tư Do đó đã xảy ra tình trạng mà các chuyên gia gọi là “thành phố bong bóng” (bubble cities) Nhiều thành phố không tăng dân số mà chững lại và bị giảm dần khi không còn có khả năng phát triển
Qua đây cho thấy, đô thị hoá cũng có mặt tốt và mặt không tốt Nó có thể góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của một vùng hoặc một quốc gia phát triển nhưng nó cũng có thể phá vỡ cấu trúc phát triển của các quốc gia Vì vậy, khi quy hoạch đô thị cần có một kế hoạch cụ thể và thống nhất về quy mô, không gian, cấu trúc
2.1.5 Quá trình đô thị hóa diễn ra ở trên thế giới và những bài học kinh nghiệm được rút ra
Quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Theo tính toán của Liên hợp quốc đến giữa năm 1990 dân
số đô thị thế giới đã đạt đến mức 43% tức 2,3 tỷ người Tỷ lệ này đã tăng nhanh gấp 2,5 lần dân số nông thôn Năm 2005 có khoảng 50% dân số thế giới sống ở
đô thị Ước đến năm 2025 có khoảng 60% dân số thế giới sống ở đô thị
Ở các nước đang phát triển năm 1970, dân số đô thị chiếm 25%; năm
1990 lên tới 34%; năm 2015 là 50%; và lên tới 57% vào năm 2025 Như vậy tốc
độ tăng dân số đô thị ở các nước đang phát triển khá cao với bình quân/năm là 3,8%, trong khi dân số nông thôn là 1,2%/năm
Sự phát triển mạnh mẽ của đô thị hoá đã đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết: Phát triển kinh tế đô thị, giải quyết việc làm cho người lao động, môi trường Thực tiễn phát triển đô thị của các quốc gia trên thế giới nhất là các quốc gia trong khu vực đã có nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra trong việc giải quyết các vấn đề trên, đặc biệt là kinh nghiệm quý báu trong giải quyết việc làm cho người lao động nói chung, lao động nông nghiệp nói riêng Đây thực sự
Trang 28là những bài học hữu ích đối với vấn đề đô thị hoá và giải quyết việc làm cho lao động nói chung và lao động nông nghiệp nói riêng ở Việt Nam và các nước đang phát triển Để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông nghiệp, các quốc gia đang phát triển tập trung vào các vấn đề sau:
a) Làm tốt công tác quy hoạch đô thị, gắn quy hoạch phát triển đô thị với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, quy hoạch không gian liên quan đến sự phát triển trong toàn bộ lãnh thổ liên bang, các bang và các vùng Với mục tiêu: Đảm bảo sự thống nhất về điều kiện sống trong cả nước, tránh sự giãn cách quá xa giữa các bang, vùng miền Quy hoạch không gian là công việc được nhà nước trực tiếp tiến hành vì nó mang tính liên ngành, liên địa phương Nhà nước ban hành “khung” bao gồm các quy định về nội dung và thủ tục; các bang sẽ tự chịu trách nhiệm cụ thể hoá “khung” ở bang mình để thực hiện phát triển kinh tế ở bang mình, thành phố hay thị trấn của mình Quy hoạch phát triển các ngành do
Bộ trưởng chủ quản chịu trách nhiệm thi hành
Các vấn đề Quy hoạch sử dụng mặt bằng, quy hoạch các cụm dân cư, các địa bàn trung tâm, các trọng tâm phát triển giải quyết tốt công ăn việc làm cho những người lao động được gắn chặt chẽ với nhau Các công việc này được cơ quan chức năng xây dựng, người dân được quyền xem đồ án dự thảo, được quyền góp ý về đồ án quy hoạch và phát triển đô thị; Hội đồng địa phương thông qua
Có thể nói: Mục tiêu quy hoạch ở đây là để phát triển, trước tiên là phát triển kinh tế, nhằm xoá bỏ sự cách biệt giàu nghèo giữa các bang, vùng, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động Với mục tiêu phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động ở các đô thị, chính quyền liên bang, các bang
đã thực hiện một loạt đồng bộ các giải pháp: từ giúp đỡ hình thành các doanh nghiệp mới, chuẩn bị mặt bằng, cơ sở hạ tầng khuyến khích và đổi mới công nghệ, đổi mới việc thực hiện chính sách tài chính ưu đãi: miễn giảm thuế, tín dụng, ưu đãi, Thành phố Nordhorn và Lingen là các thành phố đi đầu trong lĩnh vực này
b) Thu hút đầu tư nước ngoài, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong nước
Phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp tạo nhiều việc làm cho người lao động Tạo việc làm cho người lao động luôn là chính sách ưu tiên số
Trang 29một và là chiến lược hàng đầu trong kế hoạch 5 năm của các quốc gia (Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan, ) trong quá trình đô thị hoá
Các quốc gia đang phát triển (đặc biệt các nước trong khu vực) phần lớn đều là các nước nghèo, có tài nguyên, có nguồn nhân lực đồi dào (trình độ thấp), muốn phát triển đô thị, CNH – HĐH đất nước rất cần phải có vốn Vốn cho đô thị hoá, CNH, HĐH có được từ hai nguồn: trước tiên phải huy động tối đa nguồn vốn trong nước thông qua việc kêu gọi dân chúng phát huy tinh thần tiết kiệm, giảm tỷ lệ cất trữ, tăng vốn đầu tư sản xuất, phát triển ngành nghề Thứ hai: kêu gọi đầu tư nước ngoài (vốn, công nghệ, chất xám, ) thông qua việc thực hiện chính xác ưu đãi cho người đầu tư: miễn giảm thuế, chính sách tự do luân chuyển
tư bản, đơn giản hoá, gọn nhẹ trong việc cấp phép, thủ tục hành chính,
Nhờ thành công nhờ chính sách này đã giúp Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, vượt qua khó khăn, thực hiện thành công CNH, HĐH nền kinh tế và trở thành các “con rồng” châu Á
Tuy nhiên, ở mỗi thời kỳ Chính phủ các nước này lại có chính sách tập trung vào một số đối tượng
Trước năm 1990, Hàn Quốc có mục tiêu phát triển mạnh các ngành cần nhiều lao động, lao động không có kỹ năng hoặc kỹ năng thấp Sau năm 1990 trở
đi Hàn Quốc đẩy mạnh CNH, HĐH, đầu tư đổi mới công nghệ, biến đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, tăng năng xuất lao động Chương trình này của Hàn Quốc được chính phủ đặt trong mối quan hệ đồng bộ với các biện pháp khác: Thực hiện chương trình trợ cấp thất nghiệp, mở rộng các chương trình đào tạo, đào tạo lại kỹ năng cho người lao động, áp dụng các chương trình đảm bảo việc làm, tăng hiệu quả của thị trường lao động
Để tạo nhiều việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hoá, các nước trong khu vực thường tập trung phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp: khai thác mỏ, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, công nghiệp chế tạo, phát triển mạnh các ngành thuộc khu vực kinh tế phi chính thức (khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động sản xuất quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ), các hoạt động không đăng ký hoặc trốn tránh pháp luật, các hoạt động chưa được pháp luật quy định, do đó không chịu sự kiểm soát, điều tiết của nhà nước Ở thành phố ngành nghề đa dạng, đặc biệt trong lĩnh vực ăn uống, dịch vụ và các ngành nghề truyền
Trang 30thống Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng xuất khẩu Sử dụng công nghệ thu hút nhiều lao động (Trần Thị Thu, 2002).
Ở Hàn Quốc 96,9% người lao động có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp thiếu việc làm thấp: 3-4% Thái Lan là một quốc gia đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng khá cao 5-6% bình quân năm và cũng là một quốc gia có thành tích cao trong khu vực về giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Thành tích đó
có được nhờ chính sách gắn kết giữa đô thị hoá, tăng trưởng và phát triển kinh tế, với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề Trong đó các biện pháp tăng trưởng nhanh xuất khẩu hàng công nghiệp, hàng tiểu thủ công nghiệp, tạo thị trường xuất khẩu quốc tế nhằm nhanh chóng phát triển nền kinh tế, tạo nhiều việc làm, thu hút người lao động Lựa chọn và áp dụng công nghệ phù hợp với điều kiện một nước kinh tế đang phát triển có nguồn lao động dồi dào, đó là công nghệ sử dụng nhiều lao động: công nghệ hàng dệt may, Phát triển khu vực kinh tế phi chính thức ở thành phố là các biện pháp cơ bản, quan trọng nhằm tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động Thái Lan mà chính phủ quan tâm
c) Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ người lao động theo yêu cầu mới của sự phát triển các ngành
Đô thị hoá là xu thế của thời đại, đô thị hoá luôn gắn với quá trình CNH, HĐH, thực chất là cuộc đại cách mạng trong các quốc gia nông nghiệp, phá vỡ lực lượng sản xuất cũ, quan hệ sản xuất cũ; đặt ra các yêu cầu mới cho sự phát triển Các ngành nghề mới ra đời, ngay cả bản thân ngành nông nghiệp cũng không thể như cũ được, đặc biệt trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ, thời đại của liên kết, hội nhập quốc tế, Nhận thức được điều này, Chính phủ các nước (đặc biệt các nước đang phát triển) rất chú trọng tới việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ người lao động
- Ở Hàn Quốc, sau năm 1990, quá trình đô thị hoá CNH, HĐH diễn ra mạnh mẽ, các chủ doanh nghiệp thực hiện quá trình đổi mới cơ cấu ngành, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tăng năng xuất lao động và chất lượng sản phẩm, Chính phủ mở rộng các chương trình đào tạo, đào tạo lại
kỹ năng của người lao động
- Ở Philippin: Khác với Thái Lan và Hàn Quốc, Philippin có tỷ lệ tăng dân
số hàng năm khá cao do sự thống soái của phe phái nhà thờ Tỷ lệ thất nghiệp và
Trang 31thiếu việc làm hàng năm rất cao Sự tụt hậu nền kinh tế do những sai lầm trong quản lý, tham nhũng, bất ổn về chính trị đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh tế, gia tăng việc làm và nâng cao mức sống người lao động Định hướng phát triển nguồn nhân lực của Philippin là Chính phủ rất quan tâm tới hệ thống thông tin nguồn nhân lực như sức khoẻ, dinh dưỡng, giáo dục mức sinh, sử dụng nguồn nhân lực và tạo việc làm cho người lao động( Trần Thị Thu, 2002).Chiến lược quan trọng được áp dụng ở Philippin vào cuối những năm
1980 – 1990 là: khuyến khích tự tạo việc làm thông qua các chương trình giáo dục và đào tạo, định hướng phát triển nông thôn, nông nghiệp; giáo dục kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng, cung cấp những hiểu biết về kinh doanh và quản lý trong giáo cao đẳng và giáo dục phổ thông trung học Nhờ vậy đã giúp một số lượng lớn người lao động từ làm thuê vươn lên làm chủ doanh nghiệp, thu hút được nhiều lao động, tạo nhiều chỗ làm mới, góp phần làm giảm sức ép về lao động và việc làm cho xã hội
- Ở Bănglađet: để tạo việc làm cho người lao động trong điều kiện mới, Chính phủ đã thực hiện chương trình nâng cao chất lượng đội ngũ người lao động, bắt đầu từ việc giới thiệu, hướng dẫn áp dụng các công nghệ mới trong gây giống phục vụ trồng trọt, phân hóa học, xây dựng các công trình tưới tiêu phục
vụ sản xuất đặc biệt là gieo trồng lúa
Chính phủ cho phép thành lập các trung tâm nguồn việc làm, cung cấp các thông tin về tín dụng, thị trường, kiến thức cần thiết về công nghệ mới Bên cạnh thực hiện chính sách mở rộng giáo dục, đào tạo kỹ năng cho người lao động, khuyến khích người lao động tự tạo việc làm tăng thu nhập
d) Giảm tỷ lệ phát triển dân số nông nghiệp, nông thôn
Chính sách dân số luôn được các Chính phủ ở các nước trong khu vực quan tâm Các nước trong khu vực phần lớn đều có xuất phát điểm là những nước nông nghiệp, vốn dĩ là những nước nghèo, trình độ người lao động thấp, sản xuất kém phát triển, tốc độ tăng dân số cao, sức ép về lao động và việc làm rất lớn Vấn đề việc làm – thu nhập ổn định và nâng cao đời sống người lao động luôn là bài toán khó đối với các nhà quản lý và Chính phủ các nước
Đã có một thời gian khá dài lao động dồi dào là một lợi thế của các nước đang phát triển nhưng ngày nay lợi thế này đang ngày càng mất dần đi bởi xu thế
Trang 32phát triển của nhân loại Khoa học – công nghệ diễn ra như vũ bão, sự phát triển của nền kinh tế tri thức, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đòi hỏi đội ngũ người lao động phải có trình độ chuyên môn cao, sức khoẻ tốt, có ý thức tác phong công nghiệp hoá Cơ hội tìm kiếm việc làm của người lao động có tay nghề thấp và những người lao động thủ công trong điều kiện ngày nay là rất khó khăn, do vậy sức ép về lao động và việc làm ngày càng căng thẳng hơn
Để giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, bên cạnh những biện pháp khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất, đào tạo, đào tạo lại đội ngũ người lao động, Chính sách giảm tỷ lệ phát triển dân số, đặc biệt dân số nông nghiệp, nông thôn được coi là giải pháp quan trọng trước mắt, đồng thời đây cũng là chính sách cơ bản, lâu dài Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippin, là các quốc gia đạt được nhiều thành công trong lĩnh vực này Ở Hàn Quốc trước năm
1985 tốc độ tăng dân số đạt mức 2,7% bình quân năm và đến năm 2012 còn xuống 0,7%; Thái Lan trước năm 1985, tốc độ tăng dân số là 2-3% nhưng đến năm 2012 cũng giảm xuống còn 0,7%/năm, Đây quả là cuộc cách mạng về lĩnh vực dân số Nhờ chính sách kiên định về dân số, kế hoạch hoá gia đình nên vấn
đề việc làm, thất nghiệp, thiếu việc làm luôn được Chính phủ kiểm soát, chủ động giải quyết
e) Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động
Các nước đang phát triển phần lớn là các quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào (chủ yếu là lao động có trình độ thấp, nền kinh tế chưa phát triển), khả năng thu hút người lao động (tạo việc làm mới) chưa cao, ở nhiều nước sức ép về lao động và việc làm lớn Để giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho người lao động, đồng thời giảm áp lực đối với xã hội, nhiều quốc gia đã chọn con đường xuất khẩu lao động ra nước ngoài là biện pháp quan trọng, là chiến lược cơ bản, lâu dài Biện pháp này đem lại nhiều tác dụng cho cả nhà nước, người lao động và xã hội: Nhà nước có nguồn thu, người lao động có việc làm, có thu nhập, giảm sức
ép việc làm cho xã hội,
Lao động được đưa sang các nước có nhiều việc làm, thiếu lao động như Châu Âu, Hàn Quốc, Đài Loan,
Tuy nhiên, trong điều kiện ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghê, yêu cầu người lao động tham gia thị trường xuất khẩu phải được đào tạo và thích nghi với điều kiện mới của lao động ở các nước nhận lao động
Trang 33Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát huy năng lực sáng tạo của người lao động, bảo vệ lợi ích của người lao động trong nước cũng như lao động làm việc ở nước ngoài, Thực thi chính sách dân số, giảm tỷ lệ gia tăng dân số Trợ cấp thất nghiệp cho người lao động thất nghiệp chưa có việc làm, bảo hộ cho sản xuất và người lao động trong nước
Đây là những bài học quý giá cho quá trình đô thị hoá, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cho Việt Nam và những nước đi sau
2.1.6 Quá trình đô thị hóa diễn ra ở Việt Nam
2.1.6.1 Đô thị hoá ở Việt Nam trước năm 1986
Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống đô thị ở Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Với vị trí địa lý khá độc đáo, nằm gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, gồm hai khu vực sớm phát triển của thế giới là Đông Á và Nam Á Từ xa xưa Việt Nam đã được coi là một trung tâm quan trọng, một địa bàn tiềm năng để phát triển kinh tế Đó là các điều kiện thuận lợi để ra đời các tụ điểm kinh tế hoặc các cảng thị trên khắp các vùng trên
cả nước Các đô thị Việt Nam ra đời từ rất sớm
- Trong thời kỳ Pháp thuộc, ngay từ những ngày đầu xâm lược nước ta để thực hiện mục đích chiếm đóng lâu dài, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách
“chia để trị” Với việc phân chia vùng lãnh thổ thành các tỉnh, huyện với quy mô nhỏ, đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự tăng nhanh về số lượng các đô thị trong thời kỳ này Một mạng lưới đô thị hành chính cùng với các hệ thống các điểm dịch đồn trú được hình thành trên các vùng lãnh thổ trong cả nước Các ngành công nghiệp: khai khoáng, khai thác và chế biến nông lâm sản, công nghiệp dệt, may, được chú trọng phát triển Do nền kinh tế kém phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế đô thị hết sức nghèo nàn, lạc hậu, các đô thị thực hiện
Trang 34chức năng hành chính là chủ yếu Vì vậy quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức chậm chạp, mãi tới giữa thế kỷ XX tỷ lệ dân cư đô thị mới chỉ chiếm 4 – 7% dân
số Phần lớn các đô thị Việt Nam đều có quy mô nhỏ, chỉ có một số đô thị có quy
mô trung bình: Hà Nội, Sài Gòn – Gia Định, Hải Phòng
Trong giai đoạn này có sự tách biệt rõ nét giữa các đô thị với các vùng nông thôn xung quanh Một hệ thống luật lệ về quản lý đô thị của Pháp được áp đặt, lối sống đô thị theo kiểu phương Tây được du nhập, sự khác biệt giữa mức sống của dân đô thị với các vùng nông thôn khá lớn
- Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Đất nước bị chia cắt làm 2 miền
Ở miền Nam, cùng với việc gia tăng các hoạt động quân sự Mỹ đã đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đặc biệt là kinh tế tại các đô thị Quá trình đô thị hoá được đẩy mạnh, đặc biệt là sự hình thành và phát triển của hệ thống các đô thị quân sự: Cam Ranh, Trà Nóc, Đắc Tô, Xuân Lộc, Chu Lai, Vị Thanh, Phù Cát, Phú Bài, A Lưới, Thượng Đức, Dân cư và các vùng nông thôn đổ dồn về các
đô thị, tỷ lệ dân cư đô thị tăng lên nhanh chóng: năm 1950: 10%, năm 1965: 30%, năm 1975 đã chiếm 45% dân số miền Nam
Ở miền Bắc, sau khi hoà bình lặp lại (1954), hệ thống đô thị vốn đã lạc hậu, nhỏ bé, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề sớm được khôi phục và phát triển Quá trình đô thị hoá được đẩy mạnh, trên cơ sở tốc độ phát triển của nền kinh tế khá cao, đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp – hình thành hệ thống các đô thị công nghiệp: Thái Nguyên, Việt Trì, Sông Công, Lâm Thao, Uông Bí - Phả Lại, Tĩnh Túc, Cam Đường, Thác Bà
- Sau năm 1975 đến 1985, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành, hoà bình được lặp lại, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, đây là những thuận lợi
cơ bản để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá Song những hậu quả nặng nề của chiến tranh cùng những hạn chế của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ, quan liêu bao cấp, tốc độ phát triển của nền kinh tế, tốc độ
đô thị hoá trong thời kỳ này diễn ra hết sức chậm chạp, kém hiệu quả
2.1.6.2 Đô thị hoá ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
Công cuộc đổi mới một cách toàn diện nền kinh tế đã được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Chính phủ Công cuộc đổi mới đã mang lại sự khởi sắc
Trang 35cho nền kinh tế Tuy nhiên những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nền kinh tế gặp không ít khó khăn, hàng loạt các ngành kinh tế chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ, thậm chí tình trạng lạm phát còn ở mức cao (vào các năm 1985 – 1988, tốc độ tăng giá đạt tới mức kỷ lục, năm 1986 giá tăng 8,8 lần, năm 1988 giá tăng 127 lần so với năm 1985) (Phạm Văn Nhật, 2003).
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã khẳng định quyết tâm
và tính đúng đắn của công cuộc đổi mới, những thiếu sót phát sinh từ công cuộc đổi mới dần được khắc phục, nền kinh tế dân đi vào ổn định và bắt đầu phát triển với tốc độ tăng trưởng cao Thời kỳ 1986 – 1990 tốc độ tăng trưởng bình quân 3,9%/năm; thời kỳ 1991 – 1995 bình quân đạt 8,2%/năm; thời kỳ 1996 – 2000 bình quân đạt 6,7%/năm; thời kỳ 2001 – 2004 bình quân đạt gần 7%/năm Đặc biệt tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp rất cao 13%/năm Các ngành dịch vụ phát triển và ngày càng đa dạng, đặc biệt là sự phát triển rất nhanh của các ngành giao thông vận tải, du lịch, tài chính ngân hàng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của dân cư Các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng được phát triển mạnh mẽ trên một số lĩnh vực: sản xuất lương thực, từ một quốc gia thường xuyên phải nhập lương thực thì nay trở thành một cường quốc xuất khẩu lương thực Ngày nay cả nước đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đai hoá phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành CNH – HĐH trên phạm vi cả nước Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, hệ thống
đô thị đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, trở thành các
“trung tâm”, hoặc các “đầu tầu” của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng vùng, từng miền của đất nước
Hệ thống đô thị ngày nay ở Việt Nam được hình thành và phát triển trên nền tảng hệ thống đô thị được hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử, gắn liền với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị và xã hội, hợp thành một cấu trúc không gian tuyến - điểm, từ Bắc xuống Nam, dọc theo bờ biển Đông (Thái Bình Dương) và từ Tây sang Đông dọc theo lưu vực các cong sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Cửu Long nguồn gốc tạo nên những đồng bằng lớn, đất đai phì nhiêu, màu mỡ, nguồn nước dồi dào, đi lại thuận tiện,
Hiện nay cả nước có 752 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ, thành phố Đà Nẵng
và thành phố Hải Phòng; 83 thành phố, thị xã thuộc tỉnh và 595 xã
Trang 36Về phát triển đô thị: Trong những năm qua do tác động của nền kinh tế thị
trường và các chính sách mở cửa, chính sách mới về nhà đất và sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với công tác quy hoạch, đầu tư cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng, Các đô thị nước ta đã phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, Các đô thị đảm nhiệm được vai trò là trung tâm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các các ngành nghề mới, trung tâm phát triển và chuyển giao công nghệ trong vùng, trung tâm giao lưu thương mại trong nước và ngoài nước, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế đối ngoại; trung tâm dịch vụ, phát triển văn hoá – giáo dục, nâng cao dân trí, phát triển nguồn lực, giữ vai trò quan trọng trong tăng thu ngân sách cho Nhà nước, đi đầu trong việc đảm bảo an ninh quốc phòng
Công tác quản lý đô thị: Trong những năm qua công tác quản lý đã có
nhiều chuyển biến: Nhận thức đô thị và quản lý đô thị trong nền kinh tế thị trường đã được nâng cao, nhiều văn bản pháp luật về quản lý đô thị thuộc nhiều lĩnh vực đã được ban hành tương đối đồng bộ Các thành phố, thị xã và một số thị trấn đã có quy hoạch chung, nhiều quy hoạch chi tiết được duyệt Nội dung và phương pháp lập quy hoạch xây dựng đô thị bước đầu được đổi mới Việc phát triển đô thị từ hình thức chia lô manh mún, riêng lẻ, tự phát đang được chuyển dần sang hình thức xây dựng tập trung, theo dự án, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực vào mục đích phát triển đô thị Lập lại kỷ cương, trật tự trong quản lý
đô thị, những tồn tại lịch sử về nhà đất trong đô thị đang được giải quyết, giá trị
đô thị bước đầu được khai thác và sử dụng tạo nguồn lực phát triển đô thị
Về dân số đô thị: Năm 1995 có gần 15 triệu người sống ở các đô thị,
chiếm 20,75% dân số cả nước đạt tốc độ tăng 3,55%/năm; năm 2000 có 18,77 triệu người, chiếm 24,18% dân số cả nước, tốc độ tăng 3,82%/năm; năm 2003 có gần 21 triệu người chiếm 25,8% dân số cả nước, tốc độ tăng 4,23% Đến năm số dân đô thị 22,3 triệu người (tăng 49,6%) Tỷ lệ tăng dân số đô thị trung bình hàng năm từ 2-3,4%
Tuy nhiên dân số đô thị nước ta tăng còn chậm và mang tính không đều rất rõ nét
Quá trình đô thị hoá diễn ra ở một số địa phương với tốc độ cao: Hà Nội (tốc độ tăng dân số đô thị 2013 so với 2010 đạt 115,6%), Hưng Yên cũng chỉ đạt 113%, Hà Nam đạt 114%) Thái Bình đạt 111,5%, Lào Cai đạt 111,5%, Hoà Bình đạt 111,7%, thành phố Hồ Chí Minh đạt 110,8%, Bình Phước, Tây Ninh đều đạt
Trang 37trên 115% Riêng Cần Thơ đạt tốc độ kỷ lục 127,3% còn lại đa phần phát triển rất chậm chạp Các đô thị Việt Nam gắn liền với các khu công nghiệp, khu du lịch, vui chơi và giải trí Qua nghiên cứu có nhiều nguyên nhân dẫn đến các đô thị có tốc độ tăng dân cư đô thị cao nhưng nguyên nhân chủ yếu ở các đô thị này
là các khu công nghiệp, khu chế xuất và du lịch phát triển mạnh, nguyên nhân thứ 2 là các đô thị được nâng cấp từ loại 3 lên loại 2 hay từ loại 2 lên loại 1, + Đất đô thị: Đất đô thị ở nước ta chiếm tỷ lệ thấp Hiện nay đất đô thị ở nước ta có 243.200 ha chiếm 0,74% tổng diện tích cả nước, trong đó có 90.400 lấy từ đất nông nghiệp Bình quân diện tích đất 80 m2/người Dự kiến đến năm
2020 đất đô thị sẽ là 460.000 ha, chiếm 1,4% diện tích đất bình quân của cả nước, bình quân 100 m2/ người
Tuy nhiên quá trình phát triển đô thị ở nước ta vẫn còn nhiều yếu kém: đại
đa số các đô thị rơi vào tình trạng lạc hậu do hệ quả của những năm chiến tranh tàn phá, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở mức thấp, nền kinh tế kém hiệu quả bị tác động của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trong nhiều năm, thêm vào đó là một số quyết định nóng vội trong chính sách phát triển đô thị, đặc biệt là sự tác động của nền kinh tế thị trường ở giai đoạn đầu đã để lại những mâu thuẫn khá gay gắt được thể hiện trên những mặt sau:
+ Cơ sở kinh tế - kỹ thuật động lực phát triển đô thị còn yếu, tăng trưởng kinh tế chưa cân đối với tăng trưởng về dân số
Trong thời gian qua tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt 13-15%, mỗi năm giải quyết việc làm cho một triệu lao động Tuy nhiên hai ngành dịch vụ và công nghiệp là động lực phát triển đô thị quan trọng nhất mới chỉ thu hút 27,7% tổng số lao động xã hội Cả nước vẫn trong thời kỳ dân số phát triển, tỷ lệ tăng tự nhiên vẫn còn khá cao (bình quân hàng năm vẫn ở mức 1,2%), tăng dân số cơ học và di dân tự do tại các đô thị ngày càng lớn, yếu tố hạ tầng tại các đô thị đều
bị quá tải Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động chưa có việc làm tại các đô thị vẫn còn cao Đặc biệt ở một số đô thị lớn: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh luôn có mức thất nghiệp trên 7% Số người sống lang thang, cơ nhỡ, vô gia cư đang là một trong những vấn đề xã hội bức xúc, nhất là trong các đô thị lớn ở nước ta + Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị đang là một nguy cơ lớn đối với vấn đề an toàn lương thực, thực phẩm và việc làm cho người lao động nông nghiệp
Trang 38Mật độ dân số trung bình cả nước: 200 người/km2 được phân thành 4 vùng: Vùng có mật độ dân cư rất cao trên 500 người/km2, trong đó số khu vực có mật độ dân cư trên 1000 người/km2 là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Thái Bình; vùng
có mật độ dân số cao từ 200 – 500 người/km2: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Nai; vùng có mật độ dân số trung bình và vùng có mật độ dân số thấp dưới 100 người/km2 là vùng núi, trung du và Tây Nguyên
Hiện nay, trên 70% đô thị và dân số đô thị ở các vùng đồng bằng, ven biển nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông nghiệp của cả nước
Đáng chú ý hơn cả là phần lớn đất sử dụng vào mục đích đất xây dựng đô thị và chuyên dùng đều là đất rất tốt cho sản xuất nông nghiệp Nếu giữ nguyên tình trạng phân bổ dân cư hiện nay thì quỹ đất nông nghiệp sẽ giảm đi trung bình mỗi năm 10.000 ha Đây là nguy cơ lớn đối với vấn đề việc làm cho hàng chục vạn người lao động nông nghiệp mất đất do đô thị hoá; vấn đề an toàn lương thực
và thực phẩm hiện nay và trong tương lai
+ Cơ cấu không gian và hệ thống phân bố dân cư trên địa bàn cả nước mất cân đối, sự tách biệt giữa đô thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và kém phát triển còn lớn Hình thái phân bố dân cư kiểu đô thị - nông thôn vẫn đang phổ cập, trong đó 67,55% dân số sống ở nông thôn và 32,45% số dân sống ở đô thị; giữa
đô thị và nông thôn gần như đối lập nhau do thiếu hệ thống giao thông liên lạc và các điều kiện gắn kết các mối quan hệ tương hỗ về kinh tế, xã hội, văn hoá, dịch
vụ và nghỉ ngơi giải trí Các vùng chậm phát triển và chưa phát triển vẫn chiếm
tỷ lệ cao trên khoảng 80% diện tích tự nhiên cả nước, trong khi chỉ có 18% diện tích còn lại là vùng phát triển
Thế cân bằng chiến lược giữa ba vùng Bắc – Trung – Nam chưa được hình thành Khu vực miền Trung vẫn chưa có các trung tâm kinh tế lớn, đối trọng với các vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc và miền Nam Hệ thống đô thị, các trung tâm kinh tế vẫn chưa hình thành đều khắp trong các vùng Gần 50% dân số
đô thị tập trung vào hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Vùng trung du, miền núi và hải đảo còn thiếu các đô thị, trung tâm kinh tế là cực tăng trưởng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của vùng
Các đô thị lớn có sức hút mạnh đang tạo ra sự tập trung dân cư, công nghiệp quá tải, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu điều hoà quá trình tăng trưởng
đó, trong khi các đô thị nhỏ vừa kém hấp dẫn, không đủ khả năng đảm nhiệm vị
Trang 39trí và vai trò trung tâm của mình trong mạng lưới đô thị quốc gia
+ Cơ sở hạ tầng đô thị nhìn chung còn yếu kém, không đảm bảo các tiêu chuẩn phát triển đô thị trong điều kiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá
+ Quá trình đô thị hoá trên từng vùng lãnh thổ và cả nước đang đặt ra những nhiệm vụ khẩn thiết đối với công tác bảo vệ môi trường Ở nước ta, tài nguyên thiên nhiên sử dụng không hợp lý, thiếu kế hoạch, quỹ rừng bị suy giảm nghiêm trọng, nhất là rừng phòng hộ và rừng đầu nguồn, thiên tai xảy ra liên miên
Tại các vùng đô thị hoá nhanh, bộ khung bảo vệ thiên nhiên là những vành đai xanh: hệ thống công viên, vườn hoa, hồ chứa nước chưa được quy hoạch và
có biện pháp bảo vệ tốt Chỉ tiêu đất để trong cây xanh quá thấp, trung bình mới chỉ đạt 0,5÷ 1,0 m2/người Tình trạng ô nhiễm đất, nước và không khí ở một số khu công nghiệp và đô thị đang ở mức báo động
+ Quản lý đô thị nhìn chung vẫn chưa tốt, chưa làm chủ được tình hình phát triền đô thị Nhận thức quan niệm về quản lý nhà nước về đô thị chưa được đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị Tình trạng đô thị phát triển lộn xộn, dọc các trục quốc lộ, không theo quy hoạch còn khá phổ biến, chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu và kịp thời Quy hoạch chi tiết đô thị còn nhiều yếu kém Các chính sách, biện pháp cơ chế tạo vốn và tạo điều kiện phát huy sức mạnh của cộng đồng vào mục đích xây dựng đô thị còn thiếu Các thủ tục hành chính trong giao đất, cấp phép xây dựng và thẩm định các dự án đầu tư còn nhiều phiền hà; phân công, phân cấp trong quản lý đô thị còn chồng chéo, năng lực của chính quyền đô thị còn kém; các tồn tại lịch sử trong quản lý nhà và đất đô thị chậm được giải quyết đang là trở ngại lớn cho việc thiết lập lại trật tự kỷ cương
và tạo nguồn lực phát triển đô thị
2.2 NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM
2.2.1 Đất đai và vai trò của đất đai với đô thị hóa
Có thể nói, đất đai là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm Ở các đô thị, hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh sống của dân cư đều gắn liền với đất đai trong giới hạn của không gian đô thị Đất đai đô thị được coi là nền tảng phát triển đô thị Nó được hình thành từ sự chuyển đổi mục đích sử dụng của các loại đất khác,
Trang 40mà chủ yếu là đất nông nghiệp Chính bởi vậy, quản lý nhà nước đối với sử dụng đất đô thị mang tính đặc thù, được xuất phát từ tính chất đặc thù trong các hoạt động của đô thị ( Phạm Đức Hòa, 2013).
* Khái niệm về đất đô thị
Đất đô thị bao gồm mặt đất, mặt nước và khoảng không gian nhất định bên trên và bên dưới nó trong khu vực đô thị Nhìn từ không gian địa lý kinh tế, thì đất đô thị có nguồn gốc từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng Đất đô thị là một phần của đất đai quốc gia được phát triển gắn liền với quá trình đô thị hóa Quá trình chuyển đổi hoạt động kinh tế và dân số từ vùng nông thôn vào vùng thành thị làm cho đất đô thị từ chỗ không khác mấy với đất nông nghiệp, dần phát triển về diện tích và tách khỏi nhóm đất này để mang những đặc tính khác biệt gắn với hoạt động kinh tế và đời sống dân cư phi nông nghiệp Mức độ đô thị hóa càng gia tăng, thì các sự khác biệt càng đậm nét và hình thành tính chất đặc trưng đất đô thị
Đất đô thị phát triển là dựa chủ yếu vào đất nông nghiệp và còn tiếp tục chiếm đất nông nghiệp Do kinh tế đô thị phát triển, nhân khẩu tập trung đông, quy mô đô thị phải mở rộng ra vùng nông nghiệp phụ cận làm cho đất nông nghiệp suy giảm Về kinh tế, đô thị mở rộng làm cho giá đất xung quanh đô thị tăng cao, buộc phải khai thác chiều sâu và chiều cao xây dựng công trình, nhưng hạn chế về điều kiện kỹ thuật và năng lực đầu tư cũng làm cho diện tích đất đô thị buộc phải mở rộng ra các vùng đất nông nghiệp xung quanh ( Phạm Đức Hòa, 2013)
* Vai trò của đất đai trong quá trình đô thị hoá
Có thể nói Đất đô thị là một nguồn lực phát triển kinh tế, phát triển đô thị Đất đô thị có tính đa dạng về mục đích sử dụng do hệ thống kinh tế đô thị phức tạp và đa dạng, xã hội hóa cao độ, chuyên môn hóa triệt để, các ngành hoạt động được bố trí vào các khu vực có chức năng khác nhau, có mối liên hệ chặt chẽ trong nội bộ của đô thị Tính đa dạng về mục đích sử dụng và giá thành cao khi phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nên buộc phải tiến hành quy hoạch sử dụng đất một cách cẩn trọng, phải xem đất đô thị là một không gian thống nhất cần được thâm dụng để đạt hiệu quả cao, toàn bộ đất đô thị phải được xây dựng hạ tầng thống nhất theo chủ trương và quy hoạch thống nhất Vị