1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG --- HÀ VĂN ĐỊNH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG ĐỂ SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - TRƯỜNG HỢP ĐẤT LÚA NƯỚC C
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
HÀ VĂN ĐỊNH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG ĐỂ SỬ DỤNG KHÔN KHÉO ĐẤT NGẬP NƯỚC TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU -
TRƯỜNG HỢP ĐẤT LÚA NƯỚC CỦA
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
MÃ SỐ: CHUYÊN NGÀNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, 2017
Trang 2Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHQGHN
- Viện Tài nguyên và Môi trường.
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy những hệ thống quản lý tập trung hóa hay phương thức quản lý theo hướng áp đặt từ trên xuống chưa sát thực tế tỏ ra không đem lại hiệu quả đối với việc quản lý tài nguyên ven biển theo cách bền vững [Lê Diên Dực, 2000; Trần Thị Út và cs., 2014] Trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) thì cộng đồng có vai trò vô cùng quan trọng, nếu không có
sự tham gia của họ thì quá trình thích ứng sẽ gặp khó khăn, thậm chí thất bại Tầm quan trọng của cộng đồng trong thích ứng với BĐKH
đã khẳng định rõ tại Nghị quyết Trung ương 24-NQ/TW ngày
3/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương đảng về “Chủ động ứng
phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” [BCHTW, 2013] và Chiến lược Quốc gia về BĐKH
[Thủ tướng Chính phủ, 2011]
Gò Công Đông là một huyện ven biển của tỉnh Tiền Giang thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là khu vực nhạy cảm dễ bị tổn tương do BĐKH và nước biển dâng (NBD) Lúa nước là cây trồng nông nghiệp chủ lực của huyện, đồng thời chịu những tác động khá mạnh mẽ do BĐKH gây nên [Hà Văn Định, 2012]
Việc thực hiện Đề tài Luận án “Dựa vào cộng đồng để sử
dụng khôn khéo đất ngập nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu – trường hợp đất lúa nước của huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang” là cần thiết
Trang 42.2 Mục tiêu cụ thể
(i) Đánh giá thực trạng tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những bất cập trong quản lý sử dụng
(ii) Đánh giá tác động của BĐKH đến đất lúa nước huyện
Gò Công Đông và những vấn đề đặt ra
(iii) Đánh giá được cộng đồng người sản xuất áp dụng tri thức bản địa để sử dụng khôn khéo đất lúa nước và sự tham gia của các cộng đồng liên quan
(iv) Đề xuất các giải pháp phát huy tri thức bản địa sử dụng khôn khéo đất nước thích ứng với BĐKH có sự tham gia của cộng đồng
3 Luận điểm bảo vệ của luận án
(i) BĐKH tác động đến lúa nước gây thu hẹp diện tích canh tác, diện tích gieo trồng lúa
(ii) Cộng đồng có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng các giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với BĐKH
(iii) Sử dụng khôn khéo đất lúa nước là giải pháp sử dụng tri thức bản địa của cộng đồng người sản xuất và sự tham gia của các
Trang 53
bên liên quan nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa, khắc phục được những bất cập trong quản lý sử dụng và có thể biến tác động tiêu cực của BĐKH thành những cơ hội mà không làm thay đổi những tính chất cơ bản của hệ sinh thái
4 Điểm mới của luận án
(i) Trên cơ sở sử dụng cách tiếp cận dựa vào cộng đồng và tiếp cận hệ sinh thái, luận án đã đưa vấn đề cộng đồng vào thích ứng với BĐKH trong sử dụng đất lúa nước tại khu vực ven biển Từ cơ
sở lý luận và thực tiễn đã chứng minh được vai trò quan trọng của cộng đồng trong sử dụng hiệu quả đất lúa nước và thích ứng với BĐKH tại khu vực ven biển
(ii) Đề xuất được các mô hình sử dụng đất lúa nước thích ứng với BĐKH để khẳng định quan điểm BĐKH có thề là cơ hội để thay đổi mô hình sinh kế nông nghiệp trên nền đất lúa nước có hiệu quả hơn so với trồng lúa độc canh
(iii) Đề xuất được các giải pháp áp dụng tri thức bản địa để
sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với tác động tiêu cực của BĐKH có sự đồng thuận, chia sẻ lợi ích giữa các cộng đồng liên quan trên cơ sở thực hiện 9 bước tham gia của cộng đồng vào một dự
án cụ thể và 5 nguyên tắc quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng
(iv) Phát hiện ra được những bất cập của chính sách sử dụng đất lúa trong bối cảnh BĐKH từ đó đưa ra những khuyến nghị điều chỉnh để tạo điều kiện cho việc sử dụng đất lúa được hiệu quả hơn
Trang 64
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
5.1 Ý nghĩa khoa học
(i) Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và khoa học
về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong sử dụng đất lúa nước tại khu vực ven biển
(ii) Luận án sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và khoa học đối với các giảp pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với BĐKH
mà không phụ thuộc nhiều vào việc đầu tư các công trình hạ tầng lớn của nhà nước và việc quá trình điều tiết nguồn nước ở thượng nguồn sông Mê Kông
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
(i) Kết quả nghiên cứu của luận án hy vọng sẽ là cơ sở để các nhà quản lý tỉnh Tiền Giang và huyện Gò Công Đông xem xét, tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược, kế hoạch sử dụng đất lúa nước thích ứng với BĐKH
(ii) Kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý cấp vĩ mô nhằm điều chỉnh lại những điểm bất cập “hay những rào cản” của cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho việc nhân rộng các mô hình sử dụng đất lúa có khả năng biến những bất cập của BĐKH thành những cơ hội để nâng cao hiệu quả sử dụng đất lúa
Trang 75
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận án được chia làm 3 chương: Chương 1 Tổng quan nghiên cứu; Chương 2 Địa điểm, thời gian, nội dung, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu; Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm và cơ sở lý luận
1.1.1 Đất lúa nước
Theo Công ước Ramsar [1971] thì đất lúa nước là một loại hình đất canh tác ngập nước (loại hình thứ 18) Đây là loại hình đất ngập nước (ĐNN) theo mùa hay ngập không thường xuyên
1.1.2 Khái niệm cộng đồng và các vấn đề liên quan
Theo Gene Barrett [2001] thì 4 chuẩn mực có thể vận dụng cho một mô hình cộng đồng: (a) Địa điểm hay lãnh thổ, (b) Quyền lợi hay mối quan tâm, (c) Luật tục hay hương ước, (d) Bản sắc [Lê Diện Dực và Trần Thu Phương, 2004] Trong sử dụng đất lúa nước thích ứng với BĐKH có 5 cộng đồng liên quan: Cộng đồng các nhà
ra quyết định, cộng đồng các nhà doanh nghiệp, cộng đồng các nhà khoa học, cộng đồng các nhà công nghiệp, cộng đồng những người sản xuất lúa
Trang 86
1.1.3 Sử dụng khôn khéo đất ngập nước trồng lúa
Triết lý của công ước Ramsar 1971 là khái niệm “Sử dụng khôn khéo” Sử dụng khôn khéo ĐNN được định nghĩa là “duy trì đặc điểm sinh thái thái của ĐNN qua các tiếp cận hệ sinh thái trong khuôn khổ của phát triển bền vững” [Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012b]
1.1.4 Tri thức bản địa
Theo Nakashima và Bridgewater [2000] thì tri thức bản địa
là đặc trưng cho văn hóa và xã hội Tri thức bản địa tương phản với
hệ thống kiến thức quốc tế Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp [Mathias, 1995], thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng [ADC, 2013]
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
BĐKH gây ra thiệt hại cho đô thị ven biển và đồng bằng [World Bank, 2010], làm suy giảm diện tích đất nông nghiệp, đất canh tác lúa, suy giảm chất lượng đất [IRRI, 2010; Nicholls, 2003; UNCCD NAP, 2002], ngập úng và xâm nhập mặn là những mối đe dọa lớn đối với sản xuất lúa [IRRI, 2010] Trên thế giới, việc xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với BĐKH được đánh giá có hiệu quả cao Chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng của Chương trình Phát triển của Liên hợp Quốc (UNDP) giai đoạn 2008-2012 Cải thiện sức chống chịu với tác động của BĐKH – vùng ven biển Đông Nam Á [IUCN, 2014] Các nghiên cứu của Ngân hàng phát
Trang 97
triển Châu á (ADB) [2009] và Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) [2009] chỉ ra các hoạt động: Điều chỉnh lịch thời vụ, thay
đổi công nghệ canh tác, sử dụng giống thích hợp [Palanisami và
Krishna, 2014] Bố trí cây trồng theo chế độ ngập nước để tận dụng
nước trời Dixon [2002] Đa dạng hóa sinh kế [Gyampoh et al., 2010; Ajani1 et al., 2013]
1.3 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Xét về góc độ chính sách của Đảng và Chính phủ: Đảng, Chính phủ đã ban hành và đang triển khai nhiều văn bản như: Nghị quyết Trung ương 24/NQ-TW ngày 3/6/2013 về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường [BCHTW, 2013], Chiến lược quốc gia về BĐKH [Thủ tướng chỉnh phủ, 2011]… Các nghiên cứu đều khẳng định đất lúa nước ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH [Nguyễn Duy Khang, 2009; Nguyễn Võ Linh, 2012] Một số nghiên cứu về thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đã nhấn mạnh đến nâng cao năng lực cho hộ gia đình, chú trọng kiến thức bản địa… [CARE, 2010] hay thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào
hệ sinh thái [Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2013] Phân vùng sinh thái để có các giải pháp thích ứng cho phù hợp [Nguyễn Võ Linh,
1990, 1999, 2012] Ngoài ra các nghiên cứu đều đề cập đến các giải pháp về chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, luân canh các loại cây trồng trên đất lúa, sử… [Bộ NN&PTNT, 2011; Hà Văn Định, 2012], xây dựng các mô hình thích ứng cụ thể [Võ Tòng Xuân và cs., 2005]…
Trang 108
1.4 Nghiên cứu tại huyện Gò Công Đông
Các nghiên cứu của tác giả Hà Văn Định [2012], Nguyễn Kim Thoa [2011], Kim Liên [2012] chỉ mang tính chất định tính, đánh giá tác động dựa vào những câu hỏi tham vấn người dân Chưa
có nghiên cứu nào đề cập đến thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
1.5 Nhận xét chung
Các nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề cộng đồng, sử dụng khôn khéo, BĐKH, đất lúa nước Tuy nhiên, các nghiên cứu còn mang tính rời rạc chưa có sự gắn kết để sử dụng hợp lý, hiệu quả đất lúa nước và thích ứng với BĐKH Chưa đề cập đánh giá cụ thể các bên liên quan cũng như sự đồng thuận khi xây dựng, lựa chọn và
triển khai các mô hình sử dụng đất lúa nước thích vứng với BĐKH
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Gò Công Đông là một huyện ven biển của tỉnh Tiền Giang thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Huyện nằm giữa 3 cửa sông lớn: cửa Tiểu, cửa Đại (thuộc sông Tiền) và cửa sông Vàm Cỏ; phía Đông có bờ biển bằng phẳng dài 32 km tiếp giáp biển Đông
Tổng diện tích tự nhiên là 267,68 km2, dân số năm 2014 là 142.820 người, mật độ dân số 533 người/km2 Cơ cấu kinh tế huyện năm 2015, công nghiệp-xây dựng chiếm 16,9%, dịch vụ chiếm
Trang 119
15,8%, nông nghiệp giảm còn 57,3%; khu vực phi sản xuất nông nghiệp chiếm 32,7% [UBND huyện Gò Công Đông, 2015]
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
(i) Đối tượng đất lúa nước: Đất lúa 3 vụ, 2 vụ, 1 vụ và các đối tượng cây trồng vật nuôi chuyển đổi trên nền đất lúa nước
(ii) Các yếu tố BĐKH: NBD, xâm nhập mặn, khô hạn
(iii) Các cộng đồng liên quan đến sử dụng đất lúa nước và thích ứng với BĐKH: Cộng đồng các nhà ra quyết định, cộng đồng các nhà khoa học, cộng đồng các nhà doanh nghiệp, cộng đồng những người sản xuất lúa, cộng đồng các nhà công nghiệp
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu
(i) Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên toàn địa bàn huyện Gò Công Đông gồm 13 xã Các xã được lựa chọn điều tra, khảo sát đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái là: xã Tân Thành (Tiểu vùng sinh thái-TVST ven biển), Phước Trung (TVST ven sông), Bình Nghị (TVST nội đồng)
(ii) Phạm vi thời gian: Đánh giá hiện trạng với mốc thời gian
2000 – 2015 và mốc thời gian dự báo tác động của BĐKH đến năm
2020, 2030, 2100
(iii) Phạm vi đánh giá tác động của BĐKH đến đất lúa nước: Chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến sử dụng đất lúa cũng
là tên đề tài, không nghiên cứu đến tính chất thổ nhưỡng của đất lúa
2.1.4 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu chính thức từ tháng 12 năm 2013 đến
tháng 12 năm 2016 và gia hạn đến 31 tháng 12 năm 2017
Trang 1210
2.2 Nội dung nghiên cứu
(i) Tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những bất cập trong quản lý sử dụng; (ii) Tác động của biến đổi khí hậu đến đất
lúa nước huyện Gò Công Đông và những vấn đề đặt ra; (iii) Cộng
đồng người sản xuất áp dụng tri thức bản địa để sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu và sự tham gia của các cộng đồng liên quan; (iv) Đề xuất các giải pháp phát huy tri thức bản địa để sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu
có sự tham gia của cộng đồng
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
(i) Tiếp cận dựa vào cộng đồng của Isobel W Heathcote [1998]; (ii) Tiếp cận hệ sinh thái của Gill Sepherd [2004] và tiếp cận thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái của Nguyễn Văn Huy [2011]
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
(i) Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp; (ii) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Thu thập thông tin định tính (phương pháp PRA); Thu thập thông tin định lượng; (iii) Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, tổng hợp số liệu thứ cấp; Phương pháp xây dựng bản
đồ dự báo tác động của BĐKH và xử lý số liệu; Phương pháp đánh giá đa tiêu chí MCE để đánh giá hiệu quả tổng hợp, tính bền vững của các kiểu/mô hình sử dụng đất; Sử dụng công cụ SWOT, biểu đồ,
sơ đồ, đồ thị, ảnh chụp để minh họa cho các kết quả của luận án
Trang 1311
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những bất cập trong quản lý, sử dụng
3.1.1 Đặc điểm tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông
Đất lúa nước là một loại ĐNN theo mùa Năm 2015, diện tích đất canh tác lúa toàn huyện là 10.797,3 ha chiếm 56,65% diện tích đất nông nghiệp, chiếm 39,52% diện tích tự nhiên Phân theo loại sử dụng đất thì đất lúa 3 vụ có diện tích lớn nhất (chiếm 94,77%), sau
đó là đất lúa 2 vụ (4,34%), đất 2 lúa + 1 màu (0,81%), đất 2 màu + 1 lúa có diện tích thấp nhất (chiếm 0,09%) Trên địa bàn huyện có 16 kiểu sử dụng đất lúa, trong 2 kiểu sử dụng đất chuyên trồng lúa (2
vụ, 3 vụ) có hiệu quả tổng hợp thấp hơn so với 14 kiểu sử dụng đất lúa còn lại (luân canh lúa với rau màu)
3.1.2 Tầm quan trọng của tài nguyên đất lúa nước đối với phát triển kinh tế - xã hội huyện Gò Công Đông
Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế: Giá trị sản xuất (GTSX) từ trồng lúa là 954,0 tỷ đồng, chiếm 18,57% GTSX của ngành nông nghiệp [UBND huyện Gò Công Đông, 2015]; Đảm bảo an ninh lương thực cho huyện và đóng góp một phần cho an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu; Đảm bảo sinh kế cho người dân khu vực nông thôn
3.1.3 Những bất cập trong quản lý, sử dụng đất lúa nước tại huyện Gò Công Đông