Đề tài nghiên cứu khoa khoa học đạt giải về “Hoàn thiên quy định của BLHS hiện hành đối với các tội phạm về môi trường”, độ dài 65 trang, tham khảo hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Như chúng ta đã biết, môi trường đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi chúng ta, nó có tính chất quyết định đến sự tồn tại cuả con người Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, không phải là vấn đề của riêng quốc gia nào
Thực tế cho thấy, trong thời gian qua tuy đã rất được quan tâm song chất lượng môi trường không được cải thiện theo hướng tích cực mà ngày càng trở nên tồi tệ hơn Dịch bệnh, thiên tai, lũ lụt diễn ra triền miên, nhiều lúc vấn đề môi trường còn trở nên báo động, là vấn đề được đưa ra để bàn luận, trao đổi ở rất nhiều cuộc họp mặt giữa các quốc gia trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với cuộc sống, đặc biệt
là diễn biến phức tạp của vấn đề môi trường, Nhà Nước ta đẫ có nhiều biện pháp
để bảo vệ môi trường, đặc biệt là nó đã được luật hóa nhằm ngăn chặn sự suy thoái, ô nhiễm môi trường , phát triển môi trường
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến bảo vệ môi trường như: Nghị quyết số 41-NQ/TƯ ngày 15/11/2004 của
Bộ Chính trị (khóa IX ) về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Luật bảo vệ môi trường sửa đổi năm 2005; Chỉ thi số 29-CT/TƯ ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TƯ của Bộ Chính trị; các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật Bảo vệ môi trường… Đặc biệt, trong BLHS năm 1999 còn dành hẳn một 1 chương là chương XVII để quy định về Tội phạm môi trường Bước đầu ta đã thấy có sự chuyển biến đáng kể trong hoạt động bảo vệ môi trường, nhận thức của người
Trang 2dân, của các cấp, các ngành về việc bảo vệ môi trường đã tăng lên, mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường và bảo vệ đa dạng sinh học đã tiến bộ rõ rệt.Tuy nhiên, thực tế cũng cho rằng, vấn đề môi trường trong mấy năm gần đây còn nhiều bức xúc, xôn xao dư luận Hàng năm số vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường còn nhiều, có sự gia tăng qua các năm và tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn, hành vi vi phạm tinh vi hơn Nhưng trong tổng số các vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường thì số vụ được đưa ra xét xử chỉ chiếm tỷ lệ rất ít, mà chủ yếu là xử phạt hành chính thì hầu như chưa đủ sức để trừng trị đối với các hành vi này.
Như ngay tại chương XVII BLHS 1999 và sửa đổi 2009, mặc dù số tội danh được quy định khá đầy đủ, mô tả cấu thành tội phạm khá rõ rang nhưng khi đưa vào áp dụng thì các nhà áp dụng pháp luật lại gặp không ít những khó khăn Nguyên nhân là do cơ sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và tội phạm về môi trường còn yếu và chưa đủ mạnh
Vậy nên để có môi trường xanh- sạch- đẹp không những đòi hỏi mỗi cá nhân phải có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường mà quan trọng hơn là cần phải hoàn thiện các quy định về thể chế pháp luật về bảo vệ môi trường để tăng tính răn đe, giáo dục
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết trên, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiên quy định của BLHS hiện hành đối với các tội phạm về môi trường”
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Ở góc độ đề tài nghiên cứu khoa học, mục đích của đề tài là nghiên cứu hệ thống hóa một số nhận thức chung về tội phạm môi trường; những quy định của
Trang 3BLHS năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 2009; Nghiên cứu, phân tích thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm môi trường Trên những cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện và tăng cường hiệu quả của quy định Pháp luật trong thực tiễn.
Để đạt được những mục đích trên, đề tài cần phải giải quyết những nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vấn đề chung, nhận thức cơ bản về tội phạm môi trường Cụ thể là: phân tích làm sáng tỏ khái niệm môi trường, khái niệm các tội phạm về môi trường, dấu hiệu pháp lí đặc trưng của các tội phạm về môi trường
- Nghiên cứu, phân tích những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 đối với các tội phạm về môi trường
- Nghiên cứu về thực trạng áp dụng các quy định của BLHS đối với các tội phạm về môi trường ở nước ta hiện nay Cụ thể là: nghiên cứu tình hình tội phạm
về môi trường ở Việt Nam từ năm 2006 đến nay, thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự và việc bảo đảm áp dụng hiệu quả quy định của Bộ luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
* Đối tượng nghiên cứu
Trang 4- Nghiên cứu về những vấn đề chung về tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 về nhóm tội phạm môi trường
- Nghiên cứu về thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm môi trường
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quy định của BLHS đối với tội phạm
về môi trường và vấn đề thực trạng áp dụng các quy định của BLHS đối với các tội phạm về môi trường trong thực tiễn, thông qua đó thực hiện nhiệm vụ chính của đề tài là đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS đối với các tội phạm về môi trường, cũng như đảm bảo thực hiện các quy định của Bộ luật hình
sự đối với các tội phạm về môi trường
4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng, các quy định của Nhà nước về tội phạm nói chung và các tội phạm môi trường nói riêng Đề tài nghiên cứu có sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, logic, so sánh để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
- Góp phần hoàn thiện lý luận về tội phạm môi trường
Trang 5- Đánh giá thực trạng quy định của BLHS đối với các tội phạm về môi trường ở nước ta.
- Các giải pháp, đề xuất trong đề tài sẽ giúp các ngành, các cấp, đặc biệt là
cơ quan lập pháp tham khảo phục vụ công tác xây dựng pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật có hiệu quả trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống các tội phạm về môi trường
6 Bố cục của đề tài.
Đề tài gồm ?? trang, ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung đối với các tội phạm về môi trường
Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự và việc bảo đảm áp dụng hiệu quả quy định của Bộ luật hình sự đối với các tội phạm về môi trường.
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI
TRƯỜNG
1.1 Khái niệm các tội phạm về môi trường
1.1.1. Khái niệm môi trường
Trang 6Theo nghĩa rộng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh
hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện Nhà bác học Anh-Xtanh định nghĩa:
“Môi trường là những gì ngoài tôi”, nghĩa là môi trường bao gồm tất cả các
vật thể hữu sinh và vô sinh, các tương tác giữa chúng và sản phẩm của những tương tác ấy Đối với cơ thể sống, môi trường là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của cơ thể đó Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lí, hóa học, kinh tế,
xã hội bao quanh, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại và phát triển của từng cá thể và cộng đồng sống của con người Báo cáo toàn cầu tại Hội nghị Liên hợp quốc tế về môi trường và phát triển năm 1982 tại
Rio de Janerio định nghĩa về môi trường như sau: “Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lí và sinh học bao quanh loài người Con người cần đến sự hỗ trợ của môi trường xung quanh để sống, mối quan hệ giữa loài người với môi trường chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt giữa cá thể con người và môi trường bị xóa nhòa đi”.
Môi trường là một khái niệm rộng Theo đó, “môi trường là một tập hợp
các vật thể, điều kiện và ảnh hưởng bao quanh một đối tượng nào đó” (Từ điển
Mỹ) Cộng đồng Châu Âu cũng có quan niệm tương tự.
Môi trường của con người được định nghĩa “là một tập hợp các yếu tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội bao quanh, tác động tới đời sống và
sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người” (UNEP, 1980).
Theo Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) của Việt Nam (2005) quy
định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên”.
Trang 71.1.2. Khái niệm các tội phạm về môi trường
Bảo vệ môi trường được nhận thức từ rất lâu trên thế giới, song vấn đề này được tập trung giải quyết cả ở tầm quốc gia và quốc tế chủ yếu trong nửa sau thế
kỉ XX Những hậu quả của việc tàn phá môi trường ảnh hưởng nghiêm trọng đến
tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến nạn sa mạc hóa, ô nhiễm đất, nước và không khí, hiệu ứng nhà kính… Tình hình đấu tranh với những hành vi tàn phá môi trường chưa thu được hiệu quả cao, cùng với tính chất đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội, đặt ra nhiêm vụ hoàn thiện cơ chế bảo vệ môi trường
có hiệu quả cao hơn Trong giới hạn của quốc gia, một trong những mắt xích chủ yếu của cơ chế này là chính sách hình sự đối với những hành vi xâm hại môi trường
Nền tảng của chính sách hình sự về bảo vệ môi trường của Việt Nam đã được ghi nhận cụ thể tại Điều 29 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) như sau:
“Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang,tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
Nghiêm khắc mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường.”
Ở Việt Nam, trong quá trình soạn thảo và sửa đổi Bộ luật hình sự (BLHS), quy định nhóm tội phạm về môi trường đã được đặt ra và thảo luận sôi nổi, từ tên gọi, khái niệm của nhóm tội phạm, nhóm hành vi bị coi là tội phạm đến chính sách xử lý bằng hình sự (các hình phạt được áp dụng) đối với chúng
BLHS đã được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và được sửa
Trang 8đổi, bổ sung ngày 19 tháng 06 năm 2009 tại kì họp thứ 5, Quốc hội khóa XII, trong đó Chương XVII gồm 11 điều quy định các tội phạm về môi trường.
Khái niệm các tội phạm về môi trường được nhận thức và xây dựng dựa vào hai nhóm tiền đề sau:
Thứ nhất, là tính nguy hiểm lớn của sự tác động nhân chủng học (tức là
hoạt động của con người) Sự tác động đó gây ra hậu quả đối với môi trường và có thể phá hoại các điều kiện sống của con người Hiện nay, khi
sự khủng hoảng môi trường đã nghiêm trọng, nhiều người vẫn chưa ý thức đầy đủ về các hành vi (sự xâm hại) nguy hại tới môi trường với tư cách là loại hành vi phạm tội nguy hiểm Khi làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm thay đổi các đặc điểm về chất của các khách thể tự nhiên, bằng các phương thức khác nhau hủy hoại nguồn nước, khí quyển, rừng, đất thì chính là con người làm tồi tệ điều kiện sống của mình, và sau đó có thể hủy hoại điều kiện sống đó Do vậy, việc quy định trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với các tội phạm về môi trường là công cụ tự bảo vệ của xã hội
để bảo đảm sự sống của loài người.
Thứ hai, là các cơ sở truy cứu TNHS và thực hiện TNHS phải được
pháp luật hình sự quy định Các tội phạm về môi trường chỉ là một loại, một nhóm các tội phạm được BLHS nước ta quy định Do vậy, khái niệm mô tả nhóm tội phạm đó phải được hình thành và xây dựng trên cơ sở cân nhắc các đặc điểm đặc thù của các hành vi có hại về mặt xã hội và môi trường (sinh thái) và đặc điểm chung của tội phạm với tư cách là hành vi bị trừng trị bằng biện pháp hình sự.
Trang 9Cùng với việc nhận thức về hai nhóm tiền đề đã nêu ở trên, việc xây dựng khái niệm “tội phạm về môi trường” trước hết cần xác định rõ khách thể của tội phạm về môi trường.
Về vấn đề này hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau Tuy vậy, tổng kết các ý kiến khác nhau đó cần đồng ý với quan điểm cho rằng: khách thể của các tội phạm về môi trường là tổng hợp các quan hệ xã hội liên quan đến việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, việc bảo vệ môi trường tự nhiên thuận lợi, có chất lượng đối với con người và các sinh vật sống khác và việc bảo đảm an ninh
sinh thái cho dân cư được luật hình sự bảo vệ.
Do vậy, trong quá trình xây dựng các cấu thành tội phạm đối với các
về môi trường trong dự thảo BLHS năm 1999 cũng như Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, nhà làm luật đã thống nhất về khái niệm tội phạm môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trật tự pháp luật sinh thái được xác lập ở nước ta và gây ra thiệt hại cho môi trường bao quanh (tự nhiên) hoặc tạo ra nguy cơ hiện thực trong việc gây ra thiệt hại đó.
Hiện nay, tại Việt Nam, khái niệm tội phạm môi trường đã được đề cập
trong một số công trình nghiên cứu như: Theo Bình luận khoa học Bộ luật hình
sự năm 1999 thì “Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có năng lực TNHS thực hiện, xâm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản
lý và BVMT, gây ra những hậu quả xấu đối với môi trường sinh thái” Định nghĩa tội phạm môi trường trong Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – tập 2 của trường Trường Đại học Luật Hà Nội có nêu: “ Các tội phạm môi trường là các hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm các quy định của Nhà nước về môi trường, qua đó gây thiệt hại cho môi truờng” (2)
Trang 10Nhìn chung các định nghĩa nói trên đã đưa ra được dấu hiệu nhận biết về tội phạm môi trường dấu hiệu đã phản ánh bản chất của các tội phạm về môi trường là những hành vi xâm hại quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực môi trường qua
đó phân biệt các tội phạm về môi trường với các tội phạm khác được quy định trong BLHS Tuy nhiên những định nghĩa này còn một số điểm hạn chế cụ thể là:
* Định nghĩa các tội phạm về môi trường trong Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự 1999.
- Khái niệm trên chưa chỉ ra một đặc trưng rất quan trọng của tội phạm nói
chung, tội phạm về môi trường nói riêng đó là “tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật hình sự” Cũng chính vì lý do này nên khái niệm sẽ chưa hoàn toàn
chính xác
- Khái niệm trên có thể gây sự hiểu nhầm giữa đối tượng của các tội phạm môi trường và khách thể của chúng Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội và lợi ích xã hội bị xâm hại và được chỉ ra rất rõ ràng trong Điều 1 BLHS
1999: “Chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” Đối tượng của tội phạm
là một bộ phận của khách thể mà hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Trên cơ sở phân tích này, có thể khẳng định “sự bền vững và ổn định của môi trường” là đối tượng chung của các tội phạm về môi trường và việc đưa đối
tượng này vào khái niệm là chưa hoàn toàn xác đáng vì có thể dẫn tới đồng nhất giữa đối tượng của tội phạm môi trường với khách thể của các tội phạm về môi
trường là “các quan hệ xã hội về quản lý và BVMT”.
Trang 11* Trong Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội có ưu điểm là rõ ràng và ngắn gọn nhưng còn có những điểm hạn chế:
- Chưa tạo ra được sự khác biệt giữa tội phạm về môi trường và hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Có thể khẳng định rằng: hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường cũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định của Nhà nước về môi trường và có khả năng gây hậu quả bất lợi cho môi trường
- Việc đưa dấu hiệu “thiệt hại cho môi trường” vào trong khái niệm tội
phạm về môi trường có thể dẫn tới sự hiểu lầm là các tội phạm về môi trường đều có cấu thành vật chất Trong khi đó, trong nhóm các tội phạm về môi trường vẫn có những tội phạm có cấu thành hình thức
- Ngoài ra, khái niệm kể trên chưa chỉ rõ khách thể bị xâm hại của các tội phạm môi trường – những quan hệ xã hội về gìn giữ môi trường trong sạch, xử dụng hợp lý những tài nguyên và đảm bảo môi trường cho dân cư
Từ những nghiên cứu trên, nhóm tác giả xin đồng nhất quan điểm với
TS.Phạm Văn Lợi định nghĩa: Các tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định, xâm hại đến các quan hệ
xã hội liên quan đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên thuận lợi, có chất lượng, đến việc sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên và việc đảm bảo an ninh sinh thái đối với dân cư.
1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về môi trường
Trang 12Khái niệm chung của tội phạm về môi trường giúp chúng ta xác định phạm
vi của loại tội phạm này, cũng như là cơ sở cho việc xây dựng các tội phạm cụ thể Để hiểu các tội phạm về môi trường rõ ràng hơn, cụ thể hơn và đặc biệt nhằm áp dụng chính xác các quy định tương ứng của BLHS trong thực tiễn, đòi hỏi phải nghiên cứu đặc điểm của các tội phạm môi trường được thể hiện qua
các yếu tố cấu thành của các tội phạm về môi trường - “Tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho tội phạm cụ thể được quy định trong Luật hình sự” Mỗi trường hợp phạm tội cụ thể của loại tội nhất định đều có những nội
dung biểu hiện riêng biệt ở cả bốn yếu tố: Khách thể, chủ thể, mặt chủ quan, mặt khách quan Nó có ý nghĩa rất quan trọng là cơ sở pháp lý của TNHS; là căn cứ pháp lý để định tội và định khung hình phạt
1.2.1 Khách thể của các tội phạm về môi trường
Theo Luật BVMT 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu
tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” Ngoài ra, Luật BVMT tại khoản 1 Điều 2 còn chỉ ra những bộ phận cấu
thành môi trường đó là các yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất,
âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất, khu bảo tồn tự nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất khác
Khách thể của tội phạm nói chung là những quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại Theo Luật Hình sự Việt Nam: khách thể của tội phạm môi trường là những quan hệ xã hội về giữ gìn môi trường trong sạch,
sử dụng hợp lý những tài nguyên và đảm bảo môi trường cho dân cư Như vậy
nội dung của các quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm môi trường không
Trang 13giới hạn trong một lĩnh vực cụ thể nào Đối với mỗi tội phạm môi trường cụ thể thì tương ứng với nó là một khách thể trực tiếp Ví dụ: Điều 182 BLHS – Tội gây ô nhiễm môi trường thì khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội về việc bảo vệ môi trường ( đất, nước, không khí) ; Điều 185 BLHS – Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt nam thì khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội về việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực nhập khẩu, đưa vào Việt Nam các chất thải như công nghệ, máy móc, hóa chất… gây ô nhiễm môi trường ; Điều 188 BLHS – Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản thì khách thể của tội phạm này là các quan hệ xã hội về bảo vệ và sử dụng hợp lý những nguồn lợi thuỷ sản, tức các quan hệ về bảo vệ và sử dụng hợp lý sông, hồ, biển …
Đối tượng của tội phạm về môi trường chính là đối tượng của các hành vi xâm hại đến môi trường Đó là những bộ phận cấu thành của môi trường mà đã được liệt kê trong Khoản 1 Điều 2 Luật BVMT Những bộ phận này hình thành
và tồn tại một cách tự nhiên, hoặc có sự kết tinh của lao động con người nhưng vẫn tồn tại trong thiên nhiên hoặc được đưa vào thiên nhiên để thực hiện chức năng sinh vật và những chức năng tự nhiên khác Chính bởi bản chất gắn với tự nhiên nên những thành phần cấu thành môi trường có thể phân biệt được với những đối tượng tội phạm khác mà thường được biết dưới dạng “hàng hoá” hay
“tài sản”
1.2.2 Mặt khách quan của các tội phạm về môi trường.
Mặt khách quan của tội phạm nói chung là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả cũng như những điều kiện bên ngoài khác (công cụ, phương tiện, thời gian, thời điểm )
Trang 14* Về hành vi phạm tội: Những hành vi phạm tội quy định trong Chương
XVII – Các tội phạm về môi trường theo BLHS là những hành vi xâm hại đến môi trường có tính nguy hiểm xã hội cao Nó có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn và BVMT Các hành vi tội phạm về môi trường rất đa dạng như hành vi làm lây lan dịch bệnh, hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt nam, hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải, hành vi làm lây lan cho người và động vật…Những hành vi này trong mặt khách quan của tội phạm là sự cụ thể hóa trong Luật hình sự những hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 29 Luật BVMT 2005:
- Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh thái;
- Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát bức xạ, phóng xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;
- Thải dầu mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vào nguồn nước;
- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;
- Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý, hiếm trong danh mục quy định của Chính phủ;
- Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; nhập khẩu, xuất khẩu chất thải;
Trang 15- Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật.
Để xác định hành vi nào là hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về BVMT và do vậy có thể là hành vi phạm tội, căn cứ vào các quy định trong những văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan, như Luật BVMT
2005, Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004; Luật thủy sản 2003…
* Về hậu quả: Hậu quả của các tội phạm này được quy định cũng rất đa
dạng như gây thiệt hại cho môi trường, gây thiệt hại cho tính mạng sức khỏe của con người, gây thiệt hại về tài sản bao gồm cả thiệt hại thực tế và chi phí khắc phục hậu quả đã xảy ra Trong BLHS, các tội phạm về môi trường được quy định như sau:
+ Tuyệt đại bộ phận tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất (10/11 Điều - Điều 182, 182a, 182b, 185; 186;187; 188; 189; 191,191a BLHS) Trong diễn biến về tình hình tội phạm môi trường phức tạp và phổ biến hiện nay, việc xây dựng các tội phạm về môi trường với cấu thành vật chất chưa phát huy hết được vai trò của mình đối với việc gìn giữ và BVMT vì hậu quả của các tội phạm môi trường rất khó xác định Những hành vi tàn phá, huỷ hoại môi trường sống cần được ngăn chặn ngay từ đầu và có những biện pháp chế tài kiên quyết
Để xác định tội phạm môi trường cũng cần xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với hậu quả xảy ra Tuy nhiên đối với các tội phạm về môi
trường quy định về hậu quả trong các cấu thành cơ bản là “ hậu quả nghiêm trọng” Ngoài ra trong một số cấu thành với tình tiết tăng nặng sử dụng thuật ngữ “hậu quả rất nghiêm trọng” hoặc “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” Trên
cơ sở xác định hậu quả của các hành vi vi phạm, có thể xác định thời điểm hoàn
Trang 16thành của tội phạm Những tội phạm về môi trường có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành kể từ khi có những hậu quả tương ứng xảy ra.
+ Tội phạm về môi trường với cấu thành hình thức Đó là Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190) Để xác định tội phạm đã hoàn thành, không cần thiết phải có hậu quả xảy ra Thời điểm hoàn thành tội phạm được tính từ thời điểm thực hiện các hành vi như: săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó
+ Trong BLHS năm 1999 quy định dấu hiệu “ đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm” là dấu hiệu bắt buộc để định tội các tội phạm về môi trường thì nay
tại các Điều 187, 188,189 BLHS chỉ quy định dấu hiệu “ gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc “ đã bị xử phạt hành chính” Đây là một điểm khác so với những
quy định trước đây của BLHS năm 1999 có vai trò quan trọng trong việc xác loại tội phạm này
1.2.3 Chủ thể của tội phạm về môi trường
Chủ thể của các tội phạm là con người cụ thể có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định đã thực hiện hành vi phạm tội Chủ thể của tội phạm về môi trường
là những cá nhân đạt độ tuổi luật định và có năng lực TNHS Hầu như các tác giả đều nhất trí chủ thể của các tội phạm về môi trường là cá nhân có các dấu hiệu nói trên
Trong một số tội phạm về môi trường có chủ thể đặc biệt Sự đặc biệt này thông thường gắn với việc giữ chức vụ hoặc có quyền hạn của người vi phạm:
Trang 17Đó là các tội phạm được quy định tại Điều 182a – Tội vi phạm quy định về quản
lí chất thải nguy hại; Điều 182b – Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường; Điều 186 – Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người; Điều
187 – Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật
1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm về môi trường
Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Trong quy định tại Chương XVII của BLHS sửa đổi, bổ sung không có một quy định trực tiếp nào khẳng định người vi phạm phải chịu TNHS trong trường hợp có lỗi do vô ý hoặc cố ý Tuy nhiên căn cứ vào cấu thành tội phạm cơ bản có thể nêu một số quy định của pháp luật về tội phạm môi trường được thực hiện hoặc với lỗi vô ý hoặc cố ý hoặc có thể tội phạm được thực hiện trong điều luật đó vừa có thể là vô ý hoặc
cố ý là cố ý
Qua đó có thể thấy mặt chủ quan của các tội phạm môi trường có thể được thực hiện bằng lỗi cố ý hoặc vô ý Đây là một trong những điểm mới của BLHS sửa đổi, bổ sung khi không chỉ coi tội phạm môi trường được thực hiện hầu hết
là lỗi cố ý như trong BLHS 1999
Trong mặt chủ quan của tội phạm về môi trường, mục đích và động cơ hầu như không có ý nghĩa để định tội Tuy nhiên, cũng có tội có yêu cầu mục đích là dấu hiệu bắt buộc đối với một vài hành vi riêng lẻ Ví dụ: Thực hiện tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188 BLHS) bằng hành vi sử dụng chất độc, chất nổ, các hoá chất khác, dòng điện hoặc các phương tiện, ngư cụ khác bị cấm đòi hỏi
phải có mục đích “khai thác thuỷ sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản”.
Trang 181.3 Những điểm mới của Luật sửa đổi ,bổ sung BLHS 1999 đối với tội phạm về môi trường.
Sau hơn 9 năm áp dụng BLHS 1999 vào thực tế, chúng ta đã thu được nhiều kết quả đáng kể, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của
tổ chức, công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, trước những biến đổi không ngừng của thực tiễn,một số quy định của BLHS năm 1999 nói chung và những quy định
về tội phạm môi trường nói riêng không còn phù hợp nữa Thực tế, có một số hành vi phạm tội mới phát sinh trong nền kinh tế thị trường chưa đươc quy định trong BLHS năm 1999, từ đó gây khó khăn cho việc phòng ngừa và đấu tranh với loại tội phạm mới này, nhất là hiện nay nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, việc sửa đổi bổ sung một số điều luật không còn phù hợp với tình hình thực tiễn là hoàn toàn rất cần thiết
Để đáp ứng yêu cầu trên, ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua luật sửa đổi,bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 Việc ban hành luật này đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình từng bước hoàn thiện pháp luật hình sự của Nhà nước ta, góp phần khắc phục được những hạn chế, bất cập của BLHS và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn mới đặt ra.Trong luật sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất này, nhóm các tội phạm môi trường cũng có những sửa đổi căn bản như sau:
1.3.1 Về hình thức
1.3.1.1 Sự thay đổi về số lượng và tên gọi các điều luật
Trang 19Nếu như BLHS 1999 quy định 10 tội danh đối với nhóm tội phạm môi trường (từ Điều 182 đến Điều 191) thì đến BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định 11 tội danh bao gồm:
Điều 182: Tội gây ô nhiễm môi trường
Điều 182a: Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại
Điều 182b: Tội vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường
Điều 185: Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
Điều 186: Tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho con người
Điều 187: Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật
Điều 188: Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản
Điều 190: Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục
loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Điều 191: Tội phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Điều 191a: Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại.
Đây là kết quả của việc gộp một số Điều và bổ sung một số Điều so với BLHS năm 1999 Ví dụ như tội danh “ Tội gây ô nhiễm môi trường “ là kết quả của việc gộp từ các tội “ Tội gây ô nhiễm không khí “ (Điều 182 BLHS năm 1999) ; “Tội gây ô nhiễm nguồn nước“ (Điều 183 BLHS năm 1999) ; “Tội gây ô nhiễm đất“ (Điều 184 BLHS năm 1999)
Bổ sung một số tội danh mới do thực tế đòi hỏi đó là các tội “Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường“ (Điều 182b BLHS) ; “Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại “ (Điều 191a) Có sự bổ sung này là do những diễn biến của các tội phạm về môi trường ngày càng phức tạp cùng với sự xuất hiện của một số hành vi xâm phạm môi trường mang tính chất đặc biệt nghiêm
Trang 20trọng đòi hỏi phải có một khung pháp lý phù hợp, tạo cơ sở cho việc xử lý linh hoạt các hành vi phạm tội trên thực tế.
Ngoài việc thay đổi về số lượng các điều luật và tội danh thì BLHS cũng có những thay đổi cơ bản về tên gọi của một số điều luật Cụ thể là “Tội gây ô nhiễm môi trường“ (Điều 182) thay cho các tội “Tội gây ô nhiễm không khí“ ,
“Tội gây ô nhiễm nguồn nước“ , “Tội gây ô nhiễm đất“ tương ứng tại các Điều
182 , 183 , 184 BLHS năm 1999 ; “Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam” (Điều 185) thay thế cho “Tội nhập khẩu máy móc, công nghệ, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn BVMT“ ( Điều 185 BLHS năm 1999) ;
“ Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ“ (Điều 190) thay cho “Tội vi phạm các quy định
về bảo vệ động vật hoang dã, quý, hiếm“ (Điều 190 BLHS năm 1999 ) ; “Tội phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên“ (Điều 191) thay cho “Tội
vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên“ (Điều 191 BLHS năm 1999)
Sự thay đổi về tên gọi của một số điều luật trong BLHS cho thấy sự phù hợp trong quy định của BLHS đối với các quy định mới của luật BVMT năm
2005 và thực tế áp dụng Kéo theo đó là sự thay đổi tương ứng trong nội dung của mỗi điều luật
1.3.1.2 Hợp nhất tội danh.
Trong BLHS sửa đổi, bổ sung lần này, Quốc hội đã hợp nhất 3 tội danh :
“Tội gây ô nhiễm không khí“ (Điều 182) , “Tội gây ô nhiếm nguồn nước“ (Điều 183), “Tội gây ô nhiếm đất“ (Điều 184) thành “Tội gây ô nhiễm môi trường“ (Điều 182) BLHS sửa đổi, bổ sung
Việc hợp nhất 3 tội danh trên thành một tội danh chung là một điểm mới, hợp lý giúp cho việc áp dụng thực tế được linh hoạt, thuận lợi hơn
Trang 211.3.1.3 Bổ sung một số tội danh mới
Để phù hợp với diễn biến tình hình của các hành vi vi phạm pháp luật môi trường mang tích chất nghiêm trọng, BLHS sửa đổi, bổ sung lần này có bổ sung thêm một số tội danh mới
Điều 182a : Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại.
Điều 182b : Tội vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường Điều 191a : Tội nhập khẩu , phát tán các loài ngoại lai xâm hại
1.3.2 Về nội dung
BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 có những điểm mới không chỉ thể hiện ở hình thức mà quan trọng hơn cả đó là những thay đổi về mặt nội dungtrong các quy định cụ thể của nhóm tội phạm về môi trường cụ thể như sau:
1.3.2.1 Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182) BLHS (Điều luật sửa đổi)
1 Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các khí gây ô nhiễm môi
trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam đến ba năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm
2 Phạm tội thuộc một số trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.
A, Có tổ chức
B, Làm môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác
Trang 223 Người phạm tội có thể phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Đây là điều luật hợp nhất giữa 3 Điều 182, 183, 184 BLHS năm 1999 Nếu như BLHS năm 1999 quy định cấu thành tội phạm của ba tội danh gây ô nhiễm không khí, gây ô nhiêm nguồn nước, gây ô nhiêm đất phải hội tụ đủ ba yếu tố (chất thải gây ô nhiễm môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép ; đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện biện pháp khắc phục; gây hậu quả nghiêm trọng) gây khó khăn cho thực tế áp dụng, thì sau khi BLHS được sửa đổi, bổ sung đã khắc phục những hạn chế đó theo hướng loại bỏ dấu hiệu bắt buộc “đã xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền“ Đây chính là điểm tiến bộ trong cách nhìn nhận, đánh giá về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà không nhất thiết phải thong qua quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan có thẩm quyền
- Đối với hình phạt tù có thời hạn: Luật sửa đổi bổ sung quy định mức hình phạt là 10 năm tù, trong khi theo quy định của BLHS năm 1999 thì tội gây ô nhiễm không khí có mức phạt tù cao nhất là 7 năm tù
- Đối với khung hình phạt nặng quy định tại khoản 2 Điều 182 BLHS sửa đổi, bổ sung đã thêm hai tình tiết định khung tăng nặng mới là “phạm tội có tổ chức“ và “làm môi trường bị ô nhiếm đặc biệt nghiêm trọng“
1.3.3.2 Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a) BLHS (Điều luật bổ sung)
1 Người nào vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 182 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ
Trang 23năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ dến
2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến ba năm
2 Phạm tội một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
A, Có tổ chức
B, Gây hậu quả rất nghiêm trọng
C, Tái phạm nguy hiểm
3, Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến
10 năm
4, Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng cấm đẩm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
Đây là một tội danh mới được bổ sung trong lần sửa đổi, bổ sung BLHS này Xuất phát từ cơ sở thực tiễn trong công tác quản lý chất thải nguy hại thời gian qua còn nhiều bất cập
Cấu thành tội phạm cơ bản:
- Khách thể tội phạm: Tội phạm này xâm phạm vào các quy định của Nhà
nước về bảo vệ môi trường, cụ thể là vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý các chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường
- Mặt khách quan của tôi phạm: Là hành vi vi phạm quy định về quản lý
chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, trừ các hành vi quy định tại Điều 182 của BLHS
- Mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện hành vi phạm tội vi phạm
quy định về quản lý chất thải nguy hại với lỗi cố ý ; tức là nhận thức được hành
vi của mình là vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là nguy hiểm cho
Trang 24xã hội nhưng vẫn thực hiện Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, tức là người thực hiện tội phạm với bất cứ động cơ mục đích là gì.
- Chủ thể của tội phạm: Bất cứ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự
và từ đủ 16 tuổi trở lên đều là chủ thể của hành vi này
Hình phạt
Khoản 1 – cấu thành cơ bản quy định hình phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
Khoản 2 – Quy định phạt tù từ 2 năm đến 7 năm thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức gây hậu quả rất nghiêm trọng, tái phạm nguy hiểm
Khoản 3 – Quy định phạt tù từ 5 năm đến 10 năm nếu phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Khoản 4 – Quy định hình phạt bổ sung Người phạm tội có thể bị phạt tiền
từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
1.3.2.3 Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b) BLHS (Điều luật bổ sung)
1 Người nào vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường để xảy ra
sự cố môi trường hoặc vi phạm quy định về ứng phó sự cố môi trường làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù 6 tháng đến 3 năm
2 Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
Trang 253 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì phạt từ 5 năm đến mười năm
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, chấp hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường là một trong những tội danh mới trong lần sửa đổi, bổ sung bộ luật hình sự này
Cấu thành tội phạm cơ bản:
Khách thể của tội phạm: Xâm phạm các quy định của Nhà nước về Bảo vệ Môi trường, các quy định về phòng ngừa và xử lý, ứng phó sự cố môi trường theo quy định của pháp luật về Bảo vệ Môi trường
Mặt khách quan: Tội phạm này được thể hiện ở hai hành vi Thứ nhất là hành vi vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường Phòng ngừa sự
cố môi trường là các hoạt động nhằm không để sự cố môi trường xảy ra hoặc ngăn chặn, hạn chế sự cố môi trường trong lĩnh vực ngành nghề nhất định Vi phạm các quy định về sự cố môi trường là không chuẩn hoặc không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ các công tác phòng ngừa sự cố môi trường Hành vi thứ hai là vi phạm các quy định về ứng phó sự cố môi trường, khi có sự
cố môi trường xảy ra, việc ứng phó kịp thời, hiệu quả có tác dụng ngăn chặn hoặc hạn chế tới mức thấp nhất tác hại do sự cố gay ra
Hậu quả của tội phạm là sự cố môi trường hoặc môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác
Mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện hành vi phạm tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường với lỗi cố ý, … Là nhận thức được hành
vi của mình là vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường hoặc vi phạm
Trang 26quy định về ứng phó sự cố môi trường là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện Động cơ mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, người thực hiện tội phạm với bất cứ động cơ, mục đích gì.
Chủ thể của tội phạm là người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ
đủ 16 tuổi trở lên
Hình phạt:
Khoản 1 – Cấu thành cơ bản quy định phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
Khoản 2 – Quy định phạt tù từ 2 năm đến 7 năm khi phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng
Khoản 3 – Quy định phạt tù từ 5 năm đến 10 năm khi phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Khoản 4 – Quy định hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 150 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
1.3.2.4 Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam – Điều 185 Bộ luật Hình
sự (Điều luật sửa đổi, bổ sung).
1 – Người nào lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng những thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn hoặc
gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ hai trăm triệu đồng đến một tỷ đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai
năm đến bảy năm:
Trang 27A, Có tổ chức
B, Chất thải nguy hiểm hại có số lượng lớn hoặc chất thải khác có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn.
C, Gây hậu quả nghiêm trọng
3 – Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm
đến mười năm
4 – Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một trăm triệu đồng đến năm
trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm
Điểm mới của điều luật này bao gồm các nội dung sau:
- Tên gọi của điều luật này đã được sửa đổi từ “Tội nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường” thành “Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam” Tên gọi mới đã mang được tính khái quát hơn
- Điều luật được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng Theo đó, ngoài những trường hợp lợi dụng việc nhập khẩu để đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác là hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm như trước đây thì nay theo luật sửa đổi, bổ sung BLHS,
mọi trường hợp đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác kể cả thông qua lợi dụng việc nhập khẩu hoặc thông qua bất cứ thủ đoạn nào cũng là hành vi khách quan của cấu thành tội phạm quy định tại điều 185
BLHS
- Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng của khoản 2: có tổ chức và chất thải nguy hại có số lượng lớn hoặc chất thải khác có số lượng lớn hoặc đặc biệt lớn.
Trang 28- Thay dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm,
gây hậu quả nghiêm trọng” bằng dấu hiệu “với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng” Theo đó, nếu như trước đây để xử lý về hình sự đối với người
thực hiện hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam đòi hỏi phải thõa mãn hai dấu hiệu là đã bị xử phạt hành chính về chính hành vi đó mà vi phạm và gây hậu
quả nghiêm trọng thì nay những trường hợp vi phạm số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không đòi hỏi phải có dấu
hiệu đã bị xử phạt hành chính về chính hành vi này
- Về hình sự: So với quy định tại BLHS cũ hình phạt tiền đóng vai trò là hình phạt chính và hình phạt đều tăng Mức hình phạt tiền đóng vai trò là hình phạt chính cao nhất lên tới 1 tỷ đồng gấp 10 lần so với mức phạt tiền cao nhất cùng loại của Điều 185 BLHS năm 1999
1.3.2.5 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ - Điều 190 Bộ luật Hình sự (Điều luật được sửa đổi, bổ sung).
1 Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
A, Có tổ chức
B, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
C, Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm
Trang 29D, Săn bắt trong khu vực bị cấm hoặc vào thời gian bị cấm.
E, Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
3.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
Điểm mới của Điều luật này gồm các nội dung sau:
- Tên của Điều luật này có thay đổi từ “ Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm “ thành “Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ “
- Về cấu thành tội cơ bản:
Điều 190 BLHS có quy định mở rộng hơn đối tượng của tội phạm này so với Điều 190 BLHS 1999 Ngoài các động vật hoang dã còn có các động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, các sản phẩm của loại động vật đó BLHS được bổ sung thêm “bộ phận cơ thể của động vật đó “
Về hành vi phạm tội được quy định trong điều luật mới có bổ sung thêm hành vi “ nuôi, nhốt “ trái phép động vật, thực vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
Việc BLHS cũ không quy định 2 hành vi là một trong những thiếu sót để cho các chủ thể lợi dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Thực chất hành vi
“ nuôi, nhốt “ cũng xâm phạm tới các quy định của Nhà nước trong việc bảo vệ cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học của các loài động vật hoang dã, quý hiếm trong môi trường sinh thái
Nâng mức hình phạt đối với tội phạm Theo quy định của BLHS năm 1999 hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 190 là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3
Trang 30năm Nay theo luật sửa đổi, bổ sung BLHS là: phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Khoản 3 Điều 190 BLHS năm 1999 quy định hình phạt bổ sung là: phạt tiền
từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
1.3.2.6 Tội vi phạm khu quản lý bảo tồn thiên nhiên - Điều 190 Bộ luật Hình sự (Điều luật được sửa đổi, bổ sung).
1 Người nào vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
2 Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt thì bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm
A, Có tổ chức
B, Sử dụng công cụ hoặc phương tiện, phương pháp bị cấm
C, Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
4 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
Điểm mới của Điều luật này bao gồm các nội dung sau:
Trang 31- Tên Điều luật được sửa đổi, bổ sung từ “ Tội vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên “ thành “Tội vi phạm khu quản lý bảo tồn thiên nhiên “
- Về cấu thành tội phạm cơ bản:
+ Hành vi phạm tội: Theo như BLHS năm 1999 chỉ quy định “ người nào vi phạm chế độ sử dụng, khai thác khu bảo tồn thiên nhiên “ thì khi BLHS được sửa đổi, bổ sung đã quy định hành vi “ vi phạm chế độ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên “
+ Trước đây, dấu hiệu “ đã bị xử phạt vi phạn hành chính về hành vi này mà còn vi phạm “ là điều kiện bắt buộc để có thể truy cứu TNHS đối với hành vi vi phạm thì đến khi BLSH được sửa đổi, bổ sung đã bỏ dấu hiệu này đi và chỉ cần “ gây hậu quả nghiêm trọng “ kaf thỏa mãn dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm này
- Sửa đổi cấu thành tăng nặng và bổ sung một số tình tiết tăng nặng định khung của tội phạm Điều 191 BLHS 1999 chỉ có một khoản ( Khoản 2 ) quy định khung tăng nặng TNHS là “ phạn tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm “, nay theo luật sửa đổi, bổ sung BLHS, tội phạm này được sửa thành hai khoản quy định khung tăng nặng TNHS là Khoản 2 và Khoản 3 với mức hình phạt lên tới 10 năm tù ( Khoản 3 )
và bổ sung tình tiết tăng nặng mới là “ phạm tội đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, có tổ chức, sử dụng công cụ, phương tiện, biện pháp bị cấm “
- Nâng mức hình phạt đối với tội phạm:
+ Về mức phạt tiền: Luật sửa đổi, bổ sung BLHS đã tăng mức phạt tiền tại Khoản 1 từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, so với mức phạt năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng quy định tại BLHS 1999
Trang 32Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung theo Điều 191 BLHS 1999 là từ hai triệu đồng đến hai mươi triệu đồng thì nay đã được sửa thành phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.
+ Về mức phạt tù: Theo Điều 191 BLHS 1999, mức phạt tù cao nhất đối với tội phạm là 5 năm, nay theo mức sửa đổi, bổ sung BLHS mức phạt này có thể lên tới 10 năm
1.3.2.7 Tội nhật khẩu, phát tán các loài ngoại xâm hại - Điều 191a Bộ luật Hình sự (Điều luật được sửa đổi, bổ sung).
1 Người nào cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai bị xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.
A, Có tổ chức
B, Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
C, Tái phạm nguy hiểm.
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Đây là một tội phạm mới được bổ sung trong luật sửa đổi, bổ sung lần này Cấu thành tội phạm cơ bản của Điều luật này là:
- Khách thể tội phạm: Tội phạm này xâm phạm các chế độ bảo vệ của Nhà nước đối với môi trường sinh thái nhằm ngăn chặn, phòng ngừa sự phá hoại của các loài ngoại lai xâm hại
Trang 33- Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hai hành vi chính là nhập khẩu các loài ngoại lai xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng và phát tán các loài ngoại lai gây hậu quả nghiêm trọng.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm thực hiện với lỗi cố ý
- Chủ thể của tội phạm: Tội phạm được thực hiện bởi những người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định
+ Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
+ Tái phạm nguy hiểm
Khoản 3 quy định hình phạt bổ sung,người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm
Tóm lại: Việc sửa đổi, bổ sung một số điều BLHS đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho công tác phòng ngừa và đấu tranh đối với các loại tội phạm về môi trường
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Tình hình tội phạm về môi trường ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay.
Trang 34Từ năm 2008 đến nay tình tội phạm về môi trường diễn ra vô cùng phức tạp trên nhiều phương diện, tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm hơn, làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sinh thái Theo Cục Cảnh sát điều tra tội phạm
về môi trường (C49), từ khi được thành lập cho đến nay (từ năm 2006), theo số liệu thống kê thì tình hình tội phạm môi trường ngày càng gia tăng cả về số lượng và tính chất Tính từ năm 2008 đến tháng 2 năm 2011 cả nước đã xảy ra
11.780 vụ, trong đó chuyển cho cơ quan điều tra xử lý 187 vụ (chiếm 1.6%), với tổng số 252 đối tượng; xử phạt hành chính với tổng số tiền là 238.073 tỷ đồng
Cụ thể qua các năm như sau:
2.1.2 Tình hình tội phạm môi trường năm 2008.
Theo số kiệu thống kê của C49, trong năm 2008, toàn lực lượng đã phát
hiện ra 998 vụ về môi trường, 1424 tổ chức và cá nhân có hành vi vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường nghiêm trọng Trong đó đã chuyển cho cơ quan điều
tra thụ lý là 18 vụ (chiếm 1.8%), 30 đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật
hình sự Đây còn là một con số rất khiêm tốn Tiếp đó, phối hợp xử lý vi phạm
hành chính và truy thu phí môi trường trên 135 tỷ đồng Cảnh cáo, nhắc nhở
hàng trăm doanh nghiệp, cá nhân có vi phạm trong công tác bảo vệ môi trường nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự hoặc hành chính
Trong các tội về môi trường thì có một số tội khá phổ biến và chiếm tỷ lệ cao đó là các tội về gây ô nhiễm không khí, đất, nước (chiếm 18.3%); tội về vi phạm quản lý chất thải, chất thải nguy hại (chiếm 13.2%) và các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ rừng (chiếm 10.9%)
Phân tích từng hành vi cụ thể: có phụ kèm theo
Năm 2008, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Vi phạm xảy ra phổ biến trong các lĩnh vực sau:
Trang 35- Trong hoạt động sản xuất, nhất là tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các làng nghề truyền thống: Tiếp diễn tình trạng vừa sản xuất, vừa xây dựng cơ
sở hạ tầng hoặc không đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khí thải Một
số nhà máy xây dựng hệ thống bí mật, tinh vi dẫn chất thải trực tiếp ra sông hồ, được nguỵ trang bằng hệ thống xử lý đúng quy định nhưng thực tế không vận hành hoặc chỉ vận hành đối phó khi bị kiểm tra Chính đây là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các con sông và môi trường trên lưu vực sông Điển hình như
vụ Công ty VEDAN Việt Nam (Đồng Nai), Công ty Miwon (Phú Thọ), Công ty thuộc da Hào Dương, Công ty giấy Việt Trì Các làng nghề truyền thống thường không được quy hoạch tập trung, quy mô sản xuất hộ gia đình nhỏ lẻ nên thường không quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải, nên chất thải, bao gồm cả hoá chất độc hại được thải trực tiếp ra ao hồ, kênh mương, ruộng lúa gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các khu vực làng nghề
- Hoạt động kinh doanh nhập khẩu: Việc nhập khẩu sắt thép, nhựa phế liệu
lẫn rác thải nguy hại vẫn diễn ra khá phổ biến Một số doanh nghiệp lợi dụng cơ chế kiểm hoá bằng xác suất (10% khối lượng hàng nhập), thậm chí móc nối với nhân viên hải quan, kiểm định, lấy mẫu trong các lô hàng đảm bảm yêu cầu chất lượng đã được chuẩn bị sẵn, từ đó dễ dàng được thông quan nhập rác vào nước
ta Nhiều doanh nghiệp biết có vi phạm nhưng vẫn cố tình đưa rác về cảng, xin nộp phạt để thông quan, coi như “đã lỡ”
- Công tác quản lý, xử lý rác thải y tế: Năm 2007 đã phát hiện nhiều sai
phạm trong công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện, Chính phủ và Bộ Y
tế đã có biện pháp chấn chỉnh, nên năm 2008 đã giảm cả về số vụ và tính chất vi phạm Tuy vậy, lĩnh vực này vẫn xảy ra tình trạng nhân viên bệnh viện câu kết hoặc buông lỏng để rác thải y tế từ các lò thiêu đốt rác được tiếp tục “phân loại”, bán cho các cơ sở kinh doanh phế liệu (như vụ Bệnh viện Lao Trung ương),
Trang 36thậm chí bệnh phẩm để bừa bãi, lẫn với rác sinh hoạt gây nguy cơ lây lan dịch bệnh (Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện đa khoa Hà Tây (cũ) Nhiều cơ sở khám chữa bệnh tư, phòng chụp X-quang sử dụng thiết bị lạc hậu, không có hệ thống chống rò rỉ phóng xạ ra ngoài, nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ cho người dân
- Lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra nhiều vi phạm: Tình trạng vận
chuyển trái phép qua biên giới các loại gia súc, gia cầm (trâu, bò, gà, vịt và các chế phẩm, trứng gà vịt) chưa qua kiểm dịch diễn ra nhiều nơi; nhiều cơ sở sản xuất, tiêu thụ hàng kém chất lượng như vụ Công ty cổ phần thực phẩm Á Châu ACFOOD sản xuất sữa kém chất lượng, tiêu thụ trên địa bàn 18 tỉnh, thành phố,
vụ 3 cơ sở sản xuất kẹo trộn tỷ lệ bột đá cao tại Hà Nội Hầu hết các nhà hàng,
kể cả các khách sạn lớn cũng không đảm bảo đúng quy trình bảo quản, xử lý và chế biến thực phẩm
- Công tác quản lý, xử lý chất thải nguy hại chưa được quan tâm đúng mực
Một số tập đoàn kinh tế lớn cũng chưa coi trọng vấn đề này như Tập đoàn Điện lực còn lỏng lẻo trong việc quản lý dầu biến thế thải chứa chất PCB, dẫn đến tình trạng thu mua, tái chế trái phép chất thải nguy hại tiếp diễn tại nhiều địa phương (đặc biệt là ắc quy chì, dầu máy thải) Nhiều tổ chức, cá nhân hành nghề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải không thực hiện đúng quy định như sử dụng phương tiện không chuyên dụng, không phân loại chất thải sau khi thu gom, chôn lấp xuống đất, chôn lẫn rác thải nguy hại với rác thải thông thường… Điển hình như vụ Công ty TNHH Tân Đức Thảo (TPHCM), Công ty TNHH Song Tinh (Vĩnh Phúc), vụ Công ty TNHH Sông Xanh (Bà Rịa Vũng Tàu) chôn lấp hơn 4600m3 chất thải và cát nhiễm dầu Hoạt động thu mua vận chuyển và tái chế trái phép ắc quy chì vẫn diễn ra ở nhiều nơi, có vụ diễn ra với quy mô khá lớn như vụ doanh nghiệp tư nhân Hưng Nhung (Hưng Yên) và đường dây vận chuyển 100 tấn ắc quy chì từ Nam ra Bắc…
Trang 37- Lĩnh vực bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm: Qua một số vụ việc do C49
và PC49 địa phương đã phát hiện, đấu tranh xử lý cho thấy vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này vẫn tiếp diễn phức tạp, nhất là buôn bán các loài động vật quý hiếm có lợi nhuận cao như hổ, tê tê Các đường dây mua bán, vận chuyển động vật hoang dã qua biên giới thủ đoạn tinh vi, che giấu bằng nhiều hình thức, như
vụ Công ty cổ phần XNK Talu nhập trên 23 tấn tê tê đông lạnh và 900kg vảy tê
tê, che phủ bằng cá đông lạnh qua cảng Hải Phòng; C49 bắt 1 vụ nhập khẩu 2800
kg rùa, rắn…Việc nuôi nhốt động vật hoang dã (có hoặc không có giấy phép) diễn ra tràn lan, khó kiểm soát
- Khai thác, vận chuyển, tiêu thụ và xuất khẩu khoáng sản: Tình trạng khai thác, vận chuyển, tiêu thụ trái phép khoáng sản, vật liệu xây dựng diễn ra bừa
bãi, tràn lan, gây cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm đất, nguồn nước, phá hủy cảnh quan môi trường xảy ra phức tạp ở nhiều địa phương, được Chính phủ và lãnh đạo các lãnh đạo các cấp quan tâm chỉ đạo Nổi lên là tình trạng khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, xuất khẩu than trái phép tại Quảng Ninh, Titan ven biển miền Trung (Quảng Nam, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Định…) Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản (vàng, crom, volfram ), vật liệu xây dựng quy
mô nhỏ lẻ xảy ra ở hầu hết các địa phương chưa được kiểm soát
- Tình trạng trốn hoặc gian lận trong việc nộp phí bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến ở các doanh nghiệp, các tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các bệnh viện Nguyên nhân của tình trạng này là do chưa có một chế tài xử phạt
đủ mạnh để răn đe phòng ngừa vi phạm (như vụ công ty cổ phần hữu hạn Vedan phải truy thu trên 127 tỷ đồng, công ty cổ phần giấy Việt Trì truy thu trên 1 tỷ đồng…)
2.1.2 Tình hình tội phạm về môi trường năm 2009