Tuy vậy, trong thực tế không phải mọi tôngiáo đều có ích và là điều đáng mong muốn đối với nhân loại, vì như lịch sử đã minh chứng, phần lớn các tín ngưỡng và tôn giáo là sản phẩm của mộ
Trang 1KHÁI NIỆM
VỀ BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
(Lý Thuyết Và Thực Hành)
ĐĐ.Thích Viên Trí Nhà Xuất Bản Tôn Giáo - Hà Nội 2002
-o0o -Nguồn http://www.quangduc.com Chuyển sang ebook 18-06-2009
Người thực hiện : Nam Thiên - namthien@gmail.com Link Audio Tại Website http://www.phatphaponline.org
Khủng hoảng thế giới tự nhiên
Nguyên nhân của sự khủng hoảng
Dự Kiến Giải Pháp
Xu Hướng Hiện Nay Của Tôn Giáo
Ðịa Vị Của Con Người
Vấn Ðề Niềm Tin
Vấn Ðề Năng Lực Cứu Ðộ
Khuynh Hướng Tu Tập Của Phật Tử Trong Thời Ðại Ngày NayÐịnh Hướng Của Công Trình Nghiên Cứu
Chương Hai - Khái Niệm Bồ Tát
Khái Niệm Bồ Tát Qua Kinh Tạng Nikàya
Ý Nghĩa Thần Thánh Và Bồ-Tát Trong Phật Giáo Nguyên ThủyCác Loại Bồ-tát Trong Văn Ðiển Pàli
Trang 2Hình Tượng Bồ Tát Trong Văn Ðiển Pàli-Những phương pháp giải thích khác nhau về giáo lý Phật giáo
Công Hạnh Của Bồ Tát Theo Phật Giáo Nguyên Thủy
Chương Ba - Sự Phát Triển Của Giáo Lý Bồ Tát
Nguyên nhân đưa đến sự chuyển biến trong giáo lý Phật giáo
Sự khủng bố của triều đại Sunga và cuộc phục hưng của đạo Hindu
Ảnh hưởng từ nhiều truyền thống khác nhau
Phát triển trong nội bộ Phật Giáo
Bốn giai đoạn phát triển của giáo lý Bồ Tát
Hình tượng Bồ Tát trong Phật giáo Phát triển
Vấn đề nguồn gốc của thuật ngữ Avalokitésvara
Phiên dịch của tiếng Trung Hoa về thuật ngữ ‘Avolokitesvara’
Vấn đề giới tính của Bồ Tát Avalokitesvara
Chương Năm - Avalokitesvara: Trong Kinh Tạng Phật Giáo Phát TriểnKinh Diệu Pháp Liên Hoa (Saddharmapundarika Sutra)
Ðánh giá lại một số bình luận về phẩm thứ 24 của Kinh Pháp Hoa
Nội dung của phẩm Phổ Môn
Phương pháp tu tập của kinh Saddharma-pundarika
Kinh Sukhavàti-vyùha
Cảnh giới Cực Lạc
Giáo Chủ cõi Cực Lạc
Ðiều kiện thiết yếu để được cứu độ về Cảnh Giới Cực Lạc
Chương Sáu - Quán Thế Âm Bồ Tát và Thế Giới Ngày Nay
Sự ứng dụng thích đáng về Bồ Tát Quán Thế Âm
Tu tập lòng từ ngang qua hạnh bố thí (dàna)
Bố thí tài vật (Amisadàna)
Bố thí Pháp, nghĩa là lời nói ích lợi và tốt lành (dharmadàna)
Thí vô úy, tức cho sự không sợ hãi (Abhayadàna)
Huấn luyện lòng từ bi ngang qua việc tu tập thiền định
Huấn luyện cái nhìn trí tuệ hay cái nhìn Quán Thế Âm
Hai nghệ thuật sống
Chương Bảy - Kết Luận
Con đường duy nhất đi vào giáo lý Phật giáo
Tính thống nhất của giáo lý Phật giáo
Phương pháp tu tập truyền thống của Phật giáo
Trang 3-o0o -
Lời nói đầu
Tôi vô cùng hài lòng khi biết rằng tiến sĩ Hoàng Ngọc Dũng (ViênTrí) đang tiến hành in luận án của mình thành sách Tiến sĩ Dũng đã làmviệc rất nghiêm túc để hoàn thành cuốc sách này Tiến sĩ cũng đã đưa ranhiều giải thích mới về khái niệm Bồ-tát Quán Thế Ân (AvalokitésvaraBodhisattva) và sự ứng dụng chúng vào trong thế giới hiện đại, vốn đang bịbạo lực và sự cạnh tranh tàn nhẫn dày xé Tôi tin chắc rằng các sinh viên vàgiáo sư giảng dạy sẽ nhận thấy cuốn sách này rất là hữu ích
Tôi mong ước tiến sĩ Hoàng Ngọc Dũng sẽ có một sự nghiệp rất thành côngtrong lãnh vực giáo dục
Giáo sư Tiến sĩ K.T.S Sarao
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của tôi đến với các vị ân nhân:
Vị cố vấn đáng kính đồng thời cũng là Phân Khoa Trưởng Phân Khoa PhậtHọc của Ðại Học Delhi, giáo sư tiến sĩ K.T.S Sarao đã hết lòng giúp đỡ vàhướng dẫn tôi trong thời gian tôi thực hiện các công trình nghiên cứu tại Ấn-
Ðộ Sự cố vấn đầy năng lực của ông, đặc biệt là trong lãnh vực tiếng Anh,thực sự đã giúp tôi thành đạt được mục tiêu học tập của tự thân vượt trướcthời gian dự định
Tiến sĩ R.K Rana đã luôn hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứucông trình này Tôi cũng tri ân các giáo sư, tiến sĩ giảng viên tại Phân KhoaPhật Học thuộc Ðại học Delhi, đã giảng dạy các khóa cao học (MA) và thạc
sĩ (M.Phil), cũng như dành nhiều thời gian để thảo luận và hướng dẫn tôi vềtriết học Phật giáo và phương pháp nghiên cứu Quả thật, sự sẵn lòng độngviên và khích lệ rất có ý nghĩa và giá trị của các vị đã là nguồn cảm hứng lớnlao đối với tôi trong khi học tập và nghiên cứu tại quê hương của xứ Phật
Cụ bà Ðào Kim Cúc pháp danh Nguyên Hưng, nữ Phật tử thành viên củaTăng già: Sự hỗ trợ trường kỳ của bà không những trong lãnh vực vật chất
Trang 4mà cả về mặt tinh thần đã giúp tôi có được cuộc sống an ổn và thuận lợi để
có thể tập trung hoàn toàn tâm ý hoàn tất công trình nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin gởi lời tri ân to lớn đến các tác giả của những tác phẩm cóliên hệ, đã cung cấp các nguồn tài liệu giá trị và hữu ích cho việc biên soạncông trình nghiên cứu này
Viên Trí (Hoàng Ngọc Dũng) Tháng hai, năm 2001
-o0o -Thích Viên Trí (Thế danh: Hoàng Ngọc Dũng) sinh năm 1959 tạiHuế Xuất gia tại Chùa Linh Sơn, Ðà Lạt năm 1968 Tốt nghiệp Cao CấpPhật Học VN tại TP.HCM năm 1992 Năm 1994 du học tại Ðại Học Delhi,
Ấn Ðộ, tốt nghiệp M.A năm 1996, M Phil năm 1997, và bảo vệ luận án tiến
sĩ tháng 12 năm 2001 Hiện là giảng viên của Học viện Phật Giáo VN tạiTP.HCM, Học viện Phật Giáo VN tại Thừa Thiên Huế
“… This reflects his deep interest in the innovation academic works and theexcellent performing capability The topic, he has selected for his Ph.D.research work, is basically Relio-philosophical in nature dealing withconcept of Avalokitesvara Bodhisattva It requires a deep study into thehistorical and philosophical development of the concerned concept forevaluation of the relevance of this concept in society… Rev Dung willprove worthy”
Dr Bhikkhu SATYAPALA Head of Dept of Buddhist Studies
Delhi University – India
“…Ðiều này phản ánh niềm say mê sâu sắc của tác giả trong những tácphẩm học thuật mang tính sáng tạo và khả năng trình bày xuất sắc của mình
về lãnh vực này Ðề tài được tác giả chọn để nghiên cứu luận án tiến sĩ trongthực chất là vấn đề triết lý tôn giáo liên quan đến khái niệm Bồ tát Quán
Âm Nó đòi hỏi một sự nghiên cứu nghiên túc quá trình phát triển về lịch sử
và triết lý của khái niệm này để đánh giá về sự thích ứng của nó trong xã hộingày nay… Tác giả sẽ chứng minh giá trị của nó.”
Thượng Tọa Tiến sĩ SATYAPALA Phân Khoa Trưởng Phân Khoa Phật Học
Ðại Học Delhi-Ấn Ðộ
Trang 5“… He has also come up with various new interpretations to the conceptAvalokitesvara and its application in modern world which is split by ruthlesscompetition and violence I am sure that students and teachers shall find thisbook useful…”
Dr Prof K.T.S SSARAO Ph.D (Delhi) Ph.D (Cantab)
“…Tác giả đưa ra nhiều giải thích mới về khái niệm Bồ tát Quán Thế Âm(Avalokitesvara Bodhisattva) và sự ứng dụng chúng vào trong thế giớI hiệnđại, vốn đang bị bạo lực và sự cạnh tranh tàn nhẫn dày xé Tôi tin chắc rằngsinh viên và giáo sư giảng dạy sẽ nhận thấy cuốc sách này là rất hữu ích…”
Giáo sư Tiến sĩ K.T.S.SARAO
và dường như họ đang trở thành kẻ miên hành trong thiên đàng của vật chấttrần thế
Tuy vậy, trong khi đại đa số con người trên hành tinh đang tắm mình trongnắng ấm của các thành tựu từ việc ứng dụng trí tuệ khoa học và tôn vinh nónhư là một loại tôn giáo mới: “Tôn Giáo Khoa Học Kỹ Thuật”, thì mỉa maithay đã có một sự nhất trí, ít nhất là giữa giới quan sát phê bình, những chínhtrị gia tỉnh táo, và ngay cả nhiều khoa học gia, cha đẻ hay trực tiếp hay gián
Trang 6tiếp các sản phẩm này, rằng có một điều gì đó có hại, bất an tiềm ẩn dướitiến trình khoa học ấy, giống như mầm mống của bịnh Sida đang đe dọa sựsống của nhân loại Càng ngày càng gia tăng không ngừng số lượng học giảquan tâm đến sự thật vừa nêu Họ suy nghĩ, tính toán và cân nhắc một cáchnghiêm túc việc bảo tồn sự sống và thật sự đã có cảm giác sợ hãi sâu sắc vềkhuynh hướng chung mà nền văn minh nhân loại đang diễn tiến Số người
ấy cảm thấy nghi ngờ đến chính sự sống còn của nhân loại Ðối với họ,khuynh hướng này đang thực sự đưa nhân loại đến một cuộc đối đầu nguyhiểm: “đối đầu với sự sống còn của toàn bộ cuộc sống trên trái đất này”, nếu
nó không sớm được rà soát và đánh giá lại Trên thực tế, chính ngang qua lốisống hiện đại ấy mà con người đã tạo ra vô số khủng hoảng cho chính họcũng như cho thế giới tự nhiên Sau đây là một vài nét điển hình về cuộckhủng hoảng mà các nền văn hoá được mệnh danh là “những quốc gia pháttriển hay các miền đất hứa” đã gây ra
-o0o -Khủng hoảng lý tưởng sống - -o0o -Khủng hoảng đời sống con người
Trước tiên, Erich Fromm đã nêu ra một điểm qua trọng để chúng tasuy nghĩ, khi ông nói rằng:
“Dùng trí năng kiểm soát thiên nhiên và sự sản xuất càng ngày càng nhiều
đồ vật đã trên nên mục tiêu tối quan trọng của sự sống Trong tiến trình nàycon người đã tự biến mình thành đồ vật, cuộc sống đã bị lệ thuộc vào tài sản;quan niệm “hiện hữu” bị chi phối bởi quan niệm “sở hữu” Trong khi cănnguyên của nền văn hóa Tây phương, bao gồm cả Hy Lạp lẫn Do Thái, xemmục tiêu của cuộc đời là hoàn thiện con người, con người thời đại ngày naychỉ quan tâm đến hoàn thiện đồ vật, và học cách để tạo ra chúng”
Hàng loạt rắc rối nối kết theo như là hệ quả hiển nhiên từ quan điểm trênhướng đến cuộc sống như đã được giáo sư tiến sĩ Trover Ling trình bàytrong tác phẩm triết học so sánh: “Ðức Phật, Max, và Thượng Ðế” (Buddha,Max và God) Theo Trover Ling, người phương Tây đã tạo ra vô số vật chấtcủa cải, nhưng đồng thời họ cũng đã giết hại hàng triệu mạng sống của conngười qua sự bùng nổ một khối lượng bạo động khủng khiếp, mà một cáchbóng bẩy họ gọi là chiến tranh: Ðây là cái xã hội được mệnh danh là xã hộitỉnh táo Nhiều nghiên cứu văn bản học có giá trị đã chứng minh rằng chính
xã hội này đã phải chịu sự tổn thương với tỷ lệ cực kỳ cao về hành động tự
tử, giết người, và rựợu chè; và các hiện tượng đó đã chứng tỏ rằng phươngTây là một xã hội bệnh hoạn Sự giàu có gia tăng đi kèm với việc gia tăng sốlượng người nghiện rượu và tự vận Căn cứ vào dữ liệu được Liên Hiệp
Trang 7Quốc thống kê hằng năm, quốc gia có kỷ lục tệ hại nhất về cả việc tự tử lẫnrượu chè là Hoa Kỳ, Ðan Mạch, Tân Tây Lan, và Thụy Ðiển Nói khác đi,những đất nước được tự cho là dân chủ, an bình và thịnh vượng nhất đóđang càng ngày càng trở nên khốn khổ với vô số căn bệnh hiểm nghèo Bìnhluận về tác phẩm “Xã Hội Tỉnh Táo của Erich Fromm”, Trover Ling nhậnđịnh rằng hình ảnh rõ ràng của một xã hội điên cuồng đặc biệt liên quan đếnHoa Kỳ nhiều hơn là những quốc gia Châu Âu; nhưng thực tế, khuynhhướng xã hội của các nước ở Châu Âu đang diễn biến như tình huống ở HoaKỳ.
Nhưng đây không phải là tất cả! Trover Ling tiếp tục nói rằng, giả thiết rằngthế giới này tránh được hiểm họa chiến tranh, Erich Fromm đã cảm nhậnđược sự nguy hiểm khủng khiếp mà nhân loại sẽ phải đối đầu khi thế giớicủa con người trở thành thế giới người máy Sự thật có thể là những ngườimấy ấy sẽ nổi loạn khi chúng không còn có thể chịu đựng được nổi buồnchán của một cuộc sống hoàn toàn vô nghĩa, vì vậy chúng muốn huỷ diệt thếgiới và huỷ diệt cả chính mình Erich Fromm kết luận rằng Hoa Kỳ, đấtnước tiến bộ nhất và thịnh vượng nhất về vật chất, đã biểu hiện mức độ tolớn nhất về sự mất cân đối tinh thần
Ngoài hình thái hủy diệt mang tính thế tục, một số tôn giáo cuồng tín nguyhiểm đã cộng thêm hàng loạt nguy cơ vào kỷ nguyên mà chúng ta đangsống Những việc làm cực kỳ nguy hiểm của cái gọi là “Giáo Phái ÐộcDược” và “Linh Hồn Lưu Lạc” là vài trường hợp điển hình Giáo chủ của tínngưỡng ấy là một người Nhật, tên là Shoko Asahara Giáo phái này nổi lên ởNhật Bản rồi lan tràn sang Hoa Kỳ, Liên Xô và nhiều nơi khác Tín đồ của
họ không chỉ bao gồm một số lượng lớn sinh viên, học sinh, mà còn có cáchọc giả, bác sĩ, giáo sư từ nhiều quốc gia khác nhau Bên cạnh những khủnghoảng điên cuồng vừa nêu, sự tan rã tinh thần của tập thể Tổ Chức Máy TínhHoa Kỳ, gọi là “The Maker”, cũng đã góp phần chứng minh một cách hùnghồn rằng chúng ta thật sự đang sống trong thời đại nguy hiểm
-o0o -Khủng hoảng thế giới tự nhiên
Nhân loại ngày nay đang tự đặt mình trong tình huống thật là liều lĩnhngang qua hàng loạt việc làm vô nghĩa và tàn nhẫn, không chỉ đối với chính
họ mà có lẽ toàn bộ đời sống trên hành tinh này cũng chung số phận và sẽ bịtiêu diệt! Chúng ta ắt hẳn sẽ rùng mình khi nhìn thấy thoáng qua các thảmhọa mà con người khắp thế giới phải gánh chịu trong thời gian vừa qua Có
lẽ đây là dấu hiệu rõ ràng cho sự kiện trên Không có gì để nghi ngờ về sự
Trang 8thật rằng, lúc này chính thế giới tự nhiên với tư thế tự vệ đang giận dữ chốnglại con người ngang qua những hình thức bão táp, sóng thần, lũ lụt, hạn hán,động đất, núi lửa, v.v… Có lẽ chúng ta sẽ không lạc đề khi trích dẫn lời phátbiểu của nhà sử học người Mỹ, Arnold.J Toynbee, ra đây để minh họa cholập luận trên:
“Dường như không có gì để ghi ngờ rằng quyền lực kiểm soát môi trườngcủa con người đã đạt tới một mức độ mà ở đó quyền lực này sẽ dẫn đến sự
tự diệt vong nếu như người ta tiếp tục sử dụng nó để phục vụ tham vọng củamình…”
Như vậy, thật sự chúng ta đang đối mặt với một tình huống rất đáng sợ!Khủng hoảng là một sự thật không thể chối cãi! Nhưng điều gì thực sự đãtạo ra tình huống như vậy? Ðể trả lời cho câu đó, chúng ta cần phải nghiêncứu nguồn gốc của cuộc khủng hoảng Nói cách khác, chúng ta phải tìm cho
ra nguyên nhân đưa con người rơi vào cơn rối loạn này
-o0o -Nguyên nhân của sự khủng hoảng
Theo ý kiến của các nhà đạo đức học, nguyên nhân chủ yếu về nguồngốc của cuộc khủng hoảng chết người này chính là cuộc sống thực dụng,đắm chìm trong xa hoa khoái lạc quá độ của con người khắp hành tinh này,
đã đưa nhân loại đến bờ vực của sự hủy diệt, cả vật chất lẫn tinh thần
Mặt khác, giới học giả trong ngành tâm lý học cho rằng khủng hoảng có lẽphát sinh từ cái gọi là “malaise, ennui, mal du siècle - phiền muộn, bực dọc,bệnh thế kỷ” Ðó là “sự tê liệt hóa cuộc sống, sự máy móc hóa con người, sựcách ly khỏi chính mình, khỏi đồng loại và khỏi thiên nhiên; và đó là kết quảcủa kiểu sống “hoàn thiện đồ vật” như đã đề cập ở trên
Theo ý kiến của giới khoa học xã hội và môi trường học, nguyên nhân chínhcủa cuộc khủng hoảng có thể nằm đằng sau nền tảng của triết lý sống; nghĩa
là sự khủng hoảng bắt nguồn từ lối sống mất cân đối hiện nay Ðiều này ngụ
ý rằng nền văn minh hiện đại cải thiện mọi lãnh vực của cuộc sống, bao gồm
kỹ thuật, khoa học, công nghệ, để làm thỏa mãn mong ước của con người,nhưng nó lại không hoàn thiện lãnh vực đạo đức nhân văn Nói khác đi,nhân loại đang thăng tiến về phương diện vật chất, nhưng lại thoái hóa vềphương diện tinh thần
Dĩ nhiên, còn rất nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến vấn đề này; tuy vật,
có một sự nhất trí giữa hầu hết các học giả rằng cuộc khủng hoảng hiện nay
là khủng hoảng sinh học, như lời của giáo sư Aurelo Peccei, chủ tịch CâuLạc Bộ Rom của nước Ý, đã phát biểu trong cuộc đàm luận với giáo sư tiến
Trang 9sĩ Daisaku Ikeda của Nhật Bản Theo ý kiến rất thuyết phục của giáo sư A.Peccei, cuộc khủng hoảng của thời đại chúng ta hiện nay không phải đượcđịnh sẵn trong bản chất cốt lõi của con người, do vậy không phải khôngtránh được Sau khi nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề ở mọi cấp độ,
A Peccei đi đến kết luận rằng đó là cuộc khủng hoảng văn hóa, bắt nguồn từtruyền thống Do Thái giáo thuộc Tây Nam Châu Á và Thiên Chúa giáo, sau
đó lan tràn khắp mọi nơi
Sự thật không thể tranh cãi là, trên thực tế tất cả nền tảng văn hóa khắp thếgiới này chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi triết lý tôn giáo của chúng Nói khác
đi, chúng ta có thể không sai khi nói rằng không có dân tộc nào không có tôngiáo; hoặc là, tôn giáo là nhu cầu của bộ phận quần chúng rất đông đảo, nótạo nên một mẫu thức sống có định hướng và một đối tựơng để phụng thờ…
Từ một số giải thích vừa nêu trên, chúng ta có thể an tâm để đưa ra giảthuyết rằng tình trạng tiến thoái lưỡng nan của thời đại ngày nay có gốc rễ từtôn giáo Lập luận tiếp theo của giả thuyết này sẽ là: Tôn giáo là sự biểu hiệnnhu cầu của một dân tộc và bản chất của một nền văn hóa Vậy, khi một tôngiáo nào đó không còn thỏa mãn được niềm tin và khát vọng của con người,
nó sẽ bị một hình thức tín ngưỡng hay tôn giáo khác thay thế như là một hệluận tất yếu Như người ta thường nói, tôn giáo là một nét văn hóa đặc trưng
từ sự khám phá hay tưởng tượng của con người ở một thời điểm lịch sử nào
đó Tất cả hình thái tôn giáo giống như một loài hoa quý hiếm trong vườnhoa của địa đàng trần gian, tức thế giới này; nó là một bảo vật cần phải luônluôn được giữ gìn và trân trọng Tuy vậy, trong thực tế không phải mọi tôngiáo đều có ích và là điều đáng mong muốn đối với nhân loại, vì như lịch sử
đã minh chứng, phần lớn các tín ngưỡng và tôn giáo là sản phẩm của một sốtâm hồn bất toàn, và chúng thật sự đã đưa con người đến những tình huống
vô cùng tổn hại, trong cả lãnh vực vật chất lãnh tinh thần Câu chuyện củamột giáo phái ở Triều Tiên “Ngày tận thế không đến” do Nhật báo OrangeCounty Register tường thuật lại vào ngày 29 tháng 10 năm 1992, làm hàngtrăm ngàn gia đình tán gia bại sản đã khiến người ta sửng sốt; hoặc chuyệnthương tâm của hàng ngàn người Ðài Loan sống ở Mỹ, như Nhật báo
“Times of India” đưa tin, cũng sẽ chứng minh cho lý luận trên Ðó là, saukhi bán nhà cửa đất đai theo lời khuyên của giới lãnh đạo tôn giáo, số ngườiÐài Loan ấy đã chờ đợi sự xuất hiện của Ðấng Cứu Thế ở kinh truyền hình
18 của đài Truyền hình Hoa Kỳ vào tuần thứ hai của tháng ba năm 1998,nhưng cuối cùng họ thất vọng tự tử, vì biết rằng mình đã bị lừa gạt
Ðương nhiên, sau khi bị đau khổ bởi niềm tin lầm lạc, con người có khuynhhướng phản kháng, và sự phản kháng đó đã dẫn đến một quá trình thay đổihình thái tôn giáo Ở nền văn hóa Châu Âu, hai đổi thay vô cùng quan trọng
Trang 10đã diễn ra trong lịch sử tôn giáo của nó và hai chuyển biến này cũng là bướcngoặt lịch sử trong sự tiến bộ và phát triển của nền văn minh Tây Âu.
Bước thay đổi đầu tiên xảy ra vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên khi ThiênChúa Giáo thế chân tín ngưỡng La Mã Hy Lạp Lần chuyển đổi thứ hai là sựxuất hiện của một số loại tôn giáo đặc thù vào thế kỷ thứ 17, đó là: Lòng Tinvào sự tiến bộ khoa học, Chủ Nghĩa Dân Tộc v.v… Hai bước thay đổi trênthật sự đã đưa nhân loại đến tình huống hiện nay Rõ ràng, mỗi lần khủnghoảng phát sinh ấy là lúc tôn giáo không còn đáp ứng được lý tưởng sốngcũng như nhu cầu tâm linh của con người ở một thời điểm cụ thể nào đó Ví
dụ, khi văn minh Hy Lạp-La Mã biểu hiện sự yếu kém của nó trong việcthích nghi với tiến trình mở mang hiểu biết của nhân loại, lập tức nó bịThiên Chúa Giáo tiếp quản Cũng thế, khi giới tri thức Châu Âu trở nên thấtvọng với các giá trị của đạo Thiên Chúa, sự thất vọng ấy đã khiến họ quaylưng với học thuyết tôn giáo để dạy theo khoa học, và thờ ơ với những xungđột tôn giáo chính trị để rồi say sưa trong tiến bộ của kỹ thuật, như nhiềuhọc giả lỗi lạc đương thời, đặc biệt là hai triết gia và sự học gia Arnold J.Toynbee và Daisaku-Ikeda, nhận định và đánh giá
Nhưng nguyên nhân chính yếu nào đã đưa các hình thái tôn giáo tín ngưỡngđương đại đến sự sụp đổ? Tất nhiên, có nhiều giải đáp cho câu hỏi vừa đặt
ra Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu nhất mà người ta thường nghĩ đến là sựhiện hữu không có thật của Thượng Ðế, hoặc Ðấng sáng thế; hay dùng câunói thời danh của Nietzche, triết gia vĩ đại của thế kỷ 20, “Thượng Ðế đãchết” Nói cách khác, sau một thời gian dài lang thang và khổ sở trong bứcmàn tăm tối của sự thiếu hiểu biết, nhân loại đã nhận thức được rằng ý tưởng
về một vị Thượng Ðế toàn tri, toàn năng chỉ là sự tưởng tượng sai lầm và vôích của con người và chính ý tưởng đó là cội rễ của mọi sợ hãi Thượng đếđược tạo ra do vì con người tự cảm thấy mình quá nhỏ bé và bơ vơ trong cáithế giới vũ trụ lớn lao phía trước họ Nhưng với sự tiến bộ về tri thức, nhânloại đã liều lĩnh lao vào trong một loại tôn giáo mới: Tôn giáo Trí Năng Quảthực, cuộc cách mạng này là thành tựu vĩ đại nhất trong lịch sử tư tưởngnhân loại Thực chất, sau khi loại trừ cái ảo giác về Thượng đế, và sau khicắt bỏ mọi hình bóng thánh thần khỏi tâm tư của mình, con người đã chiếnthắng mọi sự vật ngang qua nỗ lực và hiểu biết của tự thân, và chính niềmtin mới đó đã đưa đến thành công của nền văn minh hiện nay
Nhưng bất hạnh thay, khi người ta loại bỏ cái ảo giác về Thượng đế tuyệtđối, cùng lúc họ cũng từ bỏ hoàn toàn nhu cầu thực tế về một tôn giáo chânchính với những mục tiêu chân thật cho cuộc sống với hệ quả là nhân loạibắt đầu sờ soạng trong thế giới không có định hướng Tuy nhiên, giờ đâycon người sớm nhận thức được tính nghiêm trọng của tình huống và cố gắngtối đa để tìm ra giải pháp ngõ hầu thoát khỏi tình trạng đáng buồn này Lý do
Trang 11chính của vấn đề này là con người thật sự biết rằng một cuộc sống có ýnghĩa không chỉ bao hàm khía cạnh vật chất mà còn có khía cạnh tâm linh.Nhưng, như mọi người đã biết, Tín ngưỡng Khoa học kỹ Thuật, Tín ngưỡngchủ nghĩa dân tộc v.v… những loại tôn giáo mới của cuộc cách mạng thứhai, cũng không thể đáp ứng được nhu cầu bức thiết cho nhân loại như đãđược chứng minh Tuy nhiên, trong khi bàn thảo lại vấn đề này có lẽ sự tríchdẫn sau đây nhằm để cũng cố mạnh mẽ giả thiết trên hy vọng sẽ có ích đốivới chúng ta, vì các sự kiện đó đã xảy ra ở Nhật Bản, một đất nước có thểxem là hùng cường nhất trong mọi lãnh vực, không chỉ có thể làm tiêu biểucho lối sống hiện nay của các nước văn minh châu Âu mà còn tiêu biểu cho
Mỹ quốc, “Vùng Ðất Hứa” của nhiều quốc gia đang phát triển:
“Những điều tôi đang cố gắng để minh chứng là, mặc dầu chúng là một phầncủa thế giới hiện đại trong đó người Nhật đang sinh sống và làm việc, ởNhật Bản niềm tin và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chủ nghĩa dân tộc…
đã không lấp đầy được khoảng trống tâm linh do việc suy thoái niềm tin vàocác tôn giáo truyền thống gây ra.”
Thực ra, khi sự hiện hữu của ý tưởng về đấng Thượng đế đầy quyền uykhông còn tác dụng nhiều đối với đại đa số nhân loại, thì tư tưởng cứu độ vàgiải thoát trên trần thế cũng tự động phai lạt dần trong tâm trí con người.Người ta trở nên thờ ơ với mọi chuyện xảy ra giữa cuộc đời, và sự thờ ơ đó
đã mở đường cho một lối sống tàn bạo, không công bằng và bạo động khiếnKrishnamurti, triết gia nổi tiếng Ấn Ðộ đã cảm thán như sau: “Người biếtcách để tách hạt nguyên tử nhưng không có lòng yêu thương trong trái timcũng giống như một con quỉ.”
Quả vậy, thật vô cùng mỉa mai khi chúng ta phải chấp nhận một sự thật rằngkhuynh hướng của các loại tân tôn giáo khởi sinh trong thế kỷ mười bảy như
đã giới thiệu ở trên đã từng bước biến trái tim con người trở thành sỏi đá.Nói khác đi, trên danh nghĩa của những loại tôn giáo này nhân loại đã hoàntoàn tập trung năng lực của mình vào chủ nghĩa vật chất và sự thoải mái của
nó, bao gồm dục vọng xác thịt, tiền bạc, danh dự, của cải, v.v… thay cho giátrị của tình yêu thương, lo lắng, lòng trắc ẩn và sự quan tâm Con người đãđánh mất phương hướng về đời sống tâm linh của họ như Erich Fromm đãtừng nói:
“Không thể trích dẫn ví dụ nào hay hơn để chỉ ra những người bị điếc trướccâu hỏi được đặt ra cho sự hiện hữu bằng chính chúng ta, con người sốngtrong thế kỷ hia mươi này.”
Trang 12
-o0o -Dự Kiến Giải Pháp
May mắn thay, khác với đại đa số quần chúng đang đắm chìm trongthiên đàng vật chất, có một số lượng người tỉnh táo, dù rất ít ỏi, sống rải ráckhắp nơi quan tâm đến tình huống nghiêm trọng mà nhân loại đang phải đốiđầu Trong số đó, nhà vật lý học lỗi lạc Albert Einstein, một nhân cách đãđược nhân loại thừa nhận là tiêu biểu nhất của thế kỷ hai mươi, nói rằng:
“Người có thể sáng tạo ra khoa học phải là người hoàn toàn thấm nhuầnnhững ước ao hướng đến chân lý và sự hiểu biết; tuy nhiên, nguồn cảm giác
ấy lại bắt nguồn từ lãnh vực tôn giáo Ðối với việc này, chúng ta có thể tinrằng các nguyên tắc có giá trị cho sự tồn tại của cuộc đời là dựa trên lý trí,nghĩa là có thể nhận thức được lẽ phải Tôi không thể tưởng tượng được mộtnhà khoa học chân chính mà không có niềm tin sâu sắc Hình ảnh sau đây cóthể diễn đạt cho sự kiện này: Khoa học không có tôn giáo là khoa học khậpkhiễng, tôn giáo không có khoa học là tôn giáo mù quáng”
Qua việc nghiên cứu cẩn trọng về nguyên nhân của sự xung đột đang diễn rahiện nay giữa các hình thức tôn giáo và khoa học, tiến sĩ Albert Einsteinnhận định rằng nguyên nhân xung đột nằm ở ý niệm về đấng Thượng đếtoàn trí toàn năng, bởi vì đấng Thượng đế độc quyền như vậy, có một tên gọikhác là “tôn giáo của sự sợ hãi”, chỉ là nhu cầu nhất thời của nhân loại trongquá khứ khi họ biết rất ít về mình và về thế giới tự nhiên Tuy nhiên, conngười văn minh trong thế kỷ hai mươi rõ ràng đã vượt lên trên cả cấp độ của
“tôn giáo đạo đức”, tên gọi khác của các tín ngưỡng Hy Lạp La Mã cổ đại,
Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo, vì những tôn giáo, tín ngưỡng vừa nêuchủ yếu xây dựng trên niềm tin
Như vậy loại tôn giáo nào có thể thích hợp với thời đại hiên nay? Hay dùngcâu hỏi của Trevor Ling, giáo sư tiến sĩ môn Tôn Giáo Tỷ Giáo ở đại họcManchester, “Loại tôn giáo nào là thích hợp nhất sinh khởi lên từ cuộc đấutranh sinh tồn này?” Tiến sĩ Trevor Ling cho rằng có thể sẽ có nhiều lợi íchkhi đặt vấn đề đó trong mối quan hệ với Phật giáo, do vì một mặt Phật giáo
là một hình thái tôn giáo có thể tương hợp với xu thế thế tục hiện nay hơnhầu hết các tôn giáo khác Mặt khác, tính chất chuyển hóa tư tưởng mà qua
đó giới Phật tử vận dụng để vượt qua những cạnh tranh đầy tính thế tục thìdường như Phật giáo có thể xem là có ý nghĩa đáng kể nhất so với các tôngiáo khác
Còn ý kiến của học giả trong các lãnh vực khác thì thế nào? Trong việc đề raphương pháp giải quyết cuộc khủng hoảng tâm linh trầm trọng của thế giớichâu Âu, Nietzche, triết gia lỗi lạc người Ðức, đã nói rằng: “Phật giáo là tôngiáo để đạt đến mục tiêu sau cùng và cho một nền văn minh đã mòn mõi…”
và “Phật giáo đang phát triển một cách thầm lặng trong toàn bộ lãnh thổ
Trang 13châu Âu.” Cũng thế, nhà bác học vật lý Albert Einstein lập luận rằng thời đạicủa chúng ta đang cần một loại tôn giáo gọi là “tôn giáo cảm thọ toàn cầu”,
và ông nói rằng “Phật giáo, như chúng ta đã học được, đặc biệt từ các bàiviết tuyệt vời của Schopenhauer, chứa đựng những yếu tố rất rõ ràng củaloại cảm giác này.”
Một số gợi ý đề cập ở trên liên quan đến chủ đề của tác phẩm nghiên cứunày có thể làm sáng tỏ nhu cầu thật sự của thế giới đương thời Tuy thế, sựkiện này hy vọng sẽ trở nên rõ ràng hơn đối với mọi người qua việc lắngnghe cuộc đối thoại với chủ đề về nhu cầu tôn giáo của thế giới hiện đại giữahai học giả lão thành Daisuka Ikeda và A.J Toynbee Ðề cập đến vấn đềnóng bỏng trên, tiến sĩ D Ikeda đưa ra lý luận rằng tôn giáo có thể hướngđạo cho một nền văn minh ở cấp độ cao này phải là tôn giáo kết hợp được cảkhoa học và triết lý Theo ông, tôn giáo mà nhân loại ngày nay đang cầnphải linh cảm được tinh thần triết học và khoa học của con người và có khảnăng đáp ứng được những nhu cầu của thời đại mới Ðó phải là một tôn giáo
có thể vượt lên trên các điểm bất đồng giữa Ðông và Tây, nối kết nhân loạithành một bộ phận thống nhất, cứu cho thế giới Âu Mỹ ra khỏi cuộc khủnghoảng hiện nay, và giúp cho thế giới Ðông phương vượt qua gian khổ, đóinghèo D Ikeda cho rằng phát hiện ra loại tôn giáo vừa nêu hẳn là một kỳcông vĩ đại của nhân loại
Ðáp lại ý tưởng của D Ikeda, giáo tiến sĩ A.J Toynbee xác nhận rằng:
“Con đường hướng đến cuộc cách mạng kỹ thuật kinh tế đã mở ra cuộc cáchmạng tôn giáo trước đó ở giai đoạn cuối của phương Tây thời cổ đại Cuộccách mạng tôn giáo ấy là sự chuyển đổi từ độc thần giáo sang phiếm thầngiáo Tôi tin tưởng rằng nhân loại cần phải trở về với phiếm thần giáo… Tôicảm nhận rằng những gì mà ngài (tức tiến sĩ D Ikeda) muốn nói thì rải rác
đó đây trong bản chất của Phật giáo, và chính vấn đề này mang tôi trở về vớithực chất của điều mà tôi gọi là tôn giáo cao cấp Bằng chính từ ngữ ấy, tôimuốn ám chỉ đến loại tôn giáo có thể làm cho từng cá nhân tiếp xúc đượcvới thực tại tâm linh tuyệt đối, thay vì chỉ cho họ sự tiếp xúc gián tiếp vớithực tại đó ngang qua các phương tiện như năng lực siêu nhân, hay các tổchức bao gồm sức mạnh của một tập thể con người Tôn giáo cao cấp nhưđược định nghĩa ở đây là loại tôn giáo mà nhân loại đang cần.”
-o0o -Xu Hướng Hiện Nay Của Tôn Giáo
Sau khi điểm xuyết qua một số tử tưởng tiêu biểu trong các lãnh vựcnghiên cứu để tìm kiếm một tôn giáo có thể đáp ứng cho nhu cầu khẩn thiết
Trang 14của con người thời đại, đến đây hẳn chúng ta đã có thể yên tâm để đi đến giảthuyết rằng, trong tất cả tôn giáo hiện nay trên thế giới, Phật giáo có lẽ là tôngiáo đầu tiên mà nhân loại văn minh cần phải suy gẫm và chọn lựa cho mụcđích giải quyết các thảm họa sắp tới Trong cái nhìn của chúng tôi, Phậtgiáo, đặc biệt Phật giáo Bắc Truyền hay còn gọi là Bồ Tát Ðạo với nền tảnggiáo lý từ bi (Karunà) và trí tuệ (pràjnã), dường như thích hợp nhất trongtình huống tiến thoái lưỡng nan như thế này.
Quả thật, một trong những giáo lý trọng tâm Phật giáo Bắc Truyền là giáo lýBồ-tát (Sanskrit: Bodhisattva; Pali: Bodhihsatta) Trong thực tế, chỉ vài thế
kỷ sau ngày nhập Niết bàn của Ðức Phật Gotama (Cù-Ðàm) tư tưởng Bồ-tát
đã truyền bá khắp các thị trấn, đô thị ở Bắc Ấn Ðộ cũng như vùng Trung Á
và Viễn Ðông
Cũng chính ngang qua giáo lý Bồ-tát mà Phật giáo đã được hoan nghênh đóntiếp, và cắm rễ sâu trong lòng một số lượng lớn các dân tộc Kể từ ngày xuấthiện, Phật giáo đã có những ảnh hưởng lớn lao nhất định trong nền giáo dục,văn hóa, đạo đức, văn minh của các quốc gia đó từ thời quá khứ cho đếnhiện nay
Mặc dù bắt nguồn từ Phật giáo Ấn Ðộ, với tinh thần phương tiện thiện xảo(upàya hay upàya-kaúsalya) giáo lý Bồ-tát đã mang nhiều ý nghĩ và hình ảnhđặc thù ở từng quốc gia khác nhau Nhưng điều quan trọng cần được cânnhắc và suy nghĩ ở đây là, các vị Bồ-tát được đề cập trong các kinh BắcTruyền như Văn Thù Sư Lợi (Manjussri), Phổ Hiền (Sàmanatabhadra), QuánThế Âm (Avalokitésvara), v.v… đã trở thành đối tượng tín ngưỡng Nghĩa
là, số Bồ-tát này đã được tôn lên bàn thờ thần thánh như thánh thần của mọitôn giáo khác Nghiêm trọng hơn thế nữa, tất cả Bồ-tát được xem như là lớpngười sở hữu quyền lực siêu nhiên, có thể cứu độ chúng sinh đang khốn khổtrong cõi Ta-bà nếu những chúng sinh ấy phụng thờ và cầu nguyện họ mộtcách chí thành Trong thực chất, cách hành trì ấy dường như đã biến Phậtgiáo thành một loại tôn giáo hữu thần, nhất đẳng thần, độc thần, hoặc đathần Nói khác đi, khuynh hướng phát triển trên có thể đưa Phật giáo đến bờvực sụp đổ giống như tất cả mọi hình thái tôn giáo đương thời đang phải đốimặt, và khiến toàn bộ tín đồ của chúng phải mần mò tìm hiểu nghệ thuậtsống của văn hóa châu Á Trong khi ấy, xuyên qua nền tảng giáo lý vô ngã(anattà) và duyên khởi (pratyàsamutpàda) như là tinh túy của mình, Phậtgiáo có thể được xem là tôn giáo phiếm thần, và là “con đường tự độ” hay
“tự cứu khổ” Do đó, sự thực hành trên nghe có vẻ khác với tinh thần cốt tủycủa Phật giáo Khuynh hướng này cần phải được đánh giá và soi sáng lạingang qua chính lời dạy của Ðức Phật ngõ hầu giúp giới Phật tử quay về vớitinh thần từ bi, trí tuệ để có thể cảm nhận được hương vị giải thoát của giáo
lý Phật giáo Bằng việc làm này chúng ta hy vọng rằng Phật giáo có thể giúp
Trang 15nhân loại tìm ra giải pháp khả thi nhằm chế ngự cuộc khủng hoảng hiện nay
và hướng họ đến một lối sống hạnh phúc thật sự, tại thế giới này và bây giờ
-o0o -Ðịa Vị Của Con Người
Theo Phật giáo, vị trí của con người là tối thượng Con người là vịthầy riêng của mình, và không có ai hay năng lực nào ngồi để phán xét sốphận của họ, vì Ðức Phật đã dạy:
“Tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, chứ không thể tìm cầu nươngtựa ở kẻ khác Ai khéo tu tập và điều phục mình, người ấy đạt được sựnương tựa chân chính”
Và:
“Này thanh niên Bà La Môn, chúng sinh là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa
tự của nghiệp; nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyết thuộc, nghiệp là nhân tốphán xét”
Trong khi ấy, đối với hầu hết tôn giáo hữu thần, vị trí của con người là hoàntoàn khác biệt, ở đó con người được quan niệm là những chúng sanh khốnkhổ, cần được giáo chủ tôn giáo của họ, tức số người sở hữu hay được uỷthác các quyền lực siêu nhiên cứu độ Ngang qua tín ngưỡng Bồ-tát như làcác vị thánh thần, dường như giới Phật tử trong thời đại ngày nay đang thực
sự đi trên con đường ngược với lời dạy chân chính của Phật đà Khuynhhướng này có thể khiến cho Phật giáo suy tàn và biến mất trong một tươnglai gần, như đã xảy ra trong một số quốc gia, đặc biệt ở ngay tại Ấn Ðộ;đồng thời khuynh hướng hiện nay cũng có thể phá tan niềm hy vọng lớn laonhất của nhân loại trong việc tìm kiếm con đường chế ngự cơn khủng hoảng,nếu như chiều hướng ấy không thể kiểm soát và trả lại hướng đi đúng đắncho nó
-o0o -Vấn Ðề Niềm Tin
Niềm tin là một trong những yếu tố cốt lõi nhất đối với đời sống conngười Chính ngang qua niềm tin mà cuộc sống của người ta trở nên tiêucực, hay tích cực, năng động hay thụ động; và quan trọng hơn nữa là thất bạihay thành công Do thiếu niềm tin, hoặc do vì niềm tin sai lạc con người cóthể mất phương hướng của cuộc sống như nó đang xảy ra
Trang 16Trong lãnh vực tôn giáo, niềm tin lại càng quan trọng hơn Tín đồ của tôngiáo có cơ sở là niềm tin thì phải luôn luôn tin tưởng rằng giáo chủ của tôngiáo họ là đấng siêu nhiên, là đấng sáng tạo, và học thuyết của tôn giáo họ làtuyệt đối chính xác Tín đồ chỉ được phép tin và thực hành học thuyết ấy màkhông được nghi ngờ hay bối rối Theo giáo lý của hầu hết mọi tôn giáo,ngang qua niềm tin vào đấng Sáng Tạo hay Thượng Ðế mà sự thông hộigiữa tín đồ và đấng Sáng Tạo hay Thượng đế được hình thành; và nhờ ânhuệ của họ, giới tín đồ sẽ gặt hái được hạnh phúc và may mắn ngay tronghiện tại cũng như tương lai Hay dùng lời phát biểu của Bertrall Rusell, nhàtoán học và là triết gia lỗi lạc của thế kỷ 20, “Một trong những nhược điểmcủa tôn giáo truyền thống là chủ nghĩa cá nhân và nhược điểm đó thuộc vềgiá trị đạo đức kết hợp tôn giáo ấy Theo truyền thống, trong thực chất của
nó, đời sống tôn giáo là cuộc đối thoại giữa linh hồn và Thượng đế Vâng lời
ý muốn của Thượng đế là đức hạnh; và điều này có thể làm cho cá nhânkhông chú ý tới tình trạng của tập thể.” Như vậy chúng ta có thể nói rằng:
“đến và tin” là khẩu hiệu của các tôn giáo đó
Trong khi ấy, giáo lý Phật giáo hoàn toàn khác với các khái niệm vừa nêutrên Tuy rằng trong Phật giáo niềm tin cũng có một vị trí quan trọng khôngkém, nhưng một niềm tin thuần tuý không những đưa người Phật tử đi đến
sự đoạn diệt khổ đau, mà cũng không dẫn tín đồ ấy đến chân hạnh phúc Chỉ
có niềm tin được xây dựng trên nền tảng của trí tuệ, tu tập và tự thực nghiệmthì con người mới có thể tự giải thoát khỏi nghiệp lực và khổ đau, để đạtđược hạnh phúc chân thật Ðức Phật đã dạy rằng:
“Ðúng vậy, này những người Kàlamas, các ngươi bối rối là phải, hoài nghi
là phải, vì các vấn đề ấy rất đáng được hoài nghi
Này các Kàlamas, các ngươi đừng để bị lôi cuốn bởi lời đồn, hay bởi truyềnthống, hay những lời được tường thuật lại Các ngươi đừng để bị dắt dẫn bởithẩm quyền của kinh điển, hay bởi những lý luận suông, hay bởi sư suy diễn,hay bởi sự xét đoán bề ngoài, hay do bởi sự thích thú quan niệm phỏngđoán, hay bởi những gì có vẻ đáng tin, hay vì sự kính trọng, “đây là của thầyta” Nhưng này các người dân bộ tộc Kàlamas, khi nào các ngươi tự mìnhbiết rằng những gì là ác, là bất thiện, là xấu xa, và khi thực hành chúng đưađến phiền muộn, khổ đau, thì hãy từ bỏ chúng…, và khi nào tự thân cácngươi biết rằng những điều đó là thiện, tốt lành, và khi thực hành chúng là
có ích lợi và hạnh phúc, thì hãy chấp nhận và đi theo trong chúng.”
Và,
“Này các Tỳ kheo, Ta nói rằng sự đoạn trừ các lậu hoặc và bất tịnh là dànhcho người biết và thấy, mà không phải dành cho người không biết, khôngthấy.”
Trang 17Như vậy, sự khác nhau giữa hệ thống giáo lý Phật giáo và tất cả các hìnhthái tôn giáo nằm ở sự kiện rằng, trong Phật giáo vấn đề không phải luônluôn là niềm tin, mà là biết và thấy Có thể do vậy mà Phật giáo được gọi làtôn giáo “mời bạn ‘đến và thấy’, mà không phải ‘đến và tin’”, như lời bìnhluận của ngài Nàgàrjuna (Long Thọ) trong kinh Bát-nhã-ba-la-mật(Pràjnãpàramita) “Niềm tin là lối vào biển Thánh Pháp của Ðức Phật, và trítuệ là con thuyền mà người ta dùng để vượt qua biển ấy”.
-o0o -Vấn Ðề Năng Lực Cứu Ðộ
Ðối với tôn giáo hữu thần, năng lực cứu độ của giáo chủ họ là một sứcmạnh siêu thế, là một cái gì đó có thật nhưng con người không thể thấyđược Theo học thuyết của hữu thần giáo, giáo chủ họ có thể ban thưởng ânhuệ nhân từ cho tín đồ nào ngoan ngoãn tin tưởng và thực hành lời dạy của
họ, và có thể trừng phạt bất cứ ai không thành khẩn vâng theo lời răn Chứcnăng cứu độ là yếu tố cơ bản và quan trong nhất cho việc tồn tại và pháttriển của loại tôn giáo như thế Từ đó, bất cứ khi nào mà năng lực cứu khổnày mất đi tính chất thật của nó, lật tức các tôn giáo hữu thần sẽ đánh mấtgiá trị thực tiễn của chúng trong phạm trù xã hội loài người, như nó đã từngxảy ra trong thế kỷ thứ mười bảy
Liên hệ đến vấn đề này, trong kinh Pháp Hoa Ðức Phật đã dạy như sau:
“Chư Phật, các bậc Thế Tôn, xuất hiện trong đời là nhằm để giúp chúngsanh khai mở tri kiến Phật (của họ), để giúp chúng sanh tự thanh tịnh tri kiếnPhật (của họ) mà hiện ra trong đời; các vị xuất hiện trong đời là để chỉ trikiến cho tất cả chúng sinh; các vị hiện ra trong là để giúp chúng sinh đạtđược tri kiến Phật (của họ); các vị vì muốn cho chúng sinh chứng được Phậttri kiến (của họ) mà hiện ra trong đời Này tôn giả Xá-lợi-phất, đây là mụcđích lớn nhất để chư Phật xuất hiện trong cuộc đời.”
Và,
“Các ngươi hãy tự nỗ lực, chư Như Lai chỉ thuyết giảng (về con đường) Ai
tu tập thiền định, người ấy sẽ thoát khỏi sự trói buộc của ma vương.”
Và,
“Này Cunda, bằng lòng đại bi của người thầy, những gì cần làm vì lợi ích vàhạnh phúc của chúng đệ tử, Ta đã làm xong Này, Cunda, đây là gốc cây,đây là ngôi nhà trống, các ngươi hãy tu tập thiền định, chớ để hối hận về sau.Ðây là lời giáo huấn cuối cùng của Ta.”
Trang 18
-o0o -Khuynh Hướng Tu Tập Của Phật Tử Trong Thời Ðại Ngày Nay
Một sự kiện không thể chối cãi là, bằng niềm tin thuần túy, tín đồ Phậtgiáo, đặc biệt là giới Phật tử châu Âu thật sự đang có khuynh hướng tintưởng vào thần thánh Họ tin rằng thánh thần ấy có khả năng cứu độ và giúp
đỡ họ loại trừ các rắc rối, chướng ngại Từ đó, các vị Bồ-tát đề cập trong cáckinh điển Bắc Truyền đã dễ dàng trở thành thần thánh như thánh thần củacác tôn giáo khác, như đã được bàn thảo trước đây Ví dụ, trong nghiên cứucủa mình về vấn đề trên, tiến sĩ D Ikeda nhận thấy rằng khuynh hướngchính của hàng tín đồ Phật giáo ngày nay phần lớn là thực hành nghi lễ và lễhội Sự thật tín đồ Phật giáo thích thờ cúng và cầu nguyện thánh thần hơn làhành trì lời dạy của Ðức Phật Kết quả là Phật giáo đang dần dần biến thànhtôn giáo hữu thần như đạo Thiên Chúa, Tin Lành, những tôn giáo đang đốimặt với sự chao đảo nghiêm trọng trên bình diện toàn cầu về chân giá trị của
nó Tất nhiên nếu chỉ có niềm tin đơn thuần thì không có chân đứng tronggiáo lý Phật Ðà Lão Tử nói rằng:
“Mất đạo, người ta dựa vào đức,
Mất đức, người ta dựa vào nhân,
Mất nhân, người ta dựa vào lễ
Trong cốt lõi, lễ nghi thực chất chỉ là cái vỏ của niềm tin và lòng trungthành
Và đó cũng là sự bắt đầu của tất cả rối loạn và mất trật tự.”
Lời nói trên của Lão Tử sẽ có nhiều ý nghĩa và tính thực tiễn hơn khi diễnđạt song hành với những nghiên cứu của tác phẩm tâm lý học của ErichFromm, khi học giải này phát biểu:
“Sự thật rằng số lượng hội viên của các giáo hội tôn giáo ngày nay thì nhiềuhơn bất cứ lúc nào khác trước đây; sách tôn giáo trở thành loại sách bánchạy nhất, và có nhiều người nói về Thượng đế hơn bất cứ thời điểm nàokhác trong quá khứ Thế nhưng, những cách biểu lộ về tôn giáo ấy chỉ nhằmche đậy thái độ nặng nề vật chất và phi tôn giáo sâu sắc Chúng ta phải hiểurằng đó là một phản ứng mang tính ý thức hệ bị gây ra bởi sự bất an và chủnghĩa tuân thủ giáo điều; và xu hướng của thế kỷ thứ mười chín này đã đượcNietzche diễn tả một cách đặc biệt qua câu nói thời danh của ông: “Thượng
Ðế đã chết.”
Trong thực tế, thế giới đương thời của chúng ta đang phô bày vô số rối loạn
và mất trật tự trong hầu hết các lãnh vực đời sống của mình, bao gồm cảlãnh vực tôn giáo Chúng tôi cảm thấy rằng giáo lý Phật giáo, đặc biệt làgiáo lý Bồ-tát, có thể giúp nhân loại vượt qua cuộc khủng hoảng nghiêmtrọng hiện nay, và có thể đóng một gia trò quan trọng trong việc thiết lập lạimột thế giới an bình, hạnh phúc bằng việc dạy cho con người hiểu biết đúng
Trang 19đắn (chánh kiến), suy nghĩ đúng đắn (chánh tư duy), và hành trì đúng đắnnhững điều Ðức Phật đã dạy Ðây là lý do chính thúc dục chúng tôi trở thành
kẻ hành hương trong việc tiến hành tác phẩm nghiên cứu với tựa đề; “KháiNiệm về Bồ-tát Quán Thế Âm: Lý Thuyết và Thực Hành”
-o0o -Ðịnh Hướng Của Công Trình Nghiên Cứu
Trước hết, điều quan trọng cần phải làm sáng tỏ ở đây là chúng tôikhông xem các vị Bồ-tát như là thần thánh hay bất cứ một thực thể có sự tồntại thực sự, mà đó chỉ là những hình ảnh biểu tượng, được hàng đệ tử ưu túcủa Ðức Thế Tôn sáng tạo ra để thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của tín đồ Phậtgiáo nhằm phù hợp với môi trường xã hội trong một bối cảnh lịch sử nào đóvới mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho việc xiển dương Phật pháp Bằngchính phương pháp trên chúng tôi nỗ lực nghiên cứu chủ đề quan trọng và có
ý nghĩa này với niềm hy vọng khiêm tốn rằng sản phẩm của công trìnhnghiên cứu sẽ đóng góp cho giới Phật tử trong thời đại ngày nay, đặc biệt làtrong bối cảnh châu Á, một cách tư duy mới để nhận thức ý nghĩa của lýtưởng Bồ-tát như Ðức Phật đã dạy ngõ hầu giúp họ chỉnh lý lại những ngộnhận của mình về giáo lý Bồ-tát Kết quả thực tế được chờ đợi là chân hạnhphúc và an lạc sinh ra từ việc hành trì giáo lý Bồ-tát sẽ hiện hữu trong từngbước đi của đời sống người Phật tử
Từ hệ quả của cách tư duy trên, thuật ngữ “concept” trong đề tài này sẽmang ý nghĩa của một nghệ thuật sống, mà không phải là một ý niệm haybất cứ ý nghĩa nào như nó thường được hiểu Lý do cho vấn đề này được dựkiến như sau: Giáo Pháp của Ðức Phật luôn luôn được xem là chiếc bè, dùng
để vượt qua đại dương sinh tử, và chiếc bè có thể được sử dụng bằng mọicách, tùy theo tình huống và căn cơ của người dùng, miễn là nó mang lạihạnh phúc thật sự cho người sử dụng theo tinh thần thực tiễn của Phật giáo.Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, các vấn đề sau đây sẽ được chúng tôi
cố gắng giải quyết:
- Trình bày tóm tắt khái niệm Bồ-tát; cuộc đời và hạnh nguyện của vị Bồ-táttheo quan điểm giáo lý của năm bộ Nikàya Trong phần vừa nêu, sự pháttriển của giáo lý Bồ-tát trong một số kinh khác nhau của tạng kinh Nikàyathuộc Phật giáo Nguyên Thủy hy vọng cũng được bàn đến
- Khảo cứu về tình hình lịch sử cụ thể, chi tiết, và nhu cầu cho việc pháttriển giáo lý Bồ-tát
- Nghiên cứu và phân tích chi tiết sự phát triển về ngôn ngữ và ngữ nghĩahọc của từ ngữ “Avalokitésvara” (Quán Thế Âm)
Trang 20- Khảo bình ý nghĩa biểu tượng và sự thực hành của Bồ-tát Quán Thế Âmqua các kinh Pháp Hoa (Saddharmapundarika) và A Di Ðà (SukhavàtiVyùha).
- Sự ứng dụng thích đáng nghệ thuật sống “Quán Thế Âm” trong đời sốngcủa Phật tử ở thời đại ngày nay
- Gợi ý cách học hiểu kinh điển của Phật giáo Phát Triển (hay còn gọi là ÐạiThừa hay Bắc Truyền) Cuối cùng là phần trình bày về đời sống và hạnhnguyện của một người Phật tử chân chính
Cũng cần phải đề cập ở đây rằng chúng tôi quan niệm và sử dụng hai thuậtngữ “Theravàda” (Thượng Tọa Bộ) và “Mahàyàna” (Phật giáo Phát Triểnhay Bắc Truyền) như là những thuật ngữ chỉ định các thời điểm và vùng địa
lý khác nhau của Phật giáo Nói một cách phổ quát hơn, thuật ngữ
“Theravàda” được hiểu là Phật Giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo NamTruyền, và “Mahàyàna” là Phật giáo Phát Triển hay Phật giáo Bắc Truyền
Lý do cho luận điểm trên là như sau: Chỉ có một Giáo Pháp hay Sự Thậtđược Ðức Phật khám phá có thể đưa chúng sanh khổ đau từ vòng sanh tửluân hồi đến bến bờ giải thoát, tức Niết-bàn như chính Thế Tôn đã dạy Haynhư lời phát biểu sau đây của giáo sư Alan Watt: “Vì Phật giáo, dù TiểuThừa (Hìnayàna) hay Ðại Thừa (Mahàyàna), không phải là một hệ thống họcthuyết và quyền lực, đòi hỏi niềm tin và sự phục tùng của chúng ta, mà đó làmột phương pháp (một trong những ý nghĩa chính xác của Phật pháp) vớimục đích để chỉnh lý các nhận thức của chúng ta và để chuyển hóa ý thức.Phương pháp này triệt để dựa vào kinh nghiệm và thực nghiệm đến nỗi cácchủ đề thật tế của Phật giáo phải được nói là kinh nghiệm tức thời và phingôn ngữ, hơn là một bộ phận niềm tin, ý tưởng, hay quy tắc hành xử.”
Do đó, hiển nhiên hai nguồn văn học Nam Truyền và Bắc Truyền Phật Giáo
sẽ là nền tảng cho nguồn tham khảo mà chúng tôi sẽ dùng để minh họa sựthật hay chứng minh cho qua điểm của tác giả Ngang qua phương phápnghiên cứu ấy tác giả hy vọng sẽ trình bày được tinh thần thống nhất giáo lývốn có trong Phật giáo, nhưng vì một số lý do nào đó, hoặc là hiểu nhầmgiáo lý, hoặc bị ảnh hưởng của chủ nghĩa phân biệt bè phái, hoặc do âm mưucủa ngoại đạo với mục đích phân hóa sức mạnh của Phật giáo đã khiến Phậtgiáo, theo dòng thời gian, đã bị rạn nứt, chia chẻ thành nhiều bộ phái, hệphái nhỏ, tranh cãi lẫn nhau Mục đích của việc chọn lựa đề tài này là mở ramột con đường nhằm để thống nhất các quan điểm khác nhau về Phật họcnhư các bậc tiền bối của Phật giáo đã nỗ lực thực hiện trong quá khứ Bêncạnh ấy, qua thành quả của công trình nghiên cứu này, tác giả cũng mongmuốn giới thiệu một phương pháp thống nhất về học hiểu và thực hành giáo
lý Bồ-tát khiến cho Phật giáo có thể cống hiến trọn vẹn được tinh thần từ bi,trí tuệ vì lợi ích và hạnh phúc của nhân loại trong cuộc vật lộn để vượt qua
Trang 21những thảm họa đang gần kề Với một số phương pháp vừa nên trên, cácphương tiếp theo của công trình nghiên cứu này sẽ được chuẩn bị trong hìnhthức phân tích và bình luận.
Erich Fromm, Psychoanalysis and Zen Buddhism, tr 79
Xem tác phẩm “Buddha, Max and God” của Trover Linh, tr.5
Xem tác phẩm “Buddha, Max and God” của Trover Linh, tr.6
Xem Nhật Báo: “America Time”, April 3, 1995
Xem Nhật Báo: “America Time”, April 7, 1997
Xem tác phẩm “Man Himself Must Choose by A.J.Toynbee and D Ikeda”,tr.43
Xem tác phẩm “Psychoanalysis and Zen Buddhism by E Fromm, tr 78-79.Xem tác phẩm “Man Himself Must Choose by Daisuka Ikeda”, tr 293.Xem cuốn “Education and The Significance of Life by Krishnamurti” tr 16.Xem tác phẩm “Pscychoanalysis and Zen Buddhism by E.Fromm” tr 92.Xem tuyển tập “Albert Einstein: Ideas and Opinion” Rupa & Co London,
1973, tr 46
Xem cuốn “Nietzche and Philosophy Ed By Gilles Deleuze, Tr HughTomlinson” tr 155-156
Xem tuyển tập “Albert Einstein: Ideas and Opinion”, tr 38
Xem tác phẩm “Man Himself Choose” của D Ikeda, tr 302
Kinh Pháp Cú, Kệ số 160
Ðại Tạng Kinh Việt Nam, Trung Bộ Kinh, Tập III, tr 481
Kinh Tăng Chi Bộ, tập I, tr 338
Kinh Trung Bộ, tập I, tr 19-20
Xem tác phẩm: “Indian Philosophy” của S Radhakrishnan tr 60
Theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Trung Hoa ÐạI Tạng Kinh, tập 5, số 252,
-o0o -Chương Hai - Khái Niệm Bồ Tát
Khái Niệm Bồ Tát Qua Kinh Tạng Nikàya
Ðịnh nghĩa thuật ngữ Bồ-tát (Pàli: Bodhisatta-Sanskri: Bodhisattva)
Trang 22Nói chúng, như người ta thường hiểu, thuật ngữ “Bodhisattva) (Bồ-tát) cóhai phần cấu thành; đó là Bodhi và Satta hay Sattva Có rất ít bất đồng ýkiến trong giới học giả về từ “Bodhi” với ý nghĩa là “sự chứng ngộ hay giácngộ”, nhưng lại quá nhiều tranh cãi liên quan đến ý nghĩa và sự ứng dụngcủa từ “satta hay sattva” trong phạm trù liên hệ.
Bộ Bách Khoa Tôn giáo nói rằng, “theo từ nguyên học, Bodhisattva (Bồ-tát)
là thuật ngữ được ghép thành từ chữ Bodhi, với ý nghĩa là “sự giác ngộ haychứng ngộ [của một vị Phật], và sattva, có nghĩa là “chúng sinh” Như thế,Bodhisattva đề cập đến hoặc một người đang mưu cầu giác ngộ (Bodhi)hoặc “một chúng sinh giác ngộ (Bodhi being), nghĩa là chúng sinh ấy chắcchắn sẽ chứng đắc quả vị Phật Sự giải thích khác về nó như “một chúngsanh mà tâm của người ấy đã trở nên vững chắc ở sự giác ngộ, cũng đượctruyền thống công nhận”
Trong khi ấy, Bộ Bách Khoa Phật giáo định nghĩa từ ngữ này như sau:
“Bodhisattva (Pàli: Bodhisatta) là một chúng sinh thiết tha đối với sự giácngộ (Bodhi) Theo tử nguyên, thuật ngữ này có thể tách biệt thành hai phần,
đó là Bodhi và sattva Bodhi, có gốc từ chử Budh, tức tỉnh ngộ, nghĩa là “sựtỉnh ngộ” hay “giác ngộ”, và sattva, bắt nguồn từ saint, hiện tại phân từ của
nó với ý nghĩa là “sự hiện hữu” hay sự tồn tại (to be or being); hay theonghĩa đen, “sattva là một chúng sinh” Do vậy, từ ngữ này mang ý nghĩa là
“một chúng sinh có bản chất là giác ngộ, hoặc một vị Phật tương lai Cũng
có sự gợi ý rằng thuật ngữ satta của Pàli có thể bắt nguồn từ Bodhi và satta(Sanskrit Sakta có gốc từ Sanj), nghĩa là “một người gắn bó hay khao khát
để đạt đến sự giác ngộ”
Trong một nghiên cứu tỉ mỉ về giáo lý Bồ-tát, sau khi nêu lên một số địnhnghĩa về thuật ngữ “sattva” từ một số tự điển và giải thích của các học giả,giáo sư Har Dayal đi đến kết luận rằng “sattva (giống đực) có thể mang ýnghĩa là chúng sinh hay hữu tình (Skt Dicy M W) Từ Pàli “satta” có thể
có nghĩa là chúng sinh, hay sinh vật, hữu tình, hay con người (Pàli, Dicy.S.v) Hầu hết các học giả chấp nhận sự giải thích này”
Har Dayal tiếp tục phát biểu rằng “Người ta có cảm giác thuyết phục khi tinrằng từ Pàli “satta” thực sự có thể biển hiện cho từ Sakta của Sanskrit, vìgiải thích trên dường như định ra phẩm chất chính của con người thiết thavới sự giác ngộ Nhưng cách an toàn nhất cho một học giả nghiên cứu đốivới vấn đề này là phải quay về với ngôn ngữ Pàli mà không quá gắn chặttầm quan trọng với các nhà từ điển học và triết gia đời sau Như vậy, từBodhisatta trong kinh điển Pàli dường như có nghĩa là “một chúng sinh giácngộ” (Bodhi-being) Tuy thế, satta ở đây không hàm nghĩa là một hữu tìnhbình thường, và hầu như từ ngữ ấy liên hệ chắc chắn với từ của Vedic
“Krieger”, có nghĩa là “một người mãnh mẽ hay dũng cảm, tức anh hùng
Trang 23hay chiến sĩ” Trong cách này, chúng ta cũng có thể hiểu được thuật ngữ
“dpah” của tiếng Tây Tạng vốn cùng có ý nghĩa như thế Satta trong Pàli nênphải được giải thích là “một người anh hùng, hay một chiến sĩ tâm linh” Từnày gợi lên hai ý tưởng: sự hiện hữu và chiến đấu, mà không chỉ đơn thuần
là ý niệm về sự hiện hữu đơn nhất”
Trên cơ sở của một vài ý kiến vừa đề cập ở trên, người ta có thể phát biểurằng thuật ngữ Bodhisatta (Bồ-tát) có nghĩa là một chúng sinh tha thiết đạtđược sự giác ngộ Tuy nhiên, trong chừng mực mà thông số của tác phẩmnày có liên hệ, sự nhấn mạnh cần phải cọng thêm vào đây là: tác giả quanniệm tất cả con người bình thường là anh hùng, chiến sĩ, với sức mạnh tâmlinh, tiềm tàng như Ðức Phật Gotama trước ngày chứng ngộ, và những conngười bình thường này có khả năng để loại trừ mọi ác nghiệp và khổ đau của
họ, và cũng sẽ đạt được giải thoát tối hậu như Ðức Thế Tôn đã làm, nếungười ta nỗ lực tối đa thực hành theo con đường mà Như Lai đã khám phá
và giảng dạy
-o0o -Ý Nghĩa Thần Thánh Và Bồ-Tát Trong Phật Giáo Nguyên Thủy
Trước khi đi vào nghiên cứu chủ đề Bồ-tát, việc quan trọng trước tiênđối với chúng tôi là phải hiểu rõ và phân biệt rõ một số nét đặc thù khácnhau giữa ý nghĩa Bồ-tát và các loại hình thánh thần Một sự kiện không thểtranh cãi là bối cảnh tôn giáo Ấn Ðộ thời tiền Phật giáo là một thế giới quanđầy ngập các loại nam và nữ thần Tất nhiên, Phật giáo cũng chấp nhận sựhiện hữu của các loại thần thánh đó, vì các bằng chứng rõ ràng về họ đã hiệnhữu trong cả kinh điển Pàli của Phật giáo Nam Truyền, và văn điển Sanskritlẫn Trung Hoa của Phật Giáo Bắc Truyền Tuy nhiên, trong Phật giáo, vị trícủa thánh thần quả thật không quan trọng như hầu hết các tôn giáo khác, bởi
vì đạo Phật chủ trương rằng tất cả thần và thánh ấy cũng chỉ là chúng sinhvới phẩm loại phước đức khác nhau Mặc dù nhờ vào những thiện nghiệptrong đời sống quá khứ, các thần thánh ấy thắng vượt loài người trong lãnhvực uy quyền và điều kiện sống, nhưng họ thật sự chưa tự giải thoát mình rakhỏi quy luật vô thường, vì vậy họ cũng bị luân hồi chi phối, cũng sẽ bị sinhgià, bệnh, chế Lời dạy sau đây của Ðức Phật sẽ minh họa cho lý luận trên:
“Thuở xưa, này các Tỳ kheo, Thiên chủ Sakka đang thuyết giảng cho chưThiên ở cõi trời thứ Ba mươi ba, trong khi ấy nói lên bài kệ như sau: Ngàymười bốn, ngày rằm,… Vị ấy giống như Ta
… Bài kệ ấy, này các Tỳ kheo, đã bị Thiên chủ Sakka hát sai, …, Vì cớ sao?Thiên chủ Sakka, này các Tỳ kheo, chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si…
Trang 24Ta nói rằng Thiên chủa Sakka, này các Tỳ kheo, chưa giải thoát sanh, già,bệnh chết, sầu, bi, khổ ưu, não…”
Trong kinh Bộ Tương Ưng, vị vua trời tên Sakka, chú tể của chư thiên, đã tựgiải thích rằng bất cứ vị thiên nào quy y Ðức Thế Tôn và thực hành lời dạycủa Ngài thì sẽ sáng chói hơn các vị thiên khác Ðây cũng là nội dung chínhcủa câu chuyện dưới đây Sau khi chứng quả giác ngộ, Ðức Phật Gotomatrầm tư suy nghĩ rằng giáo pháp mà Ngài chứng đắc thì nghĩa lý thâm sâu,rất khó cảm nhận, khó hiểu, khó thấy Giáo pháp ấy an tịnh, thù thắng, tếnhị, vượt lên trên luận lý, chỉ có người trí mới có khả năng học hiểu; và nếuNgài dạy giáo pháp này cho hàng chúng sinh tâm đầy khát ái và tham dục,việc làm ấy ắt chẳng được quần chúng dễ dàng chấp nhận, mà còn làm Ngàibực mình và phí sức Vì vậy tâm của Ngài hướng đến Niết bàn Sau khi biếtđược tâm của Ngài hướng đến Niết bàn Sau khi biết được tâm của Ðức Phậtbằng tâm của mình, Phạm Thiên Sahampati, vị vua trời được đạo Bà-la-môn(Brahmanism) xem là đấng sáng thế, đi đến Ðức Phật, thỉnh cầu Ngài giảngdạy Chánh Pháp vì lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và loài người
Hơn thế nữa, theo giáo lý của Phật giáo, trong một khía cạnh nào đó vị trícủa thần thánh được xem là thấp hơn và là cấp dưới so với vị trí con người.Câu chuyện được ghi lại trong Itivuttaka sutta (Phật Thuyết Như Vậy) củaTiểu Bộ Kinh sau đây sẽ soi sáng quan điểm trên:
“Này các Tỳ kheo, khi nào một Thiên nhân mệnh chung, từ bỏ thân chưThiên, có năm suy tướng xuất hiện ra trước: ‘Các vòng hoa héo úa, áo quần
bị uế nhiễm, mồ hôi chảy ra từ nách, thân sắc trở thành xấu xí, Thiên nhânkhông hoa hỷ tại chỗ ngồi chư Thiên.’ Này các Tỳ kheo, chư Thiên sau khibiết Thiên tử này sắp mệnh chung, nói ba lời để cổ vũ: ‘Từ đây, Hiền giảhãy đi đến cõi lành! Sau khi đi đến cõi lành, hãy nhận được những gì khéonhận được Sau khi nhận được những gì khéo nhận, hãy an trú…!
… Này các Tỳ kheo, được địa vị làm người được gọi là đi đến cõi lành củachư Thiên Khi được địa vị làm người, được lòng tin trong Pháp và Luật doNhư Lai thuyết giảng, này các Tỳ kheo, đây được gọi là nhận được những gìkhéo nhận được của chư Thiên Khi lòng tin được nhập vào, được an trúthành gốc rễ, …, thì được gọi là khéo an trú của chư Thiên.”
Như vậy, thánh thần hay chư thiên thật sự cũng có nhu cầu Phật Pháp nhằm
để tu tập và tự giải thoát mình ra khỏi nghiệp lực tương tự như loài người.Nói khác đi, thần thánh và chư Thiên cũng chỉ là chúng sinh với những hìnhthái khác nhau, nhưng nhờ kết quả của thiện nghiệp trong đời sống quá khứnên họ thắng vượt loài người Hay giải thích một cách biểu tượng và thựctiễn hơn, thánh thần và chư thiên ví như giới thượng lưu trong xã hội, cócuộc sống với nhiều thoải mái, tốt đẹp và thuận lợi trong lãnh vực vật chất
Trang 25Trong khi ấy, loài người, có thể ví như dân nghèo, do làm các nghiệp khôngtốt trong đời trước, nên phải chịu khổ sở trong đời này do thiếu thốn về vậtchất đối với hạnh phúc của cuộc sống tạm thời Nhưng về phương diện tâm
lý cả hai loại người trên đều đang khốn khổ về chuyện sinh tử đang cận kề.Sau khi thông qua sự bàn thảo ở trên, hy vọng sẽ có nhiều thích thú hơn nữađối với chúng ta qua việc tiếp tục nghiên cứu tầm quan trọng khác nhau giữakhái niệm thánh thần và khái niệm Bồ-tát với một vài luận chứng sau đây
Ðó là, thánh thần cũng chỉ là một loại chúng sinh đang hưởng thụ và đắmchìm trong các loại dục lạc khác nhau nhờ vào thiện nghiệp mà họ đã nỗ lực
tu tập từ quá khứ; nhưng số thánh thần ấy lại không biết đến quy luật vôthường hoặc sự đoạn diệt không thể tránh được của các loại hạnh phúc nhưthế Trong khi ấy, Bồ-tát không chỉ thấy và hiểu như thật được hoàn cảnhcủa họ, mà còn cố gắng để đi theo con đường của Ðức Phật với mục đích tựgiải thoát cho chính mình, cũng như giúp chúng sinh trong thế giới khổ đau
đi theo con đường chân chánh này Tuy nhiên, điều cực kỳ quan trọng để lưu
ý ở đây là khái niệm Bồ-tát được đề cập trong giáo lý của Phật giáo, cả Phậtgiáo Nam Truyền (Theravàda) và Phật giáo Bắc Truyền (Mahàyàna) chỉchuyển tải cùng một nội dung và ý nghĩa như đã được thảo luận ở trên.Nghĩa là, thuật ngữ Bồ-tát (Pàli: bodhisatta; Sanskrit: bodhisattva) chỉ là mộtdanh từ chung, nhằm chỉ đến một chúng sinh (con người) đang đi trên conđường hướng đến giác ngộ, và không có bất cứ ý nghĩa bí mật hay đặc biệtnào ẩn tàng đằng sau nó Những lời dạy sau đây của Ðức Thế Tôn hy vọng
sẽ soi sáng lập luận vừa nêu một cách rõ ràng:
“Và này các Tỳ kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỳ kheo, cóngười tự mình bị sinh, sau khi biết rõ sự nguy hại của sinh, tìm cầu cái vôsanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ cách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khibiết rõ sự nguy hại của già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khởi cáckhổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bịnh…, cái không bệnh… tự mình bị chết…cái bất tử… tự mình bị sầu… cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khibiết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổnkhỏi các khổ ách, Niết-bàn Này các Tỳ kheo, như vậy gọi là Thánh cầu.”
Và sau đây chúng ta hãy lắng nghe Ðức Phật nói về chính Ngài:
“Này các Tỳ kheo, Ta cũng vậy, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ChánhÐẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tựmình bị già lại đi tìm cầu cái bị già, tự mình bị bịnh… tự mình bị chết… tựmình bị sầu… tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm…”
Trên cơ sở của những điều vừa được đề cập, một vấn đề trở nên hoàn toàn rõràng là chính Ðức Phật đã tuyên bố rằng không có gì khác nhau giữa Ngàitrước ngày chứng ngộ và một chúng sinh đang đi trên con đường hướng đếngiải thoát, Niết-bàn Do vậy, nếu có điều gì đó bí mật hàm chứa trong thuật
Trang 26ngữ (Bồ-tát) này, theo ý kiến của tác giả, phần bí mật ấy hẳn phải là củariêng chúng ta, và trong phạm trù rộng lớn, bí mật ấy được tạo ra từ sự tưởngtượng của chúng ta do bởi khát vọng, vị kỷ Từ đó, có lẽ sẽ vô cùng hợp lý
để người ta chấp nhận sự kiện rằng nếu Phật giáo Nam Truyền hayTheravàda đặc biệt dùng thuật ngữ ‘bodhisatta’ (Bồ-tát) để nhằm chỉ ÐứcPhật, sự thật là vì lòng tôn trọng và sự kính ngưỡng của hàng đệ tử đối vớiđấng giáo chủ hay bậc đạo sư Thái độ tương tự cũng diễn ra tương tự đốivới Phật giáo Bắc Truyền hay Mahàyàna, và điều này sẽ được minh chứngtrong các chương sau
Trong chừng mực của sự bàn thảo chi tiết mà chúng ta đã nỗ lực thực hiện,điều có thể nêu rõ ở đây là khái niệm Bồ-tát không chỉ là tư tưởng đặc quyềncủa Phật giáo Bắc Truyền, mà thật ra, nó đã xuất hiện trong kinh tạngNikàya của văn điển Pàli Nói khác đi, trong một chừng mực nào đó, giáo lýBồ-tát đã là một phần của toàn bộ giáo điển Theravàda hay Nam TruyềnPhật giáo Trong thực tế, hiện nay có rất nhiều học giả công nhận sự kiệnvừa nêu Ví dụ, mặc dù không thể trình bày được những giai đoạn phát triểnquan trọng của giáo lý Bồ-tát, giáo sư Har Dayal đã khẳng định rằng từ ngữBồ-tát (mà không phải là ‘khái niệm hay giáo lý Bồ-tát) đã xuất hiện vàđược sử dụng nhiều nơi trong kinh tạng Nikàya Tuy nhiên, do một vàinguyên nhân, hoặc ảnh hưởng học thuyết của các tôn giáo đương thời, hoặc
vì nhu cầu thực tế của con người ở một số thời điểm nhất định, hoặc do âmmưu của ngoại đạo với mục tiêu làm suy yếu Phật giáo, khiến Phật giáo bịchia chẻ thành nhiều bộ phái nhỏ, như Tiểu thừa (Hinàyàna) và Ðại thừa(Mahàyàna), Mật thừa (Tantrism), v.v…, và tạo nên một số tư tưởng gâynhiều tranh cãi liên hệ đến giáo lý Bồ-tát Hay nói một cách cụ thể hơn, tưtưởng Bồ-tát vẫn là một thực tế mỉa mai, đau xót đang vận hành âm ỉ đằngsau các tổ chức Tăng đoàn Phật giáo trong hầu hết các quốc gia, như TrungHoa, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Tây Tạng, cả đến các nước Thái Lan,Tích Lan, Miến Ðiện, v.v… Hy vọng chúng ta sẽ có cơ hội trở lại vấn đềtrên khi thích hợp trong tác phẩm nghiên cứu này
-o0o -Các Loại Bồ-tát Trong Văn Ðiển Pàli
Trong thực tế, thuật ngữ “Bồ-tát” (Bodhisatta) là một từ rất xưa, đãđược đề cập trong các kinh Trường Bộ, Trung Bộ, Kinh Tập (Sutta-nipata)
và Bổn Sanh (Jataka) thuộc Tiểu Bộ Kinh của Nikàya Nhưng cho đến nay,chưa có nỗ lực nào được đầu tư để làm ‘ý tưởng này’ được chấp nhận như làmột lý tưởng sống cho giáo lý của Phật giáo Nam Truyền giống như Phật
Trang 27giáo Bắc Truyền chủ trương Việc đó hẳn đã để lại đủ lý do bình luận về mộtvấn đề có tầm quan trọng như thế.
Tuy nhiên, trước khi bước vào thảo luận khía cạnh triết lý của sự kiện trên,chắc chắn sẽ có giá trị và ý nghĩa nếu chúng ta dành chút thời gian tìm hiểulịch sử niên đại hình thành của năm bộ Nikàya
Trong tác phẩm “Buddhist India” của mình, T W Rhys Davids đã giới thiệumột biểu đồ về niên đại của văn điển Pàli như sau:
1.“Những lời tuyên bố giản dị của giáo lý Phật giáo được tìm thấy trước nhấttrong nhiều từ ngữ giống nhau, và trong các đoạn văn hoặc kệ được ghi lạitrong sách
2 Các đoạn hoặc hồi được tìm thấy trong những lời giống nhau, ở hai hoặcnhiều sách hiện có
3 Giới (Sìla), Pàràyana, Octades (Khổ thơ tám đoạn), Pàtimokka mộc-xoa)
(Ba-la-đề-4 Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tăng Chi, Kinh Tương Ưng
5 Kinh Tập, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Cảm Hứng Ngữ,Tiểu Tụng…”
Sự phân loại trên dường như được phần lớn các học giả có uy tín, nhưMaurice Winternitz, tác giả của bộ “Lịch sử Văn chương Ấn Ðộ”, hoặc H.Nakamura, tác giả cuống “Phật giáo Ấn Ðộ”, v.v… chấp nhận; trong khi ấy,tiến sĩ Bimala Churn Law lại trình bày niên đại hình thành của các Nikàyatrong một biểu đồ khác với nhiều chi tiết khác nhau Theo ý kiến của B.C.Law, niên đại của văn học Pàli có thể được phân loại như sau:
1 “Những lời tuyên bố giản dị của giáo lý Phật giáo được tìm thấy nhấttrong nhiều từ ngữ giống nhau, và trong các đoạn văn hoặc kệ được ghi lạitrong sách
2 Các đoạn hoặc được tìm thấy trong những lời giống nhau, ở hai hoặcnhiều sách hiện có
3 Giới (Sìla), Nhóm Paràyana của mười sáu bài thơ không có lời mở đầu;nhóm Atthaka của bốn hoặc mười sáu bài thơ, và Sikkhàpadas
4 Trường Bộ tập I, Trung Bộ, Tương Ưng, Tăng Chi, 152 giới điều của giớibổn Pàtimakkha ban đầu
5 Trường Bộ tập II và III; Trưởng Lão Tăng Kệ; Trưởng Lão Ni Kệ; Tuyểntập 500 câu chuyện tiền thân (Jataka)…
Theo ý kiến của chúng tôi, bảng phân loại chi tiết của giáo sư B.C Law, liênquan đến một vài biến đổi về thứ tự niên đại của Trường Bộ Kinh tập II vàIII đối với Trung Bộ Kinh, dường như rất có lý và có thể chấp nhận được, do
vì nó đặc biệt liên quan đến việc phát triển về ngôn ngữ, ý nghĩa và triết lýcủa các bộ Nikàya (sẽ được bàn thảo trong chương II) Sự phân loại trêncũng gợi lên một ý tưởng quan trọng đối với chúng ta Ðó là, kinh Trung Bộ
Trang 28là những lời dạy nguyên thủy của Ðức Phật, hay ít ra cũng gần gũi với lờidạy của Ðức Phật (Buddhavacana) hơn kinh Trường Bộ II và III Cũng cùngmột lập luận như vậy khi chúng ta nói đến kinh Trường Bộ và Bổn Sanh(Jataka) của kinh Tiểu Bộ Quan điểm này có thể trở nên dễ hiểu và dễ nắmbắt hơn khi chúng ta xem xét ý nghĩa triết lý đặc thù về Bồ-tát qua ba loạikinh vừa nêu.
Trong một bài kinh khác thường và đặc biệt với tên là “Bài giảng về nhữngphẩm chất phi thường và kỳ diệu” trong kinh Trung Bộ, trước hết từ ngữ
“Bồ-tát” phản ảnh một cách cụ thể đời sống của Ðức Phật Gotama trướcngày thành đạo, khi Ngài còn là thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) của kinhthành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ) Nghĩa là, Ngài cũng là một chúng sinhphải chịu khổ đau trong vòng sinh tử như chúng ta, nhưng rồi từ bỏ cuộcsống thế tục giàu sang để trở thành đạo sĩ lang thang tìm cầu chân lý nhưchính lời dạy sau đây của Ðức Phật:
“Này Aggivessana, sao có thể không như vậy được? Ở đây, nàyAggivessana, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn
là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau…”
“Và, này các Tỳ kheo, trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác,khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh tử lại tìm cầu cái sanh…”
Tuy nhiên, với một số yếu tố mang khoác màu sắc huyền thoại vốn khôngtìm thấy ở các kinh kiết tập thời gian trước, ý nghĩa của từ ngữ ‘Bồ-tát’ nhưđược diễn tả trong kinh Trường Bộ đã bị biến đổi Giờ đây thuật ngữ nàynhằm chỉ đến cuộc đời sau cùng ở cung trời Tusita (Ðâu-suất) của bảy vịPhật, bao gồm Ðức Phật Gotama:
“Này các Tỳ kheo, pháp nhĩ là như vậy, Bồ-tát Vipassì, sau khi giã từ cảnhgiới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai…”
Một bước biến đổi quan trọng hơn nữa liên quan đến ý nghĩa triết lý củathuật ngữ ‘Bồ-tát’ trong kinh tạng Pàli có thể được nhận thấy một cách rõràng trong những bộ Nikàya kiết tập ở thời đại về sau, đặc biệt là kinh BổnSanh (Jataka) thuộc Tiểu Bộ Kinh Tầm quan trọng của nó nằm ở sự diễn đạt
vô số đời sống trước của Ðức Phật Gotama Chuyện tiền thân này, theo ýkiến của Hòa thượng tiến sĩ Thích Minh Châu, có thể tóm tắt trong bốn loạikhác nhau Ðó là, (1) chuyện hiện tại của Ðức Phật liên quan đến kiếp quákhứ (Paccuqanna-Vatthu); (2) Chuyện quá khứ nối kết với các nhân vậttrong hiện tại (Ativathu); (3) Giải thích một số kệ hoặc từ ngữ có liên hệchuyện quá khứ (Veyyàkaranà); và (4) Kết hợp chuyện quá khứ và hiện tại,sau đó chỉ ra nhân vật trong quá khứ và vạch bày mối quan hệ giữa các nhânvật giữa chuyện hiện tại và quá khứ (Samodhana) Sau đây là một vàichuyện tiêu biểu trích từ kinh Bổn Sanh (Jataka) để minh họa cho bốn loạitrên:
Trang 29“Thuở xưa, trong nước Kasi, tại thành Ba La Nại, có một vị vua tên làBrahmadatta Khi ấy, vị Bồ-tát được sanh trong gia đình chủ đoàn lữ hành(thương gia)…”
Thủơ xưa, tại nước Magadha, trong thành Ràjagaha, một vị vua Magadhađang trị vì Lúc ấy, Bồ-tát tái sanh trong bài thai con nai…”
Với nhận định ngắn gọn về ý nghĩa của ba loại Bồ-tát như vừa bàn thảo ởtrên, chúng ta có thể nhận ra một sự kiện quan trọng Ðó là không nhữngthuật ngữ ‘Bồ-tát’ (bodhisatta) thực sự xuất hiện trong Thánh điển của Phậtgiáo Nam Truyền hay Theravàda qua quá trình sưu tập và chuyển dịch củakinh tạng Nikàya, mà triết lý của khái niệm Bồ-tát rõ ràng cũng đã được ứngdụng và chỉnh lý với nhiều cấp độ thay đổi khác nhau để phù hợp môitrường và hoàn cảnh trong một vài thời điểm nhất định như được thấy trongkinh Trung Bộ, Trường Bộ và Bổn Sanh Khuynh hướng này (sẽ được bànthảo trong chương III) có lẽ đã đóng vai trò mở đường cho tất cả phươngpháp phân tích, giải thích và ứng dụng lời dạy của Ðức Phật mà các bộ pháiPhật giáo đã phát triển sau này
Hơn nữa, theo tác phẩm nghiên cứu so sánh của Hoà Thượng tiến sĩ ThíchMinh Châu, thuật ngữ ‘bodhisatta’ (Bồ-tát) đã không xuất hiện trong các bảndịch xưa nhất của Thánh điển Pàli, mà nó chỉ được thêm vào trong văn họcPàli ở các thời đại về sau, do bởi sức ép của khuynh hướng mang tính bèphái thuộc các bộ phái Phật giáo phát triển xảy ra trong chính tổ chức tăngđoàn Phật giáo mang lại Quan điểm vừa nêu dường như rất hợp lý và có thểđược chấp nhận vì nó phù hợp với tiến trình lịch sử của sự hình thành, sưutập và phát triển của văn điển Pàli Ðiều này cũng chuyển tải một tư tưởngrất có ý nghĩa và cho phép chúng ta đi đến một gợi ý vô cùng quan trọng Ðó
là đã có một số chuyển động cải tiến về khía cạnh tư tưởng trong thời kỳ kiếttập và biên soạn văn điển Pàli Nghĩa là trong ý nghĩa sâu rộng, Theravàdahay Nam Truyền Phật giáo có thể đã hàm ngụ những nét đặc thù của Phậtgiáo Bắc Truyền hay Phật giáo Phát Triển Hay nói một cách cụ thể hơn,Phật giáo Nam Truyền đã là một mẫu thức nào đó của Phật giáo Phát Triển.Tại sao vấn đề ấy được nêu lên ở đây? Lý do thật là đơn giản Theo thóiquen xưa nay, với niềm tin khá cực đoan và sai lầm, Phật giáo Nam Truyềnhay Thượng Tọa Bộ (Theravàda) thường tự xem mình là chính thống, vàgiới tín đồ của họ luôn tuyên bố rằng Thánh điển Pàli mới là lời dạy chânchính của Ðức Phật, và phần kinh điển còn lại của các bộ phái Phật giáo làngụy tạo và bịa đặt Sự suy nghĩ như thế không chỉ được giới Phật tử truyềnthống của Thượng Tọa Bộ ủng hộ, mà ngay cả một số lượng lớn học giảcũng tán đồng Như là kết quả tự nhiên của khuynh hướng đó, sự ngộ nhậnnghiêm trọng và sự phân hóa trong toàn bộ cơ thể Phật giáo cũng như giáo
lý đạo Phật rõ ràng đã nảy sinh, hiện hữu và tồn tại
Trang 30Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa ngày nay đại đa số học giả đều thừa nhận rằngniềm tin như thế quả thực là cực đoan và sai lầm; đặc biệt khi nó được thẩmxét bằng các minh chứng lịch sử Nhưng một tác phẩm với sự trình bày có
hệ thống nhằm giải thích rõ ràng và hợp lý đặc tính thống nhất giáo lý củaPhật giáo nói chung, và lý tưởng Bồ-tát nói riêng từ kinh tạng Nikàya củaThựơng Tọa Bộ sang kinh tạng Phật giáo Phát Triển quả thật là rất hiếm.Bởi vậy, công việc khảo sát mang tính phương pháp luận về giáo lý Bồ-tát
tự thời điểm phát sinh đến giai đoạn phát triển trọn vẹn của nó sẽ là mục tiêuchính của tác phẩm nghiên cứu này với niềm hy vọng rằng tác giả sẽ cốnghiến một điều gì đó mới mẽ cho cả lãnh vực nghiên cứu Phật học lẫn phươngdiện hành trì của người Phật tử
từ mọi ngõ ngách của cuộc sống sẽ trở thành tín đồ của họ càng ngày càngđông, cho dù lịch sử ấy là chân thật, mơ hồ hay hư ngụy Rõ ràng Phật giáocũng đang bị cuốn vào trong dòng chảy này Tuy nhiên, cũng có một vàikhác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác trong việc làm ấy; bởi vì trongthực tế, ít ra cũng có hai huynh hướng hoàn toàn đối lập lẫn nhau đang vậnhành trong thực thể Phật giáo Trước tiên, khuynh hướng phổ thông và thịnhhành nhất mà Phật giáo đồ ứng dụng để truyền bá giáo lý thì cũng giống cáctôn giáo đương thời Ðó là, giới Phật tử xem Ðức Phật Thích Ca như là một
vị Phật ở cõi trời, hay là một vị Bồ-tát siêu thế với vô số huyền thoại bí mật
và thần thông phủ đầy diện mạo cũng như lời dạy của Ngài Cho dù như thế,nhưng nhờ đáp ứng được nguyện vọng và nhu cầu của tín đồ, trường pháinày đang chiếm giữ vai trò quan trọng trong tổ chức Phật giáo, và có một số
Trang 31lượng Phật tử rất đông Tụng đọc và quán tưởng một số kinh điển, chú thuật,hoặc niệm danh hiệu của chư Phật và các vị Bồ-tát thuộc thiên giới đượcxem là việc tu tập chính đối với giới tín đồ của khuynh hướng vừa nêu Họlàm việc đó với lòng mong ước rằng Phật và Bồ-tát sẽ ban thưởng phướcđức cho họ, nhờ thế họ sẽ có một đời sống hạnh phúc trong tương lai Tráilại, số lượng tăng ni, Phật tử và giới học giả nghiên cứu ủng hộ khuynhhướng thứ hai rõ ràng là không nhiều, vì đường hướng của họ là nhắm vàoviệc khôi phục và làm rõ tính chân thật về biên niên sử của Phật giáo vàBậc-đạo-sư Mục tiêu chính của nhóm thứ hai là nỗ lực phục hồi mọi nét đặctrưng chân chính về Ðức Phật lịch sử và giáo lý của Ngài trong chừng mựcchân thật nhất Nói khác đi, niềm tin của họ là như vầy, Ðức Phật Gotama(Cù Ðàm) là một con người lịch sử chân thật như chúng ta; những gì Ngàithực hiện và thành tựu trong tư cách con người cũng sẽ hiện hữu trong cuộcsống của bất cứ ai, nếu người ta thực sự nghiêm túc đi theo đạo lộ của Ngài.Nói một cách cô đọng hơn, con đường Trung Ðạo, bao gồm Giới (Sìla),Ðịnh (Samàdhi) và Tuệ (Pãnnã) có thể được xem là các thành tố chính cho
sự hiện hữu của nó Như thế, bất cứ điều gì cần phải làm đối với một người
đi theo con đường chân chánh đó để theo đuổi mục tiêu tối hậu của Phậtgiáo, tức giác ngộ (bodhi) đều được gọi là “nhiệm vụ hay sứ mệnh của Bồ-tát” Với cùng tư tưởng như thế, trong Bách Khoa Phật giáo người ta đã viếtrằng nếu chúng ta mong muốn để hiểu “Bồ-tát là ai”, trước hết chúng ta cầnphải biết “Phật là ai” Theo Phật giáo Nam Truyền (Theravàda), Ðức PhậtGotama (Cù-đàm) không phải là con người thuộc dòng dòi thần thánh ở cõitrời, cũng không phải là đối tượng để tô điểm phụng thờ Ngài không phải làmột lý thuyết gia siêu hình và càng không phải là một nhà duy vật chủnghĩa Ngài không phải đấng giáo chủ tôn giáo, như Thượng Ðế, Ðấng CứuThế, hay Sáng tạo, đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối với tín đồ Trái lại,Ngài chỉ là một con người đã tự hoàn thiện bản thân bằng việc nhận thứcđược ‘bản ngã’ chân thật của con người ở cấp độ cao nhất Nói một cáchchính xác và nghiêm túc, Ngài chỉ được ca ngợi và tôn vinh lên địa vị Phật
kể từ thời điểm chứng ngộ ở Bồ-đề đạo tràng (Bodhagàya) Mọi sinh hoạtcủa Ngài trước sự kiện này được gọi là cuộc đời của một vị Bồ-tát
Trong phương các như thế, ý nghĩa vừa được đề cập ở trên nhằm chỉ cuộcđời và hạnh nguyện của vị Bồ-tát trong chính Chương II ngang qua một sốminh họa về cuộc đời của Thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) từ lúc xuất gia đếnthời điểm chứng ngộ chân lý như đã được ghi lại trong các kinh tạng Nikàyacủa Phật giáo Nguyên Thủy Những bước phát triển về sau phát sinh trong ýnghĩa của thuật ngữ Bồ-tát dĩ nhiên sẽ được minh họa và giải thích trong cácchương sắp tới
Trang 32-o0o -Công Hạnh Của Bồ Tát Theo Phật Giáo Nguyên Thủy
Mahàvaga (Ðại Phẩm) của Luật Tạng Pàli và kinh Trung Bộ ghi lạIrằng Thái tử Siddhattha (Tất-đạt-đa) là con của vua Suddhodhana (TịnhPhạn) và hoàng hậu Mahàmaya (Ðại Ma-da) trị vì kinh thành Kapilavatthu(Ca-tỳ-la-vệ) thuộc nước Sàkya (Thích-ca) Ngài sanh ra, lớn lên và đượcgiáo dục trong môi trường và hoàn cảnh vô cùng thuận lợi, cả mặt vật chấtlẫn tinh thần Vợ của Thái tử, tức công chúa Yasodhara (Da-du-đà-la), đượcthừa nhận là một trong những phụ nữ đẹp nhất vào thời điểm ấy Rahula(La-hầu-la) là kết tinh của cuộc hôn nhân hạnh phúc giữa hai nhân cách này.Tuy nhiên, sau một thời gian dài tự thân hưởng thụ, thực nghiệm và trải quamọi thức cảm giác và khoái lạc của thế gian, Thái tử Siddhattha nhận chânđược bản chất không thật, vô thường và sự nguy hiểm của chúng Như là hệquả, tư tưởng từ bỏ mọi cảm thọ tạm bợ đó thường sinh khởi trong tâm củahoàng tử, vì:
“Làm sao có thể vui cười được, làm sao có thể thích thú được khi cuộc đờiđang bị thiêu đốt Mãi bị tối tăm che phủ, tại sao các ngươi không đi tìm ánhsáng?”
Ðến năm 29 tuổi (theo truyền thống của Phật giáo Nam Truyền), quyết địnhphi thường để trở thành vị Bồ-tát đi tìm cầu chân lý mới nở rộ trong tâmkhảm Thái tử khi Ngài nhận thức thấu đáo được sự ràng buộc và cảnh tùtúng của cuộc sống thế tục
“Ở đây, này Aggivessana, trước khi ta giác ngộ, chưa chứng Chánh ÐẳngGiác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: ‘Ðời sống gia đình bị gò bó,con đường đầy những bụi đời Ðời sống xuất gia như sống giữa hư không.Thật rất khó sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toànthanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh Ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà
sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình…”
Và,
“Trói buộc sống gia đình,
Tụ hội mọi bụi đời,
Phóng khoáng đời xuất gia,
Thấy vậy nên xuất gia”
Trong giai đoạn khởi đầu của cuộc tìm cầu chân lý, Thái tử Siddattha langthang khắp các làng mạc núi rừng, gặp hầu hết các vị đạo sư tôn giáo tiếngtăm của thời bấy giờ, thực hành giáo lý của họ, và chứng đắc những mụctiêu lý tưởng mà các bậc thầy ấy nhắm đến Trong suốt quãng đường tâmlinh lịch sử ấy, có ba dấu ấn nổi bật cần đề cập ở đây Trước hết, đó là cuộc
Trang 33gặp gỡ đầu tiên giữa du sĩ khổ hạnh Gotama và đạo sĩ Alàra Kalama, mộttrong nhiều bậc đạo sư tôn giáo lỗi lạc đương thời Sau một thời gian ngắnchấp nhận Alàra Kalama là thầy và tu tập dưới sự hướng dẫn của ông, du sĩkhổ hạnh trẻ tuổi Gotama đã chứng đắc cấp độ tâm linh cao nhất, ngangbằng cấp độ mà vị giáo chủ của giáo phái này đạt đến Nhưng sự thành tựuphi thường đó không làm Bồ-tát Siddattha thoả mãn bởi vì nó không phải làmục tiêu tối hậu mà ngài nhắm đến Do vậy sau khi từ chối lời để đề nghịcao quý sau đây: “… Giáo pháp mà ta nhận biết chính là giáo pháp mà ngàinhận biết Giáo pháp mà ngài nhận biết chính là giáo pháp ta nhận biết Tôinhư thế nào, ngài như thế ấy; ngài như thế nào tôi như thế ấy; hãy đến đâynày bậc đáng kính ngài với ta hãy trông nom pháp hội này”, con người thánhthiện ấy đã từ giả Alàra Kalama và tiếp tục chuyến hành trình cực kỳ khókhắn trong mục tiêu tìm cầu chân lý Tiếp đến, Uddaka Ralama, với uy tín
và danh vọng lớn lao hơn Alàra Kamaputta, đã trở thành vị thầy tâm linh thứhai của du sĩ lang thang Gotama Tuy nhiên, cũng một tiến trình tương tự đãxảy ra trong cuộc hội ngộ kỳ diệu này như trong trường hợp của AlàraKalama Thêm một lần nữa, sau khi để lại sự kính trọng tột cùng trong tâmkhảm của thầy và trò của giáo phái thứ hai, vị đạo sĩ trẻ phi thường đã từ giã
họ và đi vào rừng Tại đó, cùng với nhóm năm anh em tôn giả Kondana(Kiều-trần-như) Bồ-tát đã tu tập khổ hạnh ép xác để tìm cầu chân lý Chỉtrong một thời gian ngắn, đạo sĩ Gotama được nhóm này tôn xưng làm thầy
vì ngài là người nghiêm khắc nhất trong việc thực hành nếp sống tôn giáo
đó Trong khoảng thời gian sáu năm, ngài tu tập, rèn luyện một cách thathiết và nghiêm ngặt bằng tất cả phương pháp khổ hạnh ép xác cho đến khithân thể ngài chỉ còn lại một bộ xương Nhưng vào một ngày nọ, đạo sĩGotama nhận thức được rằng việc kiêng cử và khổ hạnh của ngài thật sự là
vô ích, không hề đưa ngài đến bất cứ sự tiến bộ xa hơn nào về mặt trí tuệcũng như cái thấy đối với giải thoát tối hậu Do vậy, ngài từ bỏ lối tu hành
ấy, bắt đầu ăn uống trở lại để phục hồi sức khỏe, và đi đến làng Uruvelà(Ưu-lâu-tần-loa) thuộc lãnh thổ của Vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà) Tạiđây, ngài tìm thấy một dãi đất thoáng mát đẹp đẽ nằm cạnh khu rừng nhỏ dễthương dọc dài theo dòng nước trong xanh và một khu làng nhỏ tọa lạc cách
đó không xa Du sĩ Gotama biết rằng đây chính là nơi lý tưởng để ngài tuhành, tìm cầu giải thoát:
“Bên sông Ni-liên-thuyền,
Trang 34lực thiền định, bằng phương pháp riêng của tự thân Tuy nhiên, sự kiệnmang tính tâm lý sau đây đã xảy ra một cách tự nhiên đối với thân thể củangài Ðó là, bản năng dục vọng của con người như sự thích thú nhục dục,khát khao hay thèm muốn khoái lạc, lòng bất mãn, đói khát, lười biếng, mệtmõi, sợ hãi, nghi ngờ, tính bướng bỉnh, thái độ giả dối, danh vọng tiếng tăm,v.v…, những thứ được nhân cách hóa với danh nghĩa là Ma (Mara) đã không
dễ dàng chìu theo ý muốn thánh thiện của ngài Như là một nhu cầu thiết yếu
và khẩn cấp đối với cái thân suy nhược, yếu ớt mà vốn là hệ quả của việcgiày vò, hành hạ xác thân lâu ngày qua lối sống khổ hạnh, các thứ chướngngại nói trên thường xuyên xuất hiện trong tâm trí của ngài, ngăn cản ý chítìm kiếm quả vị giác ngộ Có lẽ không sai lầm khi người ta nói rằng trongtình huống như thế hầu hết mọi người sẽ từ bỏ cuộc chiếc và quay trở về vớiđời sống đầy tiện nghi vật chất Tuy nhiên, đối với đạo sĩ Siddhattha sự việckhông phải là như vậy Trong thực tế, từ thời điểm ấy trở về sau cho đến thờiđiểm cuối cùng của hành trình tâm linh, ngài đã kiên định đối với mục đíchtìm cầu chân lý tối hậu Ðạo sĩ Gotama đã phát lời nguyện sau đây:
“Ôi, này Na-mu-ci,
Ðây là quân đội Ngươi,
Ðây quân đội chiến trận,
sử Siddhattha bắt đầu nỗ lực theo lộ trình vừa chói sáng này Nhờ vào kinhnghiệm đã tích lũy qua sự hiểu biết riêng của tự thân và những kinh nghiệmhọc hỏi được từ các bậc đạo sư tôn giáo trước đó, cả trong cuộc sống vậtchất lẫn lãnh vực tâm linh, và bằng sự phát huy mạnh mẽ năng lực trí tuệtiềm tang của mình, đạo sĩ Gotama phát hiện ra phương pháp thiền định mới.Trên căn bản của loại thiền này, Bồ-tát Gotama quyết tâm đeo đuổi và nỗlực không ngừng nghỉ cho đến khi chứng đắc giải thoát dưới cội cây Bồ-đề(theo truyền thống của Phật giáo Nam Truyền) lúc ngài vừa đúng 35 tuổi.Theo Sutta-Nipata (Kinh Tập), con đường mà ngài tu tập bao gồm giới(sìla), thí (dana), nhẫn (ksati), tinh tấn (virya), thiền định (dhyana) và trí tuệ
Trang 35(pãnnã) Giải thoát mà ngài chứng đắc được gồm có bốn cấp độ thiền định
và ba loại trí tuệ siêu thế Sau sự kiện lịch sử chứng ngộ kỳ diệu đó, Bồ-tátSiddhattha, giờ đây được người đời tôn xưng là Phật, Bậc Giác Ngộ, ThếTôn, Như Lai, v.v…, cũng vẫn ở trong vị trí con người, nhưng là một conngười đã giác ngộ, hay con người toàn thiện của lịch sử nhân loại Cuộcsống của con người này siêu việt mọi phạm trù liên quan đến khát vọng bìnhthường của thế nhân Cả cuộc đời của người là vì lợi ích, an lạc cho toàn thểnhân loại ngang qua sứ mệnh truyền bá giáo lý giải thoát hay còn gọi là conđường trung đạo cho đến khi trút hơi thở cuối cùng tại thế giới Ta-bà Conngười giác ngộ này có thể ví như một bông sen, sinh ra trong nước, lớn lêntrong nước nhưng không bị nước làm cho ô nhiễm Thật vậy, Thái tửSiddattha sinh ra và lớn lên trong thế giới loài người, nhưng vượt lên trêncảnh giới ấy mà không bị nó làm nhiễm ô
Từ khi trở thành Bậc giác ngộ ở Bodhgàya (Bồ-đề-Ðạo-tràng) vào tuổi 35cho đến lúc nhập Mahàparinibbàna (Ðại Niết-bàn) tại Kusinara (Câu-thi-la)
ở tuổi 80, đức Phật đã du hành liên tục từ nơi này đến nơi khác, băng quamọi ngõ ngách của miền Nam Trung Ấn để truyền bá giáo pháp mà Ngài đãphát hiện và chứng ngộ vì lợi ích và hạnh phúc của quần sanh cho đến khitrút hơi thở cuối cùng không hề khởi lên một ý niệm mệt mỏi Bậc giác ngộ
đã áp dụng rất nhiều phương pháp trong việc giảng dạy chánh pháp ngõ hầuphù hợp với vô số căn cơ, trình độ khác nhau của giới tín đồ Do vậy, saukhi lắng nghe và thu hoạch lợi ích từ giáo huấn của Ngài họ thường cảmthán rằng: “Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch ThếTôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ranhững gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sángvào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc Cũng vậy, Chánhpháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích…; từnay trở đi cho đến mạng chung con trọn đời quy ngưỡng.”
Mặc dù thế, sứ mệnh tôn giáo của Ngài không dễ dàng chút nào Trải qua 45năm thuyết pháp độ sanh, Bậc giác ngộ thường xuyên đối diện với muôn vànkhó khăn, gian khổ do các hệ thống tôn giáo khác nhau tạo ra tưởng chừngkhông thể vượt qua; đặc biệt là các chướng duyên do lớp người không thíchÐức Phật, giáo lý và con đường tu tập của Ngài gây nên Do đó, tuỳ thuộcvào bối cảnh tôn giáo, chính trị và xã hội của từng địa phương cụ thể màÐức Phật áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau; về sau giới Phậtgiáo Bắc Truyền gọi chúng là “Upàya-Kaúsalya” tức “Phương tiện thiệnxảo” Quả thật, chính tinh thần phương tiện thiện xảo ấy đã đóng vai tròquan trọng trong việc dẫn dắt con người hướng đến con đường giải thoát.Sau đây là ví dụ điển hình về giáo lý trên:
Trang 36“Rồi Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp cho gia chủ Upali, tức là thuyết về cáccõi trời, trình bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô các dục lạc, những lợiích của xuất ly Khi Thế Tôn biết gia chủ Upali tâm đã sẳn sàng, tâm đã nhuthuận, tâm không triền cái, tâm được phấn khởi, tâm được hoan hỷ Ngài mớithuyết những pháp được chư Phật tán dương đề cao: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo…”Nhưng thật vô cùng quan trọng để lưu ý rằng, dĩ nhiên giáo lý phương tiệnthiện xảo là nhắm đến lợi ích của chúng sinh, nhưng bất cứ điều gì đi ngượclại hay xung đột với tinh thần giải thoát của con đường trung đạo đều lập tức
bị Ðức Phật bác bỏ Giữa vô số loại tu hành mê tín khác nhau của thời bấygiờ, chúng ta hãy quan sát một vài lời dạy sau đây của Ðức Phật về các việcbói tướng, tụng đọc các thần chú, mật chú, và cầu nguyện thánh thần.v.v…”
Không đoán tiếng thú kêu,
Không chữa bệnh không sanh,
Không hành nghề lang băm.”
Không ai thanh tịnh ai.”
Không có gì để nghi ngờ rằng chính quang Thánh đạo tám ngành này, khôngnhững trong lúc còn tại thế Ðức Phật đã có thể giúp đỡ con người sống mộtđời sống an lạc và hạnh phúc, mà sau ngày Ngài nhập Niết-bàn, hàng đệ tửcũng hưởng vô số lợi lạc cho thân tâm bằng cách thực nghiệm con đường đãđược trắc nghiệm đó Giá trị của nó vượt lên trên sự đo lường của thời gian
Di sản trí tuệ và bức thông điệp giải thoát của Ngài có thể khiến người tangạc nhiên hơn qua lời trích dẫn sau đây của một học giả rất nổi tiếng:
“Không có người nào có sự tác động và ảnh hưởng về mặt phát triển tâmlinh đối với nhân loại to lớn hơn Siddhattha Gotama Sinh ở Ấn Ðộ vào thế
kỷ thứ sáu trong một dân tộc khát khao cảm nghiệm tâm linh, Ngài đã thuyếtminh một loại giáo lý tôn giáo đạo đức mà cho đến tận ngày hôm nay vẫnđem đến an lạc và giải thoải mái cho những ai thực hành nó.”
Nghiên cứu ngắn gọn và khiêm tốn trên về cuộc đời và công hạnh vị Bồ-tátrút ra từ giáo lý của kinh tạng Nikàya có lẽ vừa đủ để cho chúng ta thấy
Trang 37được ý nghĩa và tầm qua trọng của nó Ðức Phật Gotama là một con ngườilịch sử, và lịch sử cuộc đời của con người này chúng ta biết khá đầy đủ chitiết Ngài không phải là người đến từ thế giới khác với nhiều bí mật vàhuyền thoại Bồ-tát Siddattha cũng sống một cuộc đời thế tục, cảm nghiệmđầy đủ mọi niềm vui, dục lạc vốn có giữa trần gian Sau đó, Ngài tự thân tutập và thực nghiệm những hình thái đời sống tôn giáo khác nhau, và cuốicùng từ bỏ tất cả chúng; và Ngài đã làm sáng tỏ một sự kiện mà toàn thểnhân loại mãi trăn trở và suy tư qua vô số thế hệ: “cuộc sống hiện tại sẽ dẫnchúng ta về đâu” Nếu so sánh với mọi tôn giáo, Phật giáo là tôn giáo đượcxây dựng trên kinh nghiệm thật của con người, mà không phải là một sảnphẩm tưởng tượng mang tính phù phép và huyền thoại, hay các giả thuyếtchưa được thử nghiệm Do vậy, bất cứ ai tìm kiếm giác ngộ (bodhi) qua việcthực hành con đường thánh đạo này đều đầy đủ tư cách để được gọi là Bồ-tát Những ý kiến hay khái niệm cho rằng cho có một vị Bồ-tát trong Phậtgiáo Nguyên Thủy, tức Bồ-tát Siddhattha, đều là tư tưởng một chiều, khó cóthể chấp nhận, và cần phải được duyệt xét lại.
Liên quan đến ý kiến vừa nêu, hy vọng chúng ta sẽ không lạc đề khi tríchdẫn ra đây lời phát biểu của nhà nghiên cứu Phật học người Nhật,D.T.Suzuki, từ tác phẩm “Ðặc Ðiểm của Phật Giáo Ðại Thừa” để suynghiệm D.T Suzuki viết rằng: “Giống như đức Sakyamuni (Thích-ca-mâu-ni) là Bồ-tát, trong tiền kiếp đã được thọ ký sẽ thành Phật; cũng vậy chúng ta
là những Bồ-tát, hay trong ý nghĩa nào đó, thậm chí là Phật khi chúng tanhận thức được rằng tất cả hữu tình chúng sanh, bao gồm cả Ðức Phật, chỉ làmột Pháp thân (Dharmakaya) Pháp thân biểu hiện trong chúng ta như là sựgiác ngộ (bodhi) vì giác ngộ vốn là bản chất của chư Phật cũng như Bồ-tát.”
Dù còn nhiều giới hạn trong lãnh vực triết lý Phật giáo, tác giả vẫn cho rằng
tư tưởng trên của tiến sĩ D.T.Suzuki quả thật là khá lạ lùng và phi lý khichúng được đặt bên cạnh giáo lý nghiệp (karma) và tinh thần thực tiễn củaPhật giáo Thêm vào đó, dường như chính ý tưởng đó đã làm giới Phật tửngộ nhận và dễ dàng xao lãng trong việc tu tập và huấn luyện theo conđường trung đạo nhằm loại bỏ nghiệp quá khứ của mình Ðể chứng minh lậpluận của chúng ta hợp lý, một vài thí dụ được nêu ra ở đây hy vọng là thíchđáng Quả thật, trên bình diện lý thuyết, không ai có thể bác bỏ sự kiện rằngtất cả mọi người đều sở hữu tiềm năng để trở thành giáo viên, bác sĩ, haynhà khoa học, v.v… Tuy nhiên, trong thực tế, sự thật không phải như vậy,bởi vì sự cố gắng đúng mức, sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn bền bỉ cần phải
có để đạt đến các mục tiêu như thế mới là yếu tố chủ đạo đóng vai trò thànhhay bại ở đây Rõ ràng, thành quả chúng ta sẽ có thể đạt được thì luôn luôntùy thuộc vào sự đầu tư của chúng ta trong một loại sứ mạng đặc thù nào đó.Chính hành động có tác ý hay nghiệp (karma) là sự phản ánh về vị trí thực
Trang 38của chúng ta Ðây là yếu tố chủ đạo trong việc mở ra các lãnh vực khác nhau
về triết lý, giáo dục, tôn giáo Dĩ nhiên, chúng ta sẽ có thể là Bồ-tát nếuchúng ta ước muốn như thế với điều kiện chúng ta phải luôn luôn nuôidưỡng lòng quyết tâm ấy và không ngừng nỗ lực hành trì để đạt được mụctiêu trên Từ đây, kết luận hợp lý cho tư tưởng này phải là như vầy: Trênbình diện lý thuyết, mọi chúng sinh đều có tiềm năng để trở thành Bồ-tát,thậm chí thành Phật, nhưng trong thực tế, quả thật chưa mấy ai đạt đến vị tríđáng được mong ước đó
Như vậy là cuộc đời và hạnh nguyện vị Bồ-tát được minh họa trong ánhsáng của kinh tạng Pàli, phản ánh được giáo lý căn bản về lý tưởng Bồ-tátngay từ khởi nguyên của Phật giáo Tuy nhiên, theo dòng thời gian và với sựphát triển của Phật giáo, triết lý Bồ-tát đã từng bước được thay đổi, bổ sung,
và ứng dụng ngõ hầu làm cho nó phù hợp với vô số căn cơ, trình độ hiểubiết, ước muốn và nhu cầu khác nhau ở từng thời điểm lịch sử cụ thể nào đó.Khuynh hướng mở rộng triết lý đó chắc chắn đã đóng một vai trò vô cùngquan trọng cho quá trình phát triển và truyền bá lâu dài của Phật giáo; bởi vìkhông có bổ sung, thay đổi về mặt giáo lý, có lẽ Phật giáo đã đánh mất vị trícủa mình Trong thực tế, để có thể tồn tại và phát triển cùng lịch sử mọi tôngiáo cần phải có những bước chuyển tiếp tư tưởng nhằm đáp ứng phù hợpnhu cầu đổi mới của nhân loại, như lời nhận xét của đại đức Edkins như sau:
“Nếu sự khởi nguyên của các tôn giáo thế giới là những chủ đề có ý nghĩa vàrất đáng được quan tâm nghiên cứu, thì sự tiến triển và mở mang của chúngcũng không kém phần quan trọng Vô số nguyên nhân tác động nhằm hợplực hỗ tương cho việc truyền bá Phật giáo, nếu nghiên cứu cẩn thận, sẽ làmột sự cống hiến có giá trị đối với lịch sử con người.”
Tư tưởng Phật học đã được tăng trưởng và nở hoa theo chiều dài lịch sử hơn
2500 năm của nó Trên bình diện thiển cận chúng ta có thể nói rằng sự mâuthuẫn trong triết học Phật giáo đã xảy ra suốt thời kỳ lịch sử và các vùng địa
lý khác nhau nào đó Nhưng ở cốt lõi, giáo lý Phật giáo chỉ là một sợi chỉhồng xuyên suốt, và lý tưởng Bồ-tát cũng là một khái niệm như thế Cho dùgiới học giả đã đưa ra nhiều lý thuyết trái ngược và nhiều lúc xung đột lẫnnhau trong phạm trù bản chất và phạm vi của giáo lý Bồ-tát, nhưng chúngtôi vẫn cảm thấy rằng thật ra khái niệm này xác định được những căn cứthống nhất đầy đủ thẩm quyền đối với toàn bộ tư tưởng và triết học Phậtgiáo Chính lý do này tạo ra cơ hội hợp lý để chúng tiếp tục tìm hiểu xembằng cách nào lý tưởng Bồ-tát đã phát triển theo dòng thời gian Chúng ta sẽxúc tiến việc này bằng việc nghiên cứu một cách chi tiết quá trình phát triểncủa nó trong chương ba
Mircea Eliade, The Encyclopaedia of Religion, Collier MacmillanPublishers, New York, 1987, tập II, trang 265
Trang 39G.P Malalasekera, O.B.E., The Encyclopaedia of Buddhism, Ceylon, 1971,tập III, p 224.
Har Dayal, The Buddhisattva Doctrine in Buddhist Sanskrit Literature,Motilal Banarsidass, Delhi, 1975, trang 5 Ðể tiện cho việc nghiên cứu củagiới độc giả, sau đây tác giả xin trích một số định nghĩa tiêu biểu và giảithích mà giáo sư Har Dayal đã trình bày trong tác phẩm trên
Theo sự nghiên cứu của HarDayal, (1) sattva có thể có nghĩa là “bản chất,thực chất hoặc sự tồn tại thực sự” (Skt Dicy M.W) Từ Pàli “satta” cũng cóthể có nghĩa là “tính chất” (Pàli Dicy S.v) Những nhà từ điển học lớn thờinay dường như giải thích sattva theo ý nghĩa này Bohtlingk và Roth, giảithích “Bodisattva” là “(adj.) desen Wesen Erkenntniss ist; (mas.) der imBeitz des Wesens der Bodhi Seinde”, và Monier William dịch như sau:
“Chúng sinh sở hữu sự giác ngộ hay trí tuệ toàn hảo trong bản chất của họ”(tr.688b) E Burnouf dường như giải thích thuật ngữ này giống nhưBohtlingk và Roth Theo C Iliot, “sattva có nghĩa là con người với bản chất
là trí tuệ” (Eliot, II, trang 7) Theo D Hackmann, “sattca có nghĩa là ngườivới bản chất được định sẵn sự giác ngộ” (Buddhism, tr 52)
(2) “Sattva” (giống đực) có thể có nghĩa là “một chúng sinh hữu tình” (Saht,Dicy M.W), “ein lebendes Wesen (Skt Dicy Pbg.) Từ Pàli “satta” có thể cónghĩa “con người, hữu tình, hay một con người hay chúng sinh hữu tình cótrí năng” (Pàli Dicy, s.v.) Theo Kern, “Sattva có nghĩa là một hữu tình haymột sự sống có lý trí, sở hữu sự giác ngộ (Manual, trang 65, line II) TheoRhys Davids và W.Stede, “sattva là một chúng sinh giác ngộ (bodhi being),nghĩa là một chúng sinh chắc chắn đạt được giác ngộ trọn vẹn (Pàli Dicy,s.v) Theo L D Barnet., “Sattva là một hữu tình giác ngộ (“Path”, trang 20).Theo M Anesaki, “sattva là một chúng sinh mưu cầu giác ngộ (ERE., V.450) Theo E.J Thomas, “sattva là một chúng sinh giác ngộ, hay chắc chắngiác ngộ (“Buddha”, trang, 2, ghi chú I).Theo D.T Suzuki, sattva là một conngười thông thái (“Outline”, trang, 277) Theo Csona de koros, sattva là mộtlinh hồn thanh tịnh và uy dũng (Scoma, trang 6) Tác giả của kinh Samadhi-raja giải thích sattva là một chúng sinh, một hữu tình, nhưng nghĩ rằng thuậtngữ bodhisattva (Bồ-tát) có nghĩa là người khuyên bảo, hay thúc đẩy tất cảchúng sinh (bodheti sattvan… Sam.Rà.Fol.25q, 4) P Ghosa dường như giảithích sattva là con người, nhưng phân tích toàn bộ từ này trong một cách đặcbiệt “bodhi sa casau maha-krp-asayena sattvalambanat sattvas cetibodhisattvah…” Câu này có nghĩa rằng con người vừa là bodhi (giác ngộ)vừa là vattva (chúng sinh)!
(3) “Sattva” có thể có nghĩa là linh hồn, là tâm, là tri giác, là thức “Geist”(Skt Dicy, M.W and Pbg.) Từ Pàli “satta” cũng có thể có nghĩa “linh hồn”(Pàli Dicy S.v.) I De la Valee Poussin, nhà từ điển học của Ấn Ðộ, cũng
Trang 40giải thích sattva như là một biểu tượng của citta (tâm) hay vyavasàya (quyếtđịnh hay quyết tâm) Bình luận về B.C Ava, tác phẩm Prajnakaramati nóirằng: “tatra (bodhau) sattvam abhipraya syeti bodhisattvah” P Ghosa tríchdẫn lời của một cựu luận sư, giải thích rằng sattva có nghĩa là abhipraya (ýđịnh hay mục đích): “bodhau sattvam abhipaya yesam te bodhisattvah” (Pr.
Pà Sata., trang 2., ghi chú 2) Như vậy từ ngữ này có nghĩa là “người vớitâm, ý định hay ý nghĩ, hay ước muốn đã gắn chặt với giác ngộ (bodhi) P.Oltramare không thừa nhận giải thích trên vì ông cho là quá gượng gạo vàkhông đúng; nhưng L de la Valee Poussin thì dường như có khuynh hướngchấp nhận nó, cùng lúc ấy ông ta thừa nhận rằng ý nghĩa nguyên thủy củathuật ngữ này có thể nguồn từ “ý niệm thực chất hay bản tính cố hữu”
(4) Sattva có thể có nghĩa là “thai tạng” (Skt Dicy M.W.); H.S Gour dịch
là “Trong con người mà sự hiểu biết còn tiềm ẩn và chưa phát triển”(Buddhism”, trang xi)
(5) Sattva có thể có cùng ý nghĩa vì ở trong tác phẩm Yoga-sastra (Luận già) nó ngược lại với từ purasa (người) và có ý nghĩa là “tâm hay sự hiểubiết” Giải thích ấy thường được E Senart tin tưởng rằng Phật giáo bị ảnhhưởng sâu sắc bởi hệ thống Yoga (Du-già)… Thực sự rằng sattva xuất hiệnrất thường trong Yoga sutram và G Jha dịch là nguyên tắc tư duy hay tâm”(Yo, Sù II 41, trang 109, “sattva-suddhi-saumanasy-aikagry-endriya-jay-atma-darsana-yogyatvani ca) E Senart chỉ ra rằng sattva được nói là khácvới purisa (người) trong Ypga sutra (III 55, “sattva-purusyoh suddhi-samye”, trang 174) Do vậy ông ta đưa ra sự trích dẫn ở trên, nhưng chúngtôi (Har Dayal) thú nhận rằng tôi thực sự không hiểu những điều mà E.Senart muốn nói ở câu “sattva de la bodhi” Ý kiến của Kern là thành phầnthứ nhất “bodhi” có thể có liên quan đến thuật ngữ “buddhi” của hệ thốngYoga (Du-già), vì thuật ngữ buddhisattva đặc biệt được tìm thấy trong vănhọc Yoga (Du-già) Như vậy, Bồ-tát có thể là một nhân vật cách hóa sự hiệubiết tiềm tàng (trong chúng sinh)
Du-(6) Sattva có thể là một hình thức Sanskrit hóa sai của thuật ngữ Pàli ‘satta’,
và từ Pàli này có thể tương hợp với từ Sanskrit “Satka” Như vậy, từ chữ
“boddhisatta” của Pàli, theo đó tiếng Sanskrit bắt nguồn sẽ là bodhi-satka, cónghĩa là “người tận tụy với hay gắn chặt với giác ngộ (bodhi)” Satka (từ căngốc sanj) có nghĩa là “bám vào, níu lấy, hay gắn chặt vào, nối kết lại, liên kếtvới, say mê với, tận tụy với, thích thú, miệt mài” (Skt Dicy M.W) Theo từđiển Pàli, thuật ngữa Pàli ‘satta’ cũng có liên hệ với những từ của Sanskrit,như ‘sattva, sapta, sakta, và sapta Có người đã gợi ý rằng từ Pàli ‘satta’ cóliên hệ với từ Sanskrit ‘Sukta’ mà không phải là ‘sùtra’, vì từ sùtra là mộtchọn lựa không thích hợp đối với những bài kinh dài dòng và rườm rà củaPhật giáo Các nhà Phật học rất chú trọng đến tầm quan trọng của những lời