Bảng 1 bao gồm các hiệp định mà các nước Đông Á đã ký kết tính tới tháng 5/2008.2 Khu vực thương mại tự do ASEAN được thành lập năm 1992 là FTA lớn duy nhất trong khu vực cho tớikhi Nhật
Trang 1CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG
Trang 2CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KINH TẾ QUỐC TẾ
(ISSN: 1793-3641)
Tổng biên tập Robert M Stern, Đại học Michigan, Hoa Kỳ
Ban biên tập Vinod K Aggarwal, Đại học California-Berkeley, Hoa Kỳ
Alan Deardorff, Đại học Michigan, Hoa Kỳ Paul DeGrauwe, Đại học Katholieke Universiteit Leuven, Bỉ Barry Eichengreen, Đại học California-Berkeley, Hoa Kỳ Mitsuhiro Fukao, Đại học Keio University, Tokyo, Nhật Bản Robert L Howse, Đại học Michigan, Hoa Kỳ
Keith E Maskus, Đại học Colorado, Hoa Kỳ Arvind Panagariya, Đại học Columbia, Hoa Kỳ
Đã xuất bản*
Vol 4 Các nguyên tắc của Toàn cầu hóa
Rawi Abdelal (Đại học Harvard, Hoa Kỳ)biên soạn Vol 5 Các thể chế và vấn đề trao quyền theo giới trong kinh tế toàn cầu
Kartik Roy (Đại học Queensland, Australia), Hans Blomqvist (Học viện quản lý kinh tế và kinh doanh Thụy Điển, Ba Lan) & Cal Clark (Đại học Auburn University, Hoa Kỳ)
biên soạn Vol 6 Toàn cầu hóa và rủi ro hệ thống
Douglas D Evanoff (Ngân hàng dự trữ liên bang Chicago, Hoa Kỳ), David S Hoelscher (Quĩ tiền tệ quốc tế, Hoa Kỳ) &
George G Kaufman (Đại học Loyola University Chicago, Hoa Kỳ) bên soạn
Vol 7 Thúc đẩy hợp tác tài chính và tiền tệ tại Đông Á
Duck-Koo Chung (Tổ chức nghiên cứu Đông Bắc Á, Hàn Quốc) & Barry Eichengreen (Đại học California, Berkeley, Hoa Kỳ) biên soạn
Vol 9 Toàn cầu hóa và các chính sách thương mại quốc tế
Robert M Stern biên soạn Vol 10 Cuộc khủng hoảng thị trường tín dụng đầu tiên trong thế kỷ 21: những tác động đối với chính sách công
Douglas D Evanoff (Ngân hàng dự trữ liên bang Cago, Hoa Kỳ), Philipp Hartmann (Ngân hàng trung ương Châu Âu, Đức) &
George G Kaufman (Đại học Loyola University, Hoa Kỳ) biên soạn
Vol 11 Các hiệp định thương mại tự do tại Châu Á Thái Bình Dương
Christopher Findlay (Đại học Adelaide, Australia) &
Shujiro Urata (Đại học Waseda University, Nhật Bản) biên soạn
Sắp xuất bản
Vol 8 Những thách thức đối với phát triển kinh tế tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi
Julia C Devlin biên soạn
* Xem chi tiết các cuốn sách đã xuất bản tại website:
http://www.worldscibooks.com/series/wssie_series.shtml
Trang 3CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO KHU VỰC CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG
Trang 4Nhà xuất bản
Nhà xuất bản World Scientific Publishing Co Pte Ltd
Địa chỉ: 5 Toh Tuck Link, Singapore 596224
Văn phòng đại diện tại Hoa Kỳ: 27 Warren Street, Suite
401-402, Hackensack, NJ 07601
Văn phòng đại diện tại Anh: 57 Shelton Street, Covent
Garden, London WC2H 9HE
CÁC HIỆP ĐỊNH TỰ DO THƯƠNG MẠI TẠI CHÂU
Á THÁI BÌNH DƯƠNG
Các công trình nghiên cứu kinh tế quốc tế— Vol 11
Bản quyền của NXB World Scientific Publishing Co Pte Ltd
Cuốn sách này không được phép sao chép lại dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằngbất kỳ phương tiện nào nếu không được sự cho phép của nhà xuất bản bằng vănbản chính thức
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, thế giới được chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các hiệp địnhthương mại tự do (FTAs) Các hiệp định được ký kết tại hầu khắp các khu vực trên thế giới vàchiếm lĩnh vị trí thống trị trong hệ thống thương mại quốc tế Các FTA góp phần rất lớn trongviệc thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia nhưng đồng thời làm chệch hướng thương mại vàhạn chế thương mại đối với các nước không tham gia ký kết Do đó, các FTA có ảnh hưởng đồngthời tới các nước ký kết và các nước không tham gia ký kết Để làm rõ những tác động này củacác FTA đối với hoạt động thương mại và nền kinh tế các nước, Nhóm nghiên cứu FTA thuộcViện nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (RIETI) đã tiến hành một công trìnhnghiên cứu đối với một số FTA nổi bật trong năm tài khóa 2006 và 2007 Nghiên cứu sử dụng sốliệu phân tích tiền FTA (giai đoạn trước khi ký kết FTA) và số liệu hậu FTA (giai đoạn sau khiFTA được ký kết) Riêng đối với các FTA của Nhật Bản, nhóm nghiên cứu đánh giá thêm tỷ lệvận dụng các FTA đã ký trong thực tiễn kinh doanh của các công ty Nhật Bản Kết quả nghiêncứu không những chỉ ra những điểm còn thiếu sót mà các FTA đã ký kết cần khắc phục mà còncung cấp các thông tin hữu ích cho việc xây dựng các FTA mới trong tương lai Với việc xuấtbản thành sách, chúng tôi hi vọng sẽ có nhiều độc giả quan tâm tiếp cận được các kết quả nghiêncứu giá trị này
Công trình nghiên cứu được dẫn dắt bởi Giáo sư Urata Shujiro, chủ nhiệm khoa thuộc Việnnghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (RIETI), đồng thời là Giáo sư của Viện nghiêncứu Châu Á – Thái Bình Dương, đại học Waseda, Nhật Bản Những hỗ trợ từ một cơ quanchuyên ngành như RIETI giúp công trình nghiên cứu có được các số liệu quí giá về kinh tế,thương mại trong một giai đoạn dài và ở tầm toàn cầu
RIETI được thành lập bởi Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp với chức năng là một bệ xâydựng chính sách kiểu mới, làm cầu nối giữa các chuyên gia nghiên cứu và chính trị gia nhưngvẫn giữ vai trò độc lập nhất định với các cơ quan chính phủ Với vị trí đóng tại quậnKasumigaseki, Tokyo – trung tâm kinh tế, chính trị của Nhật Bản, RIETI đã tập hợp được cácnhà hoạch định chính sách, lãnh đạo các ngành công nghiệp, các chuyên gia, các nhà nghiên cứuđầu nghành của Nhật Bản và từ khắp nơi trên thế giới Trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010,RIETI đã đặt ra 4 hướng nghiên cứu chính sách chính, theo đó bất kỳ cá nhân hay nhóm nghiêncứu đều được tham gia vào hoạt động nghiên cứu, đó là:
(i) Duy trì kinh tế năng động trong điều kiện nhân khẩu học bất lợi là tỷ lệ sinh giảm và
dân số đang già đi
(ii) Khích lệ sáng kiến và nâng cao cạnh tranh quốc tế
(iii) Xây dựng chiến lược nhằm đối phó với toàn cầu hóa và đẩy mạnh phụ thuộc kinh tế
lẫn nhau giữa các nước Châu Á
(iv) Biên soạn lịch sử chính sách thương mại và công nghiệp của Nhật Bản
Để thực hiện được các nghiên cứu này cần tới một lực lượng các chuyên gia hùng hậu để thuthập, phân loại số liệu, nghiên cứu một cách có hệ thống, xây dựng mạng lưới các nhà nghiên
Trang 6cứu, bao gồm cả các nhà nghiên cứu nước ngoài Với vai trò là một bệ phóng hoạch định chínhsách, RIETI rất mạnh trong các nghiên cứu liên ngành kiểu này.
Là chủ tịch RIETI, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới Giáo sư Urata và Giáo sư Findlay,những người đã biên soạn cuốn sách này cùng toàn thể thành viên nhóm nghiên cứu FTA cũngnhư những người đã đóng góp cho nghiên cứu này Tháng 3/2007, nhóm nghiên cứu FTA đã tổchức một buổi hội thảo chuyên đề “Đánh giá chất lượng và tác động của một số hiệp định thươngmại tự do tiêu biểu” Các góp ý vô cùng hữu ích từ những thành viên tham gia hội thảo đã giúpchúng tôi có những nghiên cứu sâu sắc hơn Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tớitoàn thể nhân viên RIETI đã nỗ lực không ngừng để hoàn thành nghiên cứu này đồng thời cảm
ơn Nhà xuất bản World Scientific Publishing đã xuất bản cuốn sách này
Oikawa Kozo, Chủ tịch Viện nghiên cứu Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp, IAA
Trang 7MỤC LỤC
Lời nói đầu
Tổng quan
1 Nguyên tắc xuất xứ và Tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp trong một số Hiệp định thương mại tự do tiêu biểu 1
I Cheong và J Cho
1 Giới thiệu 1
2 Tổng quan về qui tắc xuất xứ ROO 2
2.1 Lý thuyết về ROO 2
2.2 Phân tích mô tả ROO trong các FTA tiêu biểu…… 6
2.2.1 ROO trong các FTA của Hoa Kỳ và EU 6
2.2.2 ROO trong các FTA của các nước Đông Á 7
3 Đánh giá thực nghiệm ROO 9
3.1 Phân tích thành phần chỉ số 10
3.2 Đánh giá mức độ hạn chế thương mại của ROO 13
3.2.1 Các nghiên cứu đã thực hiện 13
3.2.2 Đánh giá mức độ hạn chế thương mại của ROO trong các FTA Nhật Bản và HQ 16
4 Tự do hóa lĩnh vực nông nghiệp trong 1 số FTA 19
4.1 FTAs của các nước phương Tây 20
4.2 FTAs của Nhật Bản và Hàn Quốc 22
4.3 FTA ASEAN – Trung Quốc 23
5 Kết luận 25
Tham khảo 26
2 Vấn đề tự do hóa trong lĩnh vực dịch vụ 29 R Ochiai, P Dee and C Findlay 1 Giới thiệu 29
2 Hình thức và nội dung 30
2.1 Đặc trưng khu vực thể hiện trong hình thức HĐ 30
Trang 82.2 Phương pháp Negative-list và positive-list
— Nội dung 33
2.3 Hiệp định kiểu GATS và hiệp định kiểu NAFTA 40
3 Qui định trong nước 42
4 Tiếp cận thị trường và nguyên tắc đối xử quốc gia 43
5 So sánh giữa hiệp định song phương và hiệp định đa phương 44
6 Nguyên tắc xuất xứ 45
7 Đánh giá tổng quan về mức độ tự do hóa 45
8 Tóm tắt 51
Phụ lục 52
Tham khảo 80
3 Phân tích những rào cản đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các FTA 81 S Urata and J Sasuya 1 Giới thiệu 81
2 Phương pháp luận 82
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 85
3.1 Mức độ hạn chế 85
3.2 Đánh giá theo quốc gia 90
3.3 Các biện pháp hạn chế 95
3.4 Rào cản đối với những ngành khác 96
4 Kết luận 97
Phụ lục 98
Tham khảo 130
4 So sánh cơ chế tự vệ trong các hiệp định thương mại tự do (FTAs) 131 A Kotera and T Kitamura 1 Giới thiệu 131
Trang 92 Cơ chế tự vệ song phương và khu vực 132
2.1 Cấu trúc và nội dung cơ bản của các cơ chế tự vệ 132
2.2 Bản chất của cơ chế tự vệ song phương và khu vực 135
2.3 Phân tích và đánh giá một số cơ chế tự vệ 138
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá……… 138
2.4 Phân tích một số cơ chế tự vệ song phương và khu vực 142
2.4.1 NAFTA 142
2.4.2 EFTA 143
2.4.3 AFTA 144
2.4.4 EC-Mexico 145
2.4.5 Australia-New Zealand 146
2.4.6 Hoa Kỳ-Singapore 146
2.4.7 Hoa Kỳ-Australia 147
2.4.8 Nhật Bản-Mexico 147
2.4.9 Nhật Bản-Singapore 148
2.4.10 Hàn Quốc-Chile 149
2.4.11 Hàn Quốc-Singapore 149
2.4.12 Trung Quốc-ASEAN 149
3 Phân loại các cơ chế tự vệ song phương và khu vực 150
3.1 Loại cơ chế tự vệ không toàn bộ 150
3.2 Loại cơ chế tự vệ quasi-global 151
3.2.1 Loại WTO 151
3.2.2 Loại GATT 151
3.2.3 Loại NAFTA 152
3.2.4 Loại châu Âu 152
Trang 104 Kết luận 153 Phụ lục 155 Tham khảo
Trang 11TỔNG QUAN
CHRISTOPHER FINDLAY và SHUJIRO URATA
1 Các hiệp định thương mại tự do ở khu vực Đông Á
Cuốn sách này bao gồm các kết quả nghiên cứu trích từ dự án nghiên cứu đánh giá chất lượng vàtác động của những Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà khu vực Đông Á đã ký kết trong thế
kỉ 21 Chương này sẽ tóm tắt những diễn biến gần đây của các hiệp định FTA nêu trên, lý giải lý
do và chỉ ra phạm vi nghiên cứu của dự án đồng thời tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính
1.1 Sự phát triển nhanh chóng của các Hiệp định thương mại tự do (FTA):
Từ những năm 90, khi vòng đàm phán thương mại đa phương Uruguay theo Hiệp định chung vềThương mại và Thuế quan (GATT) hầu như không đạt được tiến triển gì đáng kể thì các nướctrên thế giới trong đó có khu vực Đông Á bắt đầu tìm đến các Hiệp định FTA như là một cáchthức mới nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại Năm 1995, Tổ chức thương mại thế giới (WTO)được thành lập thay thế cho GATT với phạm vi bao quát toàn diện và cơ sở pháp lý chặt chẽhơn Các nước càng quan tâm nhiều hơn tới các FTA khi các vòng đàm phán thương mại đaphương mới theo WTO (Chương trình nghị sự Phát triển Doha) rơi vào bế tắc Cụ thể, tổng sốcác FTA báo cáo lên GATT/WTO được ký kết từ năm 1949 đến 1990 là 86 hiệp định và năm
1995 đã tăng lên tới 165, năm 2000 là 251 và đến 20/05/2008 là 394 hiệp định. 1
Bảng 1 Các FTA tiêu biểu của các nước Đông Á (tính đến tháng 5/2008).
1 Số liệu bao gồm các FTAs còn hiệu lực và các FTAs đã hết hiệu lực Số liệu được lấy từ website của WTO: http://www.wto.org/english/tratop e/ region e/summary e.xls ngày 06/07/2008.
Trang 12Có hiệu lực Đang đàm phán Đang đàm phán
Trang 13Bangkok Treaty (1976) Nhật Bản-Hàn Quốc Thái Lan-EFTA
Trung Quốc-Hong Kong (2004) Nhật Bản-Australia
Thái Lan-Australia (2005) Hàn Quốc-ASEAN (ex Thái Lan∗ )
Hàn Quốc-Singapore (2006) Trung Quốc-SACUFTA
Nhật Bản-Malaysia (2006) Trung Quốc-Singapore
Trung Quốc-Chile (2007) Singapore-Egypt
Trung Quốc-Pakistan (2008) Singapore-Peru
Malaysia-Pakistan (2008) Thái Lan-Ấn Độ†
* Là những FTA đã được ký kết nhưng đang chờ phê chuẩn của cơ quan lập pháp.
† Là những FTA mà đàm phán đã đạt được thỏa thuận.
Nguồn: WTO; nguồn từ chính phủ các nước.
Bảng 1 bao gồm các hiệp định mà các nước Đông Á đã ký kết tính tới tháng 5/2008.2 Khu vực thương mại tự do ASEAN được thành lập năm 1992 là FTA lớn duy nhất trong khu vực cho tớikhi Nhật Bản ký FTA với Singapore vào năm 2002 (trước đó là Hiệp định hợp tác kinh tếJSEPA).3 Bảng 1 thể hiện sự thay đổi to lớn của các nước Đông Á trong những năm gần đây khităng cường ký kết FTA với các nước trong và ngoài khu vực
2 Trong GATT/WTO, các FTA khu vực (RFTA) được phép vi phạm nguyên tắc không phân biệt đối xử theo điều XXIV của GATT với điều kiện phải đáp ứng được một số điều kiện đó là: tự do hóa hầu hết tất cả hoạt động thương mại, không tăng thêm rào cản thương mại với các nước phi thành viên và hoàn thành lộ trình tự do hóa trong vòng 10 năm Các nước đang phát triển được ưu tiên giảm nhẹ các điều kiện này hơn FTA được coi là một hình thức sơ khai của hội nhập khu vực bởi vì FTA chỉ xóa
bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế trong khi liên minh thuế quan là hình thức hội nhập sâu hơn khi áp mức thế chung đối với cả các nước phi thành viên cùng với gỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế đối với các nước thành viên.
Trang 14Năm 1992, các nước thành viên ASEAN khởi động tiến trình ký kết hiệp định AFTA nhằm biếnASEAN thành một khu vực kinh tế cạnh tranh cho hoạt động xuất khẩu và thu hút đầu tư nướcngoài (FDI) Hiệp định này tạo điều kiện tự do hóa việc thực thi các biện pháp thuế quan và phithuế quan theo Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEFT) Ban đầu các nướcASEAN dự kiến lấy năm 2008 làm mốc hoàn tất tự do hóa thuế quan và phi thuế quan nhưng sau
đó đẩy lên năm 2002 Tháng 1/2002, AFTA chính thức có hiệu lực tại 6 nước thành viênASEAN ban đầu gồm: Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines và mứcthuế giảm xuống còn 0-5% với danh mục loại trừ và áp dụng cho từng nước khác nhau ViệtNam áp dụng mức thuế quan này năm 2003, Lào và Myanmar năm 2005 và Campuchia là năm
2007 Ban đầu dự kiến ASEAN sẽ trở thành một khu vực thương mại tự do hoàn toàn ngoại trừcác nước CLMV (Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam) vào năm 2010 nhưng sau đó đã bịlùi lại Tự do hóa đầu tư trong ASEAN đang trong quá trình triển khai với việc thành lập Khuvực đầu tư ASEAN (AIA) năm 1998 Điều này giúp thúc đẩy hợp tác đầu tư, tiếp cận thị trường
và thực thi nguyên tắc đối xử quốc gia với tất cả các ngành sản xuất Tuy nhiên, một số nướcthành viên vẫn duy trì danh mục loại trừ trong hoạt động đầu tư đối với nhiều danh mục đầu tưlớn và nhạy cảm Năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN đã cùng nhau đặt ra mục tiêu là tới năm
2020, phấn đấu đưa ASEAN trở thành Cộng đồng ASEAN với sự kết hợp Cộng đồng An ninhASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng Văn hóa – xã hội ASEAN Theo đó chophép dòng chảy tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và nguồn vốn Sau đó, mục tiêu này đã đượckéo dài đến năm 2015
Trong những năm gần đây, bên cạnh AFTA, ASEAN nói chung và mỗi nước thành viên nóiriêng đều chủ động tích cực tham gia đàm phán FTA với các nước khác trên thế giới Một ví dụFTA chiếm được mối quan tâm hàng đầu trong những năm gần đây là FTA ký giữa ASEAN vàTrung Quốc vào năm 2005 và hiện tại đang đàm phán về lĩnh vực thương mại dịch vụ ASEAN(trừ Thái Lan) ký FTA với Hàn Quốc vào tháng 7/2006 và vừa ký kết một thỏa thuận với NhậtBản Hiện tại ASEAN đang đàm phán FTA với Ấn Độ, Australia – New Zealand, CER và EU
Nhiều nước thành viên đã tích cực ký kết các hiệp định song phương Singapore đã ký FTA vớiNew Zealand, Nhật Bản, Australia, Hoa Kỳ, Khối thương mại tự do Châu Âu, Ấn Độ và vẫn
3 Tham khảo thêm ví dụ thảo luận về các FTA ở Đông Á: Aggarwal và Urata (2006), Urata (2005), Pangestu và Gooptu (2004), Soesastro (2006), và Sally (2006)
Trang 15đang tiếp tục đàm phán với các nước khác Thái Lan cũng tích cực ký kết FTA với Australia,New Zealand, Nhật Bản và đang đàm phán với Hoa Kỳ và một số nước khác Malaysia ký FTAvới Nhật Bản và vừa khởi động đàm phán với một số nước khác trong đó có Hoa Kỳ Indonesia,Philippines ký FTA với Nhật Bản.
Trái lại, các nước Bắc Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trước năm
1990 tỏ ra không mấy mặn mà với các hiệp định FTA Tuy nhiên, Trung Quốc, Nhật Bản và HànQuốc hiện đã nhanh chóng chủ động gia nhập xu thế này Trung Quốc ký FTA với ASEAN,Hồng Kông, Macau và hiện đang trong tiến trình đàm phán với khoảng 20 nước Nhật Bản kýFTA với Singapore, Mexico, Malaysia, Chi lê, Thái Lan, Indonesia; ký thỏa thuận vớiPhilippines, Brunei, ASEAN và hiện đang đàm phán với Australia, khối GCC, Hàn Quốc và một
số nước khác Hàn Quốc ký FTA với Chi Lê, Singapore, Khối thương mại tự do Châu Âu,ASEAN; ký thỏa thuận với Hoa Kỳ và đang đàm phán với EU, Canada, Ấn Độ và Mehico
Do vấn đề chính trị liên quan tới Trung Quốc, Đài Loan gặp nhiều cản trở trong việc ký kết FTAvới các nước khác Chính vì vậy, nước này chỉ ký FTA với một số các nước nhỏ ở Trung Mỹnhư Nicaragua và El Salvador
Trong khi EU và khu vực Bắc Mỹ phổ biến FTA mang tầm khu vực, các nước Đông Á không cómột hiệp định khu vực nào mà chỉ ký các hiệp định song phương và hiệp định qui mô nhỏ Cũng
có nhiều sáng kiến được đề xuất nhằm đưa tới một hiệp định khu vực nhưng vấp phải nhiều khókhăn do sự không đồng đều giữa các nước trong khu vực này
Tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) năm 1998, lãnh đạocác nước đã thống nhất thành lập Nhóm tầm nhìn Châu Á nhằm triển khai một chiến lược dàihạn cho hợp tác kinh tế khu vực và nhóm này đã đưa ra khuyến nghị về việc ký kết Hiệp địnhthương mại tự do Đông Á (EAFTA) Sau đó vào năm 2006, Nhóm Chuyên gia được lập ra theokhuyến nghị của các bộ trưởng kinh tế ASEAN + 3 đã đề xuất khởi động tiến trình thành lậpEAFTA từ năm 2007 Đề xuất không được thông qua, Nhóm Chuyên gia yêu cầu được nghiêncứu thêm và hiện giờ Nhóm đang tiến hành dự án nghiên cứu ở giai đoạn 2
Tại Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN + 3, Nhật Bản đề xuất ký kết thỏa thuận Đối tác Kinh tếToàn diện Đông Á – là thỏa thuận đối tác bao gồm FTA cho cả khu vực ASEAN + 3 + 3 (TrungQuốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand ) hay ASEAN + 6 ASEAN + 6 làthành viên của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2005 Với động
Trang 16thái này, Nhật Bản được cho là đang củng cố vị trí đứng đầu khi mà Trung Quốc luôn chiếm thếthượng phong trong các bàn đàm phán EAFTA Một báo cáo về tính khả thi của CEPEA đã được
đệ trình lên Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN + 6 vào tháng 8/2008 (CEPEA, 2008)
Tại hội nghị các nhà lãnh đạo các nước APEC năm 2006, Hoa Kỳ đã khởi xướng thành lập Khuvực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP ), bao gồm 21 nước thành viênAPEC Hội nghị nhất trí về triển vọng của FTAAP Đề xuất này của Hoa Kỳ dấy lên mối quanngại về việc giảm sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này Sự khác nhau về thành viênASEAN+6 và APEC có hàm ý quan trọng: những nền kinh tế lớn trong khu vực như Đài Loan,Nga tham gia FTAAP trong khi Ấn Độ không tham gia
1.2 Đặc điểm và động lực tham gia FTA của các nước Đông Á:
Một số FTA trong khu vực có phạm vi bao trùm rộng và dưới dạng Hiệp định đối tác kinh tế (ví
dụ JSEPA) hay Hiệp định đối tác kinh tế chặt chẽ hơn (ví dụ CEPA Trung Quốc – HongKong).Các hiệp định kiểu này tạo thuận lợi cho ngoại thương, tự do hóa và thu hút đầu tư nước ngoài,hợp tác kinh tế và kỹ thuật và tự do hóa thương mại Như vậy, các FTA này có cùng phạm vi vớiAPEC với 3 tôn chỉ (i) tự do hóa, (ii) tạo điều kiện thuận lợi cho ngoại thương và đầu tư nướcngoài, (iii) hợp tác kinh tế, kỹ thuật Tuy nhiên, các hiệp định này áp dụng nguyên tắc phân biệtđối xử với các nước không phải là thành viên và đây chính là điểm khác biệt quan trọng giữa cáchiệp định FTA của khu vực và APEC Trung Quốc và Nhật Bản đưa ra hỗ trợ kinh tế nhằm giànhđược sự ủng hộ của các nước đối tác tham gia FTA để củng cố vai trò lãnh đạo của mình trongtiến trình hội nhập khu vực
Các hiệp định có nội dung khác nhau thể hiện động cơ tham gia khác nhau của các nước NhậtBản tập trung vào vấn đề tự do hóa và thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, thương mại dịch vụ vìđiều này giúp tạo ra môi trường kinh doanh tự do, minh bạch và ổn định cho các công ty củanước này vốn đang và sẽ đầu tư rất nhiều vào khu vực Đông Á Nhật Bản đặc biệt quan tâm tớivấn đề hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Thế nhưng, đối với các nước đang pháttriển như Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN thì đây không phải là mối quan tâm hàngđầu mà các nước này bước đầu sẽ mở cửa thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tưvới lộ trình khác nhau, trước tiên là khai thông thương mại hàng hóa trước, sau đó mới là dịch vụ
và đầu tư
Trang 17Chúng ta sẽ cùng bàn về động cơ tham gia FTA của các nước Đông Á Các nước đến với FTAvới những động cơ khác nhau nhưng có thể tựu chung lại ở các điểm sau:
Thứ nhất, các nước ký FTA để duy trì và mở rộng xuất khẩu Ví dụ: Trong khi Mỹ và EU đã kýFTA với Mexico và hàng hóa được miễn thuế vào nước này, việc Nhật chưa ký FTA với Mexico
đã khiến các công ty của Nhật không có lợi thế cạnh tranh so với các công ty của Mỹ hay EU tạiMexico Trước điều này, các công ty Nhật gây áp lực khiến chính phủ phải đàm phán FTA vớiMexico Thất bại của vòng đàm phán Doha khiến các nước thành viên WTO quan tâm nhiều hơntới FTA Tiếp cận thị trường là một động cơ quan trọng của các nước Đông Á do các nước trongkhu vực này vẫn duy trì nhiều rào cản thương mại khắt khe
Thứ hai, các nước sử dụng FTA như là một cách gây áp lực khiến các ngành kinh tế trong nướcphải tái cấu trúc nhằm đạt được tăng trưởng cao hơn Ví dụ, Hàn Quốc theo đuổi FTA với Hoa
Kỳ nhằm cải tổ kinh tế trong nước Nhờ ký FTA với Trung Quốc – một cường quốc mới trỗi dậy
và Nhật Bản – một nền kinh tế chất lượng cao, Hàn Quốc đã triển khai tái cấu trúc nhằm duy trì
và nâng cao lợi thế cạnh tranh
Thứ 3, các cường quốc thông qua FTA để củng cố tầm ảnh hưởng của mình tại khu vực TrungQuốc và Nhật Bản dùng FTA để thắt chặt hơn mối quan hệ với ASEAN, Hàn Quốc và các nướckhác Tháng 11/2002, Nhật Bản đề xuất khung hợp tác kinh tế với ASEAN chỉ 1 ngày sau khiTrung Quốc khởi động đàm phán FTA với khu vực này ASEAN, Hàn Quốc và các nước kháccũng sử dụng FTA như một cách duy trì và củng cố tầm ảnh hưởng tại Đông Á ASEAN theođuổi FTA với các nước lớn nhằm chiếm lĩnh vị trí chủ chốt trong tiến trình hội nhập khu vực tạiĐông Á Trong khi đó, Hàn Quốc đang vượt qua Nhật Bản và Trung Quốc để vươn tới vị trí dẫnđầu
Thứ tư, cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối thập kỷ 90 tại Đông Á khiến người ta nghĩ rằng hợptác khu vực, đặc biệt là hợp tác trong lĩnh vực tài chính sẽ giúp tránh được một cuộc khủnghoảng tương tự và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực Cụ thể, các thỏa thuận hoán đổi ngoại tệsong phương giúp giải quyết vấn đề thiếu ngoại tệ và điều này đã được đưa ra trong sáng kiếnChiang – Mai năm 2000 Hơn nữa, các nước ASEAN + 3 đang tiến hành thành lập Thị trườngtrái phiếu Châu Á nhằm nâng cao tính thanh khoản và hiệu quả của thị trường trái phiếu Đông Á,tận dụng đầu tư tốt hơn các khoản tiết kiệm và góp phần giảm bớt sự bất cân xứng về loại tiền vàthời gian đáo hạn trong lĩnh vực tài chính giữa các nước
Trang 18Thứ năm, các nước sử dụng FTA nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, dọn đường cho cáccông ty FDI đa quốc gia Tự do hóa và thuận lợi hóa đầu tư nước ngoài được đẩy mạnh trong cácFTA Nhật Bản chú trọng FTA với Đông Á vì có rất nhiều công ty đa quốc gia của Nhật đầu tưvào khu vực này.
2 Mục tiêu của dự án nghiên cứu:
Nghiên cứu cho thấy mặc dù số lượng các FTA tại khu vực Đông Á tăng lên nhanh chóng nhưng
vì nhiều lý do, chưa có 1 công trình nào nghiên cứu thỏa đáng về vấn đề này.4 Một phần là docác FTA mới chỉ xuất hiện không lâu tại Đông Á nên chưa có nhiều số liệu (trừ AFTA, các hiệpđịnh còn lại mới chỉ được ký trong thế thế kỷ 21)
Trước tầm quan trọng của các FTA ngày một tăng lên, đồng thời số liệu phân tích về các FTAnày chưa nhiều, chúng tôi quyết định đi nghiên cứu thêm về vấn đề này Nghiên cứu được thựchiện trên 2 khía cạnh là chất lượng và tầm ảnh hưởng Do mục tiêu của FTA là tự do hóa thươngmại và đầu tư nên chất lượng của các FTA được đánh giá dựa trên cơ sở mức độ mở cửa thịtrường và hạ thấp các rào cản thương mại và đầu tư Như đã đề cập ở trên, có những FTA cóphạm vi bao trùm rộng, không chỉ qui định về thương mại hàng hóa mà còn qui định về thươngmại dịch vụ và đầu tư nước ngoài Vì vậy, chúng ta sẽ đi đánh giá cả 3 yếu tố này: thương mạihàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư nước ngoài; đồng thời đánh giá thêm các biện pháp tự vệ
mà các FTA cho phép do các biện pháp này ảnh hưởng rất lớn tới thương mại hàng hóa Chúngtôi đi đánh giá chất lượng của các FTA bằng cách xây dựng tiêu chí thích hợp cho từng lĩnh vực
Đánh giá của chúng tôi dựa trên hình thức chọn mẫu các FTA gồm: JSEPA, EPA Nhật Bản –Mexico, FTA ASEAN – Trung Quốc, FTA Hàn Quốc – Mexico, FTA Chilê - Hàn Quốc,NAFTA, FTA EU – Mexico, CER Australia – New Zealand Các FTA này được đánh giá khácnhau phụ thuộc vào từng vấn đề nghiên cứu và số liệu có được Trong số các FTA chọn mẫu cómột số FTA không liên quan tới các nước Đông Á như NAFTA nhưng là cơ sở so sánh hữu íchnhằm đánh giá các FTA tại Đông Á
Để đánh giá tác động của các FTA, chúng tôi sử dụng 2 phương pháp là ex ante và ex post.Phương pháp ex ante đánh giá dựa trên phân tích mô phỏng để dự đoán tác động của các FTA.Dựa trên mô hình CGE (Mô hình cân bằng tổng thể tính toán được), chúng tôi tính toán được cáckhả năng tác động của các FTA thông qua một mô hình mô phỏng cấu trúc của các FTA Phương
4 4Schiff and Winters (2003) là một trong số ít các nghiên cứu về các FTA trong khu vực.
Trang 19pháp này được sử dụng rộng rãi trên thực tế khi thảo luận về cấu trúc của các FTA.5 Phươngpháp ex post đánh giá dựa trên số liệu có được để đưa những tác động thực tế của các FTA.Chúng tôi đã tiến hành 2 nghiên cứu Thứ nhất là nghiên cứu chung tất cả các nước, chúng tôiđánh giá tác động của các FTA đối với hoạt động ngoại thương của các nước, bao gồm cả cácnước thành viên FTA và các nước không phải thành viên, sử dụng mô hình trọng số để lý giảidòng chảy thương mại song phương Thứ hai là nghiên cứu cho trường hợp một nước cụ thể,chúng tôi lựa chọn Nhật Bản do có số liệu đầy đủ Theo đó, chúng tôi tiến hành đánh giá tìnhhình tận dụng FTA của các công ty Nhật Bản – mặc dù cách này không hoàn toàn tìm ra đượcnhững tác động của FTA nhưng cung cấp những thông tin quan trọng về những tác động này bởiFTA chỉ được hiện thực hóa khi các công ty tận dụng nó trong thực tế kinh doanh Đồng thời,chúng tôi cũng tiến hành phân tích một số FTA mà Nhật Bản đã ký kết
3 Kết quả nghiên cứu:
3.1 Chất lượng của các FTA:
Cuốn sách này bao gồm bốn chương tập trung phân tích chất lượng của các FTA thông qua cáckhía cạnh khác nhau: Cheong và Cho phân tích thương mại hàng hóa; Ochia, Dee và Findlayphân tích thương mại dịch vụ; Urata và Sasuya nghiên cứu về đầu tư nước ngoài và Kotera,Kitamura đánh giá cơ chế tự vệ thương mại
Cheong và Cho phân tích những rào cản và cam kết mở cửa theo FTA liên quan tới thương mạihàng hóa Những rào cản này được đánh giá thông qua 2 tiêu chí: (1) tính chất hạn chế thươngmại của qui tắc xuất xứ (ROO)6 được FTA thông qua và (2) mức độ bao quát của các cam kết,chẳng hạn theo tỉ lệ phần trăm của hàng hóa được điều chỉnh bởi hiệp định Tiêu chí (1) được ápdụng đối với hàng hóa thành phẩm bởi vì nhiều dòng thuế đối với mặt hàng này đã được xóa bỏhoặc nằm trong lộ trình xóa bỏ theo các FTA Việc đánh giá ROO rất quan trọng vì nhiều nướctìm cách hạn chế hàng nhập khẩu bằng cách đặt ra các tiêu chí khiến hàng nhập khẩu rất khó đápứng ROO Tiêu chí (2) được sử dụng cho đánh giá mức độ mở cửa trong lĩnh vực nông nghiệp
5 Tham khảo thêm thảo luận về FTA ASEAN + 6 tại CEPEA (2008)
6 Cách qui định qui tắc xuất xứ đóng vài trò quan trọng trong xác định mức độ mở cửa thị trường của các FTA Bởi
vì chỉ những hàng hóa do nước thành viên sản xuất thì mới được tiếp cận thị trường tự do và việc định nghĩa thế nào
là hàng hóa của một nước do qui tắc xuất xứ quyết định.
Trang 20Cheong và Cho nhận thấy các nước phát triển như Hoa Kỳ và EU sử dụng rất hiệu quả rào cảnROO để hạn chế hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển Trong khi đó, các nước Đông Á lạiđang để một lỗ hổng rất lớn trong rào cản kiểu này Qui tắc xuất xứ trong FTA ASEAN – TrungQuốc đơn giản nhất trong số các FTA, trong khi FTA Hàn Quốc – Nhật Bản thì qui định chặt chẽhơn Cheong và Chuo cho rằng chính vì sự khác nhau trong qui định về ROO khiến hệ thốngthương mại của khu vực Đông Á trở nên rối rắm và nhấn mạnh rằng điều này cần phải được khắcphục ngay nếu các nước này muốn xây dựng một FTA chung cho cả khu vực.
Trong nghiên cứu về tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp, Cheong và Cho chỉ rarằng các FTA liên quan tới các nước Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc có mức độ mởcửa thấp hơn so với các nước phương Tây
Ochiai, Dee và Findlay phân tích chất lượng của các FTA trên khía cạnh thương mại dịch vụ Họnhận thấy các FTA đã thông qua một loạt kế hoạch hành động dưới dạng các cam kết và lộ trình
áp dụng đối với từng lĩnh vực mà theo đó, các nước không phải thành viên rất khó để đượchưởng lợi Mức độ cam kết mở cửa và qui mô lĩnh vực tham gia giữa các FTA rất khác nhaukhiến cho việc đánh giá tổng thể gặp nhiều khó khăn Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cácnước đang phát triển có mức độ mở cửa đối với thương dịch vụ khá thấp Nội trong các nướcphát triển với nhau, thương mại dịch vụ được mở cửa tự do hơn giữa các nước phát triển và cácnước đang phát triển do các nước đang phát triển duy trì phần lớn các lĩnh vực loại trừ khỏi camkết và điều này khiến các hiệp định chưa phát huy được tác động của nó trong thực tế Các nhànghiên cứu kết luận các FTA có xu hướng bảo vệ lợi ích quốc gia hơn là thúc đẩy tự do hóa vàthậm chí còn ngăn chặn mở cửa thị trường
Urata và Sasuya nghiên cứu các qui định về đầu tư nước ngoài của 7 FTA liên quan tới 8 quốcgia: Hoa Kỳ - Austrialia, Hoa Kỳ - Singapore, Nhật Bản – Singapore, Hàn Quốc – Singapore,NAFTA, Hàn Quốc – Chile, Nhật Bản – Mexico Dựa trên kế hoạch hành động do Tổ chức hợptác kinh tế và phát triển (OECD), 2 nhà nghiên cứu đánh giá chất lượng của các nguyên tắc liênquan tới đầu tư nước ngoài trên 2 khía cạnh tự do hóa và hạn chế đầu tư trong 6 lĩnh vực sau: (i)hạn chế đối với sở hữu nước ngoài và tiếp cận thị trường, (ii) đối xử quốc gia, (iii) rà soát và phêchuẩn, (iv) quản lý và thành phần ban quản lý, (v) hành lang cho đầu tư nước ngoài, (vi) điềukiện hoạt động Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng của các FTA nêu trên xếp theo thứ tự
Trang 21giảm dần như sau: (i) Hoa Kỳ - Australia, (ii) Hoa Kỳ - Singapore, (iii) Nhật Bản – Singapore,(iv) Hàn Quốc – Singapore, (v) NAFTA, (vi) Hàn Quốc – Chile và (vii) Nhật Bản – Mexico Tuynhiên, thực tế cho thấy các nước cùng tham gia một FTA nhưng có chất lượng FTA khác nhau vàđiều này dẫn tới yêu cầu phải nghiên cứu chất lượng FTA theo từng quốc gia Kết quả nghiêncứu cho chất lượng FTA của các nước xếp theo thứ tự giảm dần như sau: (i) Hoa Kỳ, (ii)Singapore, (iii) Australia, (iv) Nhật Bản, (v) Hàn Quốc, (vi) Chile, (vii) Mexico và (viii) Canada.Nghiên cứu cũng chỉ ra rào cản lớn nhất đối với đầu tư nước ngoài đó là hạn chế đối với sở hữunước ngoài và qui định về mức độ tham gia của đầu tư nước ngoài trong một công ty Các lĩnhvực bị hạn chế tương đối cao là các lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế (đặc biệt khai thác mỏ vànông nghiệp) và lĩnh vực dịch vụ (đặc biệt là giao thông vận tải, truyền thông, điện, tài chính vàbảo hiểm) Trong khi đó, lĩnh vực sản xuất ít bị hạn chế hơn.
Kotera và Kitamura nghiên cứu chất lượng của các FTA về cơ chế tự vệ Với biện pháp tự vệtrong tay, các nước nhập khẩu có quyền sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại nhằm đốiphó với tác động tiêu cực của hàng nhập khẩu gây ra cho ngành sản xuất nội địa do nhập khẩutăng nhanh Do cơ chế này có tính chất hạn chế thương mại nên thương được coi là công cụ bảo
hộ Tuy nhiên, Kotera và Kitamura cho đó chỉ là nhận định phiến diện và khẳng định cơ chế tự
vệ có tác động tính cực đối với tự do hóa thương mại khi nó làm giảm áp lực bảo hộ bằng cáchđưa ra cho các nhà hoạch định chính sách một công cụ hạn chế thương mại được phép Nhữngnhận định trái chiều này khiến việc đánh giá tổng thể gặp nhiều khó khăn Nhóm tác giả tiếnhành đánh giá 12 FTA và phân loại chúng thành 5 nhóm theo thứ tự tăng dần về mức độ hạn chếnhư sau: (i) kiểu không tự vệ (Hàn Quốc – Chile), (ii) kiểu NAFTA, (iii) kiểu WTO (Hoa Kỳ -Australia, Hoa Kỳ - Singapore, Nhật Bản – Mexico, Nhật Bản – Singapore, Hàn Quốc –Singapore, Trung Quốc – ASEAN), (iv) kiểu GATT (Australia – New Zealand) và (v) kiểu châu
Âu (EFTA, EU – Mexico)
3.2 Tác động của các FTA:
4 chương trong cuốn sách này được dành để nghiên cứu tác động của các FTA, trong đó 1chương là nghiên cứu của Abe sử dụng phương pháp ex ante với mô hình mô phỏng, 3 chươngnghiên cứu bằng phương pháp ex post Urata và Okabe nghiên cứu tác động của các FTA bằng
mô hình trọng số Takahashi và Urata nghiên cứu việc tận dụng các FTA của Nhật Bản, Andonghiên cứu tác động của các FTA của Nhật Bản đối với thương mại và đầu tư
Trang 22Nghiên cứu mô phỏng của Abe dựa trên mô hình CGE nhằm mô phỏng toàn bộ hoạt động kinh
tế trên thế giới bằng cách xem xét toàn bộ các cơ chế hoạt động của thị trường một cách đầy đủ
và rõ ràng Nói cách khác, mô hình vẽ lên một bức tranh đầy đủ về tình hình thực tế của nền kinh
tế toàn cầu Abe sử dụng mô hình số liệu chuẩn và đưa ra thêm mô hình nghiên cứu linh hoạtbằng cách kết hợp liên thời gian, thu thập, liên kết các kết quả nghiên cứu cho phép các nhànghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách đều có thể dễ dàng tiếp cận để lấy những thông tincần thiết Kết quả từ 2 mô hình này cho thấy 3 FTA đầu tiên của Nhật với Singapore, Mexico vàMalaysia đem lại lợi ích không lớn bằng các FTA với ASEAN 10, Trung Quốc, Hàn Quốc,Australia, New Zealand và Ấn Độ Mô hình linh hoạt cũng cho thấy việc Nhật Bản sớm kí kếtFTA giúp Nhật Bản và các nước đối tác gia tăng GDP, đặc biệt là New Zealand và Trung Quốc.Ngoài ra, các FTA khu vực gồm nhiều nước tham gia đem lại lợi ích nhiều hơn cho tất cả cácthành viên do hạn chế được tác động tiêu cực của chệch hướng thương mại Abe kết luận bằngcách đưa ra lộ trình nghiên cứu trong thời gian tới Ông chỉ ra yêu cầu cấp thiết phải liên kết tínhkinh tế theo qui mô và kinh tế tích tụ trong mô hình mô phỏng bởi vì những nhân tố này ngàycàng trở nên quan trọng trong hoạt động kinh tế Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việcđưa cơ chế vào mô hình nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của hợp tác kinh tế và thuận lợi hóathương mại, bởi vì nhiều FTA không chỉ bao gồm tự do hóa thương mại mà còn có thuận lợi hóathương mại, hợp tác kinh tế và các khía cạnh khác nữa
Urata và Okabe sử dụng 2 phương pháp nhằm tìm ra tác động của FTA đối với ngoại thương.Trong phương pháp thứ nhất, họ nghiên cứu sự thay đổi của mô thức ngoại thương trước và saukhi FTA được phê chuẩn sử dụng các chỉ số phụ thuộc lẫn nhau giữa các FTA Phương pháp nàyđược sử dụng để phân tích xu hướng tổng quát của 11 FTA: EU, NAFTA, AFTA, MERCOSUR,CER, FTA Nhật Bản – Singapore, FTA Nhật Bản – Mexico, FTA Trung Quốc – ASEAN, FTAHàn Quốc – Chile, FTA Singapore – Hoa Kỳ, FTA Mexico – EU Kết quả nghiên cứu cho thấy 4FTA gồm NAFTA, AFTA, MERCOSUR và CER ngày càng phụ thuộc lẫn nhau Phương phápthứ hai phức tạp hơn, đưa ra một biểu thức trọng số để xác định tác động của FTA đối với dòngchảy thương mại song phương, bao gồm tạo lập ngoại thương và chệch hướng thương mại Đểlàm được điều này, Urata và Okabe mở rộng phạm vi các nghiên cứu trước đây cả về thời gian
và số lượng quốc gia và tiến hành phân tích bằng phương pháp bóc tách số liệu với giả thiết làtác động của FTA lên các lĩnh vực khác nhau là khác nhau Việc phân tích tổng thể hoạt độngthương mại cho thấy có ít hiện tượng chệch hướng thương mại trong khi phân tích bóc tách số
Trang 23liệu cho kết quả khác nhau đối với mỗi hàng hóa EU, NAFTA, MERCOSUR, trái với AFTA, cóbiểu hiện chệch hướng thương mại với nhiều hàng hóa Đánh giá tổng thể về tạo lập ngoạithương và chệch hướng thương mại cho thấy FTA tác động rất ít đến 2 hoạt động này tạiMERCOSUR, EU và NAFTA bị tác động ít hơn AFTA và CER Các FTA khác có lịch sử hìnhthành quá ngắn nên chưa thể đưa ra kết luận.
Takahashi và Urata tiến hành khảo sát tình hình sử dụng FTA của các công ty Nhật Bản thôngqua bảng câu hỏi Kết quả cho thấy rất ít công ty Nhật sử dụng FTA Trong số các công ty đượchỏi, chỉ có 3.6% sử dụng FTA với Singapore, 12.6% với Mexico và 5.5% với Malaysia Nhiềucông ty Nhật không mặn mà với các FTA do họ cho rằng lợi ích đem lại từ các FTA này khôngnhiều do khối lượng giao dịch thương mại với các nước đối tác FTA không lớn và mức thuế ưuđãi theo FTA không chênh lệch nhiều so với mức thuế MFN Bằng phương pháp phân tích đồngqui về các nhân tố quyết định việc sử dụng FTA cho thấy chỉ một số công ty lớn sử dụng FTA vàđiều này làm chi phí đội lên Thêm vào đó, các công ty sử dụng FTA thường là các công ty cómối quan hệ thương mại, đầu tư mật thiết với các nước đối tác FTA Việc sử dụng FTA có thểđược nhân rộng bằng cách giảm thiểu chi phí thông qua việc đơn giản hóa thủ tục và sự hỗ trợcủa các tổ chức công hoặc bán công như Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại và Kinh tế (METI),
Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản (JETRO) và Phòng thương mại và công nghiệp Nhật Bản Tất
cả công ty được hỏi đều mong muốn Nhật Bản ký kết FTA với các nước đối tác thương mại lớnnhư Hoa Kỳ và Trung Quốc
Ando tiến hành đánh giá tác động của các EPA mà Nhật Bản đã ký kết với Singapore và Mexicobằng 2 phương pháp: (1) phương pháp phân tích mô tả, sử dụng các số liệu liên quan tới hoạtđộng thương mại, thuế quan, đầu tư và (2) phương pháp phân tích số liệu dựa trên mô hình trọng
số Kết quả 2 phương pháp nghiên cứu đều cho thấy EPA Nhật Bản – Singapore hầu như không
có tác động trực tiếp tới hoạt động thương mại, trong khi EPA Nhật Bản – Mexico có tác độngtích cực tới thương mại, đặc biệt là đối với hoạt động xuất khẩu và đầu tư Việc EPA hầu nhưkhông tác động trực tiếp tới hoạt động thương mại song phương không nằm ngoài dự đoán doSingapore chỉ áp mức thuế thấp đối với 1 số ít mặt hàng Ando khẳng định FTA Nhật Bản –Mexico đã góp phần cải thiện môi trường kinh doanh cho các công ty Nhật Bản tại Mexico Bànhấn mạnh lợi ích to lớn mà FTA Nhật Bản – Mexico đem lại cho các công ty Nhật đó là hiệpđịnh cho phép các công ty được tham gia đấu thầu các gói thầu chính phủ tại Mexico
Trang 24Các nghiên cứu này cho thấy lợi ích to lớn mà EPA đem lại từ việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan.Các cuộc hội đàm về kết cấu trong tương lai của các FTA/EPA bao gồm các điều khoản xóa bỏthuế quan, cấu trúc thuế quan lý tưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho tự do hóa thương mại và mốiquan hệ giữa tiến trình đàm phàn EPA và tự do hóa thương mại đa phương.
4 Kế hoạch nghiên cứu trong thời gian tới:
Chúng ta đã vừa phân tích chất lượng và tác động của một số FTA nhưng vẫn cần thiết phải nângcao thêm hiểu biết về các hiệp định thương mại nói chung Dù chúng ta đã phân tích các biệnpháp thương mại liên quan tới hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và tự vệ nhưng các FTA mới đã mởrộng thêm phạm vi qui định như thuận lợi hóa thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh…Theo đó, cần phải đánh giá thêm các FTA theo các tiêu chí mới này nữa
Các lĩnh vực cần được nghiên cứu thêm Một là, nghiên cứu các nhân tố dẫn đến hình thành cácFTA – đây không chỉ là mối quan tâm trên khía cạnh kinh tế mà còn trên khía cạnh chính trị.Nghiên cứu này sẽ giúp cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trongquá trình xây dựng chính sách thương mại quốc tế Hai là, phân tích về mặt lý thuyết các khíacạnh khác nhau của FTA, bao gồm cả phúc lợi xã hội, cũng cần được tiến hành Cuối cùng, cầnnghiên cứu tác động của các FTA đối với tự do hóa thương mại đa phương cả trên lý thuyết vàthực tiễn do mục đích cuối cùng của tự do hóa thương mại là tự do hóa toàn cầu nhằm đem lại lợiích lớn nhất cho toàn bộ nền kinh tế thế giới
Tham khảo
Aggarwal, VK and S Urata (eds.) (2006) Các hiệp định thương mại tự do song phương: Xuất
xứ, Quá trình phát triển và nội hàm New York: Routledge
CEPEA (2008) Báo cáo của 2 nhóm nghiên cứu về hợp tác kinh tế toàn diện tại Đông Á
(CEPEA)
Pangestu, M and S Gooptu (2004) Chủ nghĩa địa phương kiểu mới: Sự lựa chọn cho Trung Quốc và Đông Á Hội nhập của các nước Đông Á, Kharas, H and K Krumm (eds.), pp 79-99
Washington, DC: Ngân hàng thế giới
Sally, R (2006) Các hiệp định thương mại tự do và triển vọng hội nhập khu vực tại Đông Á Rà
soát chính sách kinh tế Châu Á 1(2), 306-321
Schiff, M and LA Winters (eds.) (2003) Hội nhập và phát triển khu vực Washington DC: Nhà
Trang 25xuất bản Oxford University Press cho Ngân hàng thế giới
Soesastro, H (2006) Hội nhập khu vực tại Đông Á: Những thành tựu và triển vọng trong tương lai Rà soát chính sách kinh tế Châu Á 1(2), 215-234.
Urata, S (2005) Hiệp định thương mại tự do: chất xúc tác cho tái sinh nền kinh tế Nhật Bản.
Khơi dậy nền kinh tế Nhật Bản Ito, T, H Patrick và DE Weinstein (eds.), pp 377-410 Boston: MIT Press
Trang 26Chương 1 NGUYÊN TẮC XUẤT XỨ VÀ TỰ DO HÓA TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
TRONG MỘT SỐ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO TIÊU BIỂU
INKYO CHEONG và JUNGRAN CHO
Viện nghiên cứu Thương mại và Logistics thế giới Đại học Inha University, Incheon, Hàn Quốc
1 Giới thiệu:
Các hiệp định thương mại tự do gia tăng mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới gần đây đã gópphần đem lại ưu đãi thương mại, cải tổ kinh tế và hình thành liên minh chính trị Trong đó, ưuđãi thương mại là nhân tố quan trọng trong quyết định ký kết FTA của các nước Thông qua môhình phân tích mô phỏng, các chuyên gia kinh tế trong đó có Cheong (2005), Schiff và Winters( 2003), Scollay và Gilbert (2001), Urata và Kiyota (2003) đã chứng minh được rằng các FTAđem lại những lợi ích kinh tế to lớn cho các nước tham gia ký kết Với mô hình CGE (Mô hìnhcân bằng tổng thể tính toán được), Cheong (2005) đã chứng minh được rằng các nước Đông Á sẽthu được lợi ích nhiều hơn từ FTA khu vực hơn là các FTA ở qui mô nhỏ Scollay và Gilbert(2001) đã đưa ra dự báo khả quan về tác động của các FTA đối với kinh tế toàn cầu khi chỉ rarằng các FTA đem lại tạo lập ngoại thương nhiều hơn chệch hướng thương mại Urata và Kiyota(2003) nhận định trong các FTA ký kết với các nước Đông Á thì Trung Quốc và các nền kinh tếmới nổi như ở Nam Á thu được lợi ích nhiều hơn các nước Bắc Á (như Hàn Quốc, Đài Loan),điều này được thể hiện ở mức độ tăng trưởng GDP
Tuy nhiên, ở giai đoạn ban đầu khi FTA mới được kí kết, mô hình phân tích mô phỏng khó cóthể đưa ra dự báo về lợi ích kinh tế thu được Tự do hóa đầu tư, hạ thấp rào cản thương mạinhằm tạo điều kiện cho mở cửa thị trường là các biện pháp hữu hiệu giúp gia tăng lợi ích cho cácthành viên ký kết hiệp định Các nghiên cứu đều được dựa trên giả thuyết đó là thuế quan đãđược xóa bỏ và qui tắc xuất xứ được nới lỏng Bởi vậy, chất lượng của các FTA là nhân tố quyếtđịnh trong việc xác định qui mô lợi ích kinh tế thu được
Hầu hết các nước đều khẳng định các FTA mà họ tham gia đều có chất lượng rất cao Một nướctrở thành đầu mối FTA trong khu vực không phải đơn giản là gia tăng số lượng các FTA ký kết
Trang 27mà phải thể hiện được quyết tâm cao gây dựng tự do hóa thương mại và thuận lợi hóa thươngmại bằng cách tối đa hóa tiếp cận thị trường và hài hòa hóa các nguyên tắc thương mại Tiếp cậnthị trường là một nội dung quan trọng trong các vòng đàm phán FTA và được đánh giá qua một
số điểm chính gồm xóa bỏ thuế quan, nới lỏng các hàng rào phi thuế quan (NTBs) như thủ tụchải quan, đơn giản hóa qui tắc xuất xứ và cải thiện các nguyên tắc thương mại
Nghiên cứu này đánh giá chất lượng các FTA trên khía cạnh qui tắc xuất xứ và việc xóa bỏ thuếquan cho hàng nông sản Mức độ cải thiện các NTBs và nguyên tắc thương mại là nhân tố quantrọng trong việc xác định chất lượng của các FTA nhưng việc đánh giá các nhân tố này rất khókhăn do có thể khó lượng hóa được các nhân tố này Nghiên cứu này đánh giá yếu tố tiếp cận thịtrường của một số FTA tiêu biểu như NAFTA, FTA EU – Mexico, CER Australia – NewZealand, JSEPA, JMEPA, FTA Trung Quốc – ASEAN, FTA Hàn Quốc – Mexico và FTA Chile– Hàn Quốc Mục 2 bàn về các khía cạnh lý thuyết của ROOs, mục 3 đưa ra những đánh giá về
sự chặt chẽ (những hạn chế) của các ROOs Mục 4 đưa ra những đánh giá các FTA trên khíacạnh xóa bỏ thuế quan trong lĩnh vực nông nghiệp Đối với hầu hết các lộ trình thực hiện FTA,
đa phần các mặt hàng được tự do hóa trong vòng 10 năm, chỉ trừ lĩnh vực nhạy cảm nhất là nôngnghiệp Mục 5 nêu kết luận
2 Tổng quan về qui tắc xuất xứ (ROO):
2.1 Lý thuyết về ROO:
Một trong những điểm khác biệt giữa Liên minh thuế quan (CU) và Hiệp định thương mại tự do(FTA) đó là quyền thay đổi mức thuế áp cho các nước không phải thành viên Các nước CU ápđặt mức thuế chung cho các nước không phải thành viên và không được thay đổi mức thuế nàynếu chưa tham vấn các nước thành viên khác Ngược lại, các nước thành viên FTA có quyền ápnhững mức thuế khác nhau, miễn là không cao hơn mức trần của WTO.7
7 Liên minh thuế quan cần sử dụng ROO trong quá trình chuyển đổi nhằm thực hiện thuế quan chung.
Trang 28Chính vì mức thuế của các nước thành viên đưa ra khác nhau nên có nguy cơ tạo ra chệch hướngthương mại.8 Để tránh điều này, các nước áp dụng nguyên tắc ROO cho từng trường hợp cụ thể, cónghĩa là chỉ những hàng hóa nào thỏa mãn các điều kiện đưa ra thì mới được hưởng mức thuế ưu đãi.
Có 3 tiêu chuẩn xác định ROO trong các FTA Thứ nhất là phân loại thuế quan (CTC) CTC được sửdụng rộng rãi trong các thỏa thuận thương mại khu vực (RTAs) và được Tổ chức hải quan thế giới(WCO) khuyến khích sử dụng với mục đích thúc đẩy đơn giản hóa và hài hòa hóa các ROO CTCdựa trên hệ thống hài hòa hóa hải quan (HS), theo đó phân loại hàng hóa theo các chương, mỗichương được xác định bằng 2 chữ số (cấp độ 2 chữ số), trong chương phân thành các nhóm hàng xácđịnh bằng 4 chữ số (cấp độ 4 chữ số), trong mỗi nhóm hàng chia thành các phân nhóm hàng xác địnhbằng 6 chữ số (cấp độ 6 chữ số), trong các phân nhóm hàng chia thành các mặt hàng được xác địnhbằng 8 hoặc 10 chữ số (cấp độ 8 – 10 chữ số) Thứ 2 là yêu cầu về hàm lượng giá trị khu vực (RVC),theo đó yêu cầu hàng hóa phải đạt mức giá trị tối thiểu của nước xuất khẩu/vùng.9 Thứ 3 là yêu cầu
về qui trình sản xuất (SP) Mỗi tiêu chuẩn đều có ưu điểm, nhược điểm (xem bảng 1) Tuy phân loạithuế quan (CTC) tương đối đơn giản thông qua phân biệt giữa thành phẩm và trung gian nhưng vấn
đề nan giải là đối với hầu hết hàng hóa, hệ thống HS không tuân theo cách phân loại công nghiệpthông thường
RVC được sử dụng rộng rãi trong các FTA do tính chất đơn giản và dễ kiểm tra với cách này, qui tắcxuất xứ của một hàng hóa có thể thay đổi bằng cách kết hợp giá trị hải quan Ví dụ, lợi nhuận tăng cóthể làm thay đổi hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ thành hàng hóa có đủ tiêu chuẩn đáp ứngnguồn gốc xuất xứ (xem bảng 2)
Bảng 1 Ưu, nhược điểm của các tiêu chuẩn xác định ROO
CTC Dễ dàng so sánh giữa nguyên vật liệu và thành phẩm Mã HS được dùng để phân loại thương mại chứ không phân loại lĩnh vực công nghiệp
RVC Đơn giản, rõ ràng và dễ dàng để kiểm tra Tính toán bằng tay, bị tác động bởi tỷ giá, giá vốn (logistics, thương hiệu…)
Bảng 2 Tiêu chuẩn RVC và tỷ lệ lợi nhuận (USD, %)
8 Chệch hướng thương mại trong trường hợp một hàng hóa được nhập khẩu với mức thuế quan thấp theo ưu đãi dành cho thành viên tham gia hiệp định và được tái xuất khẩu sang 1 nước với mức thuế cao mà không phải trả thuế.
9 RVC được hiểu trên nhiều khía cạnh như giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu, giá trị của từng thành phần Tuy nhiên, chúng tôi không xét riêng rẽ từng yếu tố này.
Trang 29Tỷ lệ lợi nhuận VNM VOM Giá trị tăng thêm Lợi nhuận Giá trị hải quan RVC (%) ROO
Ghi chú: ROO bằng 50% RVC.
Bảng 3 Phương pháp tính RVC
(NC-VNM)/NC*100 Ghi chú: AV: giá trị điều chỉnh; VNM: giá trị phần nguyên vật liệu không có xuất xứ; VOM: giá trị phần nguyên vật liệu có xuất xứ; VUOM: giá trị phần nguyên vật liệu không chắc chắn về xuất xứ; TV: giá trị giao dịch; NC: giá vốn ròng.
Các FTA đưa nhiều cách tính RVC phức hợp khác nhau Trong đó, cách tính phổ biến nhất đó là
tổ hợp 3 phương pháp: build – up, build – down, tỷ lệ phần hàng hóa không có nguồn gốc xuất
xứ Với phương pháp build – down, hàm lượng RVC là tỷ lệ phần trăm giữa phần chênh lệch củagiá trị điều chỉnh (AV) và giá trị hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ (VNMs) mà nhà sản xuất
sử dụng trong quá trình sản xuất với giá trị điều chỉnh (xem cụ thể trong bảng 3)
Mỗi tiêu chuẩn xác định ROO đều có ưu, nhược điểm do đó khó có thể xác định được tiêu chuẩnnào tốt nhất.10
Bảng 4 Tần suất của các CTC, RVC và SP trong các hiệp định khu vực (RTA)
Nguồn: Sửa đổi từ WTO (2002, P.8)
Ghi chú: Số lượng trong ngoặc đơn là tỷ lệ yêu cầu tối thiểu.
Tính chặt chẽ của mỗi tiêu chuẩn phụ thuộc vào tình hình tự do hóa thương mại của từng nước.Trong phương pháp RVC, tiêu chuẩn 60% chặt chẽ hơn tiêu chuẩn 40%
Mặc dù ROO nói chung là có tính chất bảo hộ nhưng một số nhân tố của ROO được xây dựng đểthúc đẩy thương mại nội khối Ví dụ, các FTA thường qui định về cách tính cộng dồn 11 và yêucầu ngưỡng de minimis cho phép các nhà sản xuất trong một số điều kiện nhất định có thể sử
10 Parmeter (1997, p 342 có nêu “mặc dù các FTA đều qui định về qui tắc xuất xứ nhưng có một vấn đề là chưa có qui tắc xuất xứ nào được qui định hoàn toàn thỏa đáng” Xem thêm Parmeter (1997) và Estevadeordal (2003) về ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp xây dựng ROO.
Trang 30dụng nguyên liệu đầu vào có xuất xứ từ một nước trong khu vực thuộc 1 FTA khác hoặc một bênthứ ba Cuốn WTO (2002, trang 9) chỉ ra 88 trong số 93 các RTA có qui định về ngưỡng deminimis Trong hầu hết các trường hợp, ngưỡng de minimis được qui định là ngưỡng tối đa chophần giá trị từ nước phi thành viên12 trong tổng giá trị thành phẩm cuối cùng là dưới 10%.
ROO đóng vai trò giống như rào cản thương mại, nó tạo thêm chi phí trong sản xuất và quản lý.Các nhà sản xuất/xuất khẩu phải bỏ thêm chi phí để tính toán chi phí sản xuất và lưu sổ sách13,đồng thời thêm chi phí để tuân thủ theo qui trình đã được qui định Những chi phí tăng thêm nàyđược tính vào giá xuất khẩu của hàng hóa.14
Khi ROO được qui định chặt chẽ hơn sẽ dẫn tới chi phí tăng lên và kết quả là làm giảm lợi íchthu được từ FTA APEC (2004, trang 76) có ghi “Sự phức tạp và chặt chẽ của các qui tắc xuất xứ
sử dụng trong các RTAs làm gia tăng mối lo ngại về những hiệu ứng chệch hướng đối với dòngchảy thương mại và đầu tư”
2.2 Phân tích mô tả ROO trong các FTA tiêu biểu:
Mục này đưa ra phân tích mô tả các ROO trong các FTA tiêu biểu, trong đó tập trung vào việcđánh giá tính chặt chẽ của các ROO Nghiên cứu thực tế sẽ được đưa ra ở mục tiếp theo Hầu hếtcác FTA đều dành ra vài trăm trang để qui định về ROO, bởi vậy việc nghiên cứu cấu trúc và các
khía cạnh kỹ thuật của ROO mất rất nhiều thời gian và công sức Những nghiên cứu của chúngtôi về vấn đề này cũng chỉ có giới hạn.15
11 Cộng dồn được phân ra thành cộng dồn song phương, cộng dồn chéo, cộng dồn đầy đủ Xem thêm Estevadeordal (2003) về phân loại cộng dồn.
12 FTA EC – Nam Phi qui định ngưỡng de minimis là 15% nhưng đây là trường hợp ngoại lệ.
13 Xem Koskinen (1983) để biết thêm nghiên cứu thực nghiệm về chi phí hành chính trong FTA và xem Herin (1986) để biết thêm nghiên cứu thực nghiệm về chi phí chuẩn bị chứng từ chứng minh thuộc diện hưởng ưu đãi.
14 Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy chi phí mà các công ty thương mại và nhà sản xuất phải bỏ ra để được hưởng ưu đãi theo qui tắc xuất xứ là rất lớn Theo Cadot et al.(2002), tỷ lệ sử dụng NAFTA ở mức thấp, chỉ khoảng 64% do qui tắc xuất xứ qui định quá khắt khe Xem Estevadeordal (2003) để biết thêm thông tin về chi phí liên quan tới ROO.
15 Xem thêm phân tích tổng thể ROO trong một số RTA tiêu biểu trong Brenton (2003), Estevadeordal (2003), WTO (2002)
Trang 31Các FTA được sử dụng trong phân tích đó là: những FTA đầu tiên của Hoa Kỳ và EU (NAFTA,FTA EU – Mexico), những FTA mà các nước Đông Nam Á tham gia (AFTA, ASEAN – TrungQuốc), JSEPA, các FTA Hoa Kỳ - Singapore, Nhật Bản – Singapore, Nhật Bản – Mexico, HànQuốc – Singapore và Hàn Quốc – Chile Theo đó, chúng tôi làm phép so sánh về mức độ chặtchẽ của các ROO giữa các FTA mà các nước Đông Á ký kết và và các FTA mà Hoa Kỳ, EU kýkết Nhưng trước hết, chúng ta nhận thấy AFTA và FTA ASEAN – Trung Quốc qui định vềROO khá lỏng lẻo Ngược lại, các FTA của các nước Đông Á qui định ROO chặt chẽ hơn.
2.2.1 Qui tắc xuất xứ trong các FTA của Hoa Kỳ và EU:
NAFTA là hiệp định thương mại tự do đầu tiên có phạm vi qui định tới nhiều lĩnh vực, bao gồmthương mại, đầu tư, dịch vụ và các nguyên tắc thương mại Trong đó, Hoa Kỳ áp dụng nguyêntắc ROO khá chặt chẽ với các qui định về chuyển đổi chương và đặt ra các tiêu chí phức tạp choRVC Estervadeordal (2003, trang 348) đánh giá đây là một sự thay đổi to lớn trong việc quiđịnh ROO trong các FTA mà Hoa Kỳ tham gia ký kết Theo đó, phân loại hải quan CTC theochương, nhóm, phân nhóm được sử dụng rộng rãi với một số yêu cầu thêm về qui trình cụ thể vàgiá trị khu vực Ngưỡng de minimis được hạ xuống mức 7%, thấp hơn so với qui định của cácFTA khác
Kể từ đó, một số nước bắt đầu áp dụng ROO mới này của NAFTA hoặc thêm một số điều chỉnhnhỏ.16 Các ngành công nghiệp chủ chốt yêu cầu ROO thuần túy theo đó hàng hóa phải được sảnxuất toàn bộ bởi nước trong khu vực và với mỗi phần nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ sẽphải chuyển đổi theo qui định nêu trong Phụ lục 401 của Hiệp định
16 ROO của NAFTA trở thành khuôn mẫu cơ bản cho các ROO cho các FTA của Canada, Chile, Mexico, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Trang 32Hàm lượng RVC được qui định ở mức rất cao, từ 50 – 60% tùy vào phương pháp tính.17 Trong hiệpđịnh này, mặt hàng ôtô (HS8702 – 8704) bị áp đặt ROO chặt chẽ hơn với hàm lượng RVC lên tới62.5%.
Trong các FTA khác, Hoa Kỳ áp dụng hàm lượng RVC thấp hơn Ví dụ, hiệp định FTA Hoa Kỳ Chile và FTA Hoa Kỳ - Singapore áp dụng mức 35% (build – up) và 45% (build – down) cho mặthàng HS34 Tuy nhiên, trong Hiệp định FTA Hoa Kỳ - Singapore, Hoa Kỳ qui định ROO chặt chẽhơn, đặc biệt là đối với lĩnh vực dệt may và da giày Đối với mặt hàng da giày mã HS 64, hàm lượngRVC qui định là 55% (build – down) với yêu cầu thêm về chuyển đổi phân nhóm Tóm lại, mức độchặt chẽ của ROO trong các FTA của Hoa Kỳ phụ thuộc vào từng đối tác ký kết hiệp định
-Các qui tắc xuất xứ của EU phụ thuộc chặt chẽ vào PANEURO tạo nên một qui tắc xuất xứ chuẩngiữa các FTA mà EU ký kết như FTA EU – EFTA hay FTA EU – Mexico FTA EU – Mexico sửdụng nhiều nguyên tắc để xác định ROO Nói chung, các qui tắc xuất xứ của EU đều khá chặt chẽ.Phần lớn các ROO của EU đều qui định chuyển đổi nhóm và yêu cầu hàm lượng RVC từ 20% đến50%, trong đó với mã HS30 là 20% Các nhà sản xuất phải đối với mặt với những nguyên tắc phứctạp khi xác định xuất xứ của hàng hóa Ví dụ, EU đặt ra nhiều điều kiện đặc biệt để xác định xuất xứcủa đường và cocoa có mã HS 18 – 22
2.2.2 Qui tắc xuất xứ trong các FTA của các nước Đông Á:
Các nước Đông Á qui định qui tắc xuất xứ với mức độ chặt chẽ khác nhau AFTA và FTA ASEAN –Trung Quốc qui định đơn giản nhất với hàm lượng giá trị khu vực là 40% dành cho tất cả các mặthàng và đây được coi là ROO đơn giản nhất thế giới.18 Mức 40% được AFTA đưa ra sau khi Chươngtrình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được thông qua vào năm 1992 Trong các cuộcđàm phán FTA với ASEAN, Trung Quốc đã chấp thuận ROO của AFTA và kết thúc đàm phánvào năm 2004.19
Singapore cũng có xu hướng qui định ROO đơn giản trong khi Hoa Kỳ qui định ROO rất chặtchẽ, thể hiện qua hiệp định NAFTA và các hiệp định FTA khác Trong hiệp định FTA song
17 NAFTA đưa ra 2 phương pháp tính hàm lượng giá trị khu vực: phương pháp sử dụng giá trị giao dịch và phương pháp sử dụng giá vốn ròng.
18 Một ROO đơn giản tương tự là ROO trong CER (Australia – New Zealand) ROO này qui định hàm lượng RVC
là 50% nhưng có qui định thêm bước cuối cùng trong qui trình sản xuất sản phẩm phải diễn ra ở nước xuất khẩu AFTA chỉ qui định hàm lượng RVC là 40% mà không đưa thêm bất kỳ điều kiện nào.
19 Trung Quốc là bên đi tiên phong trong đàm phán song phương với ASEAN Năm 2003, Trung Quốc đưa ra gói Gặt hái sớm cho các nước ASEAN nhằm thu hút các nước này ngồi vào bàn đàm phán.
Trang 33phương ký kết với Hoa Kỳ, Singapore chấp thuận quan điểm của Hoa Kỳ về ROO và thông quaROO về cơ bản giống với ROO của NAFTA nhưng bớt phức tạp hơn nhiều.
Qui tắc xuất xứ được qui định trong chương 3 của FTA Hoa Kỳ - Singapore và phụ lục 3A đưa
ra điều kiện xác định ROO đối với từng mặt hàng cụ thể Đối với 1 số chương HS như HS73, 78,
81, 84, 85 và 90, tỷ hàm lượng giá trị khu vực là 35% với phương pháp build – up và 45% vớiphương pháp build – down Ngưỡng tối đa cho nguyên vật liệu phi xuất xứ (ngưỡng De-minimis)
là 10%
Nhật Bản và Hàn Quốc buộc phải áp dụng hệ thống qui tắc xuất xứ phức tạp và chặt chẽ nhằmxoa dịu làn sóng phản đối trong nước với tự do hóa thương mại.20 Tuy nhiên, với kinh nghiệm cóđược từ các vòng đàm phán FTA, Hàn Quốc nới lỏng ROO hơn trong FTA thứ hai của nước này.Trong khi đó, Nhật Bản vẫn tiếp tục áp dụng qui tắc xuất xứ chặt chẽ hơn trong hiệp định FTA
ký kết với Mexico Trong FTA đầu tiên của Nhật Bản – JSEPA, Nhật Bản áp dụng qui tắc xuất
xứ thuần túy Theo đó, một mặt hàng phải được sản xuất toàn bộ tại nước thành viên thì mớiđược hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA Hiệp định cho phép xuất xứ cộng gộp và thành phầnnguyên vật liệu phi xuất xứ, với qui định ngưỡng de-minimis khác nhau đối với từng mặt hàngnhưng đều nhỏ hơn hoặc bằng 10%
Chuyển đổi nhóm được qui định đối với các mặt hàng mã HS01-24, HS38 (hóa chất), HS85(máy móc) với yêu cầu chuyển đổi phân nhóm hoặc yêu cầu về hàm lượng giá trị khu vực Hàmlượng giá trị khu vực 60% (kết hợp với chuyển đổi phân nhóm) được qui định đối với cácchương HS khác Với mặt hàng dệt may (HS59), vải phải được dệt từ sợi có xuất xứ thuộc cácnước thành viên
JMEPA (Nhật Bản – Mexico) qui định ROO kém chặt chẽ hơn JSEPA (Nhật Bản – Singapore) ởmột số điểm Ngưỡng de-minimis qui định cho tất cả các mặt hàng là 10% Chuyển đổi chương,nhóm, phân nhóm được áp dụng cho HS01-63 ROO được qui định chặt chẽ hơn đối với mặthàng xuất khẩu của Mexico như hàng dệt may (HS64) và nguyên liệu tự nhiên như đồng và kẽm.Hàm lượng giá trị khu vực qui định cho các mặt hàng này là từ 50% đến 55%
ROO trong FTA Hàn Quốc – Chilê là một biến thể của ROO trong NAFTA với các qui định chặtchẽ và phức tạp đối với các mặt hàng nhạy cảm Cụ thể, chuyển đổi chương được áp dụng đốivới các mã hàng HS01 – HS10 (hàng nông sản và thủy sản) nhằm ngăn chặn chuyển tải Ngưỡng
20 Estevadeordal (2003, p.12) nêu “ROO trong EPA Nhật Bản – Singapore được thể hiện bằng hơn 200 trang qui định” Estevadeordal (2003, p.12) cũng đưa ra nhận định tương tự cho FTA Hàn Quốc – Chilê.
Trang 34de – minimis qui định là 8% Kết hợp chuyển đổi nhóm và hàm lượng giá trị khu vực được quiđịnh với các mặt hàng thuộc 1 số chương như HS19, 29, 30, 31, 38… Nhìn chung, hàm lượnggiá trị khu vực được qui định khá thấp, 45% đối với phương pháp build – down và 35% đối vớibuild – up Với một số mặt hàng thuộc mã HS84, hàm lượng này được qui định là 30% Hàmlượng giá trị khu vực được qui định cao đối với mã HS200892-200899 (rau, trái cây và một sốcây trồng khác) Điều này nhằm hạn chế nhập khẩu các mặt hàng tương tự vào Chilê.
FTA Hàn Quốc – Singapore được ký kết sau 1 năm đàm phán và bắt đầu có hiệu lực kể từ3/2006 Trong khi Hàn Quốc lo lắng về tình trạng chuyển tải hàng hóa bất hợp pháp quaSingapore và muốn thắt chặt hơn qui tắc xuất xứ, Singapore muốn mở rộng hoạt động chế biến
ra nước ngoài Hàn Quốc muốn cấp xuất xứ cho hàng hóa sản xuất tại khu công nghiệp Geasung
21 và thuyết phục Singapore thông qua đổi lại Hàn Quốc chấp thuận việc sản xuất mở rộng ranước ngoài của Singapore Hai nước đều thống nhất ngưỡng de minimis là 10%, trừ lĩnh vực dệtmay Điểm này được coi là khá nhạy cảm trong JSEPA Khác với FTA với Chile, ngưỡng deminimis là 45, 50 và 55% đối với phương pháp build – down
Các qui tắc xuất xứ nghiêm ngặt có thể khiến người xuất khẩu không tận dụng được ưu đãi thuếquan từ các FTA, do đó làm giảm lợi nhuận thu được Các qui tắc xuất xứ như thế có thể lànguyên nhân khiến các ưu đãi từ các FTA không được hiện thực hóa nhưng lại có rất ít nghiêncứu đo lường về mức độ hạn chế thương mại của các qui tắc xuất xứ này.22 2 công trình nghiêncứu tiên phong về vấn đề này là Estevadeordal (2003) và Productivity Commission of Australia(PC, 2004) PC đưa phương pháp chỉ số tổng quát để đo lường mức độ nghiêm ngặt và hạn chếthương mại của các qui tắc xuất xứ với việc cải tiến thêm chỉ số Estevadeordal Cả 2 phươngpháp này đều nhằm tính toán mức độ hạn chế của các qui tắc xuất xứ và cố gắng lượng hóa để sosánh được các qui tắc xuất xứ của các FTA khác nhau Trong mục này, chúng tôi sử dụng 2phương pháp nêu trên để đánh giá mức độ hạn chế của 1 số FTA, trong đó chủ yếu sử dụngphương pháp PC do phương pháp này đã bao hàm cả phương pháp Estevadeordal.23
21 Khu công nghiệp Gaesung nằm ở Bắc Triều Tiên Chấp nhận hàng hóa sản xuất tại đây là hàng hóa của Hàn Quốc
là một quyết định gây tranh cãi đối với Hàn Quốc, về mặt lợi ích kinh tế thu được cũng như là mục đích cải thiện quan hệ giữa 2 miền Nam – Bắc Triều Tiên.
22 Do nghiên cứu thực nghiệm về ROO gặp nhiều khó khăn nên có rất ít nghiên cứu về tác động của ROO đối với hoạt động thương mại Trong số ít ỏi các nghiên cứu có Cadet et al.(2002) và Krueger (1995) Nghiên cứu của Cadet
et al nhận thấy tỷ lệ sử dụng NAFTA chỉ là 64% do ROO quá chặt chẽ và Krueger cho thấy các công ty Canada thà trả thuế còn hơn là thực hiện các thủ tục rắc rối để được hưởng ưu đãi thuế quan theo qui tắc xuất xứ
Trang 353.1 Phân tích thành phần chỉ số:
Phương pháp PC là phương pháp phân tích theo kiểu từ dưới lên (bottom-up) bằng cách ban đầu
là khảo sát các thành phần chi tiết của các qui tắc xuất xứ rồi sau đó tổng hợp lên thành các mụctổng quát hơn Mỗi thành phần được xác định một trọng số và tổng hợp thành chỉ số cuối cùng.24
Chỉ số gồm 3 tiêu chuẩn: tiêu chuẩn chính, tiêu chuẩn bổ sung và các tác động khác của qui tắcxuất xứ Trong hầu hết các FTA, tiêu chuẩn chính gồm 2 thành phần: có xuất xứ thuần túy vàđược chuyển đổi cơ bản Để giảm bớt những hạn chế thương mại của các qui tắc xuất xứ, người
ta thường đưa thêm vào tính toán tiêu chuẩn bổ sung và ngưỡng de minimis Đặc biệt là gần đâycác FTA chấp thuận hàng hóa được sản xuất ở một nước khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
xu hướng outsourcing toàn cầu và dòng chảy của nguyên vật liệu giữa các nước
Bảng 5 tóm lược tiêu chuẩn ROO chính trong các FTA, từ đó cho thấy tất cả các FTA đượcnghiên cứu đều áp dụng nguyên tắc xuất xứ thuần túy và chuyển đổi cơ bản CTC và RVCthường được sử dụng để xác định chuyển đổi cơ bản Tuy nhiên, nguyên tắc nghiêm ngặt nhất làqui trình kỹ thuật sản xuất (SP) hiếm khi được sử dụng Người ta sử dụng các mức khác nhau đểxác định chuyển đổi cơ bản bằng RVC Chẳng hạn, Hoa Kỳ sử dụng mức RVC tương đối caotrong Hiệp định NAFTA nhưng sử dụng mức thấp hơn trong FTA với Singapore Mức RVC nàyđược dùng trong công thức tính toán chỉ số hạn chế của ROO với 1 trọng số thích hợp
CTC dựa vào phân loại HS của qui tắc xuất xứ để chuyển đổi từ nguyên vật liệu sang thànhphẩm Qui tắc xuất xứ yêu cầu chuyển đổi chương là hạn chế nghiêm ngặt nhất Nguyên tắc củachỉ số này được Estevadeordal đưa ra vào năm 2000 và thể hiện trong bảng 6 Chỉ số này đượcxây dựng để đánh giá RVC và SP theo yêu cầu của CTC
Một số thành phần của RVC ngoài ngưỡng RVC được kết hợp để tính toán chỉ số Các nhân tốquan trọng được tính toán bằng RVC, giá tham chiếu và phương pháp luận dựa trên cơ sở dòngthuế Trong bảng 7, các FTA có đưa ra các chỉ tiêu cho RVC trong đó có ngưỡng tối đa, phươngpháp luận và giá Các FTA của các nước châu Âu thường nhấn mạnh sử dụng tỷ lệ giá trị hànghóa phi xuất xứ trong tính toán RVC trong khi các nước Đông á thường sử dụng phương phápbuild – up và build down
23 Phương pháp chỉ số yêu cầu phải có trọng số cho mỗi tiêu chuẩn xác định ROO Nghiên cứu này sử dụng phương pháp PC.
24 Xem PC (2004) để biết thêm chi tiết về từng tiêu chuẩn và thành phần xác định ROO.
Trang 36Bảng 5 Các tiêu chuẩn xác định ROO trong các FTA.
Xuất xứ thuần túy Chuyển đổi cơ bản
Notes: •, chủ yếu áp dụng; ◦, Áp dụng với một số ít mặt hàng
a Hàm lượng RVC không ít hơn 60% (phương pháp giá trị giao dịch) hoặc 50% (phương pháp giá vốn ròng) 62.5% theo phương pháp giá vốn ròng áp dụng cho mặt hàng ô tô (HS 8702.xx, 8703.21-90, 8704.21, 8704.31).
b 35% theo phương pháp build – up và 45% theo phương pháp build down.
-c Không thấp hơn 60% (giá FOB của sản phẩm cuối cùng) với phần nguyên liệu có xuất xứ (CIF) từ nước không thuộc ACFTA
d 30% với phương pháp build – up và 45% với phương pháp build-down Ngoại lệ: 80% đối với nước hoa quả đóng hộp
Bảng 6 Các chỉ số hạn chế thương mại của ROO theo Estevadeordal
1 Chuyển đổi HS8-10 số (CI)
2 Hạn chế hơn chỉ số 1 và chuyển đổi trong HS6 số (CTSH) a
3 Hạn chế hơn chỉ số 2 và chuyển đổi trong HS6 số (CTSH) và RVC b
4 Hạn chế hơn chỉ số 3 và chuyển đổi trong HS4 số (CTH) c
5 Hạn chế hơn chỉ số 4 và chuyển đổi trong HS4 số (CTH) và RVC
6 Hạn chế hơn chỉ số 5 và chuyển đổi trong HS2 số (CC) d
Trang 377 Hạn chế hơn chỉ số và chuyển đổi trong HS2 số (CC) và SP
Nguồn: Summarised from Estevadeordal (2003)
a Chuyển đổi phân nhóm
b Hàm lượng giá trị khu vực (nội địa).
Các nhân tố chính của tiêu chuẩn bổ sung là de minimis, cộng dồn và outward processing.25 Đa
số các FTA chấp nhận mức de minimis là 10% Cộng dồn cũng được chấp nhận rộng rãi trong
25 Outward processing là một phần việc trong qui trình sản xuất được thực hiện ở một nước khác, thường là kém phát triển hơn Ví dụ, một qui trình sản xuất gồm 3 bước: bước 2 được outsource ra nước ngoài Nếu outward processing được công nhận thì giá trị nội địa sẽ được tính là tổng của bước 1 và 3 (trong khi phương pháp khác chỉ tính đến bước 3)
Trang 38các FTA, cộng dồn đầy đủ ít nghiêm ngặt hơn hiệp định song phương Outward processing hiếmkhi được sử dụng do gặp khó khăn trong việc xác định nguồn gốc của nguyên vật liệu Tuy nhiêntrong 1 số trường hợp, giá trị gia tăng ban đầu trước khi outsourcing sang nước thứ 3 vẫn đượcxét tới do outward processing làm gia tăng giá trị khu vực và điều này khiến việc đáp ứng tiêuchuẩn của các qui tắc xuất xứ dễ dàng hơn
3 Đánh giá mức độ hạn chế thương mại của qui tắc xuất xứ:
Dựa trên những thảo luận đưa ra trong mục trên, mục 3.2.1 đưa ra kết quả nghiên cứu củaEstevadeordal và Suominen (2004) và Productivity Commission (2004) Mặc dù các nghiên cứunày mang tính tổng quát cao nhưng chỉ phân tích các FTA của các nước Châu Âu và châu Mỹ.Bốn FTA của Nhật Bản và Hàn Quốc không được nêu ra trong nghiên cứu này Mục 3.2.2 tómlược các kết quả đánh giá mức độ hạn chế thương mại của các qui tắc xuất xứ trong các FTA củaNhật Bản và Hàn Quốc Cuốn sách này không đặt ra chỉ số đánh giá mới mà sẽ dùng các phươngpháp đánh giá của các nghiên cứu sẵn có
3.2.1 Các nghiên cứu đã thực hiện:
Trong các FTA,, EU thường yêu cầu chuyển đổi nhóm trong phân loại thuế quan cùng với cácyêu cầu khác (CTH+) Bên cạnh đó, các nước Châu Mỹ thường yêu cầu chuyển đổi chương(CC+) và chuyển đổi nhóm, trừ MERCOSUR yêu cầu CTH trong FTA song phương với Chile
và Bolivia.26 Từ đó cho thấy, Hoa Kỳ áp dụng qui tắc xuất xứ mang tính hạn chế thương mại hơn
EU (Bảng 9)
Bảng 8 Các chỉ tiêu bổ sung cho việc đánh giá mức độ hạn chế thương mại
của ROO trong các FTA
26 MERCOSUR là liên minh thuế quan của các nước Nam Mỹ (Argentina, Brazil, Paraguay và Uruguay)
Trang 39AFTA-TQ Đầy đủ
Ghi chú: •, áp dụng phổ biến; ○, ít áp dụng; ◦, không áp dụng;
*, cho phép
a Không áp dụng đối với mặt hàng có mã HS 50-63
b ngưỡng de minimis trong FTA Hoa Kỳ-SGP — 10% giá trị điều chỉnh, 7% vải hoặc
sợi.
c Không thấp hơn 60% (giá FOB của sản phẩm cuối cùng) của nguyên vật liệu có xuất
xứ (CIF) từ các nước không là thành viên ACFTA
d Ghi chú trong phụ lục IIA.
e Tổng giá trị của đầu vào không có xuất xứ không được vượt quá 40% giá trị hải quan và
giá trị của đầu vào có xuất xứ không thấp hơn 45% tổng giá trị hải quan
Productivity Commission (2004) đưa ra các chỉ số đánh giá qui tắc xuất xứ trong các FTA dựatrên số liệu của nhiều nước khác nhau Chỉ số được tính toán dựa trên phương pháp bottom – up
và phương pháp tổng hợp có tính tới trọng số (Bảng 10) NAFTA qui định qui tắc xuất xứ hạnchế thương mại nhất với chỉ số 0.67 (trong đó tiêu chuẩn chính là 0.46) và có liên hệ trực tiếp vớinghiên cứu của Estevadeordal (2003) trong Bảng 6 Các qui tắc xuất xứ khác hạn chế thương mạisau NAFTA là trong FTA EU – Hà Lan, MERCOSUR với chỉ số 0.60
Tuy nhiên, Hoa Kỳ sau này có xu hướng qui định các qui tắc xuất xứ bớt hạn chế thương mạihơn trong các FTA gần đây như FTA với Singapore và Chile EU và MERCOSUR cũng khôngnằm ngoài xu thế này Không những thế, một số nước còn có xu hướng nới lỏng các qui định vềqui tắc xuất xứ Chẳng hạn, Australia – New Zealand, AFTA và Cộng đồng các quốc gia Nam
Mỹ đều qui định qui tắc xuất xứ tương đối đơn giản và lỏng lẻo.
Bảng 9 Các thành phần của tiêu chuẩn CTC (%)
Trang 40Nguồn: Bảng số liệu 2 và Bảng 3 trong Estevadeordal và Suominen (2004)
Ghi chú: a FTA của EU và Ba Lan (1993) và Estonia (1995)
b Gồm RVC “xuất xứ thuần túy” và SP cover one of "wholly obtained" RVC hoặc kết hợp các điều kiện
3.2.2 Đánh giá mức độ hạn chế thương mại của qui tắc xuất xứ trong các FTA của Nhật Bản và Hàn Quốc:
Trước khi đi xem xét chỉ số đánh giá mức độ hạn chế thương mại của qui tắc xuất xứ trong cácFTA của Nhật Bản và Hàn Quốc, cấu trúc của các qui tắc xuất xứ nêu trong Bảng 11 đối với cácFTA song phương của Nhật Bản với Singapore và Mexico và Bảng 12 đối với các FTA songphương của Hàn Quốc với Chile và Singapore sẽ cho chúng ta một cái nhìn khái quát Chỉ sốđánh giá được lấy từ Estevadeordal (2003) và số lượng dòng thuế cho mỗi mục qui tắc xuất xứđược đưa ra là mã HS6 và HS8 Trong trường hợp khó phân loại các nhân tố cấu thành qui tắcxuất xứ theo dòng thuế, mục gần nhất sẽ được sử dụng để phân tích
Nhật Bản qui định qui tắc xuất xứ sử dụng mã HS6 đối với FTA với Singapore và sử dụng mãHS8 với FTA với Mexico Tuy nhiên, số lượng dòng thuế qui định trong EPA với Singapore íthơn một nửa so với Mexico mặc dù EPA với Singapore dựa trên mã HS6 có số lượng dòng thuế
ít hơn so với HS8.27
Có sự khác biệt lớn giữa 2 EPA nêu trên Trong EPA đầu tiên với Singapore, số lượng hàng hóaqui định ít hơn EPA với Singapore, đa phần dòng thuế yêu cầu CTH khác với EPA vớiSingapore yêu cầu CC Điều này cho thấy qui tắc xuất xứ trong EPA với Mexico hạn chế thương
27 Ngoài ra, Nhật Bản còn hạn chế tiếp cận thị trường, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và không nêu ra các dòng thuế nằm ngoài tiến trình xóa bỏ Do đó, số lượng dòng thuế với ROO trong hiệp định được xóa bỏ.